Tình hình nghiên cứu Những năm qua, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về hội nói chung, tổ chức và hoạt động của hội nói riêng, như: Đề tài nghiên cứ
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi thành lập tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng việc tổ chức, lãnh đạo và phát triển các tổ chức hội Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta khẳng định:
trong giai đoạn mới cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sông của nhân dân hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái Các tổ chức hội quần chúng được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản
và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật (1)
Hiện nay, các tổ chức hội đã phát triển nhanh với số lượng lớn và được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng: hội, tổng hội, liên hiệp hội, hiệp hội Hoạt động của hội ngày càng phong phú và có hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên, môi trường, nâng cao dân trí, tham gia vào việc xã hội hoá các hoạt động y tế, văn hoá, giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, thể dục thể thao, từ thiện nhân đạo Nhiều hội đã và đang tham gia cung cấp dịch vụ công do Nhà nước chuyển giao, tham gia tư vấn, phản biện các đề án, chính sách, góp phần nâng cao vai trò quản lý và hoàn thiện về thể chế, chính sách của Nhà nước
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách pháp luật và áp dụng pháp luật về Hội trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, bất cập, chưa phù hợp với tình hình phát triển của các tổ chức hội Một số hội hoạt động còn mang tính hình thức, nặng tư tưởng bao cấp, ỷ lại và hành chính hoá, chưa phản ánh được nguyện vọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên Hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về hội còn hạn chế do các biện pháp, chế tài chưa đủ mạnh, nhiều lĩnh vực quản lý, nhất là những lĩnh vực có yếu tố nước ngoài còn chưa được quy định Nhiều vấn đề lý luận về tổ chức hội trong điều kiện đặc thù ở nước ta trong mối quan hệ với vị trí, vai trò của hội trong xu thế toàn cầu hoá và bối cảnh hội nhập quốc tế chưa được làm sáng tỏ
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, mở rộng dân chủ và tăng cường
Trang 3xã hội hoá trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay cũng chính là đòi hỏi cần hoàn thiện pháp luật về hội nhằm tạo hành lang pháp lý giúp các tổ chức hội có điều kiện phát triển thuận lợi, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này
Để khắc phục những bất cập, hạn chế của văn bản pháp luật hiện hành về hội, đồng thời thể chế hoá đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế thì việc hoàn thiện pháp luật vê hội là một yêu cầu khách quan và cấp thiết
Chính vì thế, tôi chọn vấn đề “Hoàn thiện pháp luật về hội trong bối cảnh hội
nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Những năm qua, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về hội nói chung, tổ chức và hoạt động của hội nói riêng, như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về “Thực trạng và giải pháp quán lý nhà nước với các tổ chức phi chính phủ " do Vụ các tổ chức phi chính phủ - Ban tổ chức cán.bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) chủ trì thực hiện năm 2000; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về “Nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ đối với hội và tổ chức phi chính phủ trong thời kỳ đổi mới” do Vụ Tổ chức phi chính phủ - Bộ Nội vụ thực hiện, hoàn thành tháng 10/2004; Báo cáo tổng hợp của dự án “Điều tra thực trạng về hội và tổ chức phi chính phủ ở nước ta hiện nay” do Viện Nghiên cứu khoa học Nhà nước thuộc Bộ Nội vụ chủ trì thực hiện, hoàn thành tháng 3/2006; Báo cáo “Đánh giá ban đầu về xã hội dân sự tại Việt Nam” do dự án CIVICUS CSI-SAT (công cụ đánh giá nhanh chỉ số xã hội dân sự) thực hiện, hoàn thành tháng 01/2006; Tài liệu hướng dẫn về Luật liên quan đến các tổ chức dân sự của Viện Xã hội mở, NewYork, do Hội trợ giúp người tàn tật Việt Nam dịch; Tuyển tập “Ý kiến đóng góp về quyền lập hội” do Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam xuất bản tháng 5/2006
Tác giả Thang Văn Phúc (chủ biên), Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Ngọc Lâm, Nguyễn Quốc Tuấn đã xuất bản cuốn sách “Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nước" (Nhà xuất bản Chinh trị quốc gia, Hà Nội , năm 2002), trong đó tập trung
Trang 4phân tích các vấn đề: nhận thức chung về hội và đặc điểm của hội ở Việt Nam, các hội ở Việt Nam trong đôi mới và phát triển đất nước, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước với các hội quân chúng
Thạc sỹ Nguyễn thị Hồng, giảng viên Trường chính trị tỉnh Phú Thọ có luận án tốt nghiệp khoá 9 Học viện Chính trị QG HCM về “Cơ sở lý luận xây dưng pháp luật về
tổ chức và hoạt động cua hội Ở miệt Nam hiện nay” Tác giả đã phân tích khái niệm, đặc
điểm của hội; vị trí, vai trò của hội trong đời sống xã hội và phát triển đất nước; thực trạng pháp luật về tô chức và hoạt động của hội Ở Việt Nam hiện nay để từ đó kiến nghị một số giải pháp cơ bản xây dựng pháp luật về tổ chức và hoạt động của hội ở Việt Nam hiện nay
Bện cạnh đó, còn có Kỷ yếu hội thảo "Khung pháp lý tổ chức, hoạt động và quản
lý tổ chức phi chính phủ Việt nam trong tình hình hiện nay” do Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ và Viện KAS tổ chức tháng 12-2000; Tài liệu tập huấn về “Tổ chức, quản lý hội và tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam” do Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ tổ chức tháng 11-2000 tập hợp các bài viết của các chuyên gia của Bộ Công an và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ; Kỷ yếu hội thảo “Trao đổi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về các tổ chức xã hội” do Ban Công tác lập pháp của Quốc hội tổ chức tháng 8/2004 tại Hạ Long;
Kỷ yếu hội thảo “Pháp luật về hội” của Nhà pháp luật Việt - Pháp tổ chức tháng 11/2004; Các bài viết và tham luận tại các cuộc hội thảo phân tích Ở nhiều khía cạnh khác nhau song đều có điểm thống nhất chung là sớm ban hành Luật về hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Các công trình nghiên cứu nêu trên nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hội và kiến nghị nhiều giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về hội dưới nhiều góc độ, trong đó có một giải pháp quan trọng là xây dựng Luật về hội Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa tập trung nghiên cứu sâu vào vấn đề hoàn thiện pháp luật về hội gắn với những so sánh với pháp luật quốc tế với vai trò là một nội
dung nghiên cứu chính Vì vậy, đề tài luận văn thạc sỹ luật học "Hoàn thiện pháp luật về
hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay" sẽ góp phần giải quyết được
vấn đề nêu trên
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các chủ trương, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về hội
- Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tốt nghiệp cao học, luận văn tập trung nghiên cứu sâu về những vấn đề lý luận cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về hội nhằm điều chỉnh, định hướng tổ chức và hoạt động của hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Thời gian nghiên cứu từ thời kỳ sau cách mạng tháng 8 đến nay và kinh nghiệm xây dựng pháp luật về tổ chức xã hội của một số tổ chức quốc tế (Ngân hàng thế giới, Trung tâm quốc tế về luật phi lợi nhuận) và một số nước trên thế giới (Pháp, Đức, Trung Quốc )
4 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Mục đích của Luận văn là tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hội đáp ứng việc thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế, đồng thời phù hợp với đặc thù chính trị-xã hội ở Việt Nam hiện nay
Để thực hiện mục đích trên, Luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm của hội, phân tích tính đặc thù, vị trí, vai trò của hội ở nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Phân tích thực trạng pháp luật về hội ở nước ta từ giai đoạn sau cách mạng tháng 8 đến nay, tập trung vào thời kỳ đổi mới
- Đề xuất, luận chứng các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hội đáp ửng yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế và phù hợp với đặc thù chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về phát triển hội; những học thuyết, tinh hoa tư tưởng của nhân loại về tổ chức và hoạt động của hội Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp của triệt học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp lịch sử cụ thể; phương pháp
Trang 6phân tích và tổng hợp, phương pháp của luật học so sánh; phương pháp của lý thuyết hệ thống
6 Nhũng điểm mới của Luận văn
Luận văn phân tích có hệ thống về quá trình phát triển của pháp luật về hội ở nước ta; đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật về hội trong mối quan hệ so sánh với pháp luật về các tổ chức xã hội của một số nước trên thế giới và tổ chức quốc tế để đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hội theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước ta, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hội trên cơ sở phù hợp với đặc thù về chính trị - xã hội của nước ta và pháp luật quốc tế
7 Ý nghĩa của Luận văn:
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm của hội ở Việt Nam hiện nay; bổ sung những quan điểm, định hướng trong tổ chức và hoạt động cũng như quản lý nhà nước về hội, nhất là trong điều kiện có nhiều ý kiến, quan điểm không thống nhất về vấn đề này
- Góp phần hoàn thiện pháp luật về hội trong bối cảnh mở rộng dân chủ XHCN, tăng cường xã hội hoá và chủ động hội nhập quốc tế
8 Kết cấu của Luận văn:
Luận văn ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo,
phần nội dung gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘI TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mặc dù Sắc lệnh số 52/SL ngày 22-4-1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Nghị định 88/2003/NĐ-CP ngày 30-7-2003 của Chính phủ quy định
về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (sau đây gọi là Nghị định 88) đã đưa ra khái niệm về hội, song để đáp ứng nhận thức, tư duy mới về “hội” trong bối cảnh hội nhập quốc tế, mở rộng dân chủ xã hội cũng như đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý Nhà nước trong tình hình mới, thì cần một cách tiếp cận toàn diện hơn, đầy đủ hơn về khái niệm “hội”
Đi tìm một khái niệm mới về “hội”, trong thời gian qua, cùng với việc xây dựng
dự thảo Luật về hội, các học giả, các chuyên gia pháp luật và cán bộ làm công tác hội đã tranh luận sôi nổi ở nhiều diễn đàn, đưa ra nhiều quan điểm trái chiều với những cách thức tiếp cận đa diện Cho đến nay, ở Việt Nam, xét ở khía cạnh học thuật và pháp lý, chưa có khái niệm “Hội” theo một cách nhìn toàn diện, thống nhất Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý đều đồng tình rằng, hội là một trong những thành tố của Xã hội dân sự
Chính vì vậy, việc nghiên cứu khái niệm về hội cũng như các vấn đề liên quan đế hội cần phải đặt trong tổng thể của một tập hợp các chủ thể xã hội, phi nhà nước dưới khái niệm chung là Xã hội dân sự; đồng thời cần xem xét quan hệ của “hội” với tư cách
là một thành tố trong xã hội dân sự với các thành tố khác
1.1 XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ - QUAN NIỆM CỦA THẾ GIỚI VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm xã hội dân sự và mối quan hệ với nhà nước, thị trường trong cấu trúc xã hội
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của xã hội dân sự
Trang 8Theo ngôn ngữ tiếng Việt, có 2 cụm từ được sử dụng cho Xã hội dân sự, đó là: xã
hội công dân và xã hội dân sự Tuy nhiên, tương tự như các nước khác, hiện nay, ở Việt
Nam, khuynh hướng sử dụng cụm từ Xã hội dân sự phổ biến hơn do được dịch đúng theo nghĩa đen cụm từ tiếng Anh Civil Society
Về khái niệm xã hội dân sự, Viện Khoa học chính trị - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh định nghĩa:
Xã hội công dân là hệ thống các tổ chức của công dân, các cộng đồng công dân
và các quan hệ giữa chúng, nhằm hiện thực hoá các cá nhân và nhân cách, nối các cá nhân với hệ thống xã hội, củng cố và bảo vệ lợi ích cộng đồng Đồng thời thông qua các cộng đồng, xã hội công dân phối hợp hoạt động với nhà nước, bảo đảm cho quan hệ giữa nhà nước và xã hội cân bằng, ổn định, tạo các điều kiện tối ưu cho phát triển bền vững và tiến bộ xã hội.(2)
Cũng theo giáo trình này, “các thể chế xã hội công dân độc lập tương đối, không phụ thuộc, không phải là các tổ chức nhà nước, cũng không phải là các tổ chức (cơ sở) sản xuất kinh doanh”(2)
Trung tâm xã hội dân sự của Trường kinh tế Luân Đôn đưa ra định nghĩa:
Xã hội dân sự được hiểu là khu vực của hoạt động tập thể, tự nguyện nhằm chia
sẻ những mối quan tâm, mục đích và giá trị chung Về lý thuyết, hình thức tổ chức của xã hội dân sự là sự khác biệt với nhà nước, gia đình và thị trường; trong khi trên thực tiễn, ranh giới giữa nhà nước, xã hội dân sự, gia đình và thị trường thường là rất phức tạp và
mờ nhạt Xã hội dân sự nhìn chung bao gồm sự đa dạng về không gian, nhân sự và dạng thức tổ chức; đồng thời, tồn tại sự linh hoạt trong những thoả thuận về hình thức, vấn đề
tự quản và quyền hạn Xã hội dân sự thường được biết tới thông qua các tổ chức, như các
tổ chức từ thiện có đăng ký, các tổ chức phi chính phủ phát triển, các nhóm cộng đồng, các tổ chức phụ nữ, các tổ chức tín ngưỡng, các hội nghề nghiệp, các tổ chức công đoàn, các nhóm tự giúp đỡ, các phong trào xã hội, các hiệp hội kinh tế, các nhóm tư vấn và liên
hiệp.(3)
Ngân hàng thế giới dùng thuật ngữ Xã hội dân sự như sau:
Trang 9Xã hội dân chủ để chỉ lực lượng đông đảo các tổ chức phi lợi nhuận và phi chính phủ đang hiện diện trong đời sống công chúng, biểu hiện những lợi ích và giá trị của các thành viên của tổ chức mình hoặc các lợi ích khác, dựa trên sự quan tâm về dân tộc, văn hoá, chính trị, khoa học, tôn giáo hoặc từ thiện Các tổ chức xã hội dân sự, do đó, được hiểu là bao gồm các nhóm cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ, các liên đoàn lao động, các nhóm bản địa, tổ chức từ thiện, các tổ chức tín ngưỡng, các hiệp hội nghề nghiệp và các quỹ (4)
Tổ chức phi chính phủ quốc tế CIVICUS (Liên minh Thế giới về sự Tham gia của người dân) định nghĩa xã hội dân sự là “môi trường bên ngoài Gia đình, Nhà nước và Thị trường, là nơi quần chúng liên hiệp với nhau để phát triển những quyền lợi chung”(5)
Tuy nhiên, xét về mục đích của các chủ thể tham gia các hoạt động trong xã hội dân sự, TS Hoàng Ngọc Giao cho rằng:
Trong phạm vi không gian này, không chỉ có các chủ thể dân sự thuần tuý là những liên kết chính thức, không chính thức của những cá nhân, tổ chức xã hội với những mục đích tương thân, tương ái, hoặc chia sẻ sở thích, hoặc đáp ứng các mối quan tâm đời thường, dân sự Trong không gian quan hệ này, còn có thể có những sự liên kết của những cá nhân có cùng tín ngưỡng, hoặc có cùng niềm tin và/hoặc mối quan tâm tới quyền lực Nhà nước Nói cách khác, Xã hội dân sự, hiểu theo nghĩa rộng, sẽ bao hàm cả những tổ chức dân sự ‘đặc biệt’ – đó là các tổ chức tôn giáo, và các đảng chính trị (6)
Bên cạnh việc xem xét Xã hội dân sự trên phương diện một khu vực, một môi trường xã hội được thiết kế và vận hành không có yếu tố nhà nước, khái niệm Xã hội dân
sự còn được được hiểu theo phương diện với ý nghĩa là xã hội văn minh PGS.TS Nguyễn Như Phát cho rằng:
Tiếp cận cấp độ này cho ta thấy, không phải tất cả những gì nằm ngoài nhà nước đều là văn minh và ngược lại, tất cả những gì thuộc khu vực nhà nước là không hay có văn minh Khi tiếp cận theo cách này, Dieter Rucht muốn khẳng định xã hội dân sự là một xã hội văn minh và điều quan trọng, không phải mọi yếu tố ngoài nhà nước đều được nhìn nhận như những thành tố của xã hội dân sự Những thiết chế mafia, những tổ chức
Trang 10khủng bố quốc tế…chắc chắn không nằm trong cơ cấu của bất kỳ quốc gia nào, song đó không phải là những yếu tố của xã hội dân sự (7)
Qua những khái niệm trên, có thể thấy rằng, xã hội dân sự khá đa dạng về bản chất và các thành tố của chính nó, dựa trên sự khác nhau về kiểu khái niệm, cách tiếp cận, nguồn gốc lịch sử và bối cảnh quốc gia Tuy nhiên, những khái niệm này đều chỉ ra rằng,
Xã hội dân sự là một không gian quan hệ rộng rãi, bên ngoài Gia đình, Nhà nước và Thị
trường Như vậy, có thể hiểu xã hội dân sự là xã hội của những người dân với những
giao dịch, những liên kết, hay các mối quan hệ tương tác ngoài Gia đình, Nhà nước và Thị trường, nhằm đáp ứng những sở thích, sự quan tâm, lợi ích của các thành viên Tổ chức xã hội dân sự bao gồn nhiều loại hình tổ chức khác nhau, song không bao gồm các
tổ chức mafia, khủng bố quốc tế và các tổ chức tội phạm
Một cách khái quát, có thể nhận dạng xã hội dân sự theo những đặc điểm như sau:
- Là một không gian quan hệ xã hội nằm ngoài Gia đình, Nhà nước và Thị trường, vận hành độc lập tương đối với Nhà nước và Thị trường;
- Bản chất là một xã hội với những giá trị văn minh, hợp tác và hoà bình Quan
hệ phát sinh trong xã hội dân sự là những mối quan hệ không nhằm mục đích lợi nhuận,
tự nguyện, mang tính chất tương hỗ dân sự, hoặc vì lợi ích công cộng, lợi ích xã hội; các mối quan hệ này không mang tính chất quyền lực công;
- Các hoạt động của xã hội dân sự được thể hiện thông qua nhiều hình thức đa dạng tuỳ thuộc vào điều kiện, đặc thù của mỗi quốc gia, như: các tổ chức từ thiện, các nhóm cộng đồng, các hiệp hội nghề nghiệp, các liên đoàn lao động, các tổ chức tín ngưỡng… thường được gọi là các tổ chức phi chính phủ hay các tổ chức phi lợi nhuận
1.1.1.2 Mối quan hệ của xã hội dân sự với nhà nước và thị trường
Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, vai trò của xã hội dân sự cũng như các
tổ chức xã hội càng được khẳng định và có bước phát triển mạnh mẽ Trải qua các giai đoạn phát triển, nhiều tổ chức xã hội dân sự được coi là đối tác đầy đủ trong các diễn đàn của Liên hiệp quốc nhờ những đóng góp đáng kể vì một thế giới hoà bình và thịnh vượng Phát biểu tại Diễn đàn thế giới về xã hội thông tin (The World Summit on the
Trang 11Information Society) tổ chức tại Tunisia từ ngày 16-18/10/2005, ông KofiAnan, nguyên Tổng thư ký liên hiệp quốc đã khẳng định:
Liên hiệp quốc trước kia chỉ quan hệ chính thức với các Chính phủ Nhưng giờ đây chúng tôi hiểu rằng hoà bình và thịnh vượng không thể đạt được mà không có đóng góp của các đối tác, bao gồm các chính phủ, các tổ chức quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội dân sự Trong thế giới ngày nay, chúng tôi tin cậy vào vai trò của từng đối tác.(8)
Tuy nhiên, không chỉ ngày nay, tầm quan trọng của xã hội dân sự mới được khẳng định C Mác đã từng khái quát vai trò của xã hội dân sự là: “Xã hội công dân đó là trung tâm thực sự, vũ đài thực sự của toàn bộ lịch sử” (9) Ý nghĩa của nhận định này là ở chỗ, giai cấp nào, lực lượng xã hội nào, đảng chính trị nào muốn chiến thắng đều phải chiến thắng ở xã hội công dân
Trong mỗi quốc gia, cấu trúc xã hội bao gồm chủ yếu 3 thành phần là: Nhà nước, Thị trường và Xã hội dân sự Dưới giác độ nghiên cứu phát triển, Nhà nước pháp quyền – kinh tế thị trường – xã hội dân sự được coi là 3 trụ cột của sự phát triển Giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội dân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển của mỗi quốc gia
Sơ đồ 1: Lý thuyết “tam giác phát triển”
Mô hình trên miêu tả quá trình phát triển của “tam giác phát triển” Theo đó, ba yếu tố nhà nước, thị trường và xã hội dân sự là ba cạnh của một tam giác Nguồn lực của một quốc gia do 3 yếu tố đó hợp lại bằng chu vi của tam giác (tổng ba cạnh) và không đổi tại thời điểm khảo sát Hiệu quả của sự phối hợp giữa 3 yếu tố đó được thể hiện bằng diện tích tam giác, ký hiệu là S Nếu giải quyết 3 mối quan hệ đó không cân đối, chúng ta
Trang 12có một tam giác thường với các cạnh không bằng nhau; khi đó, diện tích tam giác sẽ là nhỏ nhất (S1)
Nếu ba cạnh của “tam giác phát triển” bằng nhau thì xã hội sẽ phát triển cân đối Diện tích do ba cạnh của tam giác đều tạo thành là lớn nhất (S2 > S1)
Ở trình độ lý tưởng, khi nhà nước, thị trường và xã hội dân sự xâm nhập vào nhau, chuyển hoá cho nhau đến mức một chủ thể tham gia vào đời sống xã hội có thể đại diện cho nhà nước, cho thị trường và cho xã hội dân sự; khi đó, “nhà nước không còn là
nhà nước theo đúng nghĩa của nó nữa”(10) Nhà nước mất tính chính trị, thị trường mất
tính hàng hoá, xã hội dân sự mất tính nhóm Ở trình độ này, các quan hệ kinh tế, chính trị
và xã hội thay đổi về chất Nhà nước tiêu vong, các quan hệ thị trường thay đổi, con người được giải phóng triệt để; đó là “khi mọi người đã học được cách quản lý xã hội” –
“khi đó nói chung bất cứ việc quản lý nào cũng đều trở nên không cần thiết nữa” (11)
Các cạnh của tam giác đã chuyển hoá thành đường tròn và diện tích tam giác lúc này đã chuyển thành diện tích hình tròn, tạo nên hiệu quả cực đại: S3 > S2 > S1
Xét về mối quan hệ giữa xã hội dân sự với Nhà nước và Thị trường, có thể thấy rằng, 3 yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó Nhà nước với ưu thế là quyền lực chính trị, với các thiết chế quyền lực công, luôn giữ vai trò chi phối
Nhà nước là một thiết chế quyền lực công, có quyền hạn quyết định mức độ, phạm vi của ‘không gian dân sự ngoài nhà nước’- xã hội dân sự Nhà nước thông qua luật pháp và các thiết chế hành chính của mình có thể công nhận, tôn trọng và đảm bảo sự vận hành độc lập, sự phát triển của xã hội dân sự Nhưng, đồng thời, cũng chính Nhà nước có thể, bằng quyền lực chính trị, hạn chế, thu hẹp hoặc thậm chí triệt tiêu xã hội dân sự
Với chức năng duy trì trật tự công cộng, Nhà nước có quyền đưa ra những hạn chế cụ thể đối với quyền lập hội, lập phường của nhân dân Tuy nhiên những hạn chế này chỉ được coi là chính đáng về mặt thể chế chính trị, và phù hợp pháp luật quốc tế, khi có
lý do chính đáng do việc bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, và vì sự đảm bảo quyền và tự do cơ bản của các công dân khác
Bên cạnh đó, Nhà nước với chức năng xã hội, tạo điều kiện để phát huy quyền lập hội, quyền hội họp, quyền tham gia các công việc của nhà nước và xã hội theo đúng
Trang 13quy định của pháp luật Công chức, cơ quan quyền lực được đặt vào vị trí ‘công bộc’ của nhân dân, chứ không là ‘quan cai trị’ Bộ máy Nhà nước phục vụ hoạt động theo các nguyên tắc minh bạch, công khai, có trách nhiệm Do vậy việc hình thành một xã hội dân
sự mạnh không chỉ là một nhu cầu của nhân dân, mà cũng đồng thời là một mong muốn của nhà nước pháp quyền Trong trường hợp này nhà nước và xã hội dân sự có mối liên
hệ mật thiết, bổ sung lẫn cho nhau
Về mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước, thực tiễn cho thấy, mặc dù xã hội dân sự rất quan trọng, nhưng trong mọi trường hợp xã hội dân sự cũng chỉ là một trong 3 bộ phận cấu thành của một xã hội quốc gia Xã hội dân sự dù có mạnh mẽ tới đâu cũng không thể thay thế Nhà nước Nhà nước và xã hội dân sự có vai trò và sứ mệnh riêng trong tiến trình phát triển xã hội Để phát triển bền vững, lành mạnh, giữa xã hội dân sự và nhà nước phải có quan hệ bổ sung lẫn nhau Nhà nước lấn lướt, o ép xã hội dân
sự thì dễ trở thành chuyên quyền độc đoán Xã hội dân sự đối lập với Nhà nước, cạnh tranh với Nhà nước về quyền lực thì dễ đưa tới tình trạng vô chính phủ
Với Thị trường, xã hội dân sự là không gian quan hệ phi lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, sản xuất nhằm bảo vệ lợi ích của các ngành nghề, chia sẻ thông tin thông qua các hội, phường, hiệp hội Khi tham gia thị trường, các cá nhân, doanh nghiệp cũng có nhu cầu liên kết, lập hội, lập phường vì những mối quan tâm chung về sản phẩm,
về thị trường, giá cả… Bên cạnh những hội, phường kinh doanh sản xuất, xã hội dân sự còn được biết đến thông qua những tổ chức của những người tiêu dùng, những tổ chức môi trường là những tổ chức có nhiều quan tâm tới tác động của thị trường về giá cả, chất lượng hàng hoá đối với người tiêu dùng, cũng như về tác động môi trường của những hoạt động sản xuất, kinh doanh Một xã hội dân sự mạnh sẽ là điều kiện tốt để đảm bảo kinh doanh bình đẳng, thân thiện với môi trường và xã hội Và ngược lại, nếu xã hội dân sự yếu thì sẽ là cơ hội cho sự thăng hoa của chủ nghĩa lợi nhuận thuần tuý
1.1.1.3 Đặc điểm của xã hội dân sự ở Việt Nam
Trong một thời gian dài, thuật ngữ xã hội dân sự được xem là nhạy cảm, đặc biệt sau khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ Do vậy, việc tiếp cận và nghiên cứu về xã hội dân sự ở nước ta chưa được quan tâm đúng mực, dẫn đến nhận thức về vấn
Trang 14đề này chưa đầy đủ, đôi khi có những quan điểm phiến diện về vai trò, tác động của xã hội dân sự trong xây dựng và phát triển đất nước
Bắt đầu từ năm 2005, với sự giúp đỡ của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công dân (CIVICUS), Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), lần đầu tiên tại Việt Nam, vấn đề xã hội dân sự đã được Viện Những vấn đề phát triển (VIDS – thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam) tiến hành nghiên cứu thông qua Dự án CIVICUS-CSI-SAT và vừa xuất bản báo cáo đánh giá ban đầu Theo đánh giá của báo cáo này thì bối cảnh lịch sử của xã hội dân
sự tại Việt Nam trải qua bốn giai đoạn phát triển:
- Trước năm 1945: với đặc điểm là một xã hội mà trong đó cộng đồng làng xã ít phụ thuộc vào Nhà nước tư duy người dân hình thành tinh thần đấu tranh chồng ngoại xâm đã góp phần vào tình trạng khép kín trong hệ thống hành chính quan liêu của Việt Nam;
- Sau năm 1945: xã hội dân sự được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ chuyển thành những tổ chức quần chúng;
- Sau 1975: Công cuộc đổi mới (1986) và sự sụp đổ của các nước XHCN Đông
âu đã làm cho Việt Nam mỏ cửa cải cách cho khu vực hợp tác xã, khuyến khích kinh tế
hộ gia đình, cho thành phần tư nhân, đầu tư nước ngoài, cải cách tổ chức kinh tế và tài chính, hợp tác với nước ngoài, đặc biệt là bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (1995);
- Giai đoạn cuối cùng hình thành trong thập niên 90 với sự bùng nổ của nền kinh
tế Việt Nam, các cải cách pháp luật và hành chính song hành với quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Cùng với bối cảnh lịch sử như trên, xã hội dân sự Việt Nam được hình thành khôi phục, phát triển và mở rộng không ngừng Nếu trước nám 1986, các tổ chức xã hội chủ yếu bao gồm các tổ chức quần chúng (các tổ chức chính trị-xă hội) như Công đoàn, Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, thì từ đầu thập niên 90 việc mở của xã hội cho các thành phần kinh tế khác cũng tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội và việc phục hồi các tập quán liên quan đến sinh hoạt hàng ngày, một phần theo các hình thức mới Một xã hội dân sự rộng lớn hơn đã xuất hiện và nở rộ các tổ chức
Trang 15Mặc dù dự án đưa ra 7 nhóm chính để cung cấp một cái nhìn khái quát về Xã hội dân sự ở Việt Nam (bao gồm cả các tổ chức tín ngưỡng và các tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt Nam), nhưng phạm vi nghiên cứu, khảo sát chính thức về xã hội dân sự ở Việt Nam được thông qua 4 nhóm sau đây:
1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức quần chúng trực thuộc;
2 Các hội nghề nghiệp, bao gồm cả các tổ chức liên hiệp hội thuộc Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam;
3 Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam (cũng được gọi là các tổ chức khoa học
và công nghệ nếu đăng ký thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam);
4 Các nhóm không chính thức tại cộng đồng
Nói cách khác, tổ chức xã hội ở Việt Nam bao gồm 4 nhóm như kể trên So với cách tiếp cận của thế giới thì có 2 điểm lưu ý thể hiện đặc thù của Việt Nam Đó là: thứ nhất, nhóm 1 gồm Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng trực thuộc mặc dù có mối quan hệ rất chặt chẽ với Đảng và Chính phủ nhưng vẫn được coi là những tổ chức xã hội dân sự; thứ hai, đảng chính trị, các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài không được coi là thành phần thuộc xã hội dân sự Việt Nam
Đánh giá tổng quan về xã hội dân sự ở Việt Nam, dự án CIVICUS-CSI-SAT đã đưa ra sơ đồ Hình thoi xã hội dân sự thể hiện bốn bình diện Xã hội dân sự ở Việt Nam;
đó là: cấu trúc xã hội, môi trường xã hội, tác động xã hội và các giá trị xã hội với thang điểm cho mỗi bình diện là từ 0-3 điểm
Trang 161.4 1.6
1.7
0 1 2 3
Cấu trúc
Môi trường
Tác động Các giá trị
Sơ đồ 2: Hình thoi Xã hội dân sự ở Việt Nam
(nguồn: dự án CIVICUS CSI-SAT)
Kết quả điều tra, khảo sát của dự án cho thấy, Hình thoi Xã hội dân sự ở Việt Nam có độ lớn vừa phải và khá cân bằng, nó cũng phản ánh quan điểm đánh giá tương đối lạc quan khi so sánh với các đánh giá của các chuyên gia quốc tế Bình diện “Tác động” có giá trị thấp hơn ba bình diện còn lại
- “Cấu trúc” của Xã hội dân sự có cả điểm mạnh và yếu điểm (điểm số là 1,6) Quy mô của Xã hội dân sự đặc biệt rất rộng lớn do bao gồm các Tổ chức quần chúng, nhưng ngay cả không kể đến các tổ chức quần chúng, thì Xã hội dân sự cũng đã to lớn
Có đến “74% số công dân là thành viên của tối thiểu một tổ chức, 62% là thành viên của
từ 2 tổ chức Xã hội dân sự trở lên, và tính bình quân mỗi công dân tham gia 2,3 tổ chức” (12) Các tổ chức quần chúng có khi giảm đi phần ý nghĩa của nó ở chỗ các hội viên tham gia mang tính hình thức hơn là hoạt động một cách tích cực, tuy nhiên họ lại tạo ra một khuôn khổ quan trọng từ trung ương tới cấp độ cộng đồng trong các hoạt động tùy theo nhu cầu và mối quan tâm của từng địa phương Một loại hình tổ chức mới, đó là các tổ chức phi chính phủ Việt Nam, đã được thành lập trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, chủ yếu ở các thành phố và đã mở ra một bình diện mới cho đời sống Các tổ chức này có ít hội viên, nhưng lại phục vụ cho những nhóm người thiệt thòi mà trước đây ít được quan tâm Trong những năm gần đây các nhóm cộng đồng đã bắt đầu nở rộ tại vùng nông thôn
để hỗ trợ cho các hoạt động đời sống, các nhóm văn hóa và vui chơi giải trí cũng được
Trang 17mở rộng đáng kể Cho dù có rất nhiều tổ chức bao trùm lên các cơ cấu tổ chức, nhưng nhiều khi còn mang tính hình thức và ít điều phối các hoạt động giữa các tổ chức với nhau
- Bình diện yếu thứ hai trong số bốn bình diện trên là “Môi trường” xã hội (điểm
số là 1,4), đặc trưng bởi các hạn chế về chính sách, thiếu quy định và còn tồn tại những thủ tục minh bạch cho việc thành lập và hoạt động môi trường để xã hội dân sự hoạt động đã được thúc đẩy trên văn bản, nhưng trên thực tế yếu tố khích lệ phát huy sự tham gia của xã hội dân sự trong công cuộc phát triển còn yếu Tuy nhiên, thập kỷ vừa qua đã chứng kiến một số cải thiện, không gian hoạt động cả Xã hội dân sự đã được mở rộng theo hướng tích cực, nhưng vẫn còn một chặng đường dài trước khi có thể nói về một môi trường khuyến khích cho các tổ chức xã hội dân sự Dự án cũng thấy được một đặc điểm khác biệt của bối cảnh Việt Nam, nơi mà môi trường dành cho xã hội dân sự, một mặt phụ thuộc rất nhiều vào không gian mà Nhà nước dành cho các tổ chức xã hội, và mặt khác là vào chính sách không can thiệp tới các dạng tổ chức mới
- Các giá trị trong Xã hội dân sự được dự án đánh giá là tích cực và ở mức độ tương đối cao (điểm số là 1,7) Đặc biệt mạnh là các giá trị giảm nghèo, phi bạo lực, và bình đẳng giới, và theo đánh giá thì tất cả các tổ chức xã hội dân sự đều tăng cường các giá trị này Dữ liệu thống kê cho thấy vai trò và thành phần của phụ nữ và các cán bộ lãnh đạo là nữ giới cao hơn nhiều trong các tổ chức xã hội dân sự so với khu vực nhà nước Đánh giá ở mức độ thấp hơn, nhưng vẫn ở cấp độ trung bình, đó là các giá trị về dân chủ, lòng vị tha và môi trường bền vững trong các tổ chức, nhưng các giá trị này được đánh giá là đã được tăng cường trong xã hội
- Tác động của Xã hội dân sự tại Việt Nam đã trở thành bình diện khó khăn nhất
để đánh giá (điểm số là 1,2) Tuy nhiên, người ta phát hiện thấy rằng tất cả các loại hình
tổ chức xã hội dân sự tiếp cận tốt hơn đến tận cấp cơ sở so với các chương trình và chính sách của chính phủ Theo cách đó, các tổ chức xã hội đã có tác động mạnh mẽ hơn nhằm đảm bảo cho những người bất hạnh và những người nghèo được quan tâm tới trong các chính sách cơ bản, như HIV/AIDS, quyền trẻ em và các vấn đề giới Còn ít các tổ chức tiếp cận với vùng sâu vùng xa Các Tổ chức quần chúng và các tổ chức khác chưa có ảnh
rõ rệt đối với việc phát triển tri thức bản địa Tác động đối với các chính sách quốc gia
Trang 18trực tiếp là do kết quả của các Tổ chức quần chúng, và mới đây là do một số hoạt động của các tổ chức nghề nghiệp, có khả năng đóng góp ý kiến cho các bộ luật được Quốc hội thông qua
1.1.2 Tổ chức phi chính phủ - quan niệm của thế giới và thực tiễn Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tổ chức phi chính phủ
Qua việc tìm hiểu khái niệm xã hội dân sự, có thể thấy rằng, dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng có một “nhân vật chính”, cũng là cụm từ được biết đến khá nhiều khi đề cập tới khu vực xã hội dân sự; đó là Tổ chức phi chính phủ
Tổ chức phi chính phủ được dịch ra tiếng Việt từ tên tiếng Anh – Non Govermental Organization Tuy nhiên, cũng giống như khái niệm về Xã hội dân sự, khái niệm về Tổ chức phi chính phủ rất đa dạng, phụ thuộc vào lịch sử, cách tiếp cận và bối cảnh của từng quốc gia
Ngân hàng thế giới định nghĩa Tổ chức phi chính phủ là:
tổ chức tư nhân theo đuổi những hoạt động làm giảm bớt thiệt hại, thúc đẩy những lợi ích cho người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp những dịch vụ xã hội cơ bản, hoặc thực hiện phát triển cộng đồng Hiểu theo nghĩa rộng hơn, thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ có thể được áp dụng đối với bất kỳ tổ chức phi lợi nhuận nào độc lập với chính phủ Những tổ chức phi chính phủ điển hình là những tổ chức dựa trên, một phần hoặc toàn bộ, những giá trị từ thiện và tự nguyện Mặc dù khu vực các tổ chức phi chính phủ đã phát triển theo hướng chuyên nghiệp hoá trong 2 thập kỷ vừa qua nhưng những nguyên tắc về chủ nghĩa vị tha và tự nguyện vẫn là những đặc tính nhận biết quan trọng (13)
Từ điển bách khoa toàn thư trực tuyến Wikipedia cho rằng:
Thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ được sử dụng rất đa dạng trên thế giới, phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng, có thể được hiểu là nhiều dạng khác nhau của các tổ chức
Ở nghĩa rộng nhất, một tổ chức phi chính phủ là tổ chức mà không phải là bộ phận trực tiếp thuộc cấu trúc chính phủ
Trang 19Vì thuật ngữ phi chính phủ được đề cập với nghĩa quá rộng nên nhiều tổ chức phi chính phủ hiện nay thích dùng thuật ngữ tổ chức tự nguyện tư nhân (private voluntary organization - PVO) hoặc tổ chức phát triển tư nhân (private development organization - PDO) hơn (14)
Từ điển bách khoa toàn thư Britannica định nghĩa tổ chức phi chính phủ là:
tổ chức không thuộc cơ cấu của chính phủ Một khác biệt quan trọng để nhận biết
là giữa các nhóm phi lợi nhuận và nhóm vì mục đích lợi nhuận; đại đa số các tổ chức phi chính phủ là hoạt động không vì lợi nhuận
Mục đích của các tổ chức phi chính phủ bao gồm các lĩnh vực liên quan đến quyền và lợi ích của con người trong phạm vi một quốc gia hoặc quốc tế Tổ chức phi chính phủ có thể được tài trợ bởi các nhà tài trợ tư nhân, các tổ chức quốc tế, các chính
phủ hoặc một hình thức kết hợp các hình thức này.(15)
Sách “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) có đưa ra khái niệm về tổ chức chức phi Chính phủ là:
các tổ chức tình nguyện tư nhân, các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức tự nguyện phát triển Hiểu theo cách thông thường, các tổ chức phi chính phủ có bốn đặc trưng là: tổ chức tình nguyện, độc lập, phi lợi nhuận, mục đích nâng cao điều kiện sống của những người bị thiệt thòi hoặc vì những vấn đề chung rộng lớn của cộng đồng (16)
Qua các khái niệm trên về Tổ chức phi chính phủ, có thể thấy rằng, mặc dù có
nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng hiểu theo nghĩa rộng nhất, Tổ chức phi chính phủ là
tổ chức không thuộc cấu trúc của chính phủ
Theo cách hiểu hẹp hơn, Tổ chức phi chính phủ là tổ chức không thuộc cơ cấu
của chính phủ, được thành lập và hoạt động trên cơ sở tự nguyện, từ thiện và phi lợi nhuận nhằm mục đích bảo vệ, nâng cao chất lượng sống của con người và phát triển cộng đồng
Các đặc trưng của tổ chức phi chính phủ:
Trang 20- là tổ chức tự nguyện của cá nhân hoặc tổ chức, không thuộc cơ cấu của chính phủ; tổ chức này được thành lập một cách chính thức, về mặt pháp lý độc lập với nhà nước, mặc dù có thể được nhà nước hỗ trợ;
- hoạt động không vì mục đích lợi nhuận: có thể tạo nên thặng dư tài chính nhưng không với mục đích thu lợi riêng cho người quản lý hoặc điều hành;
- theo đuổi những mục đích liên quan đến việc thúc đẩy quyền lợi của hội viên, phát triển con người và phát triển cộng đồng;
- được tài trợ bởi các nhà tài trợ tư nhân, các tổ chức quốc tế, chính phủ hoặc bao gồm cả 3 nguồn tài trợ nói trên
1.1.2.2 Phân loại tổ chức phi chính phủ
Dựa trên những tiêu chí khác nhau, tồn tại nhiều cách phân loại các tổ chức phi chính phủ Theo Từ điển bách khoa toàn thư trực tuyến Wikiapedia, có một danh sách dài những từ viết tắt được phát triển xung quanh thuật ngữ NGO - Tổ chức phi chính phủ:
- INGO (international NGO) là tổ chức phi chính phủ quốc tế, như CARE, Helvetas (Swiss Association for International Cooperation - Hiệp hội phát triển quốc tế Thuỵ Sỹ), International Alert (tổ chức cảnh báo quốc tế)
- BINGO (business-oriented international NGO) là viết tắt của tổ chức phi chính phủ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực kinh tế ;
- RINGO (religious international NGO) là tổ chức phi chính phủ quốc tế về tôn giáo, như Catholic Relief Services
- ENGO (environmental NGO) là tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực môi trường, như Global 2000;
- GONGO (government-operated NGOs) là tổ chức phi chính phủ do chính phủ thành lập để có tư cách hoạt động đối với những trợ giúp bên ngoài;
- QUANGOs (quasi-autonomous NGOs) là tổ chức bán phi chính phủ Loại tổ chức này do chính phủ tài trợ kinh phí nhưng lại hoạt động độc lập với chính phủ, như the International Organization for Standardization (ISO) - Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, mà
Trang 21thực tế không phải là một tổ chức phi chính phủ nguyên nghĩa, khi thành viên của nó là các quốc gia, và nhiều quốc gia ở châu Âu được đại diện bởi cơ quan của chính phủ mình trong ISO (17)
Ngân hàng Thế giới lại chia các tổ chức phi chính phủ thành 2 loại theo lĩnh vực hoạt động và phản biện xã hội
Mục đích nguyên khởi của một tổ chức phi chính phủ theo lĩnh vực hoạt động là thiết kế và thực hiện các dự án liên quan đến phát triển Còn mục đích trước tiên của tổ chức phi chính phủ phản biện xã hội là để bảo vệ hoặc thúc đẩy một mục đích cụ thể Đối lập với việc quản lý các dự án theo lĩnh vực hoạt động, các tổ chức điển hình dạng này cố gắng nâng cao nhận thức, hiểu biết và kiến thức thông qua các hoạt động lobby, hoạt động báo chí và các hoạt động sự kiện
1.1.2.3 Tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
Tiền thân của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong thập kỷ 90 dưới tên gọi các tổ chức khoa học và kỹ thuật phi lợi nhuận hoặc các tổ chức nghiên cứu và phát triển khoa học-kỹ thuật Sau đó, các tổ chức này được gọi là “các tổ chức xã hội,” “các tổ chức theo chuyên đề” các “tổ chức phi chính phủ địa phương” và gần đây gọi là các “tổ chức phi chính phủ Việt Nam” (18) Hầu hết các tổ chức này thuộc một nhóm các tổ chức theo khuynh hướng phát triển Một số ít được thành lập trước năm
1988 Nghị định số 35/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 28/1/1992 về thành lập các
tổ chức khoa học và kỹ thuật phi lợi nhuận đã mở ra thời kỳ phát triển mới đối với các tổ chức phi chính phủ Việt Nam Đa số các tổ chức này được thành lập từ giữa năm 1992 và đến năm 2000 Một số trung tâm có mục đích tương tự đã được thành lập theo cùng khuôn khổ pháp lý đó; các tổ chức này thường nhỏ hơn và ít phức tạp hơn các Hiệp hội Các trung tâm địa phương có thể được thành lập tại địa phương với sự chấp thuận của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, người đứng ra thành lập trung tâm thường công tác tại một trường đại học, viện nghiên cứu quốc gia hoặc hiệp hội địa phương hoặc là một cán bộ nhà nước
đã nghỉ hưu “Trước năm 1992, một số các trung tâm đã được thành lập với sự hỗ trợ của Nhà nước, nhưng sau năm 1992 các trung tâm đó hoạt động độc lập hơn với sự hỗ trợ rất
ít từ nhà nước” (19)
Trang 22Như đã phân tích theo cách tiếp cận của thế giới ở phần trên, về thực chất, tổ chức phi chính phủ đơn thuần là tổ chức không thuộc cơ cấu chính phủ Nhưng ở nước ta, xét về khía cạnh ngôn ngữ, cụm từ “phi chính phủ” thường được liên hệ với những vấn
đề không tích cực, vô chính phủ, đối lập với nhà nước nên đã gây ra sự khó khăn trong việc sử dụng thuật ngữ này Do vậy, mặc dù đã tồn tại trên thực tế nhưng đến năm 1992, Luật Tổ chức chính phủ mới là văn bản pháp luật đầu tiên của nước ta đề cập đến thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ” (tại khoản 9 điều 20, Luật Tổ chức chính phủ năm 1992) Sau đó, thuật ngữ này xuất hiện trong Luật Hợp tác xã 1996, Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo năm 2002 “Giờ đây cụm từ này nhìn chung được chấp nhận như một cụm từ du nhập từ ngoài vào để chỉ một loại tổ chức nhất định” (5, trang 21)
Vậy, “loại tổ chức nhất định” này là loại tổ chức nào, bao gồm những dạng thức
tổ chức ra sao? Theo Báo cáo đánh giá ban đầu về xã hội dân sự tại Việt Nam của dự án CIVICUS CSI-SAT thì dựa trên bản chất tổ chức, khu vực hoạt động và cơ quan bảo trợ, các tổ chức phi chính phủ Việt Nam được hiểu gồm:
- Các tổ chức khoa học và công nghệ phi lợi nhuận/các tổ chức theo chuyên đề;
- Các quỹ hỗ trợ người nghèo, tàn tật, ốm đau
Cũng theo số liệu của Báo cáo này, hiện có 200 quỹ xã hội và 800 tổ chức khoa học và công nghệ (5, trang 25)
Xét về giác độ số lượng hội viên thì: các tổ chức khoa học và công nghệ phi lợi nhuận là các tổ chức phi chính phủ có hội viên; các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, các trung tâm nhân đạo là các tổ chức phi chính phủ không có hội viên
Như vậy, so sánh với cách tiếp cận của thế giới thì tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp, nhưng ngay cả hiểu ở nghĩa hẹp thì vẫn có 2 điểm khác biệt Đó là: thứ nhất, tổ chức phi chính phủ Việt Nam không bao gồm các tổ chức tôn giáo; thứ hai, tổ chức phi chính phủ Việt Nam không phải là thuật ngữ đồng nghĩa với tổ chức xã hội dân sự như ở một số nước mà là một loại hình tổ chức thuộc cơ cấu của tổ chức xã hội dân sự
1.2 NHẬN THỨC CHUNG VỀ HỘI
Trang 231.2.1 Khái niệm, đặc điểm của hội
Quan sát việc tranh luận về khái niệm, định nghĩa về hội trong thời gian qua, có thể thấy rằng, việc đưa ra khái niệm về hội là công việc hết sức khó khăn, do những đặc thù như sau:
- Thứ nhất, về mặt ngôn ngữ: ”hội” là từ được quen dùng ở Việt Nam để chỉ các
tổ chức quần chúng, khi mà trong các văn bản của Đảng và các sách báo xuất bản trước đây chúng ta vẫn thường thấy xuất hiện cụm từ ”hội quần chúng” Mức độ sử dụng ngôn ngữ ”quen”đến mức, khó có thể sử dụng cụm từ nào mang ý nghĩa phổ biến của quốc tế
để thay thế cho ”hội” ở Việt Nam Dịch ra tiếng Anh, hội sẽ tương đương với
”Association”, nhưng khi tìm hiểu khái niệm này, người ta thấy rằng, nội hàm của ”hội” theo cách hiểu ở Việt Nam không đồng nhất với nội hàm của khái niệm ”Association” Trong khi đó, các nước trên thế giới khi nói đến khu vực xã hội dân sự, người ta thường nhắc tới Tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, dù rằng, ở mỗi quốc gia, như đã phân tích ở các phần trên, có cách định nghĩa và diễn giải khác nhau
- Thứ hai, về cách tiếp cận khái niệm: ”hội” được thế giới xem xét, nhìn nhận là
một trong những thành tố của xã hội dân sự trong mối quan hệ với nhà nước, thị trường Trong khi đó, ở nước ta, ”hội” được coi là một trong những thành tố của hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, nhà nước, mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng
- Thứ ba, về yếu tố chủ quan của nhà làm luật: về ý nghĩa ngôn ngữ học, khái
niệm hội đã đạt được sự thống nhất khi thể hiện trong các từ điển tiếng Việt Nhưng khái niệm về hội mà trong thời gian qua được đưa ra xem xét, thảo luận, thực chất, là khái niệm ở khía cạnh pháp lý Do đó, khi nhà làm luật muốn áp đặt ý chí của mình đến mức
độ nào thì sẽ xuất hiện một khái niệm về hội phản ánh ý chí chủ quan ở mức độ đó Ví
dụ, khi muốn công dân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thuộc đối tượng điều chỉnh của
dự thảo Luật về hội thì trong khái niệm hội sẽ xuất hiện đối tượng này; hoặc nếu nhà làm luật không muốn điều chỉnh các hội không có tư cách pháp nhân thì đối tượng này trong khái niệm hội sẽ bị loại trừ
Trang 24Trong những khó khăn đó, khái niệm hội trong luận văn này sẽ cố gắng được đưa
ra trên cơ sở phân tích những đặc thù của tình hình thực tiễn Việt Nam, đồng thời có so sánh, tiếp thu những nội dung phù hợp của pháp luật quốc tế
Trước hết, xem xét tới quan niệm của các học giả cũng như định nghĩa trong văn bản của Việt Nam về vấn đề này:
Ngay từ khi ban hành các văn bản về hội đầu tiên của nước ta, khái niệm “Hội”
đã được đề cập Sắc lệnh số 52/SL ngày 22 tháng 4 năm 1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Điều 1 có nêu: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt mục đích chung;
mục đích ấy không phải để chia lợi tức” (20)
Nghị định 88 giải thích:
Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần việc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan (21)
Từ hai văn bản trên cho thấy cách hiểu từ trước đến nay của các nhà lập pháp Việt Nam về hội đó là: tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam; có chung mục đích; hoạt động thường xuyên (tính chất vĩnh cửu); không vì mục tiêu lợi nhuận
Từ điển Tiếng Việt do Viện khoa học xã hội xuất bản năm 1992 giải thích hội là
“tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động” (22)
- Sách “Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nước” nêu cách hiểu
về hội:
là những tổ chức tự nguyện của quần chúng Những tổ chức đó tập hợp đông đảo người cùng ngành nghề, hoặc cùng sở thích…Họ cùng góp kiến thức, sức lực và hành động một cách thường xuyên để đạt một mục đích nào đó, do những người tự nguyện sáng
Trang 25lập đề ra, mục đích đó không trái với lợi ích dân tộc và Tổ quốc, không vụ lợi và trong khuân khổ pháp luật (23, trang 12)
Từ điển hành chính do ông Tô Tử Hạ nguyên Phó trưởng ban Ban Tổ chức cán
bộ chính phủ làm chủ biên – Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội năm 2003 lại cho rằng: “Hội
là tổ chức tự nguyện của các công dân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích… tập hợp lại nhằm đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của hội viên, không vì mục đích vụ lợi”.(24)
Theo Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Vụ Tổ chức phi chính phủ, Bộ Nội
vụ chủ trì thực hiện về “Nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước của Bộ Nội vụ đối với hội và tổ chức phi chính phủ trong thời kỳ đổi mới” thì:
Hội là tổ chức xã hội tự nguyện của các thể nhân hoặc của các pháp nhân cùng ngành nghề, lĩnh vực hoặc cùng sở thích hoặc cùng giới tự nguyện thành lập theo quy định pháp luật nhằm mục đích: tập hợp, đoàn kết, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hoạt động thường xuyên, không vụ lợi; hỗ trợ nhau hoạt động hiệu quả để góp phần phát triển xã hội (25, trang 14)
Tác giả Nguyễn Xuân Hải, nguyên Vụ trưởng, Tạp chí Cộng sản, có bài nghiên cứu công phu về “Đi tìm một khái niệm về hội” cho rằng:
Hội là tổ chức tự nguyện của quần chúng, tập hợp những người cùng ngành nghề, hoặc cùng giới, sở thích cùng góp kiến thức, sức lực, tiền của và hành động một cách thường xuyên, liên tục để đạt một mục đích nào đó do những người tự nguyện sáng lập
đề ra, mục đích đó không trái với lợi ích dân tộc và tổ quốc, không vụ lợi và trong khuôn khổ pháp luật, (26, trang 216)
Như vậy, qua việc nghiên cứu các khái niệm do các tác giả Việt Nam đưa ra, có thể thấy, hội có những đặc điểm sau:
- là tổ chức tự nguyện của quần chúng;
- tập hợp của những người có cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích ;
- hoạt động thường xuyên, liên tục;
- không vì mục đích lợi nhuận;
Trang 26- mục đích hoạt động không trái với lợi ích dân tộc, tổ quốc và trong khuôn khổ pháp luật
Với nhận thức như trên, hội theo cách hiểu của các tác giả Việt Nam không bao gồm “các nhóm và tập thể tự nguyện khác do nhân dân tự nguyện bột phát, tức thời lập ra (các nhóm đó không có điều lệ, không có đóng góp vật chất, sức lực, trí tuệ, không có hệ thống tổ chức thống nhất, cố kết không chặt chẽ và không thường xuyên hành động)” (27, trang 2) Cũng theo tài liệu này, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và 5 tổ chức quần chúng trực thuộc (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) “cũng là các hội quần chúng tự nguyện, nhưng được tổ chức theo các nguyên tắc chặt chẽ hơn, quan hệ chặt chẽ và trực tiếp hơn với đảng cầm quyền, chịu sự lãnh đạo
và chỉ đạo trực tiếp của đảng cầm quyền, làm nòng cốt trong mọi hoạt động và tổ chức của các hội quần chúng” (27, trang 2) Hội, theo quan niệm của Việt Nam cũng không bao gồm Đảng chính trị và các tổ chức tôn giáo
Tuy nhiên, các tác giả Việt Nam còn chưa thống nhất ở nội dung: hội có bao gồm các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu (trừ các quỹ, trung tâm do hội lập ra) không? Trong khi tác giả Xuân Hải cho rằng hội bao gồm cả hội có hội viên và hội không có hội viên (các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu ) thì hầu hết các tác giả khác lại đề xuất khái niệm, đặc trưng của hội có thêm yếu tố là có hội viên
Một số nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế đã có những nghiên cứu khá đầy đủ về khái niệm hội:
Điều 1, Luật về Hội ngày 1/7/1901 của Pháp đưa ra định nghĩa:
Hội là thoả thuận theo đó hai hoặc nhiều cá nhân thường xuyên đóng góp kiến thức và các hoạt động của họ vào đó nhằm thực hiện một mục đích cụ thể nhưng không phải là mục đích chia sẻ lợi nhuận Hội chịu sự điều chỉnh của những nguyên tắc chung
về trái vụ và hợp đồng (28, trang 8)
Điều 1274, Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, định nghĩa: “Hợp đồng thành lập hội liên hiệp là một hợp đồng, qua đó, nhiều người thoả thuận hợp nhau lại để cùng tiến hành một hoạt động chung ngoài mục đích chia lời” (29, trang 332)
Trang 27Từ điển pháp luật Barron’s đưa ra định nghĩa ngắn gọn: “Hội là tổ chức liên kết
tự nguyện của nhân dân vì một mục đích chung nhất định” (30)
Từ điển pháp luật của The Free Dictionary định nghĩa: “Hội là tập hợp của bất kỳ nhóm người nào có chung một mục đích cụ thể, từ lĩnh vực xã hội cho tới lĩnh vực kinh doanh” (31)
Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu chính sách của trường Đại học Johns Hopkins ở khoảng 40 quốc gia trên thế giới, bao gồm cả các nước phát triển và các nước đang phát triển trong thời ký 1995-1998, cho thấy, các tổ chức hội và xã hội dân sự chiếm vị trí quan trọng cả về kinh tế, chính trị xã hội và thể chế trên thế giới
Theo quan điểm của tổ chức này, ngoài các định nghĩa về mặt luật pháp của các quốc gia khác nhau về hội (thực ra ở tài liệu gốc tiếng Anh là cụm từ ”civil society organisation” – tổ chức xã hội dân sự - (32)), có 2 cách nhìn nhận về các tổ chức hội cần xem xét:
Một là, dựa vào nguồn tài chính của các tổ chức này Nguồn tài chính của các tổ
chức hội chủ yếu là đóng góp cá nhân không phải do các giao dịch từ thị trường hay từ ngân sách nhà nước Theo khái niệm này, các đặc điểm của các tổ chức hội như tính tự nguyện và tính phí lợi nhuận không được nhấn mạnh
Hai là, theo chức năng tổ chức, hội có các đặc trưng như sau:
- Có cấu trúc và tổ chức hoạt động thường xuyên cho dù có được đăng ký chính thức hay không Nghĩa là hội bao gồm cả các tổ chức phi chính thức, nằm ngoài khu vực nhà nước và thị trường
- Có thể nhận tiền từ nhà nước, nhưng không phải là một bộ phận của nhà nước
- Không vì mục tiêu lợi nhuận: hội có thể làm ra lợi nhuận nhưng không để phân phối cho cá nhân như chủ sở hữu, giám đốc
- Tự quản nghĩa là hội có quyền tự xây dựng cơ chế hoạt động, tự chấm dứt hoạt động và kiểm soát các vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của hội
- Tự nguyện: tham gia làm thành viên của hội là hoàn toàn tự nguyện không theo đòi hỏi của pháp luật hoặc cưỡng chế bởi bất cứ ai
Trang 28Theo cách nhìn nhận này, hội sẽ không bao hàm các đảng phái chính trị (33) Như vậy, về ngoại diên, khái niệm về hội của Việt Nam được trình bày cụ thể hơn, diễn đạt chi tiết hơn về các đặc trưng của hội; trong khi đó, khái niệm của quốc tế thường diễn đạt theo cách phổ quát nhất Về nội hàm, khái niệm về hội của Việt Nam với khái niệm về hiệp hội, tổ chức xã hội dân sự của thế giới có nhiều điểm tương đồng Một
số vấn đề còn khác nhau là: (i) vấn đề về Mặt trận tổ quốc (trên thế giới không có loại hình tổ chức này); (ii) hội theo cách tiếp cận của thế giới không chỉ có các tổ chức chính thức (có đăng ký, có tư cách pháp nhân), mà còn bao gồm cả các tổ chức không chính thức (không đăng ký, không có tư cách pháp nhân); (iii) một số ý kiến cho rằng hội bao gồm cả các tổ chức hội không có hội viên
Đối với những vấn đề này, trong nỗ lực tìm kiếm một khái niệm mới về hội, chúng tôi đề xuất cách tiếp cận như sau:
(i) Không nên coi Mặt trận tổ quốc Việt Nam là một loại hình tổ chức hội Bởi lẽ,
đây là chế định xã hội rất đặc thù của Việt Nam, “là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp
tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài” (37, điều 1, khoản 1) Như vậy, dù có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhưng về tính chất, Mặt trận tổ quốc Việt Nam là một liên minh chính trị, là cơ
sở chính trị của chính quyền nhân dân (37, điều 1, khoản 2), là “diễn đàn” tập hợp các tổ chức thành viên chứ không phải là liên minh, tập hợp tự nguyện vì mục đích ngành nghề,
sở thích Xét theo cấu trúc đơn thuần, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là lớp “vỏ” bên ngoài, các tổ chức trực thuộc là các “hạt kết cấu” bên trong Mặt khác, trong 29 tổ chức trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì có 1 tổ chức chính trị (Đảng Cộng sản Việt Nam) và 3 tổ chức tôn giáo (Giáo hội phật giáo Việt Nam, Uỷ ban đoàn kết Công giáo Việt Nam, Hội thánh Tin lành Việt Nam) Nếu Mặt trận tổ quốc Việt Nam được coi là hội thì sẽ đồng nghĩa với việc Đảng và 3 tổ chức tôn giáo cũng là hội, điều này trái với những phân tích về phạm vi của hội
Trong khi đó, 5 tổ chức quần chúng trực thuộc Mặt trân tổ quốc Việt Nam là những tổ chức lớn, có quy mô hoạt động ở tất cả các cấp hành chính-lãnh thổ, được hỗ
Trang 29trợ kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước, có lịch sử hoạt động vẻ vang Tuy nhiên, xét về măt tổ chức và tính chất hoạt động, những tổ chức này cũng là những tổ chức nằm ngoài bộ máy nhà nước với những tiêu chí của ‘Hội’ như tự nguyện, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi, chăm lo lợi ích của hội viên, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Do vậy, 5 tổ chức này nên được coi là một trong thành tố của hội
(ii) Hội nên bao gồm cả tổ chức hội có tư cách pháp nhân (có đăng ký) và tổ
chức hội không có tư cách pháp nhân (không đăng ký) Nếu đăng ký, có tư cách pháp
nhân, có con dấu, hội có quyền tham gia các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; nếu không có nhu cầu, hội không cần đăng ký, không cần có tư cách pháp nhân và đương nhiên, một số giao dịch theo pháp luật của hội bị hạn chế Việc không đăng ký, không có tư cách pháp nhân không làm mất đi bản chất của hội, mà chỉ khẳng định thêm tính chất tự nguyện của hội
(iii) Hội không nên bao gồm cả tổ chức hội không có quy chế hội viên Khái niệm
về hội theo nhiều quốc gia trên thế giới và tổ chức quốc tế đều có yếu tố hội viên, trong khi đó, hội theo ngôn ngữ tiếng Việt được hiểu là tập hợp của một ”nhóm người” nên các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu không có hội viên không nên được xem xét trong khái niệm về hội Bên cạnh đó, hội viên chính thức của hội nên có tối thiểu là 3 người để dễ quyết định những vấn đề biểu quyết tự nguyện trong công tác quản lý nội bộ
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về hội như sau: Hội là tổ chức liên kết tự
nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất 3 cá nhân hoặc tổ chức, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên hoặc vì lợi ích công cộng
Theo khái niệm này, hội ở Việt Nam gồm cả hội có tư cách pháp nhân và hội
không có tư cách pháp nhân, nhưng không bao gồm các tổ chức không có thành viên như quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu
Trên cơ sở khái niệm này, có thể đưa ra một số đặc trưng sau đây của hội:
- là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân;
- có hội viên chính thức;
Trang 30- hoạt động thường xuyên;
- không vì mục đích lợi nhuận;
- bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên hoặc vì lợi ích công cộng
1.2.2 Phân loại hội
Các tổ chức hội thường được phân loại theo hai loại tiêu chí chủ yếu là: tiêu chí thành viên và tiêu chí mục tiêu hoạt động
Dựa theo tiêu chí thành viên, có thể phân thành hai loại tổ chức hội: hội có quy chế hội viên và hội không có quy chế hội viên
- Hội có quy chế hội viên, thường được gọi là hội, hiệp hội, liên đoàn là một loại tổ chức xã hội được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết tự nguyện, bình đẳng của các hội viên (có thể là cá nhân hoặc tổ chức)
- Hội không có quy chế hội viên, thường có tên gọi là Trung tâm, Viện nghiên cứu, Quỹ là một loại tổ chức xã hội do một hoặc một số cá nhân làm sáng lập viên thành lập Hoạt động của hội không có quy chế hội viên được điều chỉnh bằng quy chế, điều lệ do các sáng lập viên thông qua Tổ chức loại này không có hội viên; nhân viên làm việc trong tổ chức hội không có hội viên được hưởng các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng lao động mà họ ký với nhà quản lý
Theo tiêu chí mục tiêu hoạt động, có thể phân thành hai loại hội chủ yếu: hội hoạt động vì quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên và hội hoạt động vì phúc lợi xã hội
- Hội hoạt động vì quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên thường được coi là
những tổ chức ‘đóng’ Thành viên của những hội này chỉ hạn chế trong một phạm vi nghề nghiệp, sở thích, hoặc mối quan tâm nhất định Những tổ chức hội loại này chủ yếu tập trung vào những hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích, hoặc đáp ứng sở thích, nhu cầu của một nhóm những thành viên cùng nghề nghiệp, cùng sở thích hoặc mối quan tâm chung nhất định nào đó Tổ chức hội loại này có thể là Hội sinh vật cảnh, Câu lạc bộ những người nuôi tôm, hoặc hiệp hội kiến trúc sư
- Hội hoạt động vì phúc lợi xã hội là loại tổ chức xã hội có những hoạt động hướng tới việc đáp ứng các nhu cầu phát sinh trong xã hội trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Trang 31(y tế, giáo dục, môi trường, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ rừng ) Hoạt động của những hội loại này thường mang lại một hoặc những tác dụng như sau: (i) bổ sung, hỗ trợ giải quyết những vấn đề xã hội và ở những nơi mà Nhà nước không đủ khả năng giải quyết; (ii) phát hiện những bất cập trong đời sống xã hội và trong hoạt động điều hành quản lý của Nhà nước; (iii) thuyết phục, vận động các cơ quan công quyền về những chính sách, giải pháp xã hội theo quan điểm của các nhóm lợi ích trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông, nâng cao nhận thức xã hội
Trên cơ sở khái niệm về hội theo đề xuất của luận văn, hội ở Việt Nam bao gồm những tổ chức sau:
1 Các tổ chức quần chúng trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ;
2 Các hội nghề nghiệp, bao gồm cả các tổ chức liên hiệp hội thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
3 Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam có hội viên (loại trừ các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu không có quy chế hội viên);
4 Các hội không chính thức tại cộng đồng (trừ những tổ chức tín dụng vi mô, các hợp tác xã tín dụng, các nhóm tín dụng và tiết kiệm)
Như vậy, so với phân loại của tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam tại phần 1.1.1.3 thì phạm vi của hội gần giống với tổ chức xã hội dân sự, loại trừ Mặt trận tổ quốc Việt Nam; các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu không có quy chế hội viên; những tổ chức tín dụng vi mô, các hợp tác xã tín dụng, các nhóm tín dụng và tiết kiệm
Cũng cần lưu ý về sự khác nhau và mối quan hệ giữa tổ chức phi chính phủ và hội ở Việt Nam Do có sự tiếp cận khác nhau, không thống nhất đối với các khái niệm tổ chức phi chính phủ, hội nên có quan điểm cho rằng khái niệm hội có phạm vi rộng hơn khái niệm tổ chức phi chính phủ, có ý kiến lại cho rằng “tổ chức phi chính phủ chính là một loại hội không có hội viên” (25, trang 16), ý kiến khác lại khẳng định hội và tổ chức phi chính phủ là hai khái niệm đồng nhất Tuy nhiên, với sự phân tích ở các phần trên và qua phân loại phạm vi của hội, cho thấy, có sự khác biệt giữa khái niệm về tổ chức phi chính phủ và khái niệm về hội ở Việt Nam: ngoài các bộ phận cấu thành khác, hội bao gồm cả các tổ chức phi chính phủ có hội viên
Trang 32Để tiện việc so sánh, có thể khu biệt các khái niệm tổ chức xã hội dân sự, hội và
tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam theo bảng sau:
trận Tổ quốc Việt Nam
(Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam, Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh, Hội Nông dân
Việt Nam, Hội Cựu
chiến binh Việt Nam,
Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam)
1b Các tổ chức quần chúng trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
(Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam)
2 Các hội nghề nghiệp,
bao gồm cả các tổ chức
liên hiệp hội thuộc Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam
Các hội nghề nghiệp,
bao gồm cả các tổ chức liên hiệp hội thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
3 Các tổ chức phi chính
phủ Việt Nam:
Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam:
Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam:
3b Các quỹ xã hội, quỹ
từ thiện, viện nghiên
3b Các quỹ xã hội, quỹ
từ thiện, viện nghiên cứu,
Trang 33cứu, trung tâm trung tâm
4 Các hội không chính
thức tại cộng đồng:
Các hội không chính thức tại cộng đồng:
4a hội đồng hương, câu
lạc bộ thể thao, hội cây
cảnh (không có tư
cách pháp nhân)
4a hội đồng hương, câu
lạc bộ thể thao, hội cây cảnh (không có tư cách pháp nhân)
Sơ đồ 3: Tổ chức phi chính phủ Việt
Nam trong mối quan hệ với tổ chức xã
Trang 34- Hội: hình đa giác 1b+2+3a+4a
- Tổ chức phi chính phủ: hình thang 3
1.2.3 Tính chất của hội
Trên cơ sở các đặc điểm tự thân của hội, hội có 4 tính chất như sau :
- Tính tự nguyện: Bất kỳ hội nào được lập ra đều xuất phát dựa trên ý chí, nguyện
vọng của mỗi cá nhân, tự do khỏi mọi sự ép buộc Dấu hiệu đặc trưng này thể hiện quyền
tự do của cá nhân trong việc tham gia hoặc không tham gia một tổ chức hội nhất định Một tổ chức được thành lập do có sự ép buộc các cá nhân tham gia không thể được coi là
tổ chức hội Sau khi hội được thành lập, cá nhân, tổ chức có thể tự nguyện xin vào và cũng có thể tự nguyện xin ra khỏi hội Tính chất tự nguyện còn được biểu hiện trong việc lựa chọn mục tiêu, nội dung hoạt động theo nguyện vọng, sở thích, sở trường của tập thể hội viên Tính chất tự nguyện của hội chính là biểu hiện tính tích cực xã hội của các thành viên trong xã hội nhằm thực hiện nhu cầu, lợi cích của mình, biếu lộ sự đóng góp của mình với xã hội Tính chất tự nguyện của hội bền vững tới mức độ trở thành một trong những nguyên tắc hoạt động nội bộ và hoạt động quan hệ đối ngoại của tất cả các hội Nhờ tính chất này, các hội dễ liên hiệp với nhau, hợp tác với nhau và cũng dễ tách khỏi nhau khi không thống nhất nội dung phối hợp Tính chất tự nguyện của hội cũng là một trong những sự khác biệt giữa nó với các tổ chức nhà nước
- Tính tự quản là biểu hiện của cách thức quản lý của mỗi tổ chức hội Mô hình
tổ chức tự quản được hiểu là các hội viên của hội tự quyết định cách thức quản lý của tổ chức mà mình tham gia thông qua Điều lệ của tổ chức, mà không có sự can thiệp từ bên ngoài, dù cho đó có thể là cơ quan Nhà nước hoặc nhà tài trợ Nói cách khác, các hội viên của hội tự quyết định những nội dung quản lý của tổ chức mình như: việc kết nạp thành viên, bầu ban lãnh đạo, quy trình ra quyết định, tôn chỉ mục đích hoạt động, phương thức hoạt động…
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Nhà nước hoàn toàn đứng ngoài quá trình
tổ chức và hoạt động của hội Với chức năng duy trì trật tự công cộng, nhà nước luôn có mối quan tâm đối với việc đảm bảo quyền và tự do của mỗi hội viên khỏi mọi sự vi phạm
có thể có từ phía tổ chức hội; đồng thời, đảm bảo sao cho tôn chỉ, mục đích hoạt động
Trang 35của hội phù hợp với trật tự công cộng, không xâm phạm tới quyền và tự do của các chủ thể khác trong xã hội Do vậy, Nhà nước dùng pháp luật định ra một số yêu cầu về nội dung cần phải có của Điều lệ, qua đó giúp Nhà nước có được thông tin nhất định về công tác quản lý, tổ chức và hoạt động của mỗi tổ chức hội nhằm đáp ứng những mối quan tâm nêu trên của Nhà nước
- Tính không vì mục đích lợi nhuận: Đây thực chất là đặc trưng phân biệt tổ chức
hội với Nhà nước (là tổ chức hoạt động mang tính quyền lực công) và doanh nghiệp, công ty (là tổ chức hoạt động vì mục đích lợi nhuận) Các hoạt động của hội thường hướng tới một hoặc những mục tiêu sau: (i) tương trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên;(ii) hoạt động vì cộng đồng, vì xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, như: y tế, giáo dục, môi trường…) – là những hoạt động bổ trợ, bổ sung vào những việc, những nơi mà năng lực và nguồn lực của Nhà nước không đảm đương được; và, (iii) chia sẻ, hưởng thụ những giá trị văn hoá, nghệ thuật
Hội viên của hội không tham gia hội với ý định tìm kiếm lợi nhuận, mà hướng tới việc đáp ứng những nhu cầu của cá nhân và xã hội do họ lựa chọn Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, hội là tổ chức không vì mục đích lợi nhuận, nhưng hội vẫn có thể có những hoạt động có lợi nhuận Vấn đề quan trọng cần được xác định không phải là bản thân (hành vi) hoạt động có lợi nhuận, mà là ở chỗ lợi nhuận thu được được sẽ sử dụng như thế nào Hội có thể thực hiện những hoạt động thu lợi nhuận, nhưng lợi nhuận đó khi thu
về sẽ được sử dụng cho hoạt động của hội theo đúng điều lệ, mà không chia cho bất kỳ một cá nhân nào trong hội Tất nhiên, trong quá trình hoạt động, một số hội viên đảm nhận một số nhiệm vụ chuyên trách có thể được trả tiền công, tiền lương, đó không phải
là sự chia lời
- Tính tự trang trải về tài chính: Tổ chức hội hoạt động dựa vào nguồn tài chính
do các hội viên đóng góp, do sự quyên góp của nhân dân, sự tài trợ tình nguyện của doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và có thể bằng cả sự hỗ trợ tài chính từ nguồn ngân sách nhà nước Nhà nước thường hỗ trợ tài chính từ ngân sách Nhà nước cho các hội trên
cơ sở đấu thầu hoặc giao việc nhằm thực hiện bổ sung những dự án, hoặc chương trình chính sách xã hội
Trang 36Tính chất tự trang trải về tài chính là một đặc điểm rất quan trọng của tổ chức hội Việc tự trang trải tài chính hoạt động là một thách thức khiến cho các hội phải hoạt động năng động, dành được uy tín trước các nhà tài trợ bằng chất lượng công việc, bằng phong cách làm việc minh bạch, công khai, có trách nhiệm Tự trang trải tài chính hoạt động cũng là một yếu tố khiến cho hội ở vào vị thế độc lập với khu vực Nhà nước và Thị trường Thực hiện tốt việc trang trải về tài chính, hội sẽ có khả năng làm tốt chức năng giám định, phản biện xã hội đối với chính sách và hoạt động của Nhà nước và Thị trường, làm cho Nhà nước và Thị trường hoạt động minh bạch và có trách nhiệm hơn
Dựa trên mối quan hệ của hội với môi trường xã hội, hội có thêm 2 tính chất sau đây:
- Tính xã hội - chính trị : Hội là tổ chức có tính xã hội, bởi lẽ nó chỉ xuất hiện từ
khi con người có ý thức được về sức mạnh tập thể, sức mạnh của sự hợp tác vời nhau giữa các nhóm người, giữa các cộng đồng người Mặt khác, con người là tổng hoà các mối quan hệ trong xã hội, con người là của xã hội Mọi sở thích, nguyện vọng và hành động của mỗi cá nhân trong xã hội về phần nào đó phù hợp với sự tiến bộ chung của xã hội Nhu cầu của con người đa dạng, phong phú theo trình độ phát triển của xã hội, trình
độ văn minh chung của nhân loại Xã hội càng phát triển, dân chủ trong xã hội càng mở rộng, đời sống con người càng được nâng cao, thì tính năng động, tích cực của con người càng được thúc đẩy, nhu cầu và nguyện vọng gắn bó với nhau trong một tổ chức hoà hợp tâm lý, hoà hợp lợi ích càng xuất hiện, những tác động đó khiến cho các hội vốn có tính
xã hội, càng đậm nét xã hội hơn Hội phát triển ở trình độ cao thì tính xã hội càng đậm nét và gắn liền với nó là tính chính trị Khẳng định hội là tổ chức mang tính xã hội - chính trị vì trong xã hội có giai cấp và có đấu tranh giai cấp, con người không ai ở ngoài giai cấp cả và cũng không có tổ chức nào của quần chúng đứng ngoài đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị
- Tính hội nhập: Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu
hoá, các hội còn mang tính hội nhập Xu thế toàn cầu hoá không chỉ thể hiện trong các lĩnh vực kinh tế mà còn được xem xét trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội Lợi ích của một dân tộc, một quốc gia, giờ đây, ngày càng gắn với lợi ích nhân loại, lợi ích toàn cầu Nhu cầu giao lưu, trao đổi không chỉ ở mức độ giữa các quốc gia mà còn thể hiện ở sự giao
Trang 37lưu giữa các cá nhân, tổ chức, trong đó có các tổ chức hội Mục tiêu hoạt động của các hội không đơn thuần ở mục tiêu cá nhân, tập đoàn, dân tộc, mà đã bao hàm cả mục tiêu nhân đạo, nhân loại, quốc tế Mặt khác, phạm vi hoạt động và quan hệ không chỉ bó hẹp
ở phạm vì dân tộc, quốc gia, mà đã mở rộng ra phạm vi quốc tế Mối quan hệ mở rộng này không phân biệt chế độ chính trị; nhiều hội còn gia nhập các tổ chức hội quốc tế
1.3 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỘI
1.3.1 Khái niệm pháp luật về hội
Học thuyết Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử đã giải thích một cách đúng đắn khoa học về bản chất và mối quan hệ của nó với các hiện tượng khác trong xã hội có giai cấp Theo học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại
và phát triển trong xã hội có giai cấp Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của
nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị thông qua nhà nước thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hoá thành ý chí của nhà nước, ý chí đó được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Nhà nước ban hành và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, vì vậy pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi người
Trong xã hội có giai cấp tồn tại nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau, thể hiện ý chí và nguyện vọng của các giai cấp, các lực lượng xã hội khác nhau, nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất chung cho toàn xã hội
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ
xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một “trật tự” phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện thống trị giai cấp
Trang 38Tuy nhiên, vì pháp luật do nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành nên nó còn mang tính chất xã hội Nghĩa là, ở mức độ ít hay nhiều (tuỳ thuộc vào hoàn cảnh trong mỗi giai đoạn cụ thể), pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội
Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thực hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa thì pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy phạm pháp luật thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền, thể hiện ý chí của nhân dân, được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về hội có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ liên quan đến tổ chức, hoạt động của hội cũng như công tác quản lý nhà nước đối với hội Chúng ta có thể thấy rằng, pháp luật về hội là hệ thống quy phạm pháp luật thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền về hội, thể hiện ý chí của nhân dân, được Nhà nước ban hành nhằm góp phần xây dựng các tổ chức hội ngày càng lớn mạnh, hoạt động theo đúng pháp luật, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời, nâng cao vai trò và tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản
lý nhà nước
1.3.2 Vai trò của pháp luật về hội
Thực tế đã có không ít những quan niệm không đúng đắn về vai trò của pháp luật đối với đời sống, hoặc quá đề cao pháp luật hoặc hạ thấp vai trò của nó Với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật nói chung và pháp luật về hội nói riêng,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thành lập và phát triển các tổ chức hội theo đúng tinh thần của Hiến pháp về quyền tự do lập hội, tạo điều kiện cho hoạt động của hội phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, đáp ứng nguyện vọng của quần chúng nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Chính vì vậy, Điều 12 Hiến pháp 1992 của nước ta đã
Trang 39ghi nhận “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa” (34, trang 17)
Vai trò của pháp luật về hội ở nước ta được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:
- Đối với xã hội: Pháp luật về hội tạo khuôn khổ pháp lý cho việc phát triển một
khu vực xã hội dân sự lành mạnh, đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sông của nhân dân hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái, góp phần mở rộng dân chủ xã hội, nâng cao sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc
- Đối với hệ thống chính trị: Pháp luật về hội thể chế hoá các đường lối, chủ
trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về củng cố các đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng; góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính thông qua các hoạt động phản biện xã hội, đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta
- Đối với kinh tế: Pháp luật về hội thúc đẩy các quan hệ kinh tế, tạo các sản phẩm
hàng hoá thông qua hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp, thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện dịch vụ công của các tổ chức hội Đồng thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, bảo đảm để các quan hệ kinh tế phát triển lành mạnh, tạo thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh
- Đối với đạo đức và tư tưởng: Pháp luật về hội góp phần duy trì, củng cố các
truyền thống đạo đức, những tư tưởng tốt đẹp của dân tộc như tinh thần đoàn kết, lá lành đùm lá rách, tương thân, tương ái
1.4 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ HỘI CỦA MỘT SỐ
TỔ CHỨC QUÓC TẾ VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về hội của một số tổ chức quốc tế
* Tháng 7 năm 2004, hơn 100 các nhà nghiên cứu và đại diện các tổ chức hội và phi chính phủ, chính phủ họp tại Kenya (các nước như Hà Lan, Ba Lan, Nga, Tanania, Uganda, Anh, Ấn Độ, Mêhicô), sau quá trình nghiên cứu và đi đến thống nhất về các yếu
tố tạo nên một môi trường luật pháp thuận lợi cho hoạt động của hội bao gồm:
Trang 40- Việc xây dựng luật về hội là trách nhiệm của cả nhà nước và các tổ chức hội
Do đó việc tiếp thu và lắng nghe ý kiến là điều tiên quyết để xây dựng luật về hội
- Một xã hội dân sự mạnh cần có các tổ chức hội tốt với một cơ sở nhà nước pháp quyền và tôn trọng dân chủ
- Một hệ thống luật tốt cần có sự cân bằng giữa quyền lợi và trách nhiệm của hội Nếu luật hạn chế các hoạt động của hội sẽ hạn chế quá mức quyền tự do của hội, mất
đi tính chủ động sáng tạo của hội Ngược lại, nếu không có cơ chế kiểm soát trách nhiệm
sẽ làm mất niềm tin của công chúng
- Hội không nhất thiết là các tổ chức chính thức mà bao gồm cả phi chính thức, miễn là vì lợi ích công cộng, không rơi vào vùng cấm hoạt động
- Việc đăng ký thành lập hội là quyền cơ bản của con người thuộc về các cá nhân không phải là đặc quyền của nhà nước Vì vậy thủ tục đăng ký cần gọn nhẹ và dễ dàng
Có thể do một cơ quan độc lập như toà án, hoặc phòng thương mại và công nghiệp, hoặc
cơ quan chuyên biệt không phụ thuộc vào một chính sách cụ thể dễ thay đổi Thủ tục càng đơn giản và giảm thiểu chi phí càng tốt
- Quyền tham gia tư vấn phản biện và vận động chính sách Điều này thể hiện quyền hội họp và tự do ngôn luận Thường một chính sách và một đạo luật ra đời có liên quan đến nhiều lĩnh vực, không thể nào phân định được cái nào là thuộc lĩnh vực nào Ví
dụ chính sách tái định cư có thể liên quan đến lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, kỹ thuật, văn hoá…cần có sự kết hợp đa ngành Tuy nhiên, nhà nước cũng hạn chế và nghiêm cấm các hành vi bạo lực trong quá trình này
- Cơ chế báo cáo đơn giản, gọn nhẹ nhưng hiệu quả, trách nhiệm và công khai
- Ưu đãi về thuế: do sự đóng góp của hội vào quá trình dân chủ và lợi ích công cộng, các hội được miễn giảm thuế, kể cả đối với các nguồn thu từ các hoạt động thương mại dùng cho mục đích phi lợi nhuận Và các tổ chức kinh doanh và các cá nhân đóng góp nhân đạo cho hội cũng được miễn và giảm thuế Ngay cả các nước ở Đông Nam Á, Trung Quốc và Đông Âu cũng đều có cơ chế miễn và giảm thuế cho các hoạt động phi lợi nhuận