1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng con người Việt Nam pptx

94 593 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng con người Việt Nam
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Hồ Chí Minh và sự nghiệp giải phóng con người Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 779,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định những đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực quan trọng như: Mục tiêu con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dâ

Trang 1

LUẬN VĂN:

Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng

con người Việt Nam

Trang 2

dự báo, trong tương lai mọi khoa học đều gặp nhau ở một khoa học cao nhất - đó là khoa học về con người Trong giai đoạn hiện nay, con người và giải phóng con người đang trở thành một vấn đề thực tiễn sống động, có ảnh hưởng đến các nền tảng của nhân loại Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề con người, giải phóng con người là một trong những nhiệm vụ cấp thiết đặt ra

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Thực chất đó chính là mong muốn đi tới giải phóng triệt để người Việt Nam Giải phóng con người là một trong những nội dung quan trọng, là vấn đề cốt lõi chi phối mọi tư duy và hành động của Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi về nơi vĩnh hằng Giải phóng triệt để con người thực sự là ước mơ, khát vọng cháy bỏng, đồng thời là sự nghiệp cao cả và vĩ đại nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nó chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc Việc tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu với mong muốn làm rõ những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng người Việt Nam (trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn), từ đó khẳng định vai trò nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để sự nghiệp đó nhanh chóng đi đến thành công, điều có ý nghĩa quyết định là phải tiếp tục coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi cuộc cách mạng Giải phóng triệt để con người là mục tiêu của sự phát triển, tạo ra

Trang 3

Tư tưởng về con người và giải phóng con người là nội dung trọng tâm chi phối toàn

bộ cuộc đời, sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh, vì vậy đã được đông đảo các nhà hoạt động chính trị, hoạt động văn hoá và hoạt động lý luận quan tâm nghiên cứu

Thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991), đã

có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng về giải phóng con người của Hồ Chí Minh ở nhiều cấp độ và giác độ khác nhau Các sản phẩm nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh liên quan đến vấn đề này bao gồm:

- Các đề tài khoa học: Chương trình khoa học cấp nhà nước KX02 (1991-1995) gồm

có hai đề tài có liên quan đến vấn đề này, đó là: KX02.05: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con

người và chính sách xã hội đối với con người, do PGS.TS Lê Sỹ Thắng làm chủ nhiệm;

KX02.12: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, do

PGS.TS Trịnh Nhu làm chủ nhiệm

Các đề tài trên đây đã đi sâu nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng

Hồ Chí Minh về những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Qua việc nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định những đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực quan trọng như: Mục tiêu con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội; vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; về sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân; về chính sách xã hội đối với con người, v.v

- Trong chương trình KHXH.04 (1996-2000) có một số đề tài đề cập đến chủ đề này:

KHXH.01: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng con người mới, do GS Đặng

Xuân Kỳ làm chủ nhiệm

Trang 4

Liên quan đến nội dung này có một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Tư tưởng Hồ

Chí Minh về quyền con người và vận dụng nó trong điều kiện nước ta hiện nay, (2003), do

TS Phạm Ngọc Anh làm chủ nhiệm

Về sách, các luận văn, luận án, đáng chú ý là các sản phẩm: Đỗ Huy: Tư tưởng Hồ

Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam, Nxb KHXH Hà Nội, 1999; Hoàng

Trang - Phạm Ngọc Anh (đồng chủ biên): Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo

dục cán bộ đảng viên hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004; Lê Quang Hoan (2001): Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học

Các sản phẩm khoa học trên đây đã tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề về quyền con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh; cơ sở hình thành và những nội dung cơ bản

tư tưởng của Người về văn hoá, về con người, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới;

về nhân tố con người và vận dụng nó trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay

- Liên quan đến vấn đề giải phóng con người có một số bài viết đăng trên các tạp chí, đáng chú ý là các bài của Nguyễn Văn Tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát

huy nhân tố con người”, Tạp chí Triết học, số 2 (2-2004); Lại Quốc Khánh: “Bản chất nhân đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người “, Tạp chí Cộng sản, số 14

(tháng 7/2005); Thành Duy: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội

đối với con người”, Tạp chí Lịch sử Đảng (12) năm 2005 v.v

Đề cập đến vấn đề Đảng ta tiếp tục sự nghiệp giải phóng con người của Hồ Chí Minh, trong công cuộc đổi mới có nhiều công trình khoa học, các bài viết, đáng lưu ý là

các bài của Nguyễn Trọng Chuẩn: “Để phát triển con người một cách bền vững”, Tạp chí

Triết học (01-2005); Nguyễn Thị Tuyết Mai: “Về chiến lược con người ở nước ta trong

thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Triết học (9), năm 2002; Đỗ Nguyên

Phương: “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trước những yêu cầu mới”,

Tạp chí Cộng sản (11), năm 2005,v.v

Qua các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, các tác giả đã đứng trên các giác độ khác nhau khi nghiên cứu về vấn đề con người Song, đó mới chỉ là sự đề cập gián tiếp, chứ chưa trực tiếp đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh về giải phóng con người; chưa khái quát được những cống hiến lớn lao của Hồ

Trang 5

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu tư duy lý luận của Hồ Chí Minh về con người và sự giải phóng người Việt Nam

+ Làm rõ những cống hiến chủ yếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự giải phóng người Việt Nam trong thực tiễn

+ Nghiên cứu quá trình Đảng cộng sản Việt nam tiếp tục sự nghiệp giải phóng con người của Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về con người và giải phóng con người

- Vận dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, các phương pháp: lịch sử - lôgíc; quy nạp - diễn dịch; phân tích - tổng hợp, so sánh; khái quát hoá… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài

5 Đóng góp mới của luận văn

- Góp phần làm rõ những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng con người

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm mục tiêu giải phóng con người trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta

6 ý nghĩa của luận văn

Trang 6

Với những kết quả đạt được, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở bậc đại học và cao đẳng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 7

Chương 1

Vấn đề con người và giảI phóng người việt nam trong tư duy lý luận của Hồ Chí Minh

1.1 Vấn đề con người Việt Nam trong nhận thức của Hồ Chí Minh

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, vấn đề con người cũng như bản chất con người đã được bàn nhiều ở cả phương Tây và phương Đông Tuỳ thuộc vào thế giới quan, lập trường giai cấp, phương pháp luận của các nhà tư tưởng mà có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất con người

Chỉ đến khi học thuyết C.Mác ra đời, vấn đề con người mới được lý giải một cách thực sự khoa học trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một người Việt Nam điển hình, một nhà lý luận mác xít của thế kỷ XX, Người đã có nhiều cống hiến lớn lao cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng những người thuộc địa nói chung và người Việt Nam nói riêng Trong di cảo của Hồ Chí Minh, tuy không có (có thể chúng tôi chưa tìm thấy) những bài viết, những chuyên luận bàn sâu, bàn riêng về con người, song, có thể khẳng định hầu hết bài viết, bài nói của Người đều bàn (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến những vấn đề thuộc về con người Việt Nam Trong số đó, chúng tôi xin nêu một số vấn đề cơ bản sau:

1.1.1 Sự cùng khổ của người Việt Nam dưới chế độ thực dân, phong kiến

Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là những năm có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong tiến trình phát triển của xã hội loài người

Trên thế giới, chủ nghĩa tư bản đang trong quá trình chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền - chủ nghĩa đế quốc, ra sức xâm chiếm các nước nhỏ yếu làm thuộc địa Theo số liệu điều tra của Hồ Chí Minh: 9 nước: Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, ý, Nhật Bản, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan “với tổng số dân 320.657.000 người và với diện tích 11.407.600 km2 bóc lột các nước thuộc địa gồm hàng trăm dân tộc với số dân 560.193.000 người và với diện tích 55.637.000 km2” [43, tr.277] “Toàn bộ lãnh thổ của các nước thuộc địa rộng gấp 5 lần lãnh thổ của các chính quốc, còn số dân của các chính quốc chưa bằng 3/5 số dân của các nước thuộc địa”[43, tr.277]

Trang 8

Tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam Khi đó, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đang suy tàn, bên trong thì ra sức đàn áp những người dân vô tội, bên ngoài thực hiện chính sách bảo thủ, khép kín, bế quan, toả cảng, khước từ mọi đề án cải cách kinh tế - xã hội Chính thái độ ươn hèn trước nạn ngoại xâm của quan, quân triều Nguyễn mà đất nước Việt Nam từng bước rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược qua việc ký Hiệp định Hác Măng (l883), Hiệp ước Patơnốt (1884) đã chính thức công nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam

Sau khi hoàn thành sự xâm chiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách cai trị thuộc địa: độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, nô dịch về văn hoá Chúng biến nước ta từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, làm cho nền kinh tế thuần nông, đời sống xã hội - giai cấp bị phân hoá sâu sắc Bên cạnh mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến, đã xuất hiện mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược

Là người dân của một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đi nhiều, tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội, Người hiểu hơn ai hết sự cùng khổ của người Việt Nam dưới ách thống trị, bóc lột tàn bạo của thực dân, phong kiến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

- Sự cùng khổ về mặt chính trị:

Dưới chế độ thống trị của thực dân, phong kiến, mọi người dân Việt Nam đều bị tước

bỏ quyền tự do, độc lập - quyền cơ bản của mỗi một quốc gia dân tộc và quyền được sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc - quyền thiêng liêng của mỗi con người Đa

số người dân Việt Nam, nhất là những người lao động phải chịu một kiếp đời nô lệ, cuộc sống của họ là những chuỗi tháng ngày đấu tranh và khổ nhục không ngừng

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, trong nhiều bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh đã phân tích nỗi cực khổ của người dân bản xứ về nhiều mặt, trong đó bao trùm nhất là nỗi khổ cực khi những giá trị nhân phẩm con người bị trà đạp một cách nghiêm trọng

Theo Hồ Chí Minh, dưới con mắt của những kẻ xâm lược núp dưới danh nghĩa “ khai

hoá văn minh”, thực dân Pháp coi người Việt Nam bản xứ chỉ là những tên “Annamít”, là

bọn “nhà quê” bẩn thỉu, nhân phẩm của họ không đáng giá một đồng xu Vì vậy, họ không

cần đến một thứ công lý nào hết, cách tốt nhất để cai trị thuộc địa là thống trị bằng sức

Trang 9

mạnh: ba toong, súng ngắn, súng dài Những thứ đó - theo bọn thực dân - mới là những thứ

xứng đáng với lũ “ròi bọ” - những người bản xứ

Hồ Chí Minh chỉ rõ, dưới chế độ thực dân, phong kiến, bản chất con người bị đối lập hoàn toàn với tính cách, nhân tính vốn có của họ trong hiện thực đến mức mâu thuẫn quyết liệt với hiện thực ấy Sự áp bức đối với người Việt Nam về mặt dân tộc và về mặt giai cấp, suy cho cùng là sự áp bức về mặt con người Hồ Chí Minh viết: “ Chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách độc ác trơ tráo đến thế” [43, tr.383] Người dân An Nam bị coi như súc vật “ bị bịt mõm và bị buộc dây dắt

đi, chỉ có quyền phục tùng, không được kêu ca”[43, tr.7] “Mọi nguời dân từ 18 đến 60 tuổi, đều phải nhất loạt đóng 5 đồng thuế thân”[43, tr.408] Các quyền tối thiểu của con người như: quyền tự do tư tưởng, tự do đi lại, quyền hội họp, quyền học tập, lao động … đều bị

vi phạm nghiêm trọng Người Pháp thì có công lý của người Pháp, còn đối với người An

Nam thì chỉ có thứ công lý của vũ lực, “Công lý được tượng trưng bằng một người đàn bà dịu hiền, một tay cầm cân, một tay cầm kiếm”[44, tr.90] Nghịch lý ấy còn thể hiện ở chỗ, khi người có màu da trắng thì nghiễm nhiên người đó là một nhà khai hoá Mà khi đã là một nhà khai hoá thì người ta có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh Cho nên, chẳng những bọn thống đốc, công sứ - những kẻ nắm giữ quyền lực muốn làm gì thì làm, mà cả các nhân viên, nhà đoan, cảnh binh và tất cả những ai dù có một chút quyền hành trong tay đều sử dụng và lạm dụng quyền hành mà thả sức làm bậy, vì chúng biết chắc rằng sẽ không một ai bị tội vạ gì hết, thậm chí còn được khuyến khích làm càn

- Sự cùng khổ về mặt kinh tế:

Chế độ thực dân, phong kiến duy trì sự tồn tại quan hệ sản xuất bóc lột với hai hình thức sở hữu chủ yếu: sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và sở hữu về ruộng đất địa chủ phong kiến Hai tầng áp bức bóc lột đó đè nặng lên đôi vai người dân Việt Nam bởi các

hình thức bóc lột lao động làm thuê, bởi các thứ “thuế máu” vô lý khác, làm cho người dân

Việt Nam vốn nghèo đói càng bần cùng hơn

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã thủ tiêu hình thức chiếm hữu công cộng về ruộng đất và thay thế bằng hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, đồng thời nó cũng tìm mọi cách thủ tiêu quyền chiếm hữu nhỏ của nông dân để tập trung làm lợi cho quyền chiếm hữu tư nhân của đồn điền lớn Bản thân người Pháp với tư cách là những

Trang 10

Dưới chế độ thực dân, phong kiến, người dân Việt Nam bị biến thành những “công

cụ biết nói”, thân phận họ chỉ là những người lao động làm thuê cho giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản mại bản, luôn bị bóc lột, đánh đập giã man Lao động không còn là mục đích tự thân mà thực sự biến thành khổ nhục, thông qua nghĩa vụ, trách nhiệm của người nô lệ đối với những kẻ thống trị Người Việt Nam đã từng sinh hoạt, lao động trong những điều kiện tự nhiên thuận lợi, có đức tính cần cù chịu khó trong lao động, họ rất thông minh và sáng tạo, “ấy thế mà người dân An Nam lại sống đời sống nghèo nàn nhất

Sự phồn thịnh ấy do bàn tay họ làm nên nhưng không phải để cho họ hưởng”[43, tr.359]

và “dân An Nam không bao giờ được thấy những đồng bạc của mình trắng đen ra sao”[43, tr.362]

- Sự cùng khổ về văn hoá - xã hội:

Xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã mang đến xứ này thứ văn minh độc hại được

bao bọc bởi một lớp sơn mỹ miều “Tự, do, bình đẳng, bác ái”, mà Hồ Chí Minh gọi mỉa mai là “Nền văn minh thượng đẳng” Chính cái văn minh Tây học này làm cho văn minh

Nho học, với nền tảng tư tưởng Nho giáo đã từng chi phối đời sống xã hội Việt Nam bị lung lay tận gốc rễ Dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, người Việt Nam không

những không được “khai hoá” bởi những tư tưởng tiến bộ: tự do, bình đẳng, bác ái của

thời kỳ Khai sáng Pháp mà đại biểu là Vônte, Môngtexkiơ, Rutxô, Huy Gô …, trái lại, họ luôn “ bị dìm trong cảnh dốt nát và suy yếu bởi một hệ thống tinh khôn nhằm nhồi sọ, đầu độc hoá, không lấp liếm hết được dưới một dạng giáo dục bịp bợm”[43, tr.8]

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong nhận thức của kẻ xâm lược, “Truyền học vấn cho bọn annamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống lại chúng ta, và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là có ích”[43, tr.7] Vì vậy, người An Nam đều bị biến thành đối tượng tiêu thụ, bị đầu độc bởi ruợu cồn, thuốc phiện, “có một nghìn năm trăm ty rượu và thuốc phiện cho một nghìn làng trong khi chỉ có mười trường học cũng cho bấy nhiêu làng”[43, tr.26] Hồ

Trang 11

tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, “chỉ dạy cho họ

biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu Tổ quốc không phải là Tổ quốc mình và đang áp bức mình Nền giáo dục ấy dạy cho thanh thiếu niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình”[43, tr.399-400] Nền giáo dục thực dân “đã dạy cho người bản xứ biết thế nào là bác ái, cái đức quý đó vốn là nền tảng của mọi chế độ cộng hoà được khắc bằng chữ lớn trên khắp các công trình kỷ niệm và trên tất cả các cửa… nhà lao”[43, tr.115]

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chế độ thực dân, phong kiến, sự “tha hoá” diễn ra đồng thời đối với kẻ xâm lược, thống trị và người bị xâm lược, thống trị Điều này là hoàn toàn thống nhất với quan điểm của C.Mác và Ph.ăngghen, khi các ông cho rằng trong chế độ tư hữu,

cả giai cấp tư sản lẫn giai cấp vô sản đều là những hình thức tha hoá của con người

Dưới xã hội phong kiến Việt Nam thuộc Pháp, bọn thực dân, phong kiến càng ra sức đàn áp, bóc lột người bản xứ tàn bạo bao nhiêu thì càng làm cho chính nó trở thành kẻ độc

ác, vô nhân đạo, phi nhân tính bấy nhiêu Trong bài Vấn đề bản xứ, (tháng 8 - 1919),

Nguyễn ái Quốc viết: “nay cũng như trước kia, kẻ chinh phục và nhân dân bị chinh phục đều sống mặt đối mặt, trong một không khí nghi kỵ lẫn nhau” [43, tr.7], “Về tâm lý, ở bên kia là thái độ hiềm nghi và khinh miệt; còn ở phía bên này lại là tâm trạng bực dọc và tuyệt vọng”[43, tr.7] Sự “tự tha hoá” của kẻ xâm lược được Hồ Chí Minh chỉ rõ thông qua những lời tự sự của chính những tác giả người Pháp:

Chúng ta thấy ở đây cả một nền văn minh, mọi thứ đều xây dựng từ lâu Nghệ thuật, khoa học, kể cả khoa học quản lý Nhà nước đều đã phát triển mạnh

mẽ Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hoà hợp với nhau, trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã được điều hoà và ngày càng hoàn hảo thêm…Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng

Trang 12

công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền, thương yêu nòi giống, tôn kính lẽ phải, ghét xa hoa, không hám tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh…là những đặc điểm về bản tính của người An Nam hình thành từ bao thế hệ [43, tr.425-426]

Vậy mà “Chúng ta đến đây không làm cho người An Nam giàu lên chút nào mà còn gây nên khủng hoảng để di hại lâu dài” [43, tr.426-427] “Xã hội cũ An Nam tổ chức tốt như thế đã bị chúng ta phá huỷ…Khắp nơi, người ta vi phạm luật lệ của người An Nam, coi thường phong tục, cướp bóc tài sản; mượn cớ đi chấn áp, nên quân lính “được thể” lại tha hồ cướp phá, giết chóc; thú tính xấu xa nhất lại hoành hành; đến cái vẻ công lý cũng không còn [43, tr.426-427]

Từ những điều trình bày ở trên, chúng ta thấy rất rõ, Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề con người Việt Nam trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến bằng cách truy tìm nguyên nhân gây nên mọi nỗi khổ, sự cùng cực, thậm chí mất nhân tính của người dân Việt Nam là

do sự tồn tại của chế độ tư hữu Từ đó, Hồ Chí Minh đã đi đến quan niệm về một cuộc cách mạng triệt để nhất để giải phóng con người là cách mạng vô sản Tuy nhiên, Người cũng thấy rõ sự nghiệp vĩ đại ấy là cả một quá trình rất lâu dài, gian khổ, đầy những bước thăng trầm Không có chủ nghĩa nhân đạo tự nó, cũng không có tự do dân chủ tự nó mà phải biến thành chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, tức là phải làm cuộc cách mạng vô sản nhằm thủ tiêu chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất- mầm mống của sự tha hoá con người

Thống nhất với quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh nhận thức rõ việc xoá bỏ chế độ tư hữu ở đây không phải là chế độ sở hữu nói chung

mà là chế độ sở hữu tư sản và sở hữu phong kiến Xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản và sở hữu phong kiến không phải là thủ tiêu nó với tư cách là một giai cấp mà chính là chế độ áp bức, thống trị về chính trị, bóc lột về kinh tế và nô dịch về văn hoá, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và đi đến giải phóng triệt để con người

1.1.2 Con người là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng

Đây là một nội dung lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, có ý nghĩa như một tiền đề xuất phát, mục đích của tư tưởng: bắt đầu từ con người, vì con người, do con

Trang 13

Tư tưởng tôn giáo cho rằng mọi sự thay đổi trong xã hội là do ý chí của đấng tối cao,

là do “mệnh trời”, ý chí đó được các cá nhân thực hiện Những nhà duy vật trước C.Mác tuy không tin vào thượng đế, thần linh, nhưng cũng không thấy được hết vị trí, vai trò của con người - quần chúng nhân dân trong lịch sử Con người thường được hiểu như là con

người - công cụ, con người - phương tiện Pascal ví con người như “một cây sậy, nhưng là

một cây sậy biết suy nghĩ” Còn L.Phoiơbắc khi đánh giá cao vai trò của con người đối với

lịch sử cũng chỉ hiểu con người dùng sức mạnh của bản thân mình, sức mạnh của cơ bắp tác động vào thế giới vật chất - trong hành vi lao động sản xuất - giành lấy những vật phẩm trong tự nhiên để nuôi sống mình ông hạ thấp vai trò của sức mạnh tinh thần, yếu tố tri thức, đạo đức, tình cảm của con người với tư cách con người - động lực, con người - mục tiêu Do bị chi phối bởi phương pháp siêu hình mà con người được xem như là những

“công cụ biết nói”, chỉ là “phương tiện”, hay “trò chơi” trong tay các vĩ nhân, chịu sự chi phối của các lực lượng thần bí, siêu nhiên Con người không bao giờ được coi là động lực,

là mục tiêu của lịch sử mà chỉ đi tìm các động lực, mục tiêu ở các yếu tố bên ngoài con người, bên ngoài lịch sử

Triết học Mác khẳng định rõ vai trò vị trí của con người đối với sự phát triển của lịch

sử, là động lực của mọi cuộc cách mạng Chính con người là chủ thể sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần, đến lượt nó, các giá trị vật chất và tinh thần lại góp phần làm cho con người tồn tại và phát triển đúng với bản chất người Hướng tới giải phóng triệt để con người là mục tiêu cuối cùng của cách mạng vô sản, bản chất nhân đạo mác xít là giải phóng triệt để con người

Thấm nhuần tư tưởng nhân văn, nhân ái của dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, Hồ Chí Minh coi con người là vốn quý nhất, thể hiện ở cả ba cấp độ: cộng đồng dân tộc quốc gia (quần chúng nhân dân nói chung); giai cấp, tầng lớp (công nhân, nông

dân, trí thức) và cá nhân Người khẳng định: “Nhân nghĩa là nhân dân Trong bầu trời

không gì quý bằng nhân dân”[50, tr.276], “Chúng ta phải quý trọng con người, nhất là

Trang 14

ở Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người không chung chung trừu tượng mà thực

sự biến thành động cơ, mục đích, thành khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, ham muốn tột bậc của Hồ Chí

Minh chỉ là đất nước được hoàn toàn độc lập, tự do, nhân dân ta ai cũng có cuộc sống ấm

no, hạnh phúc Khi về nơi vĩnh hằng, trong Di chúc để lại cho hậu thế, vấn đề đầu tiên

Người đề cập đến là vấn đề con người

Do vậy, Mô-ha-mét La-ma-ri (Mohamed Lamari) - đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước cộng hoà dân chủ nhân dân An-giê-ri tại Việt Nam đã nhận xét:

ưu điểm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không chỉ đấu tranh cho một

lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài, Người muốn tiến hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới [73, tr.49-50]

Coi con người là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải biết trân trọng sinh mệnh, phẩm giá con người, tin tưởng vào khả năng tiến bộ của con người; biết khơi dậy khả năng tiềm tàng của họ, thức tỉnh, giáo dục họ tự giác đứng lên đấu tranh tự giải phóng; phải biết nâng đỡ con người, làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị héo mòn đi

Coi con người là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và mỗi cán bộ đảng viên phải kính trọng nhân dân, lấy dân làm gốc, thực hiện tốt công tác dân vận và thực hành dân chủ; phải biết phát huy nhân tố con người, coi

Trang 15

sự nghiệp “trồng người” là một chiến lược lâu dài của Đảng và của cách mạng Trong bài

Dân vận, Hồ Chí Minh viết:

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [47, tr.698]

ở Hồ Chí Minh, con người không chỉ là vốn quý mà còn là yếu tố quyết định thành

công của sự nghiệp cách mạng

Nho giáo đề cao tư tưởng “thân dân” nhưng thực chất chữ “dân” đồng nghĩa với

“thần dân”, “thứ dân”, “tiện dân” chỉ là đối tượng cần phải “chăn dắt” mà không có vai

trò gì đối với lịch sử Đối với Hồ Chí Minh, con người -quần chúng nhân dân là lực lượng

cơ bản của mọi cuộc cách mạng, là động lực làm nên lịch sử Chữ “ DÂN” luôn chiếm vị trí trung tâm, là tiền đề xuất phát chi phối mọi suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh Thấm nhuần quan điểm của C.Mác về vai trò của quần chúng nhân dân đối với lịch

sử, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, trong mọi thời đại quần chúng nhân dân luôn giữ vai trò chủ thể quyết định sự vận động phát triển của lịch sử chứ không phải là các vĩ nhân Người nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” [47, tr.241] “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và phát triển”[49, tr203] “Quần chúng còn là người sáng tác nữa (các giá trị văn hóa tinh thần)”[51, tr.250]

Hồ Chí Minh đánh giá cao những giá trị những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý chí tự lực tự cường Người đã khái quát:

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quý báu của

ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cuớp nước [48, tr.171]

Trang 16

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh

vô địch của quần chúng nhân dân khi được tập hợp tổ chức và giáo dục theo một đường lối đúng đắn Người khẳng định: “Ai làm cách mạng? - Nhân dân! Ai kháng chiến thắng lợi? - Toàn dân” [51, tr.506] “Không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm được” [48, tr.292] “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết Không ai chiến thắng được lực lượng đó” [46, tr.20]

Vai trò của con người còn được Hồ Chí Minh xác định rõ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Người khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên, “đó là công trình tập thể của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng” [51, tr.291]

1.1.3 Con người và bản chất con người

1.1.3.1 Khái niệm “ con người” trong nhận thức của Hồ Chí Minh

Trước đây, khi đưa ra quan niệm về con người, C.Mác cho rằng, con người được hiểu

là phương thức tồn tại đặc thù của con người, phương thức sinh hoạt tộc loại đặc thù của con người Bằng việc “sáng tạo ra một cách thực tiễn thế giới đối tượng”, bằng “việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ”, con người trở thành một thực thể mang tính tộc loại, có ý thức, một thực thể đối xử với tộc loại như với bản chất của chính mình, hoặc đối xử với bản thân mình như với một thực thể có tính chất tộc loại Qua việc phân tích sự khác nhau giữa hoạt động của con người với hoạt động của con vật, C.Mác đi đến kết luận: hoạt động sinh sống của con người là hoạt động sinh sống có ý thức, hoạt động theo phương thức “xây dựng”vật chất theo quy luật của cái đẹp Do con người là một thực thể tộc loại, là một sinh vật có tính loài có ý thức, “đời sống của bản thân con người là một đối tượng đối với con người”, nên “hoạt động của con người là hoạt động tự do” [37, tr.36]

Trong quan niệm của C.Mác, con người - đó là những con người riêng biệt, là những cá nhân hiện thực với hoạt động lao động của họ ông viết: “Con người là

một cá nhân đặc thù nào đó và chính tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thực thể xã hội cá thể hiện thực” [37, tr.171]

Trang 17

Theo C.Mác, con người là một mẫu hình lý tưởng về sự tồn tại và phát triển của chính nó, một mẫu hình mà khi đối chiếu với những hoạt động sinh hoạt hiện thực của con người sẽ cho thấy những hoạt động ấy có mang tính người hay không mang tính người C.Mác nhận xét, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, người lao động chỉ nhận được nhận đủ cái cần thiết để họ duy trì sự sống, song không phải sống như một con người mà như một người lao động làm thuê và để tạo ra không phải loại người, mà ra giai cấp những người nô

lệ, những người lao động làm thuê

Trong quan niệm của C.Mác, con người còn được xem xét với tư cách là con người

tự nó - con người được trừu tượng hoá bởi các mối quan hệ, các điều kiện, các hình thức và phương tiện hoạt động hiện thực của nó, là “sự tồn tại trừu tượng của con người với tính cách chỉ là con người lao động” và do vậy, hàng ngày nó có thể “bị đẩy từ cái hư không đầy đủ của mình vào cái hư không tuyệt đối”, vào lĩnh vực “không tồn tại có tính chất xã hội” của nó” [38, tr.150]

Như vậy, thuật ngữ “con người” đã được C.Mác sử dụng với một nội dung phong phú: con người là phương thức tồn tại của con người trong thế giới, là một cá nhân riêng biệt, là mẫu hình sinh hoạt của con người, con người với tư cách con người tự nó, là đại biểu điển hình cho nhân loại

Là nhà mác xít chân chính, cách tiếp cận vấn đề con người của Hồ Chí Minh có sự thống nhất với cách tiếp cận của C.Mác Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, không có con

người trừu tượng mà chỉ có con người cụ thể Tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử gắn với từng thời điểm cách mạng, Hồ Chí Minh dùng những thuật ngữ khác nhau để chỉ con người Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa con người giai cấp, dân tộc và nhân loại Những năm đầu thế kỷ XX, khi đề cập đến con người, Hồ Chí Minh không chỉ đề cập đến “người phương Đông”, “người châu á”, “người châu âu”…,

mà còn đề cập một cách cụ thể hơn “người bản xứ”, “người bản xứ bị áp bức”, “người da vàng”, “người da đen”, “người vô sản thuộc địa”, “người vô sản ở chính quốc”, “người cùng khổ” v.v Như vậy, với Hồ Chí Minh, con người bao giờ cũng thuộc về một dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, thuộc về một quốc gia nhất định Người khẳng định mọi người dù khác nhau như thế nào thì vẫn có điểm chung là sinh ra phải được tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc

Trang 18

Sau cách mạng tháng Tám 1945, mỗi người dân Việt Nam đã thực sự trở thành chủ nhân của đất nước, bản chất xã hội đã thay đổi, Hồ Chí Minh thường sử dụng các thuật ngữ như: “đồng bào”, “quốc dân”, “nhân dân”,v.v, qua đó đặt con người trong sự gắn bó mật thiết với cộng đồng dân tộc

Bên cạnh việc nói đến con người dân tộc, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú ý đến con người giai cấp trong quan niệm về con người Trong những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh thường dùng các thuật ngữ “người bị áp bức”, “người bị bóc lột”, “tên tư sản”, “nhà độc tài” …để chỉ con người Trong thời kỳ miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh dùng các thuật ngữ “người làm chủ”, “người làm chủ tập thể”, “lao động trí óc”, “lao động chân tay”… cho phù hợp với các quan hệ xã hội mới

Hồ Chí Minh chỉ dùng khái niệm “con người” ở hai thời điểm: Trong Tuyên ngôn

của Hội liên hiệp thuộc địa (1921), Người viết rằng nhân dân thuộc địa bị tước đoạt mất

các quyền lợi gắn liền với “phẩm giá con người” Trong Lời kêu gọi đăng trên trang nhất,

số đầu tiên báo Người cùng khổ - cơ quan ngôn luận của hội Liên hiệp thuộc địa, Hồ Chí

Minh viết rằng sứ mệnh của tờ báo là “giải phóng con người” Năm 1968, trong bản bổ sung

cho Di chúc, Người viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người”

Đặc biệt, năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu một quan niệm khá độc đáo về con người,

“Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng hơn là cả loài người” [46, tr.644] Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là những cộng đồng người trong xã hội Con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất mang những phẩm chất riêng, vừa là một thực thể xã hội mang những phẩm chất của một hệ thống các quan hệ xã hội trong sự thống nhất biện chứng giữa cái chung với cái đặc thù, cái riêng Trong cộng đồng con người Việt Nam, rõ ràng, quan hệ gia đình, anh em, họ hàng là rất quan trọng Hơn nữa, nét độc đáo trong cộng người Việt Nam là quan hệ “đồng bào”, cộng đồng đó có cùng nguồn gốc “con lạc, cháu hồng”, “con Rồng, cháu tiên”

Qua cách định nghĩa chữ “người” và cách hiểu về “con người” trên đây cho thấy,

quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề con người dựa trên cơ sở thế giới quan mác xít, không duy tâm, thần bí khi xem xét nguồn gốc, bản chất con người Con người không phải

là sản phẩm của thần thánh hay bất cứ lực lượng siêu nhiên nào, mà là sản phẩm của quá

Trang 19

trình tiến hoá lâu dài Không có con người chung chung trừu tượng mà chỉ có những con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định, nghĩa là những con người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội và phát triển ý thức Con người chính là người cộng đồng người theo nghĩa lô gíc hình thức, được phân biệt theo những dấu hiệu xác định từ vô số các khách thể tồn tại trên trái đất Với cách hiểu này, cho phép gạt bỏ mọi khác biệt giữa cá nhân con người và mỗi con nguời cụ thể, luôn có điểm tương đồng với con người thuộc mọi thời đại, mọi quốc gia dân tộc

1.1.3.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất con người

Là nhà mác xít chân chính, Hồ Chí Minh nhận thức vấn đề bản chất con người trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bản chất con người theo quan niệm của

Hồ Chí Minh thể hiện qua một số nội dung sau:

Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh con người mang bản chất xã hội - lịch sử

Trước đây khi bàn về con người, C.Mác đã chỉ rõ: “Con người không phải là một sinh vật trừu tương, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người,

là nhà nước, là xã hội” [35, tr.569] Bàn về bản chất con người, C.Mác đã khẳng định:

“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [36, tr.11] ông phê phán L.Phoiơbắc đã coi con người như những cá nhân trừu tượng, cô lập,

“bản chất con người chỉ có thể được hiểu là “loài”, là tính phổ biến nội tại, câm, gắn bó một cách thuần tuý tự nhiên đông đảo cá nhân lại với nhau” [36, tr.11] Đối với con người

đứng đầu nhà nước mà Hêghen gọi là “con người đặc thù”, thì bản chất của nó, như C.Mác

đã phân tích, cũng “không phải là râu của nó, không phải là máu của nó, không phải là bản chất thể xác trừu tượng của nó, mà là phẩm chất xã hội của nó” [35, tr.337] Như vậy, bản chất con người không phải là trừu tượng mà là cụ thể, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá nhân riêng biệt, cô lập, mà là tổng hoà của toàn bộ các quan hệ xã hội

Trong thực tế, con người là con người xã hội, con người gắn với xã hội, là những cá thể nằm trong các quan hệ xã hội nhất định Nếu tách con người khỏi các quan hệ xã hội thì con người chỉ còn là một loài sinh vật giống như mọi loài sinh vật khác; và lúc đó sự

Trang 20

Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh luôn đặt con người

và xem xét nó trong các mối quan hệ xã hội nhất định Con người mang bản chất xã hội, là thành viên của một cộng đồng xã hội, đó là cộng động năm cấp độ: gia đình - họ tộc - làng

- nước - nhân loại Con người không phải là những cá thể biệt lập giống như Rôbinxơn ngoài hoang đảo Chỉ có trong quan hệ xã hội, trong hoạt động thực tiễn con người mới có hoạt động lao động, có ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy, mới thực sự trở thành con người

để có thể phân biệt với mọi loài động vật khác

Những quan hệ xã hội mà Hồ Chí Minh quan tâm, trước hết là những quan hệ đã gắn

bó giữa người với người tạo thành cộng đồng từ nhỏ đến lớn, từ hẹp đến rộng Từ cộng đồng gia đình, họ tộc, cộng đồng làng xã cho đến cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại Đối với người Việt Nam, những cộng đồng gia đình, họ tộc, làng xã, dân tộc đã tạo thành tính cộng đồng bền vững được bồi đắp qua trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước góp phần hình thành chủ nghĩa yêu nước truyền thống, chủ nghĩa dân tộc chân chính mà có

lúc Hồ Chí Minh coi là “động lực vĩ đại”, thậm chí là “động lực duy nhất” thúc đây sự

phát triển của đất nước

Hồ Chí Minh đặt con người, mỗi cá nhân con người trong mối quan hệ ba chiều: quan hệ với một cộng đồng xã hội nhất định trong đó mỗi con người là một thành viên; quan hệ với một chế độ xã hội nhất định, trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức, bóc lột; quan hệ với tự nhiên trong đó con người là một bộ phận không thể tách rời, nhưng

lại luôn “người hoá” tự nhiên trong những cộng đồng xã hội nhất định và bị quy định bởi

Trang 21

những chế độ xã hội nhất định Con người sống và tồn tại trong lòng xã hội, chịu sự chế ước của các quan hệ xã hội Các quan hệ ấy lại không nhất thành bất biến: có loại thay đổi nhanh, có loại thay đổi chậm, có loại tồn tại tương đối lâu dài, có loại bị thay thế bởi cái khác, khi những điều kiện lịch sử cụ thể cho sự tồn tại của nó không còn Sự vận động liên tục của các quan hệ xã hội quy định bản chất con người Khi các quan hệ xã hội thay đổi thì bản chất con người cũng thay đổi theo Điều này hoàn toàn phủ nhận các quan điểm duy tâm siêu hình cho rằng, bản chất hay bản tính của con người là bất biến

Khẳng định con người mang bản chất xã hội, song Hồ Chí Minh không tuyệt đối hoá mặt “xã hội” của con người giống như quan điểm siêu hình của một số nhà triết học cùng thời hoặc sau C.Mác, khi đưa ra những tiêu chí để phân biệt con người với động vật Chẳng hạn, Phranklin cho rằng con người khác con vật ở chỗ con người biết sử dụng công

cụ lao động, còn Aristote đã gọi con người là “một động vật có tính xã hội” Hồ Chí Minh

quan niệm con người không chỉ là thực thể xã hội mà còn là một thực thể sinh học Điều này là hoàn toàn thống nhất với quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin

Hồ Chí Minh nhận thức rõ con người muốn sống và tồn tại được thì cũng cần phải

có ăn, có mặc, “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc

gì cả, “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời Đó là nhu cầu tự nhiên của con

người, nhưng những nhu cầu bản năng ấy đã được “người hoá” trở thành những hành vi mang tính xã hội Những nhu cầu tự nhiên ấy của con người được đáp ứng hay không lại tuỳ thuộc vào chế độ xã hội, vào hình thái kinh tế - xã hội trong đó con người đang sinh sống và hoạt động Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, cùng với con đường phát triển của nhân loại đã chứng minh rõ điều đó

Thứ hai, theo Hồ Chí Minh con người mang bản chất giai cấp

Ban đầu, Hồ Chí Minh cũng như phần đông người Việt Nam đều quan niệm một cách giản đơn rằng loài người được phân biệt bởi những màu da khác nhau Khi đặt chân đến nước Pháp trên hành trình tìm đường cứu nước, Người nhận ra rằng ở một nước được coi là trung tâm văn minh của châu Âu không phải chỉ toàn những người giàu có, mà ở đó cũng có những người nghèo khổ như Việt Nam, “những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt Song những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo” [72, tr.23]

Trang 22

Vượt qua ranh giới về màu da - một lý thuyết khá thịnh hành về “đồng văn đồng

chủng” ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nhận ra rằng: đã là người dân

bị nô lệ, thì dù da là màu gì đi chăng nữa cũng đều là những người “cùng khổ”; đã là kẻ đi

bóc lột, thì dù cho da trắng hay da vàng ở phương Tây hay phương Đông đều có chung bản chất giống nhau - bản chất xấu xa, độc ác Người kết luận: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ai là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” [43, tr.266] “Trên quả đất,

có hàng muôn triệu người Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người ác”[47, tr.643]

Sau khi tiếp cận được với học thuyết Mác-Lênin, nhận thức của Hồ Chí Minh về bản chất con người dựa trên cơ sở thế giới quan khoa học Đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Hồ Chí Minh nhận thấy sự phân biệt giữa người với người không đơn thuần chỉ là vấn đề chủng tộc, dân tộc, mà chủ yếu trên cơ sở nhận thức đúng đắn vấn đề giai cấp, tức là con người đó đứng về phía giai cấp nào: giai cấp bóc lột hay giai cấp bị bóc lột? Giai cấp thống trị hay giai cấp bị trị? Sự phân biệt ấy được Hồ Chí Minh gọi là giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Từ nhận thức về màu da, chủng tộc, dân tộc rồi đi đến nhận thức về giai cấp là quá trình vận động tuân theo quy luật tư duy của Hồ Chí Minh về vấn đề bản chất con người

Trong xã hội có giai cấp, tính giai cấp của con người được thể hiện thông qua các quan hệ xã hội, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối Quán triệt sâu sắc quan điểm của C.Mác và Ph.ăngghen về bản chất con người, Hồ Chí Minh khẳng định quan hệ sản xuất đã phân chia con người thành giống người bóc lột và giống người bị bóc lột, đồng thời lại thấy rõ sự tổng hoà tất cả các quan hệ xã hội tạo thành bản chất con người Hồ Chí Minh không tuyệt đối hoá hoặc xem nhẹ bất cứ yếu tố nào, vì vậy tránh rơi vào hai xu

hướng: một là, coi bản chất con người chỉ còn là bản chất giai cấp, đồng nhất bản chất con

người với bản chất giai cấp mà không thấy được sự tổng hoá các quan hệ xã hội tạo nên

bản chất con người như C.Mác đã nói; hai là, chỉ thấy bản chất con người là tổng hoà tất

cả những quan hệ xã hội nói chung, mà không thấy trong xã hội có giai cấp, quan hệ sản xuất giữ vai trò chi phối các quan hệ xã hội khác

Trang 23

Từ quan điểm lịch sử cụ thể của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh thấy rõ sự phân

tầng giai cấp ở Việt Nam chưa triệt đề, không giống phương Tây Trong Báo cáo về Bắc

kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ gửi Quốc tế cộng sản năm 1924, Người đã nêu lên những nhận xét

của mình: ở Việt Nam, ngay đến những kẻ được gọi là đại địa chủ “thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ”, “đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa”; còn tư sản ở Việt Nam thì “chỉ là những kẻ thực lợi khá giả”, chứ không phải là “những tên trọc phú”, “tỷ phú”, tư sản có bóc lột lao động làm thuê nhưng cũng “vừa phải trong sự tham lam của mình”; có “Hoàng đế trị vì nhưng chẳng lo cai trị gì” và không thể so sánh với chúa phong kiến ở châu âu được Chính vì vậy, Người

đã chỉ ra một điều “không thể chối cãi được” là “sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu” và “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra gay gắt, quyết liệt như ở phương Tây” [43, tr.464] Đây là cơ sở xã hội quan trọng để thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân nhằm mục tiêu chung giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người ở Việt Nam

Thứ ba, theo Hồ Chí Minh trong mỗi con người luôn có sự thống nhất tồn tại đan xen

giữa hai mặt đối lập: tốt - xấu (thiện - ác)

Quan điểm này của Hồ Chí Minh là sự kế thừa có phê phán tư tưởng Nho giáo (Trung Quốc) khi bàn về bản tính con người mà đại biểu là Mạnh Tử và Tuân Tử

Theo Mạnh Tử, bản tính con người ta vốn thiện, không một người nào sinh ra tự nhiên bất thiện, đã là con người thì ai cũng có trong lòng cái mầm thiện ông chỉ rõ sự khác nhau giữa con người và con vật là ở chỗ, trong mỗi con người đều có phần quý trọng và phần bỉ tiện, có phần cao đại và phần thấp hèn Chính cái phần quý trọng và cao đại mới là tính người, mới là cái phân biệt giữa người và thú Khác với Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng bản tính con người vốn ác, đó là kết quả của thói hiếu lợi và đố kỵ trong mỗi con người khi mới sinh ra Để sửa tính ác thành tính thiện, ông chủ trương cần có sự giáo hoá, dùng lễ nghĩa và lễ nhạc Điểm giống nhau giữa Mạnh Tử và Tuân Tử là ở chỗ đã tuyệt đối hoá tính “thiện” hay tính “ác” trong mỗi con người mà không thấy được sự chuyển hoá giữa chúng khi các quan hệ xã hội thay đổi

Sử dụng những thuật ngữ của văn hoá phương Đông nhưng dựa trên cơ sở thế giới quan khoa học và phép biện chứng duy vật, Hồ Chí Minh khẳng định bản chất con người

Trang 24

có cả thiện và ác, hai mặt đó luôn tồn tại đan xen trong mỗi con người Không thể có sự phân biệt rạch ròi giữa người này “thiện”, người kia “ác”, có chăng chỉ là tương đối do trạng thái biểu hiện nhiều hay ít của tính “thiện” và tính “ác” trong mỗi con người Tốt

hay xấu không phải là bản tính vốn có, con người ta sinh ra không phải tự nhiên thành người tốt hay người xấu Sự khác nhau đó bị chi phối phần lớn bởi điều kiện hoàn cảnh xã hội và sự tương tác giữa con người với môi trường xã hội, phần nhiều do giáo dục mà nên Quan niệm trên đây của Hồ Chí Minh về bản chất con người hoàn toàn xa lạ với những quan điểm duy tâm siêu hình cho rằng, bản chất của con người là bất biến đổi với những loại người khác nhau: quân tử hay tiểu nhân, thượng trí hay hạ ngu, sinh ra để trị người hay để người trị Về điều này, C.Mác đã từng khẳng định: Toàn bộ lịch sử chỉ là sự biến đổi liên tục của bản tính con người; nhiệm vụ của chúng ta không phải chỉ là tìm hiểu bản chất con người nói chung, mà còn phải thấy bản chất đó thay đổi như thế nào trong mỗi thời đại lịch sử nhất định Chính điều này đã giải thích tại sao không ít người thuộc các giai cấp bóc lột lại có thể từ bỏ giai cấp xuất thân của mình để đi với giai cấp bị bóc lột, tham gia đấu tranh để giải phóng các giai cấp bị bóc lột, thậm chí trở thành lãnh tụ của giai cấp vô sản như trường hợp của C.Mác, Ph.ăngghen, V.Lênin và bao nhiêu lãnh tụ cộng sản khác Cũng chính từ điều này mà chúng ta hiểu được tại sao C.Mác, Ph.ăngghen, V.Lênin, Hồ Chí Minh lại đặc biệt coi trọng vấn đề cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới; xây dựng chế độ mới, đời sống mới cho con người, vì con người

1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về sự giải phóng người Việt Nam

1.2.1 Về con người được giải phóng

Trong tư tưởng giải phóng con người, Hồ Chí Minh đề cập đến con người được giải phóng trên cả hai bình diện: con người xét trên bình diện cộng đồng và con người với tư cách là cá nhân

Thứ nhất, giải phóng con người trên bình diện cộng đồng

Mỗi con người không thể sống riêng lẻ mà phải sống với xã hội, sống trong lòng quốc gia dân tộc Vì vậy, quyền của mỗi con người phụ thuộc vào quyền tối cao của dân tộc đó là độc lập tự do Từ thực tiễn khách quan của các dân tộc bị nô dịch, từ chủ nghĩa dân tộc truyền thống của cha ông ta và tiếp thu sáng tạo tư tưởng nhân quyền và dân quyền của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, Hồ Chí Minh phát triển thành quyền của

Trang 25

Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc tại lễ Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã mở đầu bằng những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [47, tr.1], đó là các quyền thiêng liêng nhất của mỗi con người Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền, vì vậy, nhân dân Việt Nam “có quyền hưởng tự do và độc lập” như những dân tộc khác

Độc lập tự do theo Hồ Chí Minh là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc dù dân tộc đó là “thượng đẳng” hay “hạ đẳng”; “văn minh” hay “lạc hậu” Độc lập, tự

do phải thực sự hoàn toàn và được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Các quyền dân tộc, quyền con người phải được thực hiện trên thực tế, chứ không phải là

thứ độc lập giả hiệu giống như “cái bánh vẽ” mà chủ nghĩa đế quốc nêu ra Độc lập phải

gắn liền với tự do, nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập

ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì Nền độc lập thực sự hoàn toàn phải được thực hiện một cách triệt để theo nguyên tắc: nước Việt Nam của người Việt Nam, mọi vấn đề thuộc về quyền quốc gia đều do nhân dân Việt Nam tự giải quyết

Không có gì quý hơn độc lập tự do là lẽ sống và là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh, là nguồn động lực ý chí chiến đấu tuyệt vời của Người; đồng thời, là mục tiêu cấp bách và nóng bỏng nhất của dân tộc Việt Nam đang sống trong cảnh bị đế quốc thực dân thống trị Không có gì quý hơn độc lập tự do là tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh hàm chứa nội dung tổng hoà biện chứng, độc đáo và mang đậm bản sắc dân tộc về ba cuộc cách mạng của thời đại: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Độc lập tự do cho dân tộc là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh, chi phối mọi tư duy và hành động của Người Suốt cuộc đời cách mạng của mình, Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là đất nước được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào sung sướng hạnh phúc Đó là mục tiêu và động lực của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt

Trang 26

Nam trong tiến trình cách mạng, kháng chiến và dựng xây đất nước “đàng hoàng hơn, to

đẹp hơn” làm cho nước Việt Nam trở thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ và văn minh

Cùng với việc giải phóng con người trên bình diện cộng đồng quốc gia dân tộc, Hồ Chí Minh còn đề cập đến giải phóng con người với tư cách là một giai cấp, tầng lớp xã hội

cụ thể, trong đó Người đề cập nhiều nhất đến giải phóng nông dân và người phụ nữ - những giai cấp, tầng lớp chịu nhiều nỗi khổ cực nhất của xã hội Việt Nam dưới chế độ thực dân, phong kiến

Sinh ra và lớn lên từ một nước thuộc địa của thực dân Pháp, nơi mà nông dân chiếm

đa số (hơn 90% số dân), Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn ai hết nỗi nhục lầm than, nỗi đau nô lệ của người nông dân bị mất nước Sau này, khi được chứng kiến nỗi khổ nhục của người nông dân các nước thuộc địa trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: ở đâu người nông dân cũng bị áp bức và bóc lột tàn bạo bởi bốn thế lực là: Nhà nước bảo hộ, bọn thực dân, nhà thờ và những tên lái buôn Nghiên cứu tình cảnh nông dân Đông Dương thuộc Pháp, Người thấy rõ tội ác dã man của chế độ thực dân ở thuộc địa, đó là tình trạng cướp ruộng đất một cách phổ biến và trắng trợn, chính sách thuế khoá nặng nề bóc lột tận xương tuỷ người lao động ở Đông Dương, nông dân bao giờ cũng là đối tượng bóc

lột chủ yếu để nuôi sống “nước mẹ” Pháp, phục vụ cho cuộc sống phè phỡn của kẻ xâm

lược Vì vậy, giải phóng người nông dân là khát vọng lớn lao của Hồ Chí Minh

Không chỉ tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí Minh còn chỉ ra cho quần chúng nguyên nhân của mọi sự khổ đau và con đường đúng đắn nhất trong cuộc đấu tranh

tự giải phóng Người từng bước đề cập một cách có hệ thống vị trí, vai trò của nông dân là lực lượng rất to lớn của dân tộc, có chí khí rất anh dũng, có truyền thống cách mạng, tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, chỉ ra những hạn chế của phong trào nông dân khi chưa được tổ chức lại và chưa có lực lượng tiên phong lãnh đạo Giải phóng dân tộc thực chất là giai phóng nông dân

Trong tư tưởng về giải phóng con người, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến giải phóng phụ nữ Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn quan tâm đến vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội, “phụ nữ là phân nửa của xã hội Nếu xã hội không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người” [51, tr.523] Khi khẳng

Trang 27

định phụ nữ là một nửa của xã hội, Hồ Chí Minh không chỉ nhìn nhận một cách đơn thuần

về số lượng, tỷ lệ của giới nữ trên tổng số dân, Người còn nói đến vị trí của giới nữ với tư

cách là một bộ phận không thể tách rời trong một thể thống nhất với “nửa bên kia” để cấu

thành nên nhân loại Nói về vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”, “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [48, tr.432]

Tuy nhiên, sống dưới chế độ thực dân phong kiến, phụ nữ là tầng lớp bị áp bức nặng

nề về tinh thần lẫn thể xác, “ách áp bức kinh tế đã nô dịch con người Cũng ách áp bức ấy đã biến phụ nữ thành đồ vật tuỳ thuộc vào quyền sử dụng của nam giới” [43, tr.268], “Dưới chế

độ thực dân phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng

nặng nề” [53, tr.256] Vì vậy, nếu giải phóng xã hội mà chưa giải phóng phụ nữ thì sự nghiệp giải phóng con người chưa triệt để; trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo cho sự

phát triển của lịch sử loài người Trong Đường Kách mệnh (1927), Nguyễn ái Quốc đã dẫn

lời của C.Mác, xem chất lượng cuộc sống của phụ nữ là tấm gương phản chiếu trình độ văn minh của nhân loại: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không

có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào” [44, tr.288]

Giải phóng phụ nữ theo Hồ Chí Minh cũng là một cuộc cách mạng gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; là cuộc cách mạng nhằm xoá bỏ mọi định kiến hẹp hòi và những tàn dư của xã hội cũ để lại Đó là một cuộc cách mạng không kém phần khó khăn, đòi hỏi phải được tiến hành một cách triệt để Giải phóng phụ

nữ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội “phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân” [48, tr.433]; đồng thời, đó cũng là cuộc cách mạng của chính bản thân người phụ nữ

Thứ hai, giải phóng con người trên bình diện cá nhân

Khái niệm “cá nhân” dùng để chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định,

với tư cách là một cá thể, một thành viên của xã hội ấy, do những đặc điểm riêng của mình

mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội

Trang 28

Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành Những cá nhân này sống và hoạt động trong những nhóm, cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do điều kiện lịch sử cụ thể quy định Bất cứ xã hội nào cũng được cấu thành không phải bởi những con người trừu tượng mà bởi những con người cụ thể, những cá nhân sống Mỗi cá nhân là một cái đơn nhất mang những đặc điểm riêng phân biệt với các cá nhân khác không chỉ về mặt sinh học

mà chủ yếu về mặt những quan hệ xã hội, những quan hệ này vô cùng phức tạp, rất cụ thể

và có tính lịch sử Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có những “quan hệ xã hội” của riêng mình không hoàn toàn giống quan hệ xã hội của các cá nhân khác, có kinh nghiệm riêng, có nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng riêng Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình

Trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mỗi người dân Việt Nam dù bất kỳ ở giai cấp, tầng lớp xã hội nào đều ít nhiều phải gánh chịu mọi hậu quả nặng nề của sự tha hoá Kết quả hoạt động của con người ngày càng bị biến thành một lực lượng thoát ra khỏi con người, xa lạ với con người, thống trị lại con người Trong điều kiện đó, tự do của người lao động chỉ mang tính hình thức, cá nhân con người không thể có sự phát triển hài hoà và toàn diện, người lao động không thể khẳng định mình với tư cách cá nhân

Mục tiêu giải phóng con người của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở giải phóng con người trên bình diện cộng đồng, mà phải tiến tới giải phóng mỗi cá nhân trong cộng đồng

ấy, có như vậy công cuộc giải phóng con người mới thực sự triệt để

Theo Hồ Chí Minh, mỗi con người với tính cách là những cá thể riêng biệt đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, đó là những quyền thiêng liêng nhất của mỗi con người Vì vậy, giải phóng cá nhân mỗi con người trước hết là phải xoá bỏ sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa con người với con người Dưới chế độ dân chủ cộng hoà, mọi người dân đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, đều

“có quyền tự do tư tưởng, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng,v.v có quyền ứng cử và bầu cử Đàn bà có mọi quyền lợi như đàn ông”, vì vậy “mọi người cần hăng hái làm tròn nghĩa vụ của mình trong mọi công việc kháng chiến, cứu nước, xây dựng nước nhà" [49, tr.219] Giải phóng con người trên bình diện cá nhân không chỉ dừng lại ở việc xoá bỏ ách áp bức hiện thực của đời sống xã hội đối với con người, mà còn phải làm cho con người từng bước thoát khỏi sự chế ngự của tự nhiên và hạn chế trong nhận thức, hành vi của chính bản

Trang 29

thân mỗi con người Ph.ăngghen từng khẳng định: Tự do là sự nhận thức được cái tất yếu

Tự do của mỗi người là điều kiện bảo đảm tự do cho tất cả mọi người Để con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do, theo Hồ Chí Minh, mỗi người đều phải hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ của mình, phải ra sức học tập nâng cao trình độ hiểu

biết về thế giới tự nhiên và xã hội, phải “cải tạo” chính bản thân mình

1.2.2 Giải phóng con người thống nhất với giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp

C.Mác và Ph.ăngghen là những người đầu tiên giải quyết vấn đề giai cấp và dân tộc một cách đúng đắn trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng Theo các ông, ở bất cứ thời đại nào vấn đề dân tộc cũng phải được nhận thức và giải quyết trên lập trường của một giai cấp nhất định Chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản mới giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc

Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.ăngghen đã đề cập đến mối

quan hệ giữa giai cấp và dân tộc Các ông viết: Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản ở giai đoạn đầu của nó là mang tính chất dân tộc, vì

“phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số” [37, tr.611] Từ đó, các ông khẳng định: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy không hoàn toàn theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu” [37, tr.623-624]

Theo C.Mác và Ph.ăngghen, trong thời đại ngày nay chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhất được lợi ích giai cấp công nhân với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Xoá bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp là điều kiện để xoá bỏ ách áp bức dân tộc Chỉ

có giai cấp vô sản với bản chất cách mạng và sứ mệnh lịch sử của mình mới có thể thực hiện được điều này; chỉ có cuộc cách mạng do chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo mới thực hiện được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

Tuy nhiên, do hạn chế về mặt lịch sử, C.Mác và Ph.ăngghen chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu vấn đề giải phóng dân tộc, đúng như V.Lênin từng nhận xét: đối với C.Mác, so với vấn đề giai cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là vấn đề thứ yếu thôi

Trang 30

Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển đến giai đoạn độc quyền, sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã làm xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa, V.Lênin mới có cơ sở thực tiễn để luận giải về mối quan hệ mật thiết giữa vấn đề giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp Theo V.Lênin, giải phóng dân tộc thuộc địa là một bộ phận của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đặc biệt là khi giai cấp vô sản nắm được chính quyền, nếu không nắm lấy ngọn cờ dân tộc thì nhất định

có hại cho sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản V.Lênin còn cho rằng, lực lượng của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản sẽ tăng lên gấp bội, sẽ trở thành vô địch nếu nó kết hợp chặt chẽ với cách mạng giải phóng dân tộc Chỉ có ủng hộ hết mình phong trào giải phóng dân tộc thì giai cấp vô sản ở các nước tư bản mới thực sự làm tròn nhiệm vụ lịch sử của mình Ngược lại, cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể đi đến thành công nếu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, hợp thành một dòng với cách mạng vô sản và kết hợp làm một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp tiến tới giải phóng con người

Là nhà mác xít chân chính, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Lôgíc phát triển trong tư duy Hồ Chí Minh là đi từ giải phóng dân tộc - giải phóng giai cấp - giải phóng con người Trên cơ sở phân tích thái độ chính trị - xã hội của các giai cấp, tầng lớp xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, Người nhận thấy rõ mâu thuẫn giữa một bên là toàn thể dân tộc Việt Nam với một bên là thực dân Pháp và tay sai là mâu thuẫn cơ bản, đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu, giải quyết được mâu thuẫn này sẽ tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ Do đó, sự nghiệp giải phóng con người Việt Nam phải được bắt đầu trước hết từ giải phóng dân tộc Cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi mới tạo điều kiện, tiền đề để thực hiện giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội Quan điểm này đã thực sự trở thành đường hướng chiến lược cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới ra đời

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên thông qua Hội nghị thành lập Đảng (2/1930), Nguyễn ái Quốc “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [45, tr.1] Trở về nước đầu năm 1941 trong bối cảnh cao trào cách

Trang 31

Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn, nó vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay

Đề cao vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, song Hồ Chí Minh không rơi vào

“chủ nghĩa dân tộc” vị kỷ, hẹp hòi mà có những lúc Người từng bị Quốc tế cộng sản quy kết Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh thấy rõ nhiệm

vụ giải phóng dân tộc phải được nhận thức và giải quyết trên lập trường giai cấp vô sản Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản; giải phóng dân tộc phải đặt trong mối quan hệ mật thiết với giải phóng giai cấp, hướng tới mục tiêu cuối cùng là giải phóng con người Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” [43, tr.416]

Theo Hồ Chí Minh, xoá bỏ ách áp bức dân tộc mà không xoá bỏ ách áp bức giai cấp thì nhân dân lao động - động lực chủ yếu của cách mạng - vẫn chưa được giải phóng Xã hội luôn tồn tại các giai cấp, tầng lớp có lợi ích thống nhất và khác nhau, trong đó mỗi cá nhân bao giờ cũng thuộc về một giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định, không có con người siêu giai cấp, phi giai cấp Lịch sử đã chứng minh rằng: không phải cứ dân tộc độc lập là nhân dân được hưởng tự do, hạnh phúc, hay nói cách khác, sự nghiệp giải phóng con người thể chưa kết thúc sau khi đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, dẫu rằng sự giải phóng đó là vô cùng cơ bản đối với những người dân nô lệ mất nước nhưng vẫn rất hạn hẹp so với quyền và nhu cầu giải phóng mỗi cá nhân trong xã hội Mức độ giải phóng con người tuỳ thuộc rất nhiều vào chế độ xã hội đó tiến bộ hay phản tiến bộ, phụ thuộc vào giai cấp cầm quyền có thực sự là đại diện cho lợi ích của đại đa số dân chúng hay không

Trang 32

Nếu không, đó chỉ đơn thuần là sự “đổi ngôi” giữa các giai cấp áp bức bóc lột Hơn nữa,

căn nguyên sâu xa của áp bức dân tộc, áp bức con người và sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, giữa con người với nhau là do áp bức giai cấp sinh ra Thực chất của áp bức dân tộc

suy đến cùng là do áp bức giai cấp Về vấn đề này, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản,

C.Mác từng khẳng định: “Hãy xoá bỏ nạn người bóc lột người, thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ”, “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa, thì đồng thời quan hệ thù địch giữa các dân tộc cũng mất theo” [37, tr.624]

Vì vậy, giải phóng giai cấp là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm hướng tới mục tiêu giải phóng con người Nói cách khác, chỉ có thể giải phóng triệt để con người khi nào thực hiện được giải phóng giai cấp, xoá bỏ tình trạng người bóc lột người; chỉ khi nào xoá bỏ được chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mới xoá bỏ được tận gốc tình trạng áp bức, bóc lột; chỉ khi nào thiết lập được một nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân thì khi ấy mới thực sự mang lại hạnh phúc cho con người

Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong thực tiễn ở Việt Nam Đó là cuộc cách mạng không ngừng, trong đó cuộc cách mạng trước là tiền đề cho cuộc cách mạng sau; cuộc cách mạng sau là một bước phát triển cao hơn so với cuộc cách mạng trước và giữa các cuộc cách mạng đó không hề có bức tường ngăn cách; mỗi cuộc cách mạng là mắt khâu của sự nghiệp cao cả nhất là cho con người, vì con người Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Độc lập dân tộc tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, đến lượt nó, sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội lại góp phần củng cố thành quả của độc lập dân tộc Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ đảng viên rằng: "yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một ấm no thêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm” [51, tr.173]

Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, ba cuộc giải phóng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau Cách mạng giải phóng dân tộc đã bao hàm trong đó nội dung giải phóng giai cấp và giải phóng

Trang 33

con người Giải phóng dân tộc thắng lợi là cơ sở quan trọng để thực hiện sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người; trái lại, sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người càng triệt để bao nhiêu thì độc lập dân tộc càng bền vững bấy nhiêu

Sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải phóng con người là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh Là người cộng sản của một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh không chỉ đại diện cho quyền lợi của giai cấp vô sản Việt Nam, mà còn đại diện cho toàn dân tộc Trong nhận thức của Người, dân tộc và giai cấp là những nhân tố hợp thành lực lượng cách mạng vô sản ở nước thuộc địa nửa phong kiến Điểm khác nhau giữa Hồ Chí Minh và nhiều đồng chí hoạt động cùng thời, kể cả một số đồng chí trong Quốc tế cống sản và trong Trung ương Đảng ta trước đây, cũng như những năm sau khi nước nhà thống nhất không chỉ ở chỗ, kết hợp hay tách rời yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp, mà còn ở chỗ xác định vị trị của mỗi yếu tố trong mối quan hệ giữa hai yếu tố đó Hồ Chí Minh đánh giá đúng và đầy đủ ảnh hưởng tích cực của yếu tố dân tộc trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, cả giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa

Sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng Giải phóng dân tộc mới là chặng đường đầu tiên của công cuộc giải phóng, dân tộc độc lập phải gắn liền với dân sinh hạnh phúc Người thường nhắc nhở toàn Đảng rằng: Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ Cho nên Đảng phải chăm lo xây dựng, phát kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời quan tâm đến những việc nhỏ như: tương, cà, mắm, muối - bảo đảm nhu cầu cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân

1.2.3 Những điều kiện chủ yếu bảo đảm thắng lợi sự nghiệp giải phóng người Việt Nam

1.2.3.1 Sự nghiệp giải phóng người Việt Nam muốn thắng lợi phải do Đảng cộng sản lãnh đạo

C.Mác và Ph.ăngghen - những nhà khai sáng của chủ nghĩa xã hội khoa học, trong khi phân tích kết cấu kinh tế của chủ nghĩa tư bản đã chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” xoá bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Sứ

Trang 34

mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được quy định do địa vị lịch sử - xã hội của nó Trong

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.ănghen đã khẳng định: “Trong tất cả các

giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [37, tr.610] Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, đòi hỏi giai cấp công nhân phải tổ chức ra được một chính đảng để lãnh đạo, chỉ có như vậy mới có thể giành được thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản khỏi ách bóc lột của giai cấp tư sản

Kế thừa những giá trị tư tưởng của C.Mác và Ph.ăngghen, trong điều kiện chủ nghĩa

tư bản ở giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, V.Lênin tiếp tục khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, “Chỉ có giai cấp vô sản công nghiệp ở thành thị, do Đảng cộng sản lãnh đạo mới có thể giải phóng quần chúng lao động ở nông thôn thoát khỏi ách tư bản và chế độ chiếm hữu lớn của địa chủ, thoát khỏi sự phá sản và chiến tranh và đế quốc chủ nghĩa” [31, tr.184-185] Tuy nhiên, theo V.Lênin, giai cấp công nhân không thể hoàn thành sứ mệnh mà lịch

sử đã giao cho nếu chưa tổ chức ra được một chính đảng cách mạng của giai cấp vô sản Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời xuất phát từ thực tiễn thất bại của phong trào yêu nước Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX, Hồ Chí Minh ngay từ rất sớm đã nhận thức rõ vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Người khẳng định: Trong thời đại ngày nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, bằng cách liên minh với giai cấp nông dân

Đứng vững trên lập trường giai cấp, Hồ Chí Minh nhận thấy ở Việt Nam giai cấp nông dân là giai cấp chiếm đa số (trên 90 % dân số cả nước); là giai cấp bị bóc lột nặng nề dưới hai tầng áp bức của đế quốc và phong kiến, họ vừa như những người vô sản, vừa như những người mất nước Là người An Nam, họ bị áp bức; là người nông dân, họ bị tước

đoạt dẫn đến cảnh bần cùng nên họ là “động lực” của cách mạng Song, chỉ với lực lượng

của riêng mình, giai cấp nông dân không bao giờ có thể xoá bỏ được gánh nặng đang đè nén họ, sống tản mát trong các làng mạc, nông dân có thể nổi dậy đấu tranh, nhưng một mình họ thì không thể giành và giữ được bộ máy chính quyền Mặt khác, giai cấp nông dân đại diện cho nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán, không có hệ tư tưởng độc lập… Vì

Trang 35

vậy, sức mạnh của giai cấp nông nhân chỉ có thể phát huy trong sự liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong sự nghiệp giải phóng mình, giải phóng xã hội

Đối với giai cấp tiểu tư sản, bao gồm: trí thức, các nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, thủ công nghệ, những người làm nghề tự do khác như thầy thuốc, luật sư, công chức,v.v có những nhược điểm: tự tư tự lợi, rời rạc, kém kiên quyết…Tuy nhiên, sống trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp tiểu tư sản ít nhiều đều bị bóc lột và có tinh

thần yêu nước nên họ là “bầu bạn” của công nông Nhiệm vụ của giai cấp công nhân cần

phải tuyên truyền, tổ chức, giúp họ phát huy ưu điểm, sửa chữa nhược điểm; cần phải khôn khéo lãnh đạo họ, làm cho họ quyết tâm phụng sự nhân dân, cải tạo tư tương, cùng với công nông kết thành một khối trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng

Đối với giai cấp tư sản dân tộc, là giai cấp luôn có tính hai mặt: môt mặt, họ bị đế quốc và phong kiến chèn ép nên có tinh thần chống đế quốc; mặt khác, là giai cấp bóc lột nên họ cũng sợ giai cấp bị bóc lột nổi lên đấu tranh, đây là giai cấp vừa muốn cách mạng, vừa muốn thoả hiệp

Như vậy, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh cách mạng Muốn thực hiện được sứ mệnh ấy giai cấp công nhân phải sáng lập

ra chính đảng của mình để lãnh đạo mới có thể giành được thắng lợi hoàn toàn Trong

Đường Kách mệnh (1927), Nguyễn ái Quốc chỉ rõ: cách mệnh muốn thành công “ Trước

hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” [44, tr.267-268]

Sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh được rút ra từ việc khảo sát thực tiễn và nghiên cứu lý luận

Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều phong trào yêu nước, nhiều tổ chức chính trị đấu tranh chống thực dân Pháp: Văn Thân, Cần Vương, Nghĩa quân Yên Thế, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Việt Nam Quang phục hội, Tâm tâm xã, Việt Nam quốc dân Đảng… Các phong trào, các tổ chức ấy đã để lại nhiều trang sử vẻ vang, nhiều tấm gương oanh liệt thôi thúc tinh thần đấu tranh của nhân

Trang 36

dân ta Tuy nhiên, do bị chi phối bởi ý thức hệ phong kiến hay tiểu tư sản nên đã không thấy được tính chất của xã hội Việt Nam - xã hội thuộc địa nửa phong kiến và đâu là mâu thuẫn chủ yếu, cơ bản, cũng như không xác định được rõ thái độ chính trị xã hội của từng giai cấp, tầng lớp trong xã hội, về mối quan hệ của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới…Do đó đã không đề ra được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, khiến cho cách mạng bị bế tắc như đi trong đêm tối mà không tìm thấy đường ra

Hồ Chí Minh cũng như nhiều nhà yêu nước khác, thấy rõ sức mạnh vô địch của truyền thống yêu nước Việt Nam trong đấu tranh dựng nước, giữ nước Nhưng điều đặc biệt của Hồ Chí Minh là ở chỗ, vượt lên trên những hạn chế của các nhà yêu nước tiền bối

và đương thời, Người thấy rõ trong hoàn cảnh mới, sức mạnh đó sẽ tăng lên gấp bội nếu như quần chúng nhân dân được giác ngộ, tập hợp, tổ chức và lãnh đạo theo một đường lối đúng đắn bởi giai cấp công nhân mà bộ tham mưu là Đảng cộng sản Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người là quá trình khó khăn, gian khổ, lâu dài đòi hỏi phải có tổ chức thực sự cách mạng để lãnh đạo theo một đường lối đúng đắn mới nhanh chóng đi đến thắng lợi

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng mức độ giải phóng con người hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ xã hội mà ở đó giai cấp cầm quyền có đại diện cho lợi ích của số đông những người lao động hay không

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, quyền lực nằm trong tay tầng lớp chủ nô, quan hệ

giữa con người với con người là quan hệ “chó sói” Người nô lệ chỉ là những “công cụ

biết nói” của chủ nô Trong xã hội phong kiến, quyền lực tập trung trong tay Vua, Chúa

phong kiến, người lao động chỉ là những “thần dân”, “con dân”, “tối tăm về trí tuệ”

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, quyền lực tập trung trong tay giai cấp tư sản, chế độ bóc lột lao động làm thuê đã xé toang tấm màn tình cảm phủ lên những quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, biến những quan hệ ấy thành chỉ là những quan hệ tiền nong đơn thuần

Khảo sát các kiểu Nhà nước khác nhau, Hồ Chí Minh ngay từ những năm 20 của thế

kỷ XX đã khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ Sự nghiệp đấu tranh nhằm xoá bỏ chủ nghĩa tư bản,

Trang 37

của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc, ngoài lợi ích đó ra Đảng ta

không có lợi ích nào nào khác Mục tiêu cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam là độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho mỗi người dân, xây dựng đất nước giàu mạnh

đi lên chủ nghĩa xã hội

Để thực hiện được sự nghiệp đấu tranh giải phóng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp tiến tới giải phóng con người, theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đề ra được đường lối đúng đắn vì con người, cho con người, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội Để cho dân đói, dân rét, dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi Đảng phải quan tâm chăm lo đến đời sống

của người dân từ những cái nhỏ như “tương, cà, mắm, muối” cho đến những cái lớn hơn

như các quyền của con người Phải coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Phải thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với dân, nếu không có dân, Đảng không

có đủ lực lượng, trái lại, nếu thiếu Đảng, dân không có người dẫn đường Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân Đảng không ở trên dân, ngoài dân, mà ở trong dân Không phải chỉ có Nước mới lấy dân làm gốc, mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc Chính cái gốc này đem lại nguồn sinh lực vô tận cho Đảng

1.2.3.2 Giải phóng con người là sự nghiệp của chính bản thân con người

Trước đây khi đề cập đến con đường nhằm thực hiện lý tưởng giải phóng quần chúng

lao động bị áp bức, xóa bỏ tình trạng người bóc lột người, đưa “con người từ vương quốc

của tất yếu sang vương quốc của tự do”, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đều

cho rằng đó là con đường đấu tranh tự giải phóng Giải phóng con người là tư tưởng trung tâm, là điểm xuất phát trong cách đặt vấn đề xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, trong đó sự phát tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người Các ông cho rằng, bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chỗ, nó trả thế giới con người,

Trang 38

Từ quan niệm trên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong khi bàn về vấn

đề sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã đi đến khẳng định: sự nghiệp giải phóng giai

cấp công nhân chỉ có thể giành thắng lợi khi nào chuyển được từ giai cấp “tự nó” trở thành giai cấp “vì nó”; chỉ khi nào nhận thức được sự nghiệp giải phóng giai mình phải do sự nỗ

lực của bản thân giai cấp mình

Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ những năm đầu thế kỷ XX,

Hồ Chí Minh sớm nhận thức sự nghiệp giải phóng con người là một quá trình đấu tranh tự

giải phóng Trong Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, Nguyễn ái Quốc viết: “Hỡi anh

em các dân tộc thuộc địa! Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em” [44, tr.127-128] Sau này, khi về nước lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào toàn quốc hãy đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội, Hồ Chí Minh chỉ rõ phải đem sức dân, tài dân mà làm lợi cho dân

Quan điểm tự giải phóng con người của Hồ Chí Minh có cơ sở xuất phát từ niềm tin vào sức mạnh và phẩm giá con người Mặt khác, là động vật có tính xã hội, con người luôn mong muốn được giải thoát khỏi sự giàng buộc của thế giới tự nhiên - xã hội, của chính bản thân con người để giành lấy tự do, hạnh phúc, từng bước vươn tới cái chân - thiện -

mỹ

Để có thể biến thành quá trình tự giải phóng, Hồ Chí Minh chỉ rõ, mỗi con người phải tự ý thức được về nguyên nhân gây nên sự khổ đau cho con người; rằng mọi khổ đau

không phải là “do trời” hay “số mệnh” định đoạt, mà là ách áp bức bóc lột của thực dân,

phong kiến mang lại Tìm nguyên nhân và giải phóng con người thoát khỏi sự khổ đau

Trang 39

không phải ở đâu đó bên ngoài thế giới, bên ngoài con người mà ở chính xã hội hiện thực, trong đó con người đang sinh sống và hoạt động Mỗi con người phải nhận thức được bổn phận và trách nhiệm của mình, từ đó đoàn kết đấu tranh vì mục tiêu chung của toàn dân tộc

Kết luận chương 1

Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con người có mối quan hệ biện chứng Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin khi tiếp cận vấn đề con người, Hồ Chí Minh nhận thức rõ sự cùng khổ của người dân Việt Nam dưới chế độ thực dân, phong kiến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; Con người

là vốn quý nhất, yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng Người quan niệm: con người mang bản chất xã hội - lịch sử, không có con người trừu tượng mà chỉ có những con người cụ thể sống trong một chế độ xã hội nhất định; con người mang bản chất giai cấp; trong mỗi con người luôn tồn tại đan xen giữa hai mặt: tốt - xấu (thiện - ác)

Từ nhận thức đúng đắn về con người và bản chất con người, đã hình thành trong tư duy Hồ Chí Minh về sự giải phóng người Việt Nam Đối tượng giải phóng trên các bình diện: cộng đồng dân tộc, giai cấp và mỗi cá nhân con người Giải phóng con người thống nhất với giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Sự nghiệp giải phóng con người là một quá trình đầy khó khăn, gian khổ, muốn thắng lợi đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản; đó là sự nghiệp của chính bản thân con người

Vấn đề con người và giải phóng con người không chỉ dừng lại ở trong nhận thức, tư tưởng của Hồ Chí Minh mà thực sự biến thành động cơ, mục đích cho những hành động cách mạng của Người

Trang 40

2.1.1 Giải phóng người Việt Nam về chính trị

Giải phóng con người về mặt chính trị là làm cho con người thoát khỏi địa vị nô lệ, trả lại vị thế tự do cho con người trong chính trị (nắm lấy quyền lực nhà nước thông qua đại diện của mình) và xã hội (thông qua thể chế nhà nước)

Giải phóng con người về chính trị là sự giải phóng con người khỏi sự khép kín về đẳng cấp, về địa vị, về vị trí của con người trong xã hội; là sự thừa nhận bản chất phổ biến của con người, thừa nhận bản tính loài của con người trái với tất cả những sự khác biệt hiện thực của con người

Cống hiến nổi bật của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng con người về mặt chính trị thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh tìm đường và dẫn dắt nhân dân Việt Nam đấu tranh giành lại

quyền tự do độc lập

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp đã diễn ra liên tục, sôi nổi khắp ba miền Bắc- Trung- Nam Giành lại độc lập, tự do là mục tiêu của mọi cuộc đấu tranh, mọi cuộc bạo động, khởi nghĩa, nhưng phương pháp thực hiện mục tiêu đó lại không giống nhau: bạo động hay bất bạo động; cải lương hay đấu tranh trực diện; cô lập với bên ngoài hay dựa vào đế quốc khác để chống lại thực dân Pháp

Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhà yêu nước tiêu biểu, các ông không chỉ mong muốn giải phóng dân tộc mà còn đề cập đến vấn đề giải phóng xã hội và giải phóng con người, như vấn đề về dân trí, dân khí, dân sinh, dân quyền, v.v , Song, do hạn chế của lịch sử và bản thân mà hoài bão của các ông về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người đã không thực hiện được

Ngày đăng: 27/06/2014, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và vận dụng nó trong điều kiện nước ta hiện nay, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và vận dụng nó trong điều kiện nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 2003
2. Ban tư tưởng văn hoá Trung ương (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá
Tác giả: Ban tư tưởng văn hoá Trung ương
Năm: 2003
3. Nguyễn Trọng Chuẩn (2005), “Để phát triển con người một cách bền vững”, Triết học (01), tr. 5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để phát triển con người một cách bền vững”, "Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2005
4. Hoàng Công (1996), “Quyền con người nhìn từ góc độ triết học”, Triết học (03), tr.40 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người nhìn từ góc độ triết học”, "Triết học
Tác giả: Hoàng Công
Năm: 1996
5. Thành Duy (2000), “Hồ Chí Minh với việc phát huy sức mạnh của văn hoá trong đấu tranh giữ nước, giải phóng dân tộc”, Triết học (5), tr.31 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với việc phát huy sức mạnh của văn hoá trong đấu tranh giữ nước, giải phóng dân tộc”, "Triết học
Tác giả: Thành Duy
Năm: 2000
6. Thành Duy (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội đối với con người”, Lịch sử Đảng (12), tr.24 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội đối với con người”, "Lịch sử Đảng
Tác giả: Thành Duy
Năm: 2005
7. Bình Dương (2003), “Tăng cường quyền lực chính trị của nhân dân lao động - một tiền đề quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người”, Thông tin chính trị học (5), tr.29 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quyền lực chính trị của nhân dân lao động - một tiền đề quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người”, "Thông tin chính trị học
Tác giả: Bình Dương
Năm: 2003
8. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1987
9. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1991
10. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
11. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Các nghị quyết của Trung ương Đảng (1996 – 2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghị quyết của Trung ương Đảng (1996 – 2000)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Trần Hữu Đính (2000), “Tính chủ động, sáng tạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách mạng tháng Tám”, Nghiên cứu lịch sử (4), tr. 17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chủ động, sáng tạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách mạng tháng Tám"”, Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Trần Hữu Đính
Năm: 2000
16. Trần Kỳ Đồng (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nuớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân và việc xây dựng Nhà nước đó ở Việt Nam hiện nay”, Triết học (5), tr.16 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nuớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân và việc xây dựng Nhà nước đó ở Việt Nam hiện nay”, "Triết học
Tác giả: Trần Kỳ Đồng
Năm: 2004
17. Hoàng Thị Hằng (1996), Chiến lược con người của Đảng cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ 1975 đến nay, Luận văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược con người của Đảng cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ 1975 đến nay
Tác giả: Hoàng Thị Hằng
Năm: 1996
18. Nguyễn Thị Hằng (2005), “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng”, Cộng sản (14), tr.46 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng”, "Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2005
19. Phùng Thu Hiền (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phùng Thu Hiền
Năm: 2002
21. Lê Quang Hoan (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Quang Hoan
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w