Định giá chi phí từ việc sử dụng giá cả thị trường thật sự của những hàng hĩa và dịch vụ mơi trường.. Khi những người tá điền này suy nghĩ về bản thân họ trong tương lai và sự chiếm giữ
Trang 1ĐỊNH GIÁ RỪNG NGẬP MẶN GIÀU TÀI
NGUYÊN Ở SALVADOR
GV: TS.PHAN THỊ GIÁC TÂM
Trang 2HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 2
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU VỀ ĐẤT NƯỚC EL SALVADOR 4
A THƠNG TIN CƠ BẢN VỀ TÌNH TRẠNG MƠI TRƯỜNG Ở EL SALVADOR 4
B NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀM SUY THỐI MƠI TRƯỜNG Ở EL SALVADOR 5
1 Sự nghèo nàn ở nơng thơn và sự thất bại trong việc đề xướng luật cải cách ruộng đất 5
2 Sự xung đột 6
3 Tương lai đất nước trong thời kỳ khơi phục 7
C HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN 8
D VỊ TRÍ DỰ ÁN: EL TAMARINDO, LA UNÍON, EL SALVADOR 15
ĐỊNH GIÁ KINH TẾ TÀI NGUYÊN RỪNG NGẬP MẶN EL TAMARINDO, LA UNÍON, EL SALVADOR 19
2.1 Tổng giá trị kinh tế (TEV - Total economic value) 19
2.1.1 Họat động đánh giá lợi ích và những phương pháp định giá 22
2.2 Những phương pháp sử dụng giá cả thị trường 28
2.2.1 Định giá chi phí từ việc sử dụng giá cả thị trường thật sự của những hàng hĩa và dịch vụ mơi trường 29
2.2.2 Phương pháp hàm sản xuất 29
2.2.3 Những kỹ thuật liều lượng – đáp ứng 31
2.3 Sự định giá chi phí bằng cách sử dụng giá cả thực sự trên thị trường trong việc bảo vệ mơi trường 34
Trang 32.3.1 Chi phí ngăn ngừa, bảo vệ 35
2.3.2 Chi phí thay thế 35
2.3.3.Phương pháp sử dụng đề án bóng 35
2.4 Định giá lợi ích sử dụng những thị trường thay thế 36
2.4.1 Hàng hóa thị trường như là những vật thay thế cho hàng hóa môi trường 36
2.4.2 Gía trị tài sản và phương pháp giá tiện ích 37
2.4.3 Xác định giá trị của những dịch vụ bảo vệ từ rừng ngập mặn 39
2.4.4 Định giá đất đai theo vị thế gần khu rừng ngập mặn 39
2.4.5 Những vấn đề của việc suy luận: Sở thích đặc biệt đối với những giá trị đất đai 41
2.4.6 Phương pháp chi phí du hành: Ước tính nhu cầu đối với những dịch vụ và hàng hóa môi trường 43
2.4.7 Những vấn đề liên quan đến phương pháp chi phí du hành 45
2.4.8 Tiền lương ẩn và phương pháp chi phí đầu vào 48
2.5 Phương pháp định giá khảo sát 50
2.5.1 Định giá ngẫu nhiên 50
2.5.2 Những vấn đề trong phương pháp định giá ngẫu nhiên 52
Kết luận 55
Trang 4HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 4
Phần 1
GIỚI THIỆU VỀ ĐẤT NƯỚC EL SALVADOR
A THƠNG TIN CƠ BẢN VỀ TÌNH TRẠNG MƠI TRƯỜNG Ở EL SALVADOR
El Salvador là một trong những nước Cộng hịa nhỏ nhất của Châu Mỹ và cĩ dân
cư đơng đúc nhất Dân số trung bình 246 người/21.040km2
, những vùng lân cận thì trung bình chỉ là 49 người/km2
El Salvador cũng là một trong những nước cĩ nền kinh tế nơng nghiệp mạnh nhất, 35% diện tích là đất nơng nghiệp trồng trọt và 29% là diện tích đồng
cỏ để chăn nuơi (Leonard 1987) Đất nơng nghiệp thì dùng để trồng các lọai cây trồng để
xuất khẩu như cafe, cây bơng và mía đường, một số để trồng các lọai cây dùng trong nước như ngũ cốc, lúa miến
Gần đây, El Salvador đã vượt khỏi 12 năm nội chiến, trong suốt thời gian đĩ nhiều
cơ sở hạ tầng quốc gia đã bị phá hủy và phần đơng dân số trong vùng di cư Trong khi triển vọng cho hịa bình cĩ dấu hiệu tốt thì những mặt hạn chế mà đất nước đang phải đối mặt là rất lớn Vào năm 1993 sự thâm hụt ngân sách là 3,3% GDP và đã được tài trợ từ sự viện trợ của nước ngịai Đĩ là sự tài trợ từ nước ngồi, từ sự viện trợ của những cơng
nhân El Salvador đang sống ở nước ngịai (10,93% GDP, 1993) và sẽ phải được thanh
tĩan trong 5 năm tới, đĩ là sự giúp đỡ to lớn đem lại sự thành cơng cho đất nước
El Salvador được khắp mọi nơi ở Châu Mỹ biết đến là một đất nước cĩ diện tích rừng bị phá hủy triệt để nhất Dãy rừng phía Bắc bị phá hoang để chuyển sang đất nơng nghiệp và những trang trại to lớn để chăn nuơi gia súc Những khu rừng ở trung tâm cao nguyên và những đồng bằng ven biển ven biên giới cũng bị biến thành những đồn điền
cafe và mía đường, hình thành nền kinh tế nơng nghiệp Leonard (1987) ước lượng rằng
trong vùng chỉ ở Guatemada và Honduras là cĩ khoảng chừng 34% và 36% rừng nguyên thuỷ bao phủ cịn nguyên vẹn El Salvador khơng cĩ hơn 2% vùng đất đủ lớn để cĩ thể gọi là rừng Theo như Cenren (The Centro de Recursos Naturales), một bộ phận của Bộ Nơng nghiệp đã ước lượng khoảng chừng 200.000 hecta cần thiết để trồng lại rừng khẩn
Trang 5cấp vào cuối năm 1980 Tuy nhiên, trong 15 năm qua, chỉ có 1 phần nhỏ diện tích này – khoảng 12.000 hecta đã được trồng rừng bởi những chương trình của Chính Phủ
Áp lực về dân số và những vấn đề kéo theo góp phần làm xấu đi và suy thoái đất
trồng trọt (Foy and Daky 1989) Giữa những năm 1971 và 1988, tổng số đất nông nghiệp chỉ tăng 7% trong khi dân số lại tăng lên 36% (Chapin 1990)
Tình trạng thiếu ruộng đất trồng trọt cũng được xem là một nhân tố làm tăng tốc độ xói mòn và phá rừng Giữa những năm 1950 – 1975, số nông dân không có ruộng đất đã tăng lên từ 11,8% đến 40,9% trong tổng nông dân Những người không có ruộng đất thì đi làm thuê ở nhiều đồn điền cafe hay những vùng trồng mía, bông vào mùa vụ, để phụ thêm thu nhập họ phải thuê thêm ruộng đất để trồng cây lương thực Khi những người tá điền này suy nghĩ về bản thân họ trong tương lai và sự chiếm giữ đất đai tạm thời, họ không hiểu rõ các biện pháp bảo vệ tài nguyên môi trường và đã đốt rẫy phá rừng để canh tác nông nghiệp ngày một tăng nhanh ở những khu rừng xung quanh Vì mật độ dân số ngày một tăng nhanh nên thời gian đất bị bỏ hoang ngày rút ngắn dần và tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị cũng ngày một tăng
Việc sử dụng thuốc trừ sâu và các hoá chất nông nghiệp khác đã làm ô nhiễm hệ thống sông ngòi và nguồn nước Nồng độ của các thuốc trừ sâu được phát hiện là cao trong thịt gia súc, sữa, rau quả và các loại động vật biển Ô nhiễm môi trường nước vùng cửa sông, đầm lầy đã làm giảm năng suất thu hoạch tôm, ước tính là giảm 50% so với năm 1964 và 1974 Hiện tại năng suất thu hoạch tăng lên đáng kể nhờ sự đầu tư vốn và nhân lực, tuy nhiên việc làm tổn hại đến các loài ấu trùng ở vùng cửa sông do sự ô nhiễm
từ việc dùng hoá chất trên vẫn tiếp tục trong tình trạng báo động
B NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀM SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG Ở EL SALVADOR
1 Sự nghèo nàn ở nông thôn và sự thất bại trong việc đề xướng luật cải cách ruộng đất
Sự nghèo nàn và sự suy thoái môi trường có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Sự
Trang 6HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 6
những vùng đất khĩ trồng trọt và điều nhất thiết khơng chống đối được là họ phải đối mặt với thuế cá nhân cao Chính điều này làm cho đời sống người dân sống ở nơng thơn nghèo hơn và hơn thế nữa làm nghèo khổ hơn những người nơng dân vốn đã nghèo Vào năm 1977, hãng thơng tấn xã về phát triển quốc tế của Mỹ đã báo cáo là hiện cĩ 83,5% dân số sống ở nơng thơn cĩ mức sống dưới mức sống tối thiểu Từ khi cĩ báo cáo này đã giảm sút hơn 30% thu nhập theo đầu người Tình trạng khơng cĩ ruộng đất cĩ tỉ lệ % gần bằng với tỷ lệ người dân sống ở nơng thơn, tỷ lệ này đã và đang diễn ra đều đặn, khoảng
chừng 40,9% (Burke 1976) Một cuộc nghiên cứu gần đây về đời sống nơng dân nghèo ở
El Salvador đã phát hiện ra rằng cĩ 81% nơng dân nghèo sống ở Phía Đơng và 69% ở phía Tây của đất nước, những nơng dân này khơng cĩ đất để thuê và càng khơng cĩ đất là
tài sản riêng của họ để canh tác trồng trọt (Cenitec 1992)
Vào năm 1980, Chính phủ của El Salvador đã bắt đầu một chương trình cải cách ruộng đất với nguồn vốn lớn từ sự giúp đỡ của Mỹ Một trong những mục tiêu về cải cách ruộng đất đã được tuyên bố là hạn chế sự khơng cơng bằng trong việc phân chia ruộng đất Một chương trình phân phát lại ruộng đất lần thứ hai được ban hành như một Hiệp ước được ký kết vào tháng 12/1991 Đất được chia cho các chiến binh và những người đến chiếm đất ở những vùng trước đây cĩ đấu tranh Mặc dù đã đầu tư hàng trăm nghìn đơla nhưng cuộc cải cách này đã khơng thành cơng trong việc làm thay đổi quyền về sở hữu đất đai Sự phân chia đất đai khơng cơng bằng được nĩi đến gần như là một điều xuyên tạc cho ngày nay bởi vì điều này đã xảy ra trước khi cĩ cải cách ruộng đất Chế độ
sở hữu đất đai của đất nước đã chịu sự thay đổi rất nhỏ, và người nơng dân chỉ cĩ thể đứng nhìn mà khơng thể làm gì để thay đổi được bởi vì sẽ dẫn đến mâu thuẫn
2 Sự xung đột
Chiến tranh đã ảnh hưởng rất lớn và dẫn đến sự suy thối mơi trường gần đây Hậu quả trực tiếp là nhiều vùng đất vốn là rừng tự nhiên đã bị binh lính thả bom bằng photpho trắng phá hoại, và những hậu quả gián tiếp là người dân buộc phải di cư đến sống ở gần
bờ biển hoặc các vùng ngoại thành làm tăng thêm sự phá rừng và làm suy thối nhanh đất canh tác trồng trọt Chiến tranh đã để lại nhiều chất gây ơ nhiễm mơi trường ở một số khu vực và việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu cũng làm ơ nhiễm mơi trường Đứng trước tình
Trang 7hình bông vải bị tụt giá và sự phá hoại của các du kích, những khu vực sử dụng làm đồn điền bông vải đã giảm bớt Điều này đã làm giảm đáng kể việc sử dụng thuốc trừ sâu và việc sử dụng các loại hóa chất hóa học gây ảnh hưởng đến đất trồng và nguồn nước
3 Tương lai đất nước trong thời kỳ khôi phục
Trọng tâm khôi phục lại của El Salvador là phát triển nền kinh tế và mở rộng các căn cứ quân sự Sự phục hồi này có thể là tiếp cận những chính sách nhưng không thể đảm bảo hài hoà được về phương diện kinh tế và môi trường Nói cụ thể là họ có thể tiếp cận những chính sách về nông nghiệp, nhưng điều đó làm tăng thêm sự phá rừng và chi phí bỏ ra khá cao cho việc thực hiện quản lý đất canh tác trong tình trạng tốt hơn về phương diện môi trường So với việc phải bảo tồn các khu rừng, việc cung cấp cho những người nông dân và những người trại chăn nuôi gia súc với những vùng đất rộng lớn mới rất có ích, nhiều lá cây chỉ mới kịp phân hủy không phù hợp cho việc sản xuất nông nghiệp Những khu đất rừng đã bị đốn sạch thì khả năng sản xuất bị thu nhỏ, sự mất đi các rễ cây sẽ kéo theo sự tăng xói mòn đất và nước, làm giảm dần các chất dinh dưỡng, đất mất khả năng canh tác trồng trọt do thiếu nước trong đất Sự mất đi lớp thực vật bề mặt bao phủ ở các khu vực ven sông đã tăng nguy cơ lũ lụt, cuốn trôi đi lớp đất mặt, trầm tích và làm xói mòn đất Cái giá phải trả cho sự phá rừng hay việc sử dụng khu rừng bảo tồn là rất lớn, đó là sự mất đi các sản phẩm rừng như là: gỗ cây, gỗ đốt sợi, nhựa thông, quả hạch, cây mây, dầu, trái cây, gia vị, thảo mộc Cái giá phải trả sau này còn to lớn hơn như là xói lở đất, lũ lụt, sự cuốn trôi lớp đất dinh dưỡng trên bề mặt đất, ảnh hưởng môi trường sống tự nhiên và làm tiêu diệt động vật hoang dã
Mối đe dọa chính phá họai nhiều đất rừng đang được diễn ra tiếp tục đó là việc mở rộng những đồn điền, trang trại gia súc, chặt đốn gỗ, xây dựng đường xá, phát triển thủy điện, mở rộng thành phố Nhiều trong số các họat động đó có thể phải trá giá rất lớn cho
sự phát triển kinh tế mặc dù áp lực lên nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn là có giới hạn Điều này vô cùng quan trọng, do vậy việc phát triển kinh tế phải được trang bị với một kiến thức đầy đủ về các chi phí cơ hội Thường thì sự phá rừng là kết quả của những chính sách không thích hợp và những động cơ thúc đẩy Một hệ quả của sự phát triển giá
Trang 8HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 8
ra việc đánh giá của hệ thống động cơ đĩ cĩ thể nâng cao ý thức của những nhà làm chính sách
“ Mơi trường phải được xem là một vấn đề ưu tiên của quốc gia Nĩ phải được nhận biết như là một vấn đề chính thống, chính điều đĩ đã tác động cốt yếu đến kinh tế quốc gia và chất lượng cuộc sống” (Chapin 1990) Lời mệnh lệnh này đang được quan
tâm thơng qua việc thành lập một bộ phận mơi trường và các chính sách về sinh thái học
trong chương trình Nghị sự 5 năm của kế hoạch Chính phủ (MIPLAN) Tuy nhiên, nguyên
tắc cơ bản là để chấn chỉnh quản lý nạn phá rừng Những trọng tâm của sự nghiên cứu này là sự nổ lực để tính tổng giá trị kinh tế của một hệ sinh thái rừng ngập mặn, nhằm đưa
ra một sự hướng dẫn rõ ràng cho những nhà vạch ra kế hoạch và chính sách điều chỉnh thất bại thị trường và những động cơ thúc đẩy mà chính điều đĩ đã khuyến khích phá rừng Thêm vào đĩ những cố gắng của sự nghiên cứu để cung cấp một hệ thống chung cho sự định giá tài nguyên mơi trường mà điều này cho phép sự quản lý cơng bằng trong Chương trình Nghị sự về phát triển
Rừng ngập mặn Rhizophora từ xưa đến nay là một nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc chế tác các cơng cụ gia đình Gỗ của cây rừng ngập mặn cĩ giá trị cao, và dễ dàng sử dụng để làm ra các dụng cụ trong nhà và được sử dụng như là nguồn vật liệu trong xây dựng Ngịai ra, gỗ cịn là một nguồn nguyên liệu chất đốt quan trọng của nhiều
cư dân El Salvador sinh sống ven biển
Trang 10HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 10
Rừng ngập mặn cĩ một chu kỳ phát triển tương đối cao trong khoảng 25 đến 30 năm tuổi Trong suốt vịng đời của nĩ, rừng ngập mặn cung cấp trung bình khoảng 9 tấn
lá cây mỗi năm Trong năm sinh trưởng đầu tiên, một cây đước cĩ thể đạt tới chiều cao 2.5m, cây trưởng thành thì chiều cao khoảng 15 đến 20m Sự phân hủy lá cây thì rất cần thiết cho hệ sinh thái rừng Tơm thường ăn lớp biểu bì của lá cây mà nĩ sẽ bị phân hủy trở thành thức ăn cho nhiều hệ sinh vật cửa sơng Những loại lá cây sẽ bị phân hủy ngay khi
nĩ bị các lọai vi khuẩn và nấm mốc tấn cơng, qúa trình này mất từ 80 đến 100 ngày Sau
đĩ, vật chất lá cây sẽ bị chuyển thành chất dinh dưỡng, kích thích cho sự phát triển của những phiêu sinh động vật, hình thành một mối liên kết quan trọng trong chuỗi thức ăn của cá, tơm, cua, các lồi giáp xác, hào
Hình: Một số hình ảnh về Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Trang 12HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 12
Trang 14HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 14
Trang 15Hệ sinh thái rừng ngập mặn đòi hỏi các quá trình vận chuyển, trầm tích không thay đổi Vật chất trầm tích được vận chuyển lơ lững theo dòng chảy và đến tích tụ ở vùng cửa sông Vật chất trầm tích bao gồm sét silicat bị hòa tan trong nước lợ mà nó chứa nhiều kim loại phụ, sắt, magie, và can xi Bùn sẽ tích tích ở vùng cửa sông bởi nhiều nguồn khác nhau, sự xâm thực theo dòng chảy, sự xâm thực ở bên ngòai của những đường biên của cửa sông, và sự tích tụ cát từ những đợt thủy triều lên Tất cả cung cấp một sự cân bằng hóa học cần thiết cho quá trình phân hủy lá cây
Những giống lòai khác nhau của rừng ngập mặn biểu thị những tốc độ khác nhau
và biến đổi của việc tái tạo Điều này phụ thuộc vào chất lượng nước của dòng chảy từ các chi lưu sông, phạm vi của việc đốn gỗ, phạm vi của việc ô nhiễm từ thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, và hướng gió Dưới sự quản lý một cách cẩn thận trong từng khu vực,
có thể hàng năm sẽ gia tăng dần lên khoảng 6 m3
đến 8m3(1) Nếu không quản lý tốt có thể chỉ đạt được khoảng 1m3
trên 1 ha mỗi năm(2) Tốc độ này phụ thuộc vào thành phần và tuổi của rừng ngập mặn
Khoảng 24.000 gia đình Salvador phụ thuộc trực tiếp vào những khu rừng ngập mặn hoặc rừng nước lợ (Paredes và nnk,1991) Sản phẩm của rừng ngập mặn rất quan trong cho kinh tế gia đình ở nông thôn dọc ven biển, nó cung cấp một nguồn nguyên liệu chất đốt, gỗ quý, quần xã động vật mà chúng đáp ứng một cách đều đặn cho những nhu cầu sinh họat gia đình
Luật pháp nhà nước bảo vệ những khu rừng đước và rừng ngập nước lợ Tất cả những hệ sinh thái này là tài sản của nhà nước, chịu sự quản lý của FFS (Forestry and Fauna Service) thuộc Director General of Natural Resourses của bộ Nông nghiệp FFS quản lý việc bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn, trồng rừng và cải thiện phạm vi của những khu rừng nước lợ và quản lý, kiểm soát, điều chỉnh cách đánh giá và sử dụng sản phẩm của rừng ngập mặn
D VỊ TRÍ DỰ ÁN: EL TAMARINDO, LA UNÍON, EL SALVADOR
Rừng ngập mặn ở EL Tamavindo ước lượng khoảng chừng 487,33 ha (1/1994)
Chúng gồm có 3 loài: Rhizophora; Avicennia Nitida, Conocarpus Erecta
Trang 16HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 16
Hệ thống rừng ngập mặn này mặc dù khơng rộng đáng kể nhưng lại bị đốn chặt liên tục Người dân ở bao quanh khu rừng sống dựa vào những sản phẩm của rừng như nhiên liệu, gỗ cây, rừng và những sản phẩm vùng cửa sơng
El Tamarindo được chọn bởi vì nơi đây đại diện cho một hệ thống rừng ngập mặn
bị các họat động chặt phá và xâm chiếm đất rừng Ước tính tổng số cây bị chặt đi ở El
Tamarindo (năm 1994) là 7.041 m3 hay 17 ha/ năm Rừng ngập mặn ở El Tamarindo cũng
ước tính cĩ một tiềm năng nuơi trồng thủy sản lớn (Marroquin 1992) Hệ sinh thái này là
một ví dụ xuất sắc việc chọn lựa sự phát triển cĩ hiệu quả của hầu hết những khu rừng ngập mặn ở El Tamarindo
-
(1)
CATIE/IUCN, „Programma Manejo Integrado de Recuros Naturales, Proyecto
Conservaciĩn para el Desarrollo Sostenible En Centro America – Barra de Santiago, August 1991
(2)
Ezequiel Miranda Martínez, Seminario Ecosystemas de Maanglares‟ 1990
Trang 18HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 18
Trang 19Phần 2
ĐỊNH GIÁ KINH TẾ TÀI NGUYÊN RỪNG NGẬP MẶN
Ở EL TAMARINDO, LA UNÍON, EL SALVADOR
“Mục đích của sự đánh giá là để hiệu chỉnh những giá trị mà nó không tương ứng với giá trị kinh tế thực và giá trị dự tính”( K.G Malen,1989)
Sự định giá tài nguyên thiên nhiên môi trường là quyết định của tòan xã hội vì ở
đó sự phân bổ của những tài nguyên khan hiếm tối ưu nhất là không chắc đảm bảo bởi sự phân quyền việc làm trên thị trường Trong trường hợp không thể xác định giá các nguồn hàng hóa và dịch vụ tài nguyên môi trường, chuyển nhượng giá trị của các chức năng môi trường này sang giá trị tiền tệ là một giá trị trung bình của số lượng Điều này sẽ làm cho các nhà làm chính sách đạt được sự liên kết với nhau trong việc định giá của những lợi ích trực tiếp hay gián tiếp và những giá cả đưa ra từ những quy định kinh tế nào đó Kỹ thuật định giá đã được thiết kế để điều chỉnh những ưu tiên cơ bản từ thị trường dễ thấy thay đổi Nếu những việc làm cá nhân như giữ một mức giá của hàng hóa và dịch vụ trên tất cả các thị trường và nếu chúng ta thừa nhận trạng thái cân bằng chung đựơc giữ vững trong nền kinh tế thì chúng ta phải cố gắng sửa lại được những sự ưu tiên đó Nếu những thị trường này cạnh tranh một cách hoàn hảo thì giá cả sẽ biểu lộ được sự đánh giá đúng của những hàng hóa và dịch vụ trao đổi trên thị trường Định giá những loại đất không có khả năng canh tác có thể sau này được tập hợp lại đến một giá trị ước lượng toàn xã hội
về môi trường và dịch vụ môi trường Tuy vậy, nhiều vấn đề xảy ra từ khi hàng hóa và dịch vụ môi trường ít mua bán trên thị trường và như vậy giá trị của chúng là không bộc
lộ một cách trực tiếp Trong trường hợp này những giải pháp khác phải được tận dụng để đưa ra sự định giá
2.1 Tổng giá trị kinh tế (TEV - Total economic value)
Khái niệm về “tổng giá trị kinh tế” là trọng tâm để định giá môi trường tự nhiên
Trang 20HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 20
mà chúng ta cĩ thể xác định được những lợi ích đĩ và bắt nguồn từ sự nâng cao, bảo quản
và cải thiện chúng Những lợi ích đĩ được chia thành hai loại: giá trị sử dụng và giá trị khơng sử dụng
Giá trị sử dụng: liên quan đến việc sử dụng mơi trường và dịch vụ mơi trường
mang lại Cĩ những lợi ích trực tiếp như việc sử dụng cây cối để làm nhiên liệu đốt và gỗ mộc hoặc việc tận dụng dịng sơng để xả chất thải Trong nhiều trường hợp, những lợi ích
đĩ bị mất giá trị khi đến thị trường Những lợi ích sử dụng bao gồm cả giá trị hao phí và giá trị khơng hao phí Lợi ích nhận được của rừng là từ sự đốn chặt hoặc thu hoạch gỗ và nhiên liệu Những giá trị khơng hao phí, như là du lịch, nĩ đem lại thỏai mái thích thú mà khơng cần đầu tư nhiều hoặc giới hạn quyền sử dụng Một ví dụ dễ thấy của lợi ích khơng hao phí là du lịch
Những thành phần khác của giá trị sử dụng là giá trị lựa chọn, nĩ đo được giá trị của tài sản mơi trường cĩ thể sử dụng vào giai đoạn nào đĩ trong tương lai Giá trị lựa chọn quy vào giá trị của nguồn tài nguyên bảo tồn ngày nay, do đĩ cần bảo quản giá trị lựa chọn trở thành giá trị đặt biệt của giá trị sử dụng trong tương lai Khi giá trị lựa chọn
là một giá trị riêng biệt của giá trị sử dụng tương lai mà giá trị đĩ khơng được biết đến vào thời điểm hiện tại nhưng trong khoa học tiên tiến được nghiên cứu nhiều hơn thì cĩ thể phát hiện Sự khơng biết về giá trị y học của một số thực vât cung cấp một số dược liệu là một ví dụ cụ thể về giá trị lựa chọn
Những giá trị nội tại: là những giá trị mà nĩ tổng hợp như giá trị cĩ liên quan đến
sự tồn tại của con người, của sản phẩm mơi trường Chẳng hạn như giá trị tồn tại của cá voi xanh Điều chắn chắn của việc tiếp tục tồn tại của một tài sản mơi trường nào đĩ và tiếp tục lưu tồn cho xã hội trong tương lai, mang lại một lợi ích cho xã hội ngày nay mà
nĩ cĩ thể cho lưu hành như tiền tệ Xin thảo luận chi tiết hơn những lợi ích của người
dùng và tình trạng giá trị (xem K.G Malen 1989)
Sự nghiên cứu này cố gắng để thăm dị tổng giá trị kinh tế của một hệ sinh thái rừng ngập mặn dưới nhiều cách quản lý khác nhau Tổng giá trị kinh tế được thơng qua bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị khơng sử dụng:
Trang 21Do đó giá trị một tài sản môi trường như là một rừng ngập mặn, đầu tiên chúng ta cần biết được những lợi ích sử dụng và lợi ích không sử dụng mà nó có thể có được trong từng cách lựa chọn quản lý riêng biệt
Bảng 2.1 dưới đây biểu thị những lợi ích thành phần bao gồm Tổng giá trị kinh tế
của rừng đước Nó cho ta nhận thấy những khu rừng đước ở El Tamarindo cung cấp nhiều lợi ích tiềm năng đến nền kinh tế địa phương, tòan miền và quốc gia Gỗ thì có thể sử dụng trực tiếp cho xây dựng, làm than, lấy chất Tanin và dùng cho nhiều mục đích khác Thêm vào đó, cây đước còn cung cấp chất hữu cơ chủ yếu thông qua sự thay lá và phân hủy lá để giữ vững dây chuyền thức ăn của những sinh vật mà đó là quy tắc cơ bản của ngành công nghiệp cá
Sẽ rất quan trọng để hướng vào chủ tâm mà sự thảo luận đưa ra ở những kiểu lợi ích khác nhau và điều đó không thể thêm vào những thành phần đơn giản của Tổng giá trị kinh tế để đạt được một thước đo sự dồi dào của rừng sinh thái và dịch vụ thương mại còn lại
-
(1)
Thặng dư người tiêu dùng là tổng của vùng diện tích nằm bên dưới đường cầu trên giá cả thị trường Điều này đưa ra một sự tổng hợp cho sự sẵn lòng trả, đo lường thặng dư của người tiêu dùng mà họ mua sắm hàng hóa theo giá cả thị trường phổ biến
Tổng giá trị kinh tế = tổng giá trị sử dụng + tổng giá trị nội tại
Tổng giá trị sử dụng = thặng dư người tiêu dùng (1)
+/- giá trị lựa chọn Giá trị nội tại = giá trị tồn tại
Trang 22HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 22
Nĩi chung, nĩ thì dễ dàng để ước tính giá trị trực tiếp của tài nguyên rừng, nhưng ngược lại giá trị nội tại tại và giá trị lựa chọn thì đặc biệt khĩ khăn để ước định được Cĩ nhiều
kỹ thuật đánh giá khác nhau để chuyển những giá trị đĩ thành giá trị tiền tệ Bảng 2.1 hiện
diện một sự phân loại được phỏng theo Dixon và Hufschonidt (1990,p62) và phân biệt
giữa định hướng thị trường và phương pháp định hướng khảo sát
Cĩ nhiều phản đối về việc sử dụng kỹ thuật định giá mơi trường từ triết học (Daly and Townsend 1993, O Neill 1993) và phương pháp luận (winpeng 1991, OECD 1989, Johonsson 1987) Nĩ khơng phải là mục đích của bài báo cáo này để thảo luận sâu hơn,
nhưng những vấn đề đặc trưng này, chúng cĩ quan hệ đến vấn đề nghiên cứu qua những
kinh nghiệm và được đánh dấu đậm trong phần phân tích
Bảng 2.1 Những thành phần giá trị kinh tế của rừng đước ở El Tamarindo
2.1.1 Họat động đánh giá lợi ích và những phương pháp định giá
Đánh giá lợi ích là một thành ngữ đã được chấp nhận rộng rãi về mặt thủ tục, là thủ tục địi hỏi giá trị tồn tại bằng giá trị tiền tệ dựa trên những lợi ích mà xã hội nghĩ đến khi
< -Giá trị sử dụng hiện tại và tương lai -> < Giá trị khơng sử dụng > (1) (2) (3) (4) (5)
Giá trị Giá trị sử dụng Giá trị Giá trị Giá trị tồn tại
sử dụng gián tiếp lựa chọn lưu tồn
trực tiếp
- Gỗ mộc - Sự lắng đọng trầm tích Sử dụng cho tương lai
- Gỗ đốt - Chu trình chất dinh dưỡng (1) & (2)
- Dược liệu - Điều hịa khơng khí
- Thực phẩm - Bảo vệ lưu vực sơng
phát sinh - Hàng rào bảo vệ dãy đất ven bờ
- Sợi, dệt - Ổn định đường bờ
- Đồ da và Tanin - Bảo vệ quần thể động vật
- Dược phẩm biển và thủy sinh
- Các sản - Điều hịa khí hậu vi mơ
phẩm khác - Du lịch và giải trí
- Lọc và làm sạch nước
- Giáo dục
Trang 23không thể định giá chi phí trong việc cải thiện về chất lượng môi trường tự nhiên và môi
trường nhân tạo (D.W Pearce and A Makandya, 1989)
Đánh giá lợi ích đã được sử dụng từ lâu đời nhằm quan tâm đến môi trường Nó cũng giữ một vai trò chủ yếu trong sự định giá của các chính sách thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích lợi ích – chi phí (CBA) Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí cung cấp khung sườn phân tích cho sự định giá kết quả dựa trên sự chọn lựa về kinh tế, nó cung cấp một bộ tiêu chuẩn nhất định để thực thi theo chính sách Quy trình là chi phí đã định phải nhỏ hơn tổng lợi ích thì dự án được chấp nhận Sự khác nhau về đánh giá chi phí và lợi ích của mỗi dự án là đứng trên quan điểm tòan xã hội, việc đánh giá bao gồm sự phân tích kinh tế, không chỉ là số tiền chi ra ít hơn số tiền thu được mà đem những lợi ích – chi phí môi trường đưa vào Lợi ích và chi phí môi trường thường tích lũy cho thế hệ tương lai, mà giá trị đồng tiền trong tương lai bị giảm dần do suất chiết khấu, do đó các giá trị tài nguyên môi trường có thể sẽ bị giảm giá khi những người hoạch định chính sách biến đổi chúng về giá trị hiện tại Tiền thu được trong tương lai từ suất chiết khấu riêng của dự án thì không phản ánh một cách chính xác tiền thu được bởi suất chiết khấu trên thị trường, nhưng có thể phản ánh thời gian ưu tiên cho người tiêu dùng, hoặc chi phí cơ hội của đồng vốn Khi mà môi trường bị tàn phá bởi các dự án rất xa trong tương lai, tính chiết khấu làm cho chi phí thiệt hại là rất nhỏ so với mức tàn phá thật sự của dự án về mặt môi trường (2)
Phân tích Lợi ích – Chi phí không chỉ đơn thuần tính tóan kỹ thuật, nhờ đó mà chi phí và lợi ích được sử dụng cơ cấu giá cả, nhưng đây là một nỗ lực để hòan thành một quá trình phù hợp cho các chính sách định giá của Chính phủ Quá trình này đã được nhận biết một cách rõ ràng qua hiệu quả kinh tế Những đòi hỏi mà lợi ích vượt quá chi phí ban đầu để thiết lập tính khả thi về mặt xã hội của một dự án, chắc chắn rằng giá trị của những lợi ích thuần xã hội đạt được ngang bằng với giá trị tối thiểu của nguồn tài nguyên khai thác được
CBA ước tính được giá ẩn liên quan dến những đề án đặc biệt Giá ẩn (3)
phương tiện truyền thông cơ bản, là cách cho phép CBA ghi lại tất cả lợi ích – chi phí của một dự
Trang 24HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 24
nhất Chức năng khách quan tổng hợp những yêu cầu và mục tiêu được liên kết lại của dự
án đạt được Chú ý rằng việc xác định các chức năng này liên quan đến giá biết trước được đưa ra nhưng khơng được tuyên bố cơng khai Đây là lý do cho rằng sự phân tích lợi ích – chi phí là khơng chắc chắn
Dù sao đi nữa, nên kháng cáo về ước tính sai lầm của CBA qua những con số mà
ta dễ dàng tính tốn được Những cách thức khác nhau của sự đánh giá một dự án là đưa
ra hàng lọat các tác động mơi trường trực tiếp mà dự án cĩ thể gây ra và kể các các tác động gián tiếp
-
(2)
Suất chiết khấu xã hội tương tự như việc định giá đồng tiền ở hiện tại mà nĩ được tính tốn đến một thời gian giới hạn trong tương lai Suất chiết khấu xã hội cĩ thể bao gồm các khái niệm khác nữa hơn là chi phí cơ hội của vốn tư bản và những rủi ro của một đề án Nĩ được xem như là một gánh nặng được đặt lên do xã hội từ việc tích luỹ dần tiền lãi trong tương lai trong việc tiêu thụ gây ra bởi các chi phí của đề án
Phân tích Lợi ích – Chi phí dựa trên lợi ích của tịan xã hội, nhưng nĩ cĩ thể bị thay đổi khi thống nhất ban hành luật lệ và cho phép những mục tiêu phân bổ rõ ràng
(Squire and Vaner Tak, 1975) Điều này nâng cao sự kháng cáo đối với CBA Mục đích
cơ bản là cố gắng đầu tư cho sự định giá một cách chắc chắn dựa trên chi phí và lợi ích của các dịch vụ mơi trường, để cung cấp cơ sở hợp lý cho việc đầu tư dự án cải thiện mơi trường Chắc chắn rằng tổng số chi phí để xử lý hay làm cải thiện mơi trường bao gồm giá trị về mặt xã hội của nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm đĩ Khi các tài nguyên thiên nhiên cĩ giới hạn là rất cần cho sự phát triển thì
Trong những năm gần đây, đã cĩ chiều hứơng quan tâm hơn về rừng sản sinh ra nhiều hàng hĩa và dịch vụ ngịai gỗ Trong nhiều trường hợp, những dịch vụ khác này cần
Trang 25được bổ sung, nhưng trong trường hợp khác là mâu thuẫn giữa các công dụng của rừng
mà đòi hỏi đến sự thỏa hiệp Ví dụ một khu rừng có thể không bị phá và được sử dụng cho việc nghỉ ngơi giải trí hoặc có thể bị tận dụng khai thác về mặt thương mại như gỗ và
các sản phẩm khác Đọan trích sau đây của Johansson and Lofgren (1988, P3) đã nhận
diện được 5 lọai giá trị khác nhau của một khu rừng còn lại
“Một điểm đặc trưng điển hình của những khu rừng là chúng cung cấp nhiều giá trị khác nhau Trước tiên, sự khai thác rừng trong lâm nghiệp và trong kinh doanh có thể thu được lợi nhuận một cách trực tiếp họăc gián tiếp Thứ hai là rừng cung cấp những giá trị sử dụng hao phí như săn bắn, hái nấm, quả và những sản phẩm khác, sản xuất gỗ,
… Thứ ba là những giá trị sử dụng không hao phí, ví dụ một số người thích ngắm nhìn chim trong khi đó những người khác thích nhìn các lòai động vật hoang dã hơn Thứ tư là một khu rừng có thể cung cấp những dịch vụ gián tiếp thông qua sách, phim, các chương trình ti vi và còn hơn thế nữa Cuối cùng, con người có thể tìm thấy sự thỏa mãn từ thực
tế trong lành mà một khu rừng cung cấp cho môi trường.”
Để trợ giúp cho những quy định về việc quản lý rừng, một cơ cấu lợi ích – chi phí
có thể được sử dụng để xem xét cẩn thận những lợi ích và chi phí đã lựa chọn hai hay nhiều khả năng sử dụng và để định giá tính tự nhiên và tầm quan trọng của một sự thỏa hiệp hoặc chi phí cơ hội trong việc quản lý rừng Quá trình này bao gồm sự nhận diện các sản phẩm và dịch vụ khác nhau mà rừng mang lại và hệ sinh thái bao quanh và cũng là tài sản tự nhiên có thể phát triển về mặt thương mại
-
(3)
Gía ẩn được định nghĩa như là giá trị của việc đóng góp cho những mục tiêu kinh tế xã hội cơ bản của một quốc gia được đề ra bởi bất kỳ những thay đổi biên nào trong giá trị của hàng hóa hay là các yếu tố của quá trình sản xuất Gía ẩn phụ thuộc vào cả những mục tiêu nền tảng của quốc gia và môi trường kinh tế mà những thay đổi biên này xảy ra Chúng khác với giá cả thị trường ảnh hưởng bởi thất bại hay biến dạng thị trường, nguốn
Trang 26HVTH: Phan Thị Nguyệt Minh & Võ Thị Bích Ngọc 26
phí xã hội thực sự của hàng hĩa và dịch vụ Bất kỳ nhữg sự thay đổi trong mục tiêu nào
đĩ hay những mặt hạn chế đều làm thay đổi những giá ẩn (Squire và Van der Tak, 1975) Bảng 2.2: Phân loại kỹ thuật định giá đối với việc đáng giá lợi ích và chi phí của tài nguyên rừng ngập mặn
rừng ngập mặn
Phương pháp sử dụng giá cả thị trường
1 Địng giá lợi ích bằng việc sử dụng giá
cả thị trường thật sự của hàng hĩa và
dịch vụ mơi trường
a Phương pháp hàm sản xuất
b Phương pháp liều lượng – đáp ứng
2 Định giá chi phí bằng cách sử dụng giá
cả thị trường thật sự trong việc bảo vệ
a Hàng hĩa mua bán trên thị trường
như là vật đại diện cho hàng hĩa mơi
- Chi phí xây dựng đê bao để thay thế cho dịch vụ bảo vệ từ rừng ngập mặn
- Gía cả thị trường của việc tái tạo rừng ngập mặn
- Chi phí của khí gaz propan (như là vật thay thế cho nguyên liệu chất đốt)
- Sự khác nhau trong giá cả của đất đai được bảo vệ bởi những khu rừng ngập mặn
- Gía trị thời gian của việc du hành đến những địa điểm du lịch cộng với chi phí vào cửa
- Gía trị của thời gian việc thu nhặt sản phẩm từ rừng
- Việc khảo sát và thí nghiệm để suy ra WTP cho nhưựg sản phẩm của rừng mà nĩ khơng cĩ giá trên thị trường
Trang 271 Phương pháp định giá ngẫu nhiên