Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức và xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là di sản vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, là cơ sở để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 1
LUẬN VĂN:
Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân với công cuộc cải cách
hành chính ở Tuyên Quang
Trang 2
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, xây dựng và lãnh đạo nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Vì vậy, sự nghiệp và tên tuổi của Người gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Việt Nam mới - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức và xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là di sản vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, là cơ sở để xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay - một nhà nước với hệ thống chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân từ Trung ương đến địa phương Trong tiến trình
cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước ta đã phát huy trí tuệ sáng suốt và sức mạnh vô địch của toàn dân nhằm đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Trên thực tế, chỉ lúc nào Đảng ta phát huy được trí tuệ sáng suốt, tập hợp được sức mạnh của nhân dân thì mới xây dựng được chính quyền nhà nước mạnh mẽ
Trái lại, chính quyền nhà nước trở nên yếu kém, kinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng, trì trệ chính là khi đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cùng phương thức quản lý nhà nước không đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi chính đáng lợi ích của đại đa số nhân dân, không khuyến khích được tài năng và trí tuệ của dân tộc Đó là bài học đắt giá trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước qua mỗi giai đoạn lịch
sử
Ngày nay, trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã và đáng tiếp tục quán triệt tư
tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân"
nhằm xây dựng bộ máy chính quyền nhà nước trong sạch, vững mạnh; trong đó công cuộc cải cách hành chính là một biện pháp quan trọng sẽ tăng cường hiệu lực và
hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp trên thực tế
Vì vậy, nghiên cứu sự ra đời, nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" và mối quan hệ của nó với công cuộc
Trang 3
cải cách hành chính nhằm xây dựng chính quyền nhà nước trong sạch vững mạnh hiện nay là một công việc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đó là nhiệm vụ đặt ra cấp bách cho những người nghiên cứu và những người quản lý xã hội trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2 Tình hình nghiên cứu
Hồ Chí Minh là người đầu tiên sáng lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước Dân chủ đầu tiên ở Đông Nam á Vì vậy, tư tưởng và hoạt động lãnh đạo của Hồ Chí Minh về nhà nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu Trước hết phải kể
đến các tác giả: Nguyễn Ngọc Minh với: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998 Đây là công trình nghiên cứu khá toàn
diện về những tư tưởng và những đóng góp thực tiễn của Hồ Chí Minh đối với nhà nước
và pháp luật của Nhà nước ta trong cả hai giai đoạn cách mạng Dân tộc dân chủ và cách
mạng xã hội chủ nghĩa Tiếp đó là PGS.TS Hoàng Văn Hảo với: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước kiểu mới - Sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995 Tác giả cũng đã nghiên cứu từ sự lựa chọn kiểu nhà nước của Hồ Chí Minh đến những tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Dân tộc Dân chủ và trong t hời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa Phần kết luận của tác giả chiếm gần nửa số trang của tập sách có nhiều nghiên cứu mới về sự "kết hợp đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh"; từ đó nêu ra sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước pháp quyền và từng bước hoàn thiện nó trong quá trình đổi mới ở nước ta
Tiếp theo phải kể đến công trình chuyên khảo của PTS Nguyễn Đình Lộc, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
(sản phẩm của đề tài cấp Nhà nước KX.02.13) Đây là công trình nghiên cứu khá cơ bản
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân và sự vận dụng của Đảng ta
trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; Vũ Đình Hoè với: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001
Tiếp sau đó, có nhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề này như Phạm Ngọc Anh -
Bùi Đình Phong với: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Lao động, 2003; Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên) với Tư tưởng Hồ
Trang 4
Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003; Bùi Ngọc Sơn với Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, 2004 Một số
giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Hội đồng lý luận Trung ương, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh cũng có bài về tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân; các tác giả: Dương Xuân Ngọc có bài "Quá trình xây dựng thể chế nhà nước của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh", Tạp chí Lý luận chính trị, 2- 2004; Lê Mậu Hãn với Hồ Chí Minh kién lập nhà nước pháp quyền Việt Nam, Tạp chí Lịch sử Đảng, 5-2005, GS Trần Xuân Trường với: Đảng cầm quyền và nhà nước của dân, do dân, vì dân; PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc với: 60 năm xây dựng nhà nước cách mạng của dân, do dân, vì dân, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9 năm 2005; PGS.TS Lê Văn Tích (chủ biên) với: Đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, Nxb Chính trị quốc gia, 5-2006; GS.VS Nguyễn Duy Quý với bài: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thành tựu và những vấn đề cần giải quyết, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, 7-2006; GS.TS Hoàng Chí Bảo với: Dân chủ xã hội chủ nghĩa - mục tiêu
và động lực của đổi mới; GS TSKH Đào Trí úc với bài: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Báo Nhân dân số ra ngày 8-8-2006; Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải với: Sự điều hành năng động của Chính phủ là một nhân tố đưa tới những thành tựu đổi mới và phát triển đất nước, Báo Nhân dân số ra
ngày 17-6-2006
Các công trình trên đây đã nghiên cứu ngày một rõ tư tưởng Hồ Chí Minh và những đóng góp thực tế của Người trong việc xây dựng và lãnh đạo nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa; phân tích sáng tạo của Hồ Chí Minh và tính cách mạng của nhà nước do Hồ Chí Minh sáng lập Tuy nhiên do mục đích và yêu cầu đặt ra cho mỗi công trình mà chưa có tác giả nào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" một cách độc lập và trong mối liên hệ với công cuộc cải cách hành chính hiện nay Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,
tôi lựa chọn vấn đề: "Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân với
công cuộc cải cách hành chính ở Tuyên Quang", làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Hồ Chí Minh học
Trang 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Nghiên cứu làm rõ quá trình hình thành, nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh
về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của dân" để từ đó thấy rõ hơn công cuộc cải cách hành chính hiện nay là sự tiếp nối tư tưởng của Hồ Chí Minh nhằm phát huy sức mạnh và trí tuệ của nhân dân để xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân"
- Xác định nội dung chủ yếu của tư tưởng trên
- Nghiên cứu mối liên hệ tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" với công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân trong sạch, vững mạnh
- Liên hệ với thực tiễn chương trình cải cách hành chính nhằm xây dựng chính quyền vững mạnh vì dân ở Tuyên Quang hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu nguồn gốc, cơ sở và quá trình hình thành nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" và
sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta hiện nay vào trong công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - một chính quyền trong sạch, vững mạnh thực sự của dân, do dân, vì dân trên phạm vi quốc gia cũng như ở địa bàn
tỉnh Tuyên Quang hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin và các phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử - lôgíc, điều tra xã hội học
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ góp phần làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" và từ đó thấy rõ mối liên hệ và
Trang 67 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 2 chương,7 tiết
Trong tác phẩm "Nhà nước và cách mạng - Học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nước và những nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cách mạng" V.I.Lênin viết:
Học thuyết đấu tranh giai cấp mà Mác vận dụng vào vấn đề nhà nước và
vấn đề cách mạng xã hội chủ nghĩa, tất nhiên phải đưa tới chỗ thừa nhận sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản, chuyên chính của giai cấp đó, tức là
Trang 7
một chính quyền không bị chia sẻ với ai hết, và trực tiếp dựa vào lực lượng vũ trang của quần chúng Giai cấp tư sản chỉ có thể bị lật đổ, khi nào giai cấp vô
sản trở thành giai cấp thống trị đủ sức trấn áp sự phản kháng không thể tránh khỏi, tuyệt vọng của giai cấp tư sản, và đủ sức tổ chức hết thảy quần chúng lao
động và bị bóc lột để xây dựng một chế độ kinh tế mới
Giai cấp vô sản cần có chính quyền nhà nước, cần có sức mạnh tập trung, cần có tổ chức bạo lực để trấn áp sự phản kháng của bọn bóc lột và
lãnh đạo quảng đại quần chúng nhân dân - nông dân, tiểu tư sản, nửa vô sản -
trong công cuộc "tổ chức" nền kinh tế xã hội chủ nghĩa [22, tr.32]
Sự tổng kết và phát triển tư tưởng của Mác - ăngghen về nhà nước và cách mạng, hết sức kỳ tài của Lênin, đã cho chúng ta thấy được "vấn đề nhà nước" đã được trình bày ngày càng sáng tỏ theo tiến trình lịch sử, từ "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" 1848 tới Công xã Pari 1871 và đến "đêm trước của cách mạng vô sản xã hội chủ nghĩa" tháng
10 Nga năm 1917 Các đặc điểm về mô hình, vai trò, chức năng chủ yếu của nhà nước
vô sản cùng những nhiệm vụ của giai cấp công nhân trong cách mạng luôn được bổ sung bằng tổng kết thực tiễn phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh chính trị để giành lấy chính quyền
Công xã Pari 1871 là hình thức chính quyền nhà nước đầu tiên của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Tuy tồn tại không lâu, song nó đã để lại cho phong trào cộng sản và công nhân thế giới một mô hình nhà nước rất đặc sắc về tính dân chủ trên nhiều phương diện tổ chức và hoạt động của nó Lênin nhận xét:
Chính quyền mới, với tính cách là chuyên chính của tuyệt đại đa số, đã
có thể duy trì và đã được duy trì chỉ là nhờ vào sự tín nhiệm của quần chúng đông đảo, chỉ bằng lôi cuốn một cách tự do nhất, rộng rãi nhất và mạnh mẽ nhất toàn thể quần chúng tham gia chính quyền Đó là chính quyền công khai đối với mọi người, làm việc trước mặt quần chúng, quần chúng dễ dàng gần gũi nó, nó trực tiếp sinh ra từ quần chúng, là cơ quan trực tiếp đại biểu cho quần chúng nhân dân và ý chí của họ [21, tr.378]
Trang 8
V.I.Lênin còn chỉ rõ, trong điều kiện mới giai cấp vô sản càng phải kiên quyết sử dụng bạo lực cách mạng, đập tan bộ máy của nhà nước tư sản; khả năng giành chính quyền bằng phương pháp hòa bình là rất quý nhưng ít khi xảy ra Cách mạng vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi ở những mắt khâu yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc Nhiệm
vụ lúc này là phải đập tan bộ máy hành chính, quân sự quan liêu, những công cụ áp bức, bóc lột, đàn áp nhân dân; còn các cơ quan khác như cơ quan thống kê, ngân hàng, bưu điện là những yếu tố cần thiết cho quản lý nhà nước mới thì "không thể và cũng không nên phá hủy bộ máy đó đi Phải giải thoát cho bộ máy đó khỏi phải phục tùng bọn tư
bản, phải bắt bộ máy đó phục tùng các Xô viết vô sản, phải mở rộng bộ máy đó ra, làm
cho nó bao trùm mọi lĩnh vực và trong cả nước" [23, tr.404]
Muốn cách mạng vô sản thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân, theo Lênin, còn phải xây dựng được đảng mác xít chân chính; đoàn kết và tập hợp mọi lực lượng cách mạng mà nòng cốt là liên minh công - nông
Chủ nghĩa Mác giáo dục công nhân, là giáo dục đội tiên phong của giai
cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân
tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một xã hội mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, lãnh tụ của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của họ, mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản [22, tr.33]
Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời là kết quả đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cách mạng ở mỗi nước, mỗi thời kỳ có những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau cho nên sự ra đời của các nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng như việc tổ chức nhà nước kiểu mới có những đặc điểm khác nhau Vì thế, mỗi nước cần phải chọn cho mình những phương pháp và hình thức thích hợp
Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh trên con đường đi tìm con đường cứu nước cứu
đồng bào, Người đã gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin Dưới ánh sáng Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin và tấm gương cách mạng tháng Mười
Nga, Người đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc mình và cho các dân tộc thuộc
Trang 9
địa Năm 1920, bằng nhiệt tình cách mạng hiếm thấy và sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, tại Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp Nguyễn ái Quốc tán thành và ủng hộ Đảng mình đi theo con đường Quốc tế thứ ba - Quốc tế Cộng sản Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến về chất trong tư tưởng Nguyễn ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin, từ người yêu nước thành người cộng sản Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng
để Nguyễn ái Quốc trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và tiếp đó là sáng lập ra nhà nước cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam á
Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga và mô hình chính quyền công nông
binh đã được lãnh tụ Nguyễn ái Quốc vận dụng ngay từ đầu năm 1930 Trong Chính cương vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người
sớm vạch rõ "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" [29, tr.1] Để thực hiện thành công cuộc cách mạng này, Nguyễn ái
Quốc chỉ rõ những yêu cầu về phương diện xã hội, kinh tế, chính trị , trong đó:
Về phương diện chính trị:
a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến b) Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập
c) Dựng ra chính phủ công nông binh (TG nhấn mạnh)
d) Tổ chức ra quân đội công nông [29, tr.1]
Đây là ý tưởng đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc về một mô hình nhà nước mới ở Việt Nam, thay thế cho nhà nước thực dân phong kiến đang thống trị ở Việt Nam lúc bấy giờ
Trước khí thế đấu tranh sôi nổi của phong trào cách mạng trong nước sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, điển hình là cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931) với việc áp dụng trực tiếp mô hình chính quyền Xô viết Nguyễn ái Quốc sớm nhận định:
Đó là đầu tiên nhân dân ta nắm chính quyền ở địa phương và bắt đầu thi hành những chính sách dân chủ, tuy mới làm được trong một phạm vi nhỏ hẹp
Xô viết Nghệ An bị thất bại, nhưng đã có ảnh hưởng lớn Tinh thần anh dũng của
Trang 10Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; lập Mặt trận Việt Minh, khẩu hiệu
chính là: đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng
ruộng đất" [32, tr.158] Hội nghị đã có chủ trương mới "không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa" [11, tr.127] Chương trình Việt Minh cũng nêu rõ: "sau khi đánh đuổi
đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ, sao vàng năm cánh làm quốc cờ Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa do Quốc dân đại hội cử lên " [29, tr.583]
Cuối năm 1944, khi thời cơ giải phóng dân tộc đến gần, Hồ Chí Minh nói rõ hơn
về mô hình một nhà nước mới của cách mạng Việt Nam trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, đó là một chính phủ đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của
toàn thể quốc dân ta "Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và uy tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang" [29, tr.505]
Như vậy, từ mô hình Nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình Nhà nước Dân chủ Cộng hòa là một bước chuyển kịp thời và sáng tạo của Hồ Chí Minh, phản ánh
được đặc thù thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Đó là một sáng tạo cách mạng về chính thể nhà nước trong lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin
Sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức năng chuyên chính của chính quyền nhân dân, là một đóng góp của Hồ Chí Minh đối với việc thực hiện chức năng "chuyên chính" của nhà nước trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước của giai cấp vô sản
Cơ sở để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân được bắt nguồn chính từ việc nhà nước cách mạng phải
Trang 11
thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước dân chủ vừa mới được thiết lập sau cách mạng tháng Tám Trung thành với nguyên tắc "dĩ bất biến, ứng vạn biến",
Hồ Chí Minh trong thời kỳ đầu của cách mạng tháng Tám ít dùng khái niệm: cách mạng
vô sản, nhà nước vô sản và nền chuyên chính vô sản, thay vào đó là các khái niệm đồng nghĩa kèm theo cặp từ "quần chúng", "nhân dân" Sau này khi điều kiện cho phép Hồ Chí Minh đã giải thích rõ ràng hơn:
Về chuyên chính dân chủ nhân dân: chế độ nào cũng có chuyên chính Vấn đề là ai chuyên chính với ai? Dưới chế độ thực dân phong kiến, tư bản, chuyên chính là số ít người chuyên chính với đại đa số nhân dân Dưới chế độ dân chủ nhân dân, chuyên chính là đại đa số nhân dân chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích nhân dân, chống lại chế độ dân chủ nhân dân [33, tr.279]
Trong bài viết cho báo Pravđa (Liên Xô) "Cách mạng tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc" nhân kỷ niệm 50 năm ngày cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh viết:
Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ngày càng thấm nhuần những lời dạy của Lênin và những bài học lớn của cách mạng tháng Mười
Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân Chỉ có sự lãnh đạo của một
đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công [35, tr.303-304]
Như vậy, theo Hồ Chí Minh việc xây dựng, tổ chức và lãnh đạo chính quyền dân chủ nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam phải dựa vào chủ nghĩa Mác-Lênin và phải bảo đảm xây dựng chính quyền thật sự mạnh mẽ, chắc chắn và sáng suốt của nhân dân
Sự sáng suốt trong lãnh đạo của Đảng với chính quyền là nhân tố không thể thiếu để thực hiện tổ chức xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Cơ sở
lý luận làm cho đường lối lãnh đạo của Đảng và các chính sách nhà nước tỏ ra thật sự sáng suốt chính là lý luận Mác-Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam
Trang 12
Hồ Chí Minh khẳng định: Chính quyền nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là nhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân và vì dân; cơ sở xã hội của nhà nước là toàn thể dân tộc, nền tảng là liên minh công - nông, lao động trí óc dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh một nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân trước hết là một nhà nước thực sự đại biểu cho quyền lợi của nhân dân, thực sự do nhân dân lập ra, được nhân dân ủng hộ Đồng thời, đó phải là một chính quyền nhà nước tập trung, có bộ máy hành chính mạnh mẽ, quản lý điều hành bằng pháp luật có hiệu lực, hiệu quả thực tếl; đội ngũ cán bộ công chức am hiểu pháp luật, chuyên môn và có đạo đức phục vụ nhân dân
Bằng sự vận dụng sáng tạo các nguyên lý, quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước vào chỉ đạo và xây dựng thành công nhà nước Dân chủ cộng hòa ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ là một người Mác xít chân chính, đã bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng sự thắng lợi trên thực tiễn của cách mạng dân tộc dân chủ
mở đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, "những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể
có được" [27, tr.465] Hồ Chí Minh đã tiếp nối ánh sáng của cách mạng tháng Mười Nga bằng nắng vàng mùa thu cách mạng tháng Tám trên đất nước Việt Nam, xua tan bóng đêm của chủ nghĩa thực dân ngự trị trên đất nước gần một thế kỷ
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Những công việc của chính quyền non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám là sự tiếp
nối những công việc và thành quả của chính quyền "nước Việt Nam mới phôi thai" ở
khu giải phóng trước Cách mạng Tháng Tám Không thể hiểu thấu đáo cơ sở thực tiễn của tư tưởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" nếu không tìm hiểu tiến trình xây dựng chính quyền ở giai đoạn này
Sang năm 1945, phong trào phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng được mở rộng, hình thành một vùng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng ngoại vi thuộc các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái
Trang 13
Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập khu giải phóng, cử ra Uỷ ban
chỉ huy lâm thời, thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng Tại các địa phương
trong khu giải phóng, các Uỷ ban nhân dân cách mạng cũng được thành lập, do nhân dân cử ra, để thi hành 10 chính sách của Việt Minh Khu giải phóng là hình ảnh "nước
Việt Nam mới phôi thai", "các Uỷ ban nhân dân cách mạng vừa lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tổng khởi nghĩa, vừa tập cho nhân dân cầm chính quyền" [5, tr.134-135]
Tiến trình thành lập Chính phủ Việt Nam được Đảng ta và Hồ Chí Minh chuẩn bị rất kỳ công, có khởi nguồn tự mục tiêu tranh đấu của Mặt trận Việt Minh (tháng 5/1941) đặc biệt khi thời cơ "ngàn năm có một" xuất hiện, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã quyết định khai mạc Đại hội Quốc dân trong ngày 16-8-1945 tại Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Đại hội đại biểu quốc dân Tân Trào mang tầm vóc lịch sử như Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới
Asimét L.A.Patti (Archimèdes L.A.Patti), một sĩ quan tình báo Mỹ có mặt ở Hà Nội ngay sau khi Tổng khởi nghĩa thắng lợi đã nhận xét rằng, khi biết tin phát xít Nhật
đã sụp đổ, Hồ Chí Minh "đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn Ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào" [39, tr.146]
Quốc dân Đại hội Tân Trào là "một tiến bộ lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay" [29, tr.553], Quốc dân Đại hội Tân Trào với tính cách là cơ quan mang tính đại diện quyền lực cao nhất của nhân dân tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và 10 chính sách của Việt Minh, thông qua quyết
định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, thực
hiện chức năng Chính phủ lâm thời sau cách mạng tháng Tám thắng lợi
Đây là một nét sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh trong việc phát huy ý chí, sức mạnh dân tộc và tính
hợp pháp của sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền độc lập tự do bằng tổ chức Đại hội đại biểu quốc dân để đề ra quyết sách chuyển xoay vận nước bằng phương thức khởi
Trang 14
nghĩa vũ trang, xoá bỏ chế độ nô dịch thực dân, kiến lập chế độ cộng hoà dân chủ với cơ quan mang tính quyền lực cao nhất là Đại hội đại biểu quốc dân và Uỷ ban dân tộc giải phóng do Đại hội đại biểu quốc dân lập ra
Ngày 25/8/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Hà Nội Theo đề nghị của Người,
Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhiều ủy viên Việt Minh trong ủy ban dân tộc giải phóng đã tự nguyện rút ra để mời thêm nhân sĩ ngoài Việt Minh tham gia Sau này, Hồ Chí Minh ca ngợi: "Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính
mà chúng ta phải học tập" [32, T.6, tr.160]
Việc Uỷ ban dân tộc giải phóng tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đáp ứng yêu cầu: Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được Mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ, mời thêm một số nhân sỹ tham gia chính phủ để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân đã giao phó cho Và để Chính phủ sớm ra mắt quốc dân đồng bào trong ngày tổ chức lễ tuyên bố độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Trong "Tuyên cáo về việc thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (Việt Nam dân quốc công báo, Số 1, ngày 29-9-1945), ngày 28-8-71945 có đoạn:
Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng Minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng Cũng không phải là một chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng Thật là một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội đề cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức
Hỡi quốc dân đồng bào, Vận mệnh ngàn năm của dân tộc ta đang quyết định trong lúc này đây Toàn thể quốc dân hãy khép chặt hàng ngũ, đứng dưới lá quốc kỳ, làm hậu thuẫn cho Chính phủ lâm thời, nắm chắc tự do độc lập, cải tạo Tổ quốc bấy lâu
đã bị bọn giặc nước tàn phá [24, Tr.324]
Trang 15và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy" [24, 328]
tr.327-Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam, nêu cao ý chí đấu tranh của toàn dân để giữ vững quyền độc lập, tự do, bảo
vệ chế độ cộng hòa dân chủ Việt Nam Quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam được khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trước quốc dân
và quốc tế đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và có giá trị đóng góp vào sự phát triển nền pháp lý tiến bộ của loài người
Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của toàn thể dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ bộ máy thống trị của
đế quốc và bọn phong kiến tay sai, lập nên chính quyền nhân dân trong cả nước Đây là
sự thắng lợi của đường lối của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về quá trình hình thành một nhà nước do nhân dân, vì nhân dân, thay thế cho nhà nước thực dân phong kiến đã tồn tại ở Việt Nam gần một thế kỷ Cuộc cách mạng tháng Tám đã lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân, và "nền quân chủ mấy mươi thế kỷ", thành lập nước Cộng hòa Dân chủ, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên Dân chủ Cộng hòa, kỷ nguyên Độc lập, Tự do Nói về ý nghĩa to lớn của cuộc
Trang 16
Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách
mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công,
đã nắm chính quyền toàn quốc" [32, tr.159]
Tuy nhiên, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải "tiếp quản" một di sản kinh tế - xã hội hết sức nghèo nàn, lạc hậu "Giặc đói" đe dọa sinh mạng của hàng triệu đồng bào Nền tài chính quốc gia gần như trống rỗng
Về mặt xã hội, hậu quả của xã hội cũ rất nặng nề Sự thất học của đại đa số nhân dân cũng là một loại giặc "giặc dốt" Chỉ có 10% dân số biết chữ, hầu hết ở bậc tiểu học
Số công chức có trình độ đại học và cao đẳng trong cả nước chỉ khoảng vài trăm người Thực tế đó đã làm cho việc tổ chức hoạt động và xây dựng chế độ mới của nhà nước ta gặp nhiều, khó khăn Các tệ nạn xã hội, hủ tục và lối sống lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến, phát xít để lại là gánh nặng cho nhà nước cách mạng non trẻ
Về chính trị, trong khi các lực lượng Đồng minh kéo vào nước ta, các thế lực phong kiến phản động, tay sai của thực dân Pháp đã tăng cường hoạt động trở lại Hàng chục tổ chức chính trị, đảng phái được thành lập như Đại Việt Cách mạng Đảng, Việt Nam phục quốc, Việt Nam quốc xã Đảng do Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Sâm, Ngô Đình Diệm cầm đầu Đặc biệt có hai đảng phái chính trị từ nước ngoài trở về theo đội quân Tưởng là Việt Nam cách mạng đồng chí hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) ra mặt chống phá chính quyền rất quyết liệt Hoàn cảnh Việt Nam lúc này vô cùng khó khăn
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng II - 1951, Hồ Chí Minh đã viết:
Nước ta độc lập chưa một tháng, thì phía Nam, quân đội đế quốc Anh kéo đến Chúng mượn tiếng là lột vũ trang của quân Nhật, nhưng sự thật chúng là đội quân viễn chinh giúp thực dân Pháp âm mưu cướp lại nước ta Phía Bắc thì quân đội Quốc dân Đảng Trung Quốc kéo sang Chúng cũng mượn tiếng là lột vũ trang quân Nhật, nhưng kỳ thật chúng có ba mục đích hung ác:
- Tiêu diệt Đảng ta,
- Phá tan Việt Minh,
Trang 17Theo tư tưởng chỉ đạo Hồ Chí Minh, chính trong những tình thế hiểm nghèo cần phải sáng suốt, cần có đối sách mềm dẻo, nhân nhượng, hòa hoãn để giữ vững và củng
cố sức mạnh thống nhất của chính quyền nhân dân, thành quả quan trọng nhất của cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh hiểu rõ: "vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn
đề chính quyền, giành chính quyền đã khó nhưng giữ vững chính quyền càng khó hơn" Chính trong thời khắc cực kỳ nghiêm trọng và đầy thử thách này, thiên tài Hồ Chí Minh
và nghị lực cách mạng phi thường của dân tộc đã giúp Người nhạy bén và sáng suốt lựa chọn những đối sách đúng đắn nhằm giải quyết kịp thời có hiệu quả những nhiệm vụ vô cùng phức tạp, khó khăn; bình tĩnh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua
thác ghềnh, từng bước tiến lên Thời gian là một yếu tố vô cùng cần thiết để "củng cố
dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất", nguồn
sức mạnh của hệ thống chính trị dân chủ vừa mới được thành lập; thời gian là sức
mạnh, là lực lượng cho Mặt trận và Chính quyền triển khai công việc tổ chức đoàn kết toàn dân và xây dựng "chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" trở thành một
hệ thống chính quyền thống nhất từ "Chính phủ toàn quốc" đến chính quyền địa phương trong cả nước Việt Nam
Sự kiện Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "tự giải tán" là "để phá tan tất cả
những điều hiểu lầm ở ngoài nước và trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng nước ta" Những người muốn nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin "sẽ gia nhập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương"
Như vậy, bằng việc công khai thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác và tờ báo
Sự thật cùng các chỉ thị, nghị quyết, trên thực tế Đảng ta vẫn tiếp tục tuyên truyền chủ
nghĩa Mác - Lênin và đường lối chính sách của Đảng, giữ vững được mối liên hệ giữa
Trang 18tế, quân sự, đến ngoại giao
Với tư cách là thượng khách của nước Pháp, trong chuyến thăm Pháp năm 1946,
Hồ Chí Minh là hiện thân của ý chí độc lập dân tộc, hoà bình và hữu nghị của nước Việt Nam mới, Người đã làm hết sức mình để cố tránh một cuộc chiến tranh đổ máu cho hai dân tộc Việt - Pháp và kéo dài khoảng thời gian hoà hoãn để củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lượng cho cách mạng ở trong nước
Trước những câu hỏi có tính "cân não" về xu hướng cộng sản, ở một thời điểm nhạy cảm, của các nhà báo Pháp phỏng vấn Hồ Chủ tịch, Người điềm tĩnh trả lời:
Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác Cách đây 2000 năm, Đức chúa Giêsu đã nói
là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được
Còn khi nào thì chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình
ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ [30, tr.272]
Qua đó, ta có thể thấy Hồ Chí Minh luôn đứng ở thực tại, cho dù trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, Người vẫn tỏa sáng một tầm nhìn bao quát, những biến chuyển biện chứng của lịch sử vận động khách quan đều thông qua những điều kiện cụ thể ở đó con người không thể áp đặt ý muốn chủ quan cho lịch sử được Hòa bình, hợp tác thân thiện là những điều kiện để hai dân tộc Việt - Pháp có thể thực hiện được, còn chế độ chính trị xã hội là do dân chúng ở mỗi nước tự quyết định Lịch sử đã khẳng định về một "cơ hội hòa bình đã để lỡ" là do tham vọng duy trì chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời của Chính phủ Pháp lúc bấy giờ đối với vấn đề Việt Nam và Đông Dương
Trang 19tự do của cả dân tộc Việt Nam Hệ thống chính quyền nhà nước mới muốn thực sự là chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân thì nó phải được xây dựng trên nền tảng dân chủ Các cơ quan quyền lực nhà nước của chính quyền nhân dân phải do nhân dân bầu ra bằng cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Nhân dân thực sự sử dụng quyền dân chủ của mình để ứng cử và bầu cử để chọn ra những người đủ đức, đủ tài gánh vác công việc chung của chính quyền nhân dân
1.2 sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Thực hiện chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân
Sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nhiệm vụ của nhà nước hết sức nặng nề, một mặt phải khắc phục những khó khăn nghiêm trọng như giải quyết nạn đói, nạn dốt, thói xấu cùng những bất công, chia rẽ tôn giáo, mất dân chủ trong xã hội do chế độ cũ
để lại, mặt khác, chính quyền nhân dân, đặc biệt là chính quyền cấp xã đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước ở địa phương Tệ tham ô, lãng phí, công thần, "làm quan cách mạng", lên mặt, nhũng nhiễu nhân dân đã sớm được Hồ Chí Minh nhận dạng và cảnh báo qua những bài báo, bức thư của Người
đã cho công bố Chính những khuyết tật, những căn bệnh cả cũ lẫn mới đó đã làm cho khả năng tập hợp sức mạnh và trí tuệ sáng suốt của nhân dân, của cấp chính quyền cơ
sở bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và uy tín cả hệ thống chính quyền dân chủ mới
Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy sự cần thiết phải lãnh đạo, tổ chức xây dựng hệ thống chính quyền dân chủ phải thật sự mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Chế độ dân chủ phải được vận hành bằng nền hành chính dân chủ mới
Trang 20
Sự ra đời tư tưởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân"
là một quá trình nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong điều kiện Việt Nam từ một nước nô lệ tiến lên một quốc gia độc lập Đó là sự thay đổi lớn, một cuộc cách mạng trong tư tưởng và thực tiễn chỉ đạo xây dựng chính quyền dân chủ ở Việt Nam Lịch sử Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lịch sử Hiến pháp Việt Nam gắn liền với tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh
Hiến pháp là nền tảng để xây dựng chế độ dân chủ hiện đại, Hiến pháp là cơ sở pháp lý về sự tồn tại và phát triển của nhà nước Thực hiện một xã hội tự do, dân chủ cho nhân dân và một chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của dân cần phải có một Hiến pháp dân chủ ý thức rất sớm vấn đề này, nên suốt 24 năm trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của Hiến pháp Việt Nam mà Người còn trực tiếp làm Trưởng ban soạn thảo hai bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959
Sự cần thiết phải xây dựng và tổ chức một chính quyền nhà nước mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân được Hồ Chí Minh nhận thức và thể hiện rất sớm từ phiên họp đầu tiên (ngày 3/9/1945) của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tại
phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày với các Bộ trưởng Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đó là những vấn đề cấp bách,
thiết thực mà chính quyền mới ra đời "chưa quen với kỹ thuật hành chính, phải giải quyết trong hoàn cảnh đất nước còn chồng chất những khó khăn thiếu thốn" [30, tr.7] Sau khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày, các Bộ trưởng đã thảo luận và đều nhất trí tán thành những đề nghị của Người Việc đề xuất ra những chủ trương, chính sách, nhiệm vụ đúng đắn, kịp thời để giải quyết công việc, thể hiện bản lĩnh trí tuệ, năng lực tổ chức, quản lý sáng suốt của Chính phủ, đặc biệt là người đứng đầu
Cùng với các quyết sách mạnh mẽ để giải quyết nạn đói, nạn dốt, bãi bỏ các thứ thuế bất công, thực hành: cần, kiệm, liêm, chính trong chiến dịch giáo dục lại tinh thần
nhân dân Người tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết, Hồ Chí Minh đã đề
cập ngay đến sự cần thiết: "Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu
Trang 21từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội Sắc lệnh cũng quy định Quốc hội có toàn quyền ấn định Hiến pháp cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 20/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34/SL lập ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm các vị: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu Ngày 26/9/1945, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 39/SL, thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ tổng tuyển cử gồm chín người và Sắc lệnh số 51/SL, ngày 17/10/1945, quy định Tổng tuyển cử bằng cách phổ thông đầu phiếu v.v Đây là những Sắc lệnh quan trọng nhằm xây dựng quyền làm chủ của công dân Việt Nam đối với vận mệnh đất nước qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội
Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà
Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ ai là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không phân biệt gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó
Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết
Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội Quốc hội sẽ cử ra chính phủ đó thật là chính phủ của toàn dân" [30, tr.133]
Các ban bầu cử đã được thành lập tại các làng xã do ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp đảm nhận
Trang 22
Quá trình diễn ra Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong điều kiện vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết các nhiệm vụ nội trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là cuộc đấu tranh hết sức gay go, phức tạp Dựa vào các thế lực quân đội nước ngoài có mặt trên đất nước ta lúc bấy giờ, Việt Quốc và Việt Cách ra sức chống đối việc tổ chức Tổng tuyển cử Việt Quốc đưa ra yêu sách đòi chiếm giữ 1/3 số ghế đại biểu trong Quốc hội và phải giữ các Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên trong Chính phủ, v.v
Chính phủ đã kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách vô lý và mọi âm mưu phá hoại của Việt Quốc, Việt Cách, đồng thời kiên trì sách lược nhân nhượng khôn khéo nhằm tạo không khí thuận lợi cho Tổng tuyển cử Đại diện của Việt Minh và Việt Quốc, Việt Cách đã thương lượng, lần lượt ký các văn bản ghi nhận tinh thần, nguyên tắc và các biện pháp hợp tác trong đó có các quan điểm quan trọng
Coi trọng độc lập và đoàn kết trên hết, ủng hộ Tổng tuyển cử, đình chỉ công kích lẫn nhau, mở rộng Chính phủ lâm thời v.v
Chính vì vậy, ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, mở rộng thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách Chính phủ liên hiệp lâm thời vẫn do Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch kiêm ngoại giao
Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội lập hiến đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã diễn ra thắng lợi trong toàn quốc 333 đại biểu đã trúng
cử Thắng lợi của Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ của nước Việt Nam mới
Quốc hội mới họp phiên đầu tiên ngày 2/3/1946 đã chuẩn y lời thỉnh cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng thêm 50 ghế cho Việt Nam Quốc dân Đảng và 20 ghế cho Việt Nam Cách mạng đồng chí hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch Chính phủ liên hiệp kháng chiến Đây là chính phủ hợp hiến đầu tiên cho đại biểu của nhân dân bầu ra,
có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề nội trị và ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Song song với cuộc đấu tranh và xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc cho thể chế nhà nước dân chủ của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời đã nhanh
Trang 23
chóng tổ chức thực hiện một hệ thống chính quyền ở khắp các địa phương trên toàn lãnh thổ Việt Nam Sự cần kíp phải có một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt để lãnh đạo toàn thể dân tộc, đoàn kết toàn dân, thực hành tự do dân chủ cho nhân dân khi nước nhà đã tuyên bố độc lập là một đòi hỏi khách quan và trọng yếu nhất để đảm bảo thành quả cách mạng tháng Tám
Từ Uỷ ban dân tộc giải phóng tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời (28/8/1945) ,
Chính phủ liên hiệp lâm thời (ngày 9/1/1946), Chính phủ kháng chiến (ngày 2/3/1946) đến Chính phủ mới (ngày 3/11/1946) đã trải qua 4 lần tự cải tổ và thành lập mới, Chính
phủ Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tỏ rõ:
Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm khiết Theo lời Quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một chính phủ biết làm việc,
có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà
Anh em trong chính phủ mới sẽ dựa vào sức mạnh của Quốc hội và quốc dân, dẫu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho [30, tr.427-428]
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân, thì hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương (Quốc hội và Chính phủ) phải là một khối thống nhất với các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp)
Ngay sau ngày ra mắt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho đăng trên Báo Cứu quốc, số 40 ngày 11/9/1945 bài: Cách tổ chức ủy ban nhân dân Trong đó
xác định ủy ban nhân dân (làng, huyện, tỉnh, thành phố) là hình thức chính phủ trong các địa phương sau khi khởi nghĩa thắng lợi ủy ban nhân dân tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, khác hẳn các cơ quan do bọn thống trị cũ đặt ra Cũng chỉ sau đó 2 tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức các Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính
Điều 1 của Sắc lệnh đã nêu:
Trang 24
Để thực hiện chính quyền nhân dân trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ
cơ quan: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính
Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân
Uỷ ban hành chính do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ
ở hai cấp xã và tỉnh có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính, ở các cấp huyện và kỳ chỉ có Uỷ ban hành chính Cách tổ chức, quyền hạn và cách làm việc của các cơ quan nói trên sẽ quy định như Sắc lệnh này [45, tr.216] Sắc lệnh có 4 chương với 115 Điều Đây là một văn bản quy phạm pháp luật có nội dung, đối tượng và phạm vi điều chỉnh như Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hiện nay Việc nhanh chóng ban hành Sắc lệnh trên để tạo ra cơ sở pháp
lý cho việc tổ chức xây dựng và hoạt động thống nhất của hệ thống chính quyền của địa phương dưới sự điều hành của Chính phủ Trung ương, cùng với các văn bản quy phạm pháp luật khác (chủ yếu dưới hình thức Sắc lệnh và lệnh) được ban hành để tổ chức điều hành hoạt động của chính quyền non trẻ Đó là những nội dung cơ sở cho sự ra đời của Hiến pháp Việt Nam 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới Trong đó, nhân dân thực sự làm chủ quyền lực nhà nước thông qua Nghị viện nhân dân và Hội đồng nhân dân các cấp; đồng thời xây dựng một bộ máy hành chính mạnh mẽ nhưng không tiếm quyền của nhân dân
Sự độc đáo và tính sáng tạo của Hồ Chí Minh không dừng ở lĩnh vực chuẩn bị lập hiến, lập pháp mà cả trên lĩnh vực hành pháp, Người đã để lại cho Đảng và Nhà nước ta những tư tưởng chỉ đạo và kinh nghiệm vô cùng quý báu trong tổ chức, điều hành chính quyền dân chủ nhân dân trong những ngày đầu mới thành lập
Hồ Chí Minh thông qua con đường báo chí, thư tín đã liên hoàn sự chỉ đạo, điều chỉnh cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhân dân của các Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân đồng thời sớm chỉ ra những căn bệnh cố hữu trong chấp pháp thực hiện quyền lực công của bộ máy hành chính
Dưới nhiều bút danh, Hồ Chí Minh đã cho đăng các bài báo, bức thư: Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà; Chính phủ là công bộc của dân; Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn
Trang 25là những văn bản quy phạm pháp luật song tư tưởng của những bài báo, bức thư do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ra còn nguyên giá trị cho việc xây dựng củng cố hệ thống chính quyền trong sạch, vững mạnh, cải cách hành chính, chống quan liêu, tham nhũng đến tận ngày nay
Tư tưởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân được Hồ Chí Minh với tư cách trưởng Ban soạn thảo Hiến pháp Việt Nam 1946 sử dụng lần đầu tiên trong lời nói đầu của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946
Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo luận Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc dưới đây:
- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân [14, tr.7]
Là nguyên tắc hiến định tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho quá trình tổ chức, xây
dựng và hoạt động của nhà nước dân chủ, tư tưởng về xây dựng chính quyền mạnh mẽ
và sáng suốt của nhân dân mà nội dung cốt lõi là bằng hoạt động thực tiễn để tổ chức
hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước của nhân dân thực sự đủ năng lực quản lý điều hành đất nước có hiệu lực, hiệu quả, giải quyết đúng đắn các nhiệm vụ chủ yếu đặt
ra cho nhà nước ở mỗi thời kỳ
Tư tưởng về tổ chức nhà nước dân chủ mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân ở Hồ
Chí Minh không chỉ là một nguyên tắc chỉ đạo tổ chức xây dựng nhà nước trên cả 3 mặt công tác, tổ chức và cán bộ mà còn được Người thống nhất trong việc sử dụng vào xây
Trang 26Cũng trong Báo cáo này Người đã nói rõ lý do về sự cần thiết phải tổ chức và xây dựng Đảng ta thành một Đảng to lớn, mạnh mẽ và sáng suốt:
- Xây dựng một Đảng Lao động Việt Nam rất mạnh mẽ
- Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
- Xây dựng Việt Nam dân chủ mới
- Góp sức vào việc giữ gìn dân chủ thế giới và hòa bình lâu dài [32, tr.176]
Sự nhất quán trong tư tưởng chỉ đạo ở Hồ Chí Minh về xây dựng cho được những đặc tính biểu hiện của những tổ chức lãnh đạo và điều hành quản lý đất nước phải tỏ rõ là những tổ chức mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân, đủ lực lượng, quyền hành cùng tài năng trí tuệ và bản lĩnh cách mạng để tranh quyền độc lập cho dân tộc, phát triển đất nước sánh ngang với các nước dân chủ trên thế giới
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân, bên cạnh việc xây dựng thể chế bộ máy chính quyền có hiệu lực
Trang 27
pháp lý mạnh mẽ cần phải có đội ngũ cán bộ công chức đủ đức, đủ tài và tinh thông nghiệp vụ Suy cho cùng nhân tố con người, nhân tố cán bộ công chức là nhân tố tạo nên sức mạnh và hiệu lực thực tế của bộ máy các cơ quan chính quyền nhân dân có khả năng nhận thức rõ ràng và giải quyết vấn đề đúng đắn, không sai lầm Nhận thức rõ tầm quan trọng và vai trò tích cực chủ động của đội ngũ cán bộ công chức với hoạt động của
bộ máy chính quyền các cấp, ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ban hành (Quy chế công chức Việt Nam)
Trong lời nói đầu của Quy chế này, chúng ta lại thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ Việt Nam rất coi trọng việc thực hiện Hiến pháp năm 1946 trong việc xác định Quy chế pháp lý cho công chức Việt Nam "Điều thứ nhất, chương thứ nhất trong Hiến pháp đã nêu rõ: "nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân"
Lời nói đầu của Hiến pháp về các nguyên tắc xây dựng chính quyền cũng nhấn mạnh:
Phải thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ
Vậy người công chức phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc
Đi đôi với nhiệm vụ trên, công chức Việt Nam cần có một địa vị xứng đáng với tài năng của mình Địa vị ấy được đề cao trong quy chế này [24, tr.414-415]
Trong mục Nghĩa vụ, Quy chế này xác định:
Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính chí công vô tư [24, tr.414-415]
Trang 28
Như vậy là, Quy chế Công chức Việt Nam năm 1950 được ban hành dựa trên cơ
sở pháp lý vững chắc là các nguyên tắc xây dựng chính quyền của Hiến pháp năm 1946
Mặt khác, sự ra đời của Quy chế Công chức Việt Nam đã phản ánh một thực tế là tính tối cao của các nguyên tắc Hiến pháp cần phải được bảo đảm trước tiên qua con đường chấp hành kỷ luật hành chính của đội ngũ công chức Việt Nam Việc thực hiện
tư tưởng xây dựng chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân ở đây đã trở thành quy phạm pháp luật về quyền và nghĩa vụ công chức Việt Nam
Là người sáng lập nhà nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người
có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp, Người đã hai lần làm trưởng Ban soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 "Từ tháng 8/1945 đến tháng 12/1954, Chính phủ đã ban hành trên 1.200 Sắc lệnh, trong đó riêng năm 1945 và năm
1946 đã ban hành 328 Sắc lệnh" [24, tr.306]
Trong Báo cáo công tác của Ban sửa đổi Hiến pháp tại Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I kỳ họp thứ 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày:
Tôi xin thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo những việc chúng tôi
đã làm được từ khóa họp lần trước tới nay Bản Hiến pháp sửa đổi sẽ dựa vào bản Hiến pháp năm 1946 Nhưng bản Hiến pháp sửa đổi của ta lại sẽ được thi hành trong lúc đất nước còn chia làm hai miền: miền Bắc đương tiến lên chủ nghĩa xã hội và miền Nam thì như một thuộc địa của đế quốc Mỹ Những nét đặc biệt ấy tất nhiên phải phản ánh vào Hiến pháp sửa đổi của ta, cũng như tình hình thực tế nước nhà và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay [34, tr.159]
Là nhà lập pháp hàng đầu của đất nước, hơn ai hết Hồ Chí Minh hiểu rõ những giá trị lớn lao của Hiến pháp năm 1946, đặc biệt là những nguyên tắc ở Hiến pháp năm
1946 vì đó là những kết tinh tư tưởng pháp quyền dân chủ Việt Nam đã được khẳng định bằng sự đấu tranh của cả một dân tộc ròng rã trên 80 năm dưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân và hàng nghìn năm dưới chế độ quân chủ không kém phần chuyên chế
Cho nên những tư tưởng, nguyên tắc xây dựng chính quyền trong Hiến pháp năm
1946 phải được trân trọng giữ gìn và phát triển trong các bản Hiến pháp tiếp theo
Trang 29
Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã khẳng định lại những giá trị của Hiến pháp năm 1946
Lời nói đầu của bản hiến pháp năm 1946 đã nêu: nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và xây dựng nước nhà trên nền tảng dân chủ Hiến pháp Việt Nam phải ghi rõ những thành tích vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng trên nguyên tắc đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền tự do dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ của nhân dân
Chế độ do Hiến pháp năm 1946 xác nhận đã đảm bảo độc lập dân tộc
và một nền dân chủ rộng rãi của nhân dân Ngay từ khi mới thành lập, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền nhân dân đã ban bố Luật Lao động, thi hành giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và bọn Việt gian đem chia cho dân cày Quyền bầu cử và ứng cử, quyền tham gia vào công việc nhà nước và của nhân dân được đảm bảo, quyền tự do dân chủ được thực hiện Đó là một chế độ dân chủ mới [34, tr.582]
Sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ là sáng suốt của nhân dân" gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hệ thống chính quyền nhà nước Với tính cách là những nguyên tắc hiến định về tổ chức xây dựng bộ máy và hoạt động của nhà nước, Hồ Chí Minh và Quốc hội khóa I đã khẳng định cho dân tộc quyền
có một nhà nước pháp quyền dân chủ đầu tiên ở khu vực Đông Nam á Tư tưởng này được nối tiếp và phát triển trong quá trình xây dựng Hiến pháp tiếp theo (1959, 1980, 1992) và giá trị của tư tưởng ấy trong thực tế cách mạng Việt Nam
1.3 nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
1.3.1 "Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" một nội dung cơ bản trong các nguyên tắc xây dựng nhà nước của Hiến pháp Việt Nam năm 1946
Trang 30
Quá trình hình thành tư tưởng về nhà nước ở Hồ Chí Minh có cơ sở lý luận là lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ thực tiễn Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam cùng sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nội dung tư tưởng xây dựng nhà nước Dân chủ nhân dân ở Hồ Chí Minh là sản phẩm đặc thù phản ánh những yêu cầu có tính tất yếu từ hoàn cảnh lịch sử về sự ra đời
và lớn mạnh của nhà nước dân chủ nhân dân Không chỉ trên phương diện tổ chức xây dựng hệ thống chính quyền vững mạnh mà còn xác lập cơ sở pháp lý vững chắc cho tiến trình xây dựng chế độ dân chủ thực sự có khả năng đoàn kết toàn dân tộc Tư tưởng về
tổ chức hệ thống chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân không thể phát huy tác dụng đầy đủ nếu tách dời với tư tưởng bảo đảm tự do dân chủ và tư tưởng về phát huy sức mạnh vĩ đại đoàn kết toàn dân Trong tính chỉnh thể, tư tưởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" là một nội dung cấu thành của tư tưởng xây dựng nhà nước Việt Nam mới ở Hồ Chí Minh Do đó, việc xác định nội dung tư tưởng trên, trước hết phải từ chính vị trí, vai trò của nó trong các nguyên tắc ở "Lời nói đầu" trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946
Từ "tuyên bố lập hiến" trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (ngày 3/9/1945) đến sự kiện Hiến pháp Việt Nam được Quốc hội khóa I thông qua (ngày 9/11/1946) là thời gian "kỷ lục" về sự hình thành của Hiến pháp Việt Nam mà công lao đầu tiên thuộc về Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp Hồ Chí Minh Có thể nói Hiến pháp Việt Nam năm 1946 là bản Hiến pháp của nhà nước pháp quyền dân chủ đầu tiên của Việt Nam mới
Từ việc khẳng định thành quả của cách mạng tháng Tám là "giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa" Hiến pháp Việt Nam
đã xác lập chính thể nhà nước "là một nước Dân Chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam" đến việc ghi nhận "Đoàn kết toàn dân đảm bảo các
quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" là những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp Việt Nam
Như vậy, chỉ riêng về mặt hình thức thể hiện đã thấy đây là sự diễn tả hết sức đặc sắc theo phong cách văn phong Hồ Chí Minh Người ta không thấy chính thể nhà nước
Trang 31
công - nông - binh, không thấy mô hình chính quyền chuyên chính vô sản mà thay vào đó
là chính thể Dân chủ Cộng hòa với nguyên tắc hiến định "thực hiện chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của nhân dân" [14, tr.7]
Nếu như trong Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945) Hồ Chí Minh trích dẫn những tư tưởng bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 để tuyên bố về một nền độc lập của nước Việt Nam thì ở Hiến pháp năm 1946 các giá trị pháp lý dân chủ được Hồ Chí Minh thể hiện thành các nguyên lý pháp quyền về một nền dân chủ rộng rãi theo nguyên
tắc: Đoàn kết toàn dân; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của nhân dân
Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước Nhà nước pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ ở đây, nhà nước pháp quyền được xác lập dựa trên những giá trị pháp lý bằng các nguyên tắc luật pháp cao nhất - nguyên tắc của Hiến pháp
Trong ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ
Ngoài các giá trị phổ biến, nhà nước pháp quyền còn bao hàm các giá trị đặc thù Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi nhiều yếu tố như các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, tâm lý xã hội và môi trường địa lý của mỗi dân tộc Hiến pháp Việt Nam 1946 với việc ghi nhận: Đoàn kết toàn dân; đảm bảo các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định những giá trị phổ biến đồng thời thể hiện những giá trị đặc thù của nhà nước pháp quyền dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Sự mạnh mẽ và sáng suốt trong phục vụ nhân dân của nhà nước chỉ có được nếu biết phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc và bảo đảm được các quyền tự do dân chủ cho nhân dân
Nghiên cứu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân cho chúng ta thấy đây thực sự là một luận điểm sáng tạo, một cống hiến của Hồ Chí Minh vào lý luận xây dựng nhà nước kiểu mới ở
Trang 32Phấn đấu xây dựng một nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của Đảng cùng toàn dân ta trong thế kỷ XXI
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, phần trình bày về phương hướng xây dựng nhà nước xác định:
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cần xây dựng
cơ chế vận hành của nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền
Theo phương hướng đó, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, của các cơ quan tư pháp, đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp, tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp [10, tr.45]
Xác định được những nội dung trên là kết quả trực tiếp của đúc kết đổi mới sự lãnh đạo của Đảng với nhà nước qua 20 năm đổi mới, song điều quan tâm của cán bộ, đảng viên và nhân dân hiện nay vẫn là thực hiện những nội dung đó trên thực tiễn theo
Trang 33Muốn xác định được nội dung tư tưởng chỉ đạo của các nguyên tắc trong Hiến pháp, trước hết cần có nhận thức chung về hiến pháp Theo cách hiểu chung nhất Hiến pháp là đạo luật gốc của hệ thống quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản giữa con người, xã hội với nhà nước, cũng như điều chỉnh
tổ chức và hoạt động của chính nhà nước Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước,
có hiệu lực pháp lý cao nhất Tính chất cơ bản của Hiến pháp thể hiện trên nhiều phương diện
Trước hết, Hiến pháp là cơ sở pháp lý của hệ thống chính trị Hiến pháp là văn bản quy định những vấn đề cơ bản nhất của tổ chức quyền lực nhà nước, quy định cơ cấu tổ chức của nhà nước nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng, xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước Trung ương và các nguyên tắc hoạt động cơ bản của
bộ máy nhà nước xác định mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức
xã hội và với công dân
Như vậy, Hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản liên quan đến các lợi ích chủ yếu của mọi giai cấp, mọi công dân trong xã hội, chế độ chính trị chế độ kinh tế,
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Tuy nhiên, Hiến pháp không quy định các vấn đề một cách chi tiết mà đó là những quy định có tính tổng hợp, khái quát, mang tính định hướng và tính nguyên tắc Hiến pháp là cơ sở đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật
Trên phương diện pháp lý, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất thể hiện: Các quy định của Hiến pháp là nguồn, là căn cứ cho tất cả các ngành luật khác
Trang 34
Luật và các văn bản dưới luật phải phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp Các điều ước quốc tế mà nhà nước tham gia không được mâu thuẫn, đối lập với các quy định của Hiến pháp
Việc soạn thảo, ban hành, sửa đổi, thay đổi Hiến pháp đều phải tuân theo một trình tự đặc biệt
Là một trong ba nguyên tắc tạo nên chỉnh thể các nguyên tắc cơ bản về tổ chức
và hoạt động của nhà nước, công tác xây dựng chính quyền của nhân dân chỉ thực sự mạnh mẽ và sáng suốt khi nhà nước được tổ chức trên nền tảng đoàn kết toàn dân cũng như việc nhà nước bằng hoạt động thực tiễn bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân Trong mối quan hệ chỉnh thể của các nguyên tắc xây dựng Hiến pháp năm 1946 thì nguyên tắc về xây dựng chính quyền mạnh mẽ giữ vai trò là cơ sở để tổ chức bộ máy các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước qua đội ngũ cán bộ công chức Việt Nam
Như vậy, có thể thấy rằng: Xây dựng chính quyền nhà nước mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân trên nền tảng bảo đảm tự do, dân chủ và đoàn kết toàn dân là nguyên lý tổ chức nhà nước dân chủ ở Hiến pháp Việt Nam 1946, đồng thời là luận điểm cơ bản trong tư tưởng xây dựng nhà nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong việc tổ chức quyền lực nhà nước, Hồ Chí Minh rất coi trọng yếu tố đặc trưng nhất là sử dụng quyền lực nhà nước để phục vụ các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội và đối ngoại của nhà nước Khẳng định tính pháp quyền của nhà nước dân chủ là thiết chế: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Lần đầu tiên trong lịch sử Nhà nước Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 quy định khá
rõ các quyền tự do, dân chủ của công dân với nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Song song với việc chú trọng đến chế định công dân, Hiến pháp còn thiết chế nên bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân theo cách độc đáo của Việt Nam, trong đó nhân dân thực sự làm chủ quyền lực nhà nước thông qua Nghị viện và các Hội đồng nhân
dân Tại chương III Nghị viện nhân dân (Hiến pháp Việt Nam năm 1946), Điều thứ 22:
"Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa"; Điều 23: "Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước
Trang 35
ngoài" Đồng thời với chế định về các cơ quan quyền lực đại diện toàn dân, Hiến pháp
1946 có chế định về Chủ tịch nước và Chính phủ có quyền hành pháp và hành chính rất mạnh mẽ Trong chương IV của Hiến pháp Việt Nam năm 1946 ghi rõ: Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chính phủ gồm
có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch và Nội các Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng Có thể có Phó Thủ tướng, Chủ tịch nước trực tiếp chủ tọa Hội đồng Chính phủ Quyền hạn, nhiệm vụ của Chủ tịch nước và Chính phủ được quy định trong Hiến pháp thể
hiện quyền tập trung thống nhất, đặc biệt tập trung cao nhất vào Chủ tịch nước Chủ tịch
Hồ Chí Minh được Quốc hội trao trọng trách giữ cương vị nguyên thủ quốc gia trực tiếp điều hành Chính phủ
Chế định về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn tập trung vào Chủ tịch nước, đồng thời
là người trực tiếp đứng đầu điều hành Chính phủ là một đặc trưng tiêu biểu của tổ chức Nhà nước pháp quyền Việt Nam được thực hiện ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời Chế định đó vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng (thông qua nguyên thủ quốc gia) vừa thực hiện quyền lực nhà nước tập trung thống nhất, phát huy được quyền hạn của Chính phủ trong việc tổ chức thực thi có hiệu quả các nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc
Hiến pháp cũng thiết chế nên tổ chức cơ quan Tư pháp gồm Tòa án Tối cao, các Tòa phúc thẩm, các Tòa đệ nhị cấp và Sơ cấp với các nguyên tắc hoạt động cơ bản như: xét xử có phụ thẩm tham gia, "quốc dân thiểu số có thể dùng tiếng nói của mình trước Tòa án", nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc "trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp"
Như vậy là, Hiến pháp Việt Nam năm 1946 đã dựa trên các nguyên tắc xây dựng nhà nước, thể hiện trong Lời nói đầu của Hiến pháp để xác lập chế độ dân chủ nhân dân đầu tiên của nước Việt Nam với những quy định có giá trị pháp lý cao nhất và một bộ máy nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt thực hiện các quyền tự do dân chủ và đoàn kết toàn dân để đưa dân tộc thực hiện sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đến ngày thắng lợi
Lịch sử ra đời của Nhà nước và Hiến pháp Việt Nam là lịch sử của những biến
cố cách mạng vĩ đại, là những thời khắc mà sức mạnh nội lực của dân tộc trỗi dậy
Trang 3619/12/1946) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, cả
dân tộc lại sát cánh cùng Chính phủ kháng chiến bước vào một giai đoạn cách mạng mới, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
1.3.2 Nội dung tư tưởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" với việc tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền nhân dân trong kháng chiến, kiến quốc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" không chỉ thể hiện trong Hiến pháp năm 1946 mà còn được trình bày trong các bài nói, bài viết và trong chỉ đạo thực tiễn ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công Đó là: việc xây dựng một chính quyền cách mạng mạnh mẽ của dân, do dân, vì dân, tập hợp được trí tuệ, sáng suốt và sức mạnh của toàn dân
Tư tưởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" được Hồ Chí Minh sử dụng mà nội dung cốt lõi của nó là yêu cầu bằng hoạt động thực tiễn (cả ở phương diện xây dựng cơ sở pháp lý và tổ chức xây dựng hiện thực) làm cho hệ thống chính quyền thực sự đủ năng lực tổ chức và quản lý điều hành đất nước có hiệu lực, hiệu quả và giải quyết đúng đắn các nhiệm vụ chủ yếu đặt ra cho nhà nước ở mỗi giai đoạn lịch sử
Tư tưởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" đòi hỏi phải căn cứ vào vị trí, vai trò và cấu thành tổ chức của hệ thống chính quyền mà tiến
Trang 37Nền tảng mọi công tác là cấp xã, mà cấp xã nhiều nơi còn xộc xệch, nhiều ủy ban kháng chiến hành chính xã do kỳ hào cũ, hoặc địa chủ, phú nông nắm, công tác sinh hoạt Hội đồng nhân dân không đều, số cán bộ thoát
ly quá nhiều, bộ máy cồng kềnh, nhiều giấy tờ, hình thức
Từ cấp trên xuống cấp dưới, công việc chậm trễ, nhiều khi không ăn khớp
Chúng ta phải sửa chữa các khuyết điểm kể trên, coi trọng và thật sự kiện toàn chính quyền dân chủ nhân dân về các mặt công tác, tổ chức, cán bộ [32, tr.458]
Như vậy, có thể thấy Hồ Chí Minh đề cập đến việc tổ chức xây dựng chính quyền nhân dân rất toàn diện từ yêu cầu phải nắm vững vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính quyền nhân dân đến việc phải tiến hành củng cố chính quyền trên cả ba
phương diện là: công tác, tổ chức và cán bộ Công tác xây dựng chính quyền non trẻ
một mặt phải tiến hành xây dựng mới, mặt khác lại phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại nhưng tiêu cực, yếu kém sớm nảy sinh từ cơ chế tạo lập và sử dụng quyền lực nhà nước
1.3.2.1 Xây dựng một nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân trên nền tảng dân chủ, đoàn kết toàn dân
Trong điều kiện xã hội còn phân chia giai cấp thì vấn đề dân chủ luôn được đặt
ra tồn tại với vấn đề chính quyền Không có một nền dân chủ tồn tại bên ngoài nhà nước Đối với các nhà nước dân chủ thì hình thức pháp lý (ít hoặc nhiều) đều phải phản ánh và duy trì những giá trị dân chủ mà dựa vào đó lợi ích của giai cấp thống trị thực
Trang 38Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân
chủ Cộng hoà và thống nhất độc lập Noi gương cách mạng 1776 của Mỹ, cách mạng Tháng Tám tranh tự chủ chống ngoại xâm Cũng như cách mạng
Hồ Chí Minh hiểu rõ thực chất việc tạo lập và giữ gìn dân chủ là phải đi đôi với xây dựng, củng cố chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân Mối quan tâm đặc biệt của Người là làm sao cho hệ thống các cơ quan của chính quyền mới phải thực sự mạnh mẽ và sáng suốt trong việc sử dụng quyền lực của dân để mưu cầu lợi ích cho dân, cho nước Cùng với việc tạo lập các cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ cộng hòa qua bầu cử dân chủ, lập hiến, lập pháp, xây dựng thể chế về tổ chức hệ thống các cơ quan chính quyền nhà nước, Hồ Chí Minh bằng con đường thư - báo đã được Người sử dụng như một phương tiện trực tiếp, thân tình để chỉ bảo và đặt ra những yêu
cầu cần phải thực hiện trong xây dựng chính quyền nhân dân các cấp Trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, các quan điểm về xây dựng chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt dựa trên nền tảng dân chủ, đoàn kết toàn dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rất đặc sắc:
Trang 39
Nhờ dân ta đoàn kết một lòng và Chính phủ lãnh đạo khôn khéo, mà chúng ta bẻ gãy xiềng xích nô lệ, tranh được độc lập tự do
Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng Nếu không
có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhưng nếu độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật
Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải kết sức tránh [30, tr.56]
Dưới bút pháp giản dị, ngôn ngữ chân tình, chỉ một bức thư với vài dòng bảy tỏ
mà tư tưởng vĩ đại, tình cảm ấm nồng của vị Chủ tịch nước Việt Nam mới đã làm sáng
tỏ biết bao điều về một nhà nước của dân mà trong ấy mối quan hệ nhà nước với dân được xác lập hết sức dân quyền, dân chủ
Với Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng là thành quả quan trọng nhất của cách
mạng tháng Tám được hình thành bởi "nhờ dân ta đoàn kết một lòng và Chính phủ lãnh đạo khôn khéo" Sức mạnh của Chính phủ là nhờ cậy vào đoàn kết toàn dân cũng như
dân cần Chính phủ để có người dẫn đường khôn khéo Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền càng khó hơn Sự đoàn kết giữa nhân dân và chính quyền nhân dân phải tạo thành một khối để bảo vệ nền độc lập dân tộc Hồ Chí Minh và chính quyền nhân dân hiểu rằng độc lập dân tộc là điều kiện cần nhưng chưa đủ Nếu "độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì" cho nên Chính phủ đã hứa với dân "sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc" [30, tr.56] cho
dù kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc phải làm dần dần, không phải công việc nhất thời là song được Cả dân tộc đã tin tưởng vào Hồ Chí Minh và Chính phủ mới vì qua tranh đấu mà nhân dân cảm nhận được Chính phủ Hồ Chí Minh thực sự là chỗ dựa chắc chắn để bảo vệ cho lợi ích dân tộc trong đó có lợi ích của mỗi người Hơn thế nữa, theo
Trang 40
Hồ Chí Minh, mọi người hiểu rằng: "các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để giành việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật" Sự thay đổi về bản chất của chính quyền mới với chính quyền thời thuộc Pháp, Nhật đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng phương pháp so sánh một cách hình ảnh rất tương phản Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân đảm nhận trọng trách gánh việc chung cho dân với một tinh thần đầy trách nhiệm: "việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm việc
gì hại đến dân ta phải hết sức tránh"
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý giải ngắn gọn, súc tích, sâu sắc một vấn đề thuộc loại phức tạp nhất trong mối quan hệ giữa nhà nước và nhân viên nhà nước với nhân dân Đây là vấn đề của tất cả các kiểu nhà nước và không phải ở đâu cũng tìm ra phương án khả dĩ bảo đảm giải quyết, xử lý thành công mối quan hệ này Sau khi khuyên nhủ cán bộ công chức nhà nước phải "ghi nhớ" dù ở cơ quan chính quyền cấp nào cũng đều là công bộc của dân, Hồ Chí Minh đưa ra một yêu cầu "việc gì có lợi cho
dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh" Đây là một yêu cầu
có tính nguyên tắc hoạt động nhà nước và là phương thức đánh giá tính hiệu lực, hiệu
quả cùng sự sáng suốt của chính quyền trong phục vụ nhân dân Lịch sử Chính phủ Việt Nam ghi nhận rằng sự mạnh yếu của hệ thống chính quyền luôn gắn liền với việc thực hiện tốt hoặc chưa tốt yêu cầu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Một phương diện quan trọng trong tư tưởng xây dựng nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân ở Hồ Chí Minh là quyền của nhân dân với việc thay đổi, bãi miễn chính phủ và từng nhân viên nhà nước khi họ làm hại cho dân Trong bài nó chuyện với các đại biểu thân sỹ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, Hồ Chí Minh nói:
Chính phủ dân chủ cộng hòa là gì? là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ Làm việc ngày nay không để thăng quan, phát tài Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ Nhưng khi dân dùng đầy tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi [31, tr.60]