Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu QLNN: "là sự tác động, tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người; duy trì v
Trang 2Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, tháng 11 năm 1946 Quốc hội họp khóa thứ 2 đã thông qua Hiến pháp, bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản: "Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận,
tự do xuất bản " Kể từ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có những bổ sung, sửa đổi các chủ trương, đường lối QLNN đối với xuất bản nhằm phát triển kinh tế - xã hội Hoạt động QLNN bằng pháp luật về xuất bản đã có những đổi mới đáng kể, mang lại những kết quả tích cực, đặc biệt là từ khi Luật xuất bản 1993 có hiệu lực thi hành
và hiện nay là Luật xuất bản 2004 Tuy nhiên, QLNN đối với xuất bản ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế: Mô hình tổ chức và cơ chế chính sách cho hoạt động xuất bản còn nhiều bất cập, hoạt động xuất bản có những khó khăn, thách thức gay gắt, một số nhà xuất bản chỉ chú ý đến lợi ích kinh tế đơn thuần, coi nhẹ chức năng, nhiệm vụ chính trị, văn hóa; xuất hiện một số xuất bản phẩm có nội dung không lành mạnh, không phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam, bị dư luận phê phán; một bộ phận khác hoạt động kém hiệu quả, kém năng động, còn nặng về trông chờ, bao cấp Nạn in lậu, in trái phép chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời, thị trường xuất bản phẩm chưa được quản lý chặt chẽ, hệ thống phát hành xuất bản phẩm Nhà nước không được quan tâm, củng cố đúng mức, đang có nguy cơ bị thu hẹp, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX - Ban
Trang 3thiết vừa mang ý nghĩa lâu dài Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay" để
nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, số công trình nghiên cứu được công bố về quản lý xuất bản không nhiều Hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ do Phân viện Báo chí và tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì tiếp cận từ góc
độ quản lý chung Đó là đề tài: "Đổi mới phương thức xuất bản sách trong điều kiện
kinh tế thị trường" và đề tài: "Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách ở nước ta hiện nay" Luận án phó tiến sĩ của nghiên cứu sinh
Đường Vinh Sường về: "Đổi mới quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các nhà
xuất bản trong bước chuyển sang cơ chế thị trường" Tiến sĩ Vũ Mạnh Chu với đề
tài: "Pháp luật về xuất bản ở Việt Nam, quá trình thực hiện và đổi mới trong điều
kiện cơ chế thị trường định hướng XHCN"
Các công trình trên chỉ mới nghiên cứu những khía cạnh có liên quan tới QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ cả về mặt lý luận và thực tiễn về QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản Có thể nói, luận văn này là công trình đầu tiên được nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện vấn đề tăng cường QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt
Trang 4
Nam hiện nay Điều này chứng tỏ vấn đề đặt ra là cấp thiết, nhưng rất khó khăn và phức tạp
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận của việc QLNN
bằng pháp luật về xuất bản, đánh giá thực trạng của hoạt động này trong những năm vừa qua ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục đích trên, luận văn đặt ra
những nhiệm vụ sau:
+ Xây dựng khái niệm và chỉ ra những đặc điểm của QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản Phân tích vai trò, nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản
ở Việt Nam hiện nay
+ Đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế cơ bản của QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam trong những năm vừa qua và chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế đó
+ Đưa ra những quan điểm có tính định hướng và một số giải pháp cụ thể như: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về xuất bản; kiện toàn và đổi mới phương thức QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản; nâng cao trình độ năng lực của cán bộ; Nhằm tăng cường QLNN bằng Pháp về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động xuất bản gồm 3 lĩnh vực: Xuất bản, in;
phát hành Mỗi lĩnh vực có một vị trí, đặc trưng riêng, song không thể tách rời nhau Bởi thế luận văn phải nghiên cứu việc QLNN bằng pháp luật trên cả ba lĩnh vực, nhưng lấy việc nghiên cứu QLNN bằng pháp luật về xuất bản, trong đó xuất bản sách là trọng tâm
Luận văn giới hạn nghiên cứu QLNN bằng pháp luật về xuất bản kể từ năm
1993 trở lại đây
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quand diểm của Đảng ta về QLNN bằng pháp luật đối với văn hóa nói chung và hoạt động xuất bản nói riêng
Trang 5
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện bằng phương pháp
nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; những phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn; phân tích và tổng hợp lịch sử cụ thể; cùng một số phương pháp khác của khoa học quản lý
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản của quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản Từ đó, luận văn xác định những nội dung cụ thể trong lĩnh vực xuất bản cần có sự QLNN bằng pháp luật
Trên cơ sở đó, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay và đưa ra những đề xuất nhằm tăng cường hơn nữa việc QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho hoạt động nghiên cứu lý luận về QLNN bằng pháp luật về xuất bản
Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, học tập trong hệ thống các trường chính trị Đặc biệt, những kết quả đó có ý nghĩa góp phần tăng cường QLNN về xuất bản ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết
Chương 1
Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam
hiện nay
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước bằng pháp luật
về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước
Trang 6
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải nhờ vào sự hỗ trợ của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và chịu một sự quản lý nào đó
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, có người cho rằng quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua sự
nỗ lực của người khác Có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Người khác lại cho rằng quản lý là sự điều hành, điều khiển, chỉ huy; Tuy nhiên, quan niệm
do các nhà điều khiển học đưa ra là quan niệm được nhiều giới công nhận: Quản
lý là sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa
nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định
Quản lý xã hội là một loại hình của quản lý nói chung Theo quan niệm này thì: Quản lý xã hội là sự tác động có định hướng (chỉ huy, điều hành, hướng dẫn ) lên các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người làm cho chúng vận động và phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục đích và theo ý chí của người quản lý
Trong công tác quản lý nói chung và quản lý xã hội nói riêng, dù có nội dung phức tạp đến đâu cũng luôn phải bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, yếu tố con người Theo Các Mác: "Bản chất của con người là
tổng hòa các mối quan hệ xã hội" Mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người Do đó, đánh giá đúng về con người, hiểu được tâm lý, nguyện vọng của con người thì hoạt động quản lý mới thực hiện được quan điểm
"vì con người, do con người"
Thứ hai, yếu tố chính trị Là việc một người, nhiều người, hay một cơ
quan, một tổ chức đặt ra các mục tiêu, đường lối và tạo ra một môi trường chính trị nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra
Thứ ba, yếu tố quyền uy Đó là tổng thể của quyền lực và uy tín
Quyền lực là công cụ để quản lý, nó bao gồm hệ thống pháp luật, điều lệ,
kỷ luật, kỷ cương; hoạt động theo một nguyên tắc nhất định, có sự phân công
Trang 7
rõ ràng trên cơ sở khoa học quản lý; uy tín là phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, kiến thức, năng lực của người quản lý
Thứ tư, yếu tố thông tin Trong công tác quản lý, thông tin là căn cứ để
ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả
Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu QLNN: "là sự tác động, tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người; duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa"
QLNN có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động của toàn thể bộ máy nhà nước
nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại Như vậy, hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp) đều là hoạt động QLNN
Theo nghĩa hẹp: QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan hành chính Nhà nước (còn gọi là cơ quan quản lý Nhà nước) thực hiên để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước
Như vậy, QLNN là hình thức biểu hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là tính chính trị của QLNN và là quyền lợi chính trị của nhân dân
Từ khái niệm QLNN như trên chúng ta hiểu rằng không phải quản lý nào cũng là QLNN, và Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội không có nghĩa là các cơ quan QLNN điều chỉnh mọi khía cạnh của đời sống xã hội, mà chỉ điều chỉnh các khía cạnh do luật định
Với quan niệm trên, QLNN là một dạng quản lý đặc biệt, thể hiện ở các đặc trưng sau:
Trang 8
Một là: QLNN mang tính chất quyền lực Nhà nước QLNN được thực
hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương đòi hỏi phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người bình đẳng, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái với các quyết định quản lý
Đảng ta đã chỉ rõ: "Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý Pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thống nhất quản lý trong cả nước Tuân theo pháp luật
là chấp hành chủ trương chính sách của Đảng"
Việc quản lý bằng pháp luật đòi hỏi các cơ quan, các cán bộ, công chức trong tổ chức và hoạt động điều hành phải căn cứ vào luật, phải làm theo đúng quy trình pháp luật, phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế và phải kết hợp đúng đắn giữa pháp lý và đạo lý
Muốn tăng cường pháp chế, quản lý đất nước bằng pháp luật, phải có 4 điều kiện:
- Phải xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật
- Phải tuyên truyền, giáo dục pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật
- Phải tiến hành cuộc đấu tranh cương quyết, không khoan nhượng chống các hành vi vi phạm pháp luật ở bất cứ cấp nào, cương vị nào
- Phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ ba loại biện pháp là: hành chính, kinh
tế, giáo dục
Pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước Vì vậy, để QLNN đối với xã hội có hiệu quả thì pháp luật phải đúng đắn Nghĩa là pháp luật phải xuất phát từ đường lối chính trị trong từng thời kỳ, phải phù hợp với các quy luật khách quan, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước
Hai là: QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh là chủ yếu Tổ chức là
một khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa con người, giữa các tập thể để thực hiện một quá trình quản lý xã hội Tổ chức được hình thành do nhu cầu quản lý, nó phải hoạt động và hoạt động có hiệu quả Trong QLNN chức năng tổ chức là quan trọng, vì không có tổ chức thì không quản lý được Nhà
Trang 9
nước phải tổ chức hợp lý để mỗi người đều có một vị trí tích cực và đóng góp đối với xã hội Lênin đã từng viết: "Để quản lý tốt cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn" [18, tr.101]
QLNN nhằm tác động, điều chỉnh bằng pháp luật và các quyết định, quản
lý dưới hình thức các quy chế, tiêu chuẩn, biện pháp; nhằm tạo sự phù hợp giữa các chủ thể và khách thể quản lý, tạo sự cân bằng, cân đối giữa các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
Ba là: QLNN mang tính khoa học, kế hoạch Hoạt động QLNN là hoạt
động mang tính chủ quan của con người, nhưng dựa trên những yêu cầu khách quan Vì vậy, QLNN phải mang tính khoa học, chủ động, sáng tạo trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ chức lại nền sản xuất xã hội và cuộc sống của con người trên địa bàn mình theo
sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Trong QLNN được quyền năng động, sáng tạo để tổ chức thực hiện pháp luật, nhưng không trái với đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước QLNN cũng cần phải có mục tiêu chiến lược, có chương trình, kế hoạch để thực hiện mục tiêu Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan QLNN phải có kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm Có chỉ tiêu định hướng chủ yếu, có biện pháp cân đối để thực hiện chỉ tiêu, để hoàn thành có hiệu quả các chương trình mục tiêu chiến lược của nhà nước
Bốn là: Hoạt động QLNN mang tính liên tục và ổn định Sự tác động của
QLNN phải thực hiện liên tục, thường xuyên, các quyết định QLNN phải tương đối ổn định, tránh sự thay đổi quá nhanh chóng và phải được giữ gìn Đây là một đặc điểm quan trọng thể hiện tính trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội, với nhân dân Nhà nước là người thay mặt cho nhân dân, là công cụ mạnh mẽ của nhân dân lao động thực hiện quyền lực chính trị Do đó, mọi quyết định quản lý phải phù hợp với lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Chỉ như vậy và khi đạt được như vậy thì các quyết định quản lý nhà nước mới có hiệu lực và hiệu quả, mới trở thành hiện thực cuộc sống
1.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản
Trang 10
Trong quá trình thực hiện quản lý, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau Mỗi một công cụ có vai trò, vị trí độc lập tương đối và được sử dụng phù hợp với hoàn cảnh, thời điểm nhất định của hoạt động quản lý Hiến pháp 1992 của nước ta đã ghi nhận: "Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách " [35, tr.22] Như vậy Hiến pháp cũng đã công nhận có nhiều công cụ QLNN Tuy nhiên, với những đặc thù riêng của mình, pháp luật có khả năng triển khai trên quy mô rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách có hệ thống, nhanh và hiệu quả nhất Quyền lực của Nhà nước trong quản lý xã hội đã được ghi nhận và pháp luật Dựa trên cơ
sở pháp luật, Nhà nước phát huy quyền lực, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, cơ quan, nhân viên nhà nước và mọi công dân Pháp luật còn quy định nguyên tắc tổ chức, hoạt động, quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan, nhân viên nhà nước, trên cơ sở đó Nhà nước tự hoàn thiện mình Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: "Trăm điều phải có thần linh pháp quyền" [34, tr.438]
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: pháp luật là công cụ quan trọng nhất của QLNN Quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của pháp luật Điều 12 - Hiến pháp 1992 của nước ta khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật" [35, tr.17]
Để dùng pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, Nhà nước phải xây dựng, ban hành ra pháp luật Có thể nói, xây dựng pháp luật là: "mắt khâu đầu tiên của cơ chế QLNN bằng pháp luật" [22, tr.301] Sau đó, Nhà nước phải tổ chức thực hiện pháp luật, tức là các cơ quan Nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật
để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, của công dân nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đề ra Và cuối cùng, Nhà nước phải tiến hành các hoạt động bảo vệ pháp luật, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh trong đời sống, nhằm giữ gìn an ninh, trật tự xã hội
QLNN bằng pháp luật được thực hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống Trong mỗi một lĩnh vực quản lý, Nhà nước tác động vào những nhóm quan hệ xã
Trang 11
hội cơ bản bằng hệ thống pháp luật tương ứng Bởi vậy, QLNN bằng pháp luật
về xuất bản cũng chỉ là một nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp
Theo nghĩa rộng: QLNN bằng pháp luật về xuất bản và toàn bộ hoạt
động của bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật xuất bản để điều chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, bảo đảm cho hoạt động xuất bản phát triển đúng định hướng và có hiệu quả Cụ thể là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan quyền lực nhà nước; cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan
tư pháp
Đối với cơ quan quyền lực: Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật xuất bản, như: Luật xuất bản; các nghị quyết về xuất bản Đồng thời, dựa trên các quy định của pháp luật, Quốc hội thực hiện các hoạt động QLNN đối với xuất bản, như: thực hiện quyền quyết định, giám sát tối cao đối với hoạt động xuất bản; quyết định các kế hoạch và chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản trong phạm vi cả nước
Đối với cơ quan hành chính: Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước Để QLNN bằng pháp luật về xuất bản, Chính phủ đã ban hành các văn bản dưới luật như: Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị về xuất bản Bộ Văn hóa - Thông tin chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện thống nhất QLNN về hoạt động xuất bản; các bộ, cơ quan ngang bộ phối với Bộ Văn hóa - Thông tin thực hiện QLNN về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền; ủy ban cấp tỉnh thực hiện QLNN về hoạt động xuất bản tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ
Đối với cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân tham gia QLNN về xuất bản thông qua hoạt động điều tra để xử lý hành vi vi phạm pháp luật xuất bản gây hậu quả nghiêm trọng đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tòa án nhân dân xét xử các hành vi vi phạm pháp luật xuất bản đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và các tranh chấp về quyền tác giả theo quy định của pháp luật
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm QLNN bằng pháp luật về xuất bản như sau:
Trang 12
- Theo nghãi rộng: QLNN bằng pháp luật về xuất bản là toàn bộ hoạt
động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật xuất bản
để điều chỉnh hoạt động xuất bản, giữ gìn trật tự, kỷ cương trong hoạt động xuất bản, bảo vệ pháp luật xuất bản, nhằm đạt được các mục tiêu trong hoạt động xuất bản mà Nhà nước đã đề ra
- Theo nghĩa hẹp: QLNN bằng pháp luật về xuất bản là hoạt động của
Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và các cơ quan quản
lý chuyên môn về xuất bản trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xuất bản (văn bản dưới luật), dựa trên cơ sở pháp luật để quản lý hoạt động xuất bản như: đăng ký kế hoạch xuất bản; nhận, đọc, kiểm tra nội dung xuất bản phẩm lưu chiểu; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản đồng thời thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạmpl trong hoạt động xuất bản
Như vậy, trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản theo nghĩa hẹp thì chủ thể quản lý hẹp hơn nhiều so với QLNN bằng pháp luật về xuất bản theo nghĩa rộng Để nghiên cứu và đưa ra các giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật
về xuất bản một cách toàn diện dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, khái niệm QLNN bằng pháp luật về xuất bản xin được hiểu theo nghĩa rộng
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là mở đường cho hoạt động
sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học để công bố dưới hình thức xuất bản
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ xuất bản rất đa dạng, phong phú và phức tạp Nhu cầu về tự do, sáng tạo ra các giá trị khoa học, văn học, nghệ thuật là nhu cầu tự nhiên Các sản phẩm sáng tạo có giá trị chỉ được thực hiện khi tư duy trong tình trạng hưng phấn cao Mọi sự gò bó và khống chế là ngăn chặn hoạt động sáng tạo Nhưng sự an toàn của tự do ngôn luận, của tự do
tư duy sáng tạo, của bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm phải được bảo đảm bằng pháp luật Đòi hỏi này bắt nguồn từ quyền con người, với tư
Trang 13
cách là chủ thể sáng tạo và chủ thể hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần Nhà nước khẳng định các giá trị xã hội của quyền con người, nên đã ghi nhận và thể chế hóa các quyền con người, quyền công dân và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện Do được ghi nhận một cách chính thức các giá trị
về quyền tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, sáng tác, bình đẳng trong công bố
và phổ biến tác phẩm, pháp luật trở thành phương tiện để các tác giả bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình
Tuy nhiên, mọi sự tự do đều phải là tự do trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước ta không chấp nhận thứ tự do hỗn loạn, đặc biệt là tự do "loạn ngôn",
"loạn khẩu" Công dân nói chung, văn nghệ sĩ, trí thức và những người hoạt động trong lĩnh vực xuất bản nói riêng, được giải phóng tư duy, hoàn toàn tự do sáng tạo khi điều chỉnh được hành vi của mình trong khuôn khổ pháp luật
Nhà nước quản lý hoạt động của tư duy sáng tạo trong xuất bản bằng pháp luật, là khuyến khích tài năng sáng tạo và đề cao các tác phẩm có giá trị về khoa học, về nghệ thuật Chính từ cơ chế thị trường được pháp luật thừa nhận, là nơi đánh giá công minh các tác phẩm ở đó, công chúng với tư cách là người tiêu dùng sẽ là thước đo về năng lực sáng tạo của tác giả qua tác phẩm
QLNN bằng pháp luật về văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng là sự bác
bỏ công khai và chính thức các "ông quan văn nghệ" Văn nghệ chân chính đòi hỏi sự nhìn nhận, và đánh giá tác phẩm ở thực tế khách quan của nó, không thừa nhận việc "nâng quan điểm", "nâng lập trường" bởi ý chí cá nhân Các vi phạm pháp luật được quy kết, phải thể hiện ở tác phẩm, có viện dẫn chính xác các điều khoản của luật pháp Như vậy, mới là tự do của pháp luật, mới khuyến khích tự
do ngôn luận, tự do sáng tạo trong xuất bản
Hơn bất kỳ phương tiện nào, pháp luật là phương tiện chứa đựng trong mình nó sự kết hợp giữa năng động sáng tạo và kỷ cương kỷ luật, giữa thuyết phục và cưỡng chế, giữa tập trung và dân chủ Chính vì vậy, nó tạo ra sự ổn định cho tự do sáng tạo, bảo vệ, kiểm soát các hoạt động tự do sáng tạo, đồng thời ngăn chặn những hành vi xâm hại tới quyền tự do sáng tạo, đồng thời ngăn chặn những hành vi xâm hại tới quyền tự do sáng tạo
Trang 14
Thứ hai, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là bảo tồn, phát triển nền văn
hóa dân tộc, hiện đại, nhân văn; tiếp thu tinh hoa văn hóa và tiến bộ và tiến bộ về khoa học - công nghệ của nhân loại
Văn minh của loài người được nhân loại đánh giá ở các nền văn hóa có bản sắc, ở các cuộc cách mạng khoa học đã diễn ra trong lịch sử Mỗi dân tộc có cội nguồn, có truyền thống riêng, được phản chiếu lên tấm gương văn hóa Nó là gia sản quá khứ, tạo nên dòng chảy cho hiện tại và tương lai dân tộc Đảng và Nhà nước ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Vì vậy, việc bảo tồn, kế thừa, phát triển những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc là quốc sách, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp 1946,
có nội dung trái với thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc, nhằm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc
Nhu cầu giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa của nhân loại là nhu cầu của bản thân nền văn hóa dân tộc Mặt khác, trong thời đại bùng
nổ thông tin hiện nay, với sự phát triển nhảy vọt của Internet, của khoa học và công nghệ, thì việc nhận thức và ứng dụng các tiến bộ mới của khoa học là đòi hỏi bức thiết Mỗi dân tộc phải biết làm giàu bởi trí thức của nhân loại Điều đó chỉ được thực hiện khi nhà nước trao cho các chủ thể được xác định các quyền
và nghĩa vụ trong các quan hệ quốc tế về xuất bản
Như vậy, Nhà nước với công cụ hàng đầu để quản lý xã hội là pháp luật
đã tạo ra cơ chế và thiết chế nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học và công nghệ mới, tiến bộ của nhân loại Các chủ thể xuất bản, chủ thể quản lý, với các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định, góp phần đảm bảo cho ý chí của Nhà nước được thực hiện trong thực tế về
Trang 15
việc xây dựng một nền văn hóa mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, loại trừ và ngăn chặn những độc hại về văn hóa Là phương tiện điều chỉnh có hiệu lực, pháp luật tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động văn hóa phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở ra cơ hội cho sự hòa nhập giữa các nền văn hóa, loại trừ khả năng hòa tan và đổi màu trong quá trình hòa nhập
Thứ ba, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là quản lý thuộc lĩnh vực văn
hóa - tư tưởng, đồng thời là hoạt động sản xuất kinh doanh
Với thuộc tính là hoạt động văn hóa - tư tưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất bản chịu sự tác động đồng thời của hệ thống các quy luật phát triển văn hóa và hệ thống các quy luật kinh tế Do tính chất phức tạp như vậy, nên yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật được đặt ra bức thiết hơn QLNN bằng pháp luật phải mở đường cho tự do sáng tạo, đồng thời phải ngăn chặn những độc hại, tiêu cực do xuất bản gây ra đối với văn hóa, tư tưởng; phải định hướng cho xuất bản phát triển theo đúng quy luật kinh tế, ngăn ngừa những tác hại từ mặt trái của cơ chế thị trường Trong QLNN bằng pháp luật, nếu chúng ta coi xuất bản như các tổ chức kinh tế đơn thuần sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động xuất bản bị thương mại hóa, chỉ chạy theo lợi nhuận kinh doanh; ngược lại, nếu chúng
ta chỉ đề cao vai trò của xuất bản ở phương diện văn hóa, tư tưởng sẽ dẫn đến khả năng bất chấp quy luật kinh tế Như vậy, hoạt động xuất bản sẽ phá sản trong điều kiện kinh tế thị trường
Có thể nói, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là quản lý hoạt động kinh
tế trong văn hóa, tư tưởng, đồng thời quản lý hoạt động văn hóa, tư tưởng trong
cơ chế thị trường Đó là hai mặt của một số vấn đề phải được quản lý một cách hài hòa, đảm bảo cho xuất bản hoạt động đúng quy luật, phát triển theo trật tự của pháp luật
1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong QLNN đối với xuất bản
Trang 16
QLNN bằng pháp luật luôn luôn là phương tiện triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong QLNN đối với bất kỳ lĩnh vực nào QLNN bằng pháp luật về xuất bản triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong QLNN về xuất bản
Tương ứng với từng thời kỳ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, Đảng ta có những chủ trương, đường lối trong QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản Sau khi những chủ trương, đường lối ra đời, các văn bản pháp luật của Nhà nước sẽ thể chế hóa và ghi nhận các chủ trương, đường lối đó vào trong các chế định, các quy định pháp luật Khi các chủ trương, đường lối của Đảng đã thể chế hóa vào pháp luật, một mặt, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện chúng trong thực tế bằng các hoạt động chuyên môn Mặt khác, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ các quy định của pháp luật đó thông qua các hoạt động thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản Như vậy, các chủ trương, đường lối của Đảng trước hết được cụ thể hóa, ghi nhận vào pháp luật, rồi được tổ chức thực hiện trong thực tế, đồng thời được bảo vệ bằng các hoạt động xử lý hành vi vi phạm, những quy định pháp luật đã cụ thể hóa, những chủ trương, đường lối đó Khi chủ trương, đường lối của Đảng thay đổi, thì hoạt động QLNN bằng pháp luật lại bắt đầu thay đổi từ khâu sửa đổi, bổ sung các văn bản, quy phạm pháp luật có liên quan, sau đó các hoạt động QLNN khác mới tiếp tục thay đổi theo
Lịch sử QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản đã chứng minh điều đó Liền sau khi cách mạng tháng Tám thành công, quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản
Tháng 11-1946, Quốc hội họp khóa thứ 2 đã thông qua Hiến pháp, bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản "công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản "
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng, củng cố miền
Trang 17
Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Từ đó, chế độ tự do xuất bản được thi hành rộng rãi Để hợp thức hóa chế độ tự do xuất bản đã được thi hành trong 12 năm (1945-1957), ngày 18-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc luật số 003/SLt về chế độ xuất bản, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho
sự phát triển nền xuất bản Việt Nam Từ khi có sắc luật 003/SLt, hoạt động xuất bản luôn phát triển đúng định hướng của Đảng, từng bước thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ xuất bản phẩm của nhân dân, góp phần đắc lực vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế - xã hội, để đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hòa nhập với xu thế phát triển của thời đại, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới Hiến pháp
1992 và các đạo luật lần lượt ra đời, thể chế hóa nghị quyết Đại hội VI Trong không khí lập pháp đó, Luật xuất bản đầu tiên đã được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 07-7-1993
Việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là tin học đã dẫn đến sự phát triển nhảy vọt trong ngành in và xuất bản với sự đa dạng của loại hình xuất bản phẩm, nhiều quan hệ xã hội mới được hình thành trong hoạt động xuất bản Sách xấu xuất hiện và lưu hành tràn lan trên thị trường, tình trạng thương mại hóa đã trở thành xu thế trong hoạt động xuất bản, gây tác hại không nhỏ tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm và đời sống tinh thần của nhân dân Trong khi đó các cơ quan Nhà nước liên quan buông lỏng quản lý, thiếu những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn và lập lại trật tự Để thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động xuất bản thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất bản phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý xuất bản và chất lượng xuất bản phẩm Bên cạnh đó, trong xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay, việc giao lưu
Trang 18Thứ hai, là phương tiện tạo lập môi trường tự do sáng tạo, bình đẳng cho các chủ thể trong hoạt động xuất bản
Với đặc trưng của lao động sáng tạo nói chung, đặc biệt là lao động sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thì nhu cầu về tự do sáng tạo, bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm là một đòi hỏi khách quan Tuy nhiên, tự do và bình đẳng trong sáng tạo phải vì lợi ích xã hội, vì lợi ích cộng đồng, không thể có tự do vượt quá giới hạn cho phép Vì vậy, tự do và bình đẳng trong hoạt động sáng tạo, công bố và phổ biến tác phẩm là tự do trong khuôn khổ pháp luật ở đó, các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản sẽ được làm tất cả những gì pháp luật cho phép Pháp luật quy định những gì được phép làm đối với các cơ quan nhà nước, nhằm ngăn chặn các hành vi lạm dụng, xâm hại đến quyền tự do, bình đẳng Đồng thời, pháp luật đề ra các nghĩa vụ tương ứng cho các chủ thể của hoạt động sáng tạo và quản lý Đó là hành lang pháp lý, là
"cái khung" do pháp luật tạo lập Tư tưởng tự do ngôn luận của Hiến pháp Việt Nam, được thể hiện trong pháp luật xuất bản bằng chế độ không kiểm duyệt tác phẩm trước khi in là ý tưởng nhân văn sâu sắc, mở đường cho tư duy sáng tạo Như vậy, QLNN bằng pháp luật tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho tác giả và các tổ chức tự do sáng tạo, bình đẳng trong hoạt động xuất bản
Thứ ba, bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học
Trang 19
Hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa tinh thần được xã hội xếp vào loại lao động đặc biệt Các quốc gia trên thế giới đều coi các sản phẩm của trí tuệ là tài sản Vì vậy, các tác giả được bảo hộ quyền sở hữu Berne là công ước quốc tế đầu tiên về quyền tác giả, dưới sự điều hành của tổ chức quyền sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ra đời từ năm 1886 (là tổ chức của Liên hợp quốc từ 1974) để bảo vệ quyền tác giả thuộc gần 100 nước thành viên
ở Việt Nam, pháp luật là phương tiện bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người bằng lao động của mình đã sáng tạo ra tác phẩm Các quy định về quyền của người sáng tạo, người quản lý và cá nghĩa vụ tương ứng phát sinh từ các quyền đó, cùng với các quy định về cơ chế đảm bảo thực hiện, là cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ quyền sở hữu tác phẩm Các tác giả được Nhà nước tạo phương tiện để đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của mình Các tranh chấp về quyền tác giả, các hành vi xâm hại lợi ích vật chất và tinh thần của tác giả được xét xử tại Tòa án dân sự Như vậy, thông qua việc bảo hộ quyền tác giả, Nhà nước tiếp tục khuyến khích năng lực sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức để có nhiều sản phẩm văn hóa tinh thần có giá trị phục vụ xã hội
Thứ tư, QLNN bằng pháp luật về xuất bản chống thương mại hóa xuất bản, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng xuất bản phẩm
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động xuất bản đã khởi sắc và
có một diện mạo mới, phục vụ tốt đời sống tinh thần của nhân dân với những xuất bản phẩm phong phú về nội dung và hình thức Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã thúc ép các chủ thể xuất bản chỉ chú ý tới các xuất bản phẩm
có khả năng thanh toán, đẩy hoạt động xuất bản tìm kiếm các khả năng thanh toán có lợi nhuận cao, không lường đến hậu quả chính trị, xã hội có thể xảy ra QLNN bằng pháp luật về xuất bản là phải hạn chế đến mức tối đa các hoạt động xuất bản chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, đặc biệt là phải ngăn chặn xu hướng thương mại hóa hoạt động xuất bản Nếu chúng ta quản lý tốt hoạt động xuất bản, ngăn chặn được xu hướng thương mại hóa sẽ bảo vệ được lợi ích của người tiêu dùng xuất bản phẩm Họ được hưởng thụ các xuất bản phẩm có chất lượng cao trong nội dung và hình thức Như vậy, pháp luật phải quy định cụ thể,
Trang 20
rõ ràng các tiêu chuẩn về nội dung kỹ thuật, mỹ thuật của xuất bản phẩm Riêng nội dung, phải có những điều khoản cấm đoán nhằm ngăn chặn những xuất bản phẩm độc hại, không có lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Thứ năm, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong quá trình phát triển đất nước
Hoạt động xuất bản là lĩnh vực rất nhạy cảm về mặt chính trị, xã hội, là phương tiện lợi hại trong cuộc đấu tranh giai cấp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc đảm bảo nội dung xuất bản phẩm lành mạnh, phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam là rất cần thiết
Các sản phẩm văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng thuộc hàng hóa công cộng, được mọi tầng lớp nhân dân tiêu dùng, nó tác động trực tiếp đến ý thức, tình cảm, suy nghĩ của từng người dân Vì vậy, bằng những xuất bản phẩm của mình, hoạt động xuất bản chuyển tải tới công chúng các ý tưởng cao cả của giai cấp, về việc xây dựng một xã hội tương lai với một bộ máy chính quyền vững mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và thịnh vượng Thông tin và giải đáp kịp thời các vấn đề quốc gia và quốc tế Như vậy, hoạt động xuất bản đã góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong quá trình phát triển đất nước
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của xuất bản, Luật xuất bản 2004 đã đề
ra những chính sách cụ thể, như: Chính sách đặt hàng; trợ cước vận chuyển; mua bản thảo những tác phẩm có giá trị Tất cả những chính sách đó nhằm đảm bảo cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu được mọi chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, hòa bình,
ổn định
Thứ sáu, góp phần thúc đẩy quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế
Thực hiện chính sách mở cửa hội nhập và hợp tác quốc tế với phương châm: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã thiét lập quan
hệ với nhiều nước, vùng lãnh thổ và tổ chức trên thế giới Để quá trình hợp tác, hội nhập quốc tế diễn ra thuận lợi, đạt mục đích đặt ra một cách tốt nhất, hai bên đều phải tìm hiểu truyền thống văn hóa, mọi lĩnh vực đời so óng xã hội của nhau
Trang 21
và cách tìm hiểu đạt hiệu quả cao và phổ biến là trao đổi các xuất bản phẩm cho nhau QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam có vai trò giải quyết vấn đề này thông qua việc xác định rõ các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài được xuất bản các tài liệu, tác phẩm tại Việt Nam; điều kiện để các nhà xuất bản nước ngoài đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam; quy định rõ các thủ tục về xuất nhập khẩu và xuất bản phẩm
Nhằm giới thiệu văn hóa Việt Nam với thế giới, góp phần tuyên truyền đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, Nhà nước ta khuyến khích các nhà xuất bản, các cơ sở phát hành xuất bản phẩm xuất khẩu xuất bản phẩm ra nước ngoài Việc xuất khẩu các xuất bản phẩm hợp pháp ra nước ngoài không phải xin phép các cơ quan QLNN về hoạt động xuất bản Đây là một điểm mới
cơ bản nhằm đưa hoạt động xuất bản phát triển, góp phần thúc đẩy quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế
Như vậy, QLNN bằng pháp luật về xuất bản vừa có vai trò tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất bản, các tổ chức, cá nhân nước ngoài làm thủ tục đặt văn phòng đại diện, xuất bản các tài liệu, tác phẩm tại Việt Nam, đồng thời giảm bớt các thủ tục hành chính để việc xuất khẩu các xuất bản phẩm của Việt Nam ra nước ngoài đạt hiệu quả cao Điều đó có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế của Việt Nam diễn ra thuận lợi
1.2 Nội dung và các nguyên tắc của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Nội dung của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản
Nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản là cơ sở lý luận quan trọng để đánh giá thực trạng QLNN bằng pháp luật về xuất bản Vì vậy, nghiên cứu lý luận về QLNN bằng pháp luật về xuất bản không thể không nghiên cứu nội dung này Nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản bao gồm nhiều vấn đề, nhưng tựu chung lại có 3 vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, ban hành các quy phạm pháp luật về xuất bản Đây là một nội
dung cơ bản của QLNN bằng pháp luật về xuất bản vì các văn bản pháp luật xuất
Trang 22cơ bản của quá trình xây dựng pháp luật xuất bản Đó là, nguyên tắc chính trị -
xã hội, như: nguyên tắc không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nguyên tắc khách quan, nguyên tắc pháp chế XHCN hay các nguyên tắc mang tính kỹ thuật trong soạn thảo, như: tính xác định của cách thức diễn đạt, bảo đảm rõ ràng
và dễ hiểu của ngôn ngữ; điều chỉnh đầy đủ các quan hệ xã hội trong lĩnh vực tương ứng; tính cụ thể;
Như vậy, hoạt động ban hành pháp luật xuất bản phải thể chế hóa được các chủ trương, đường lối của Đảng, phải phù hợp với thực tiễn, phản ánh được
xu thế vận động của các quy luật khách quan, bảo đảm tính đồng bộ trong nội tại
hệ thống quy định của pháp luật xuất bản, tính thống nhất với cả hệ thống pháp luật của Nhà nước; bảo đảm điều chỉnh toàn diện, đầy đủ các quan hệ cơ bản trong hoạt động xuất bản; hệ thống các quy định phải cụ thể; ngôn ngữ diễn đạt
rõ ràng, chính xác, đồng thời hệ quy định cũng phải bảo đảm tính tương đối ổn định; các văn bản pháp quy phải kịp thời điều chỉnh những quan hệ xã hội mới phát sinh trong lĩnh vực xuất bản
Trong hoạt động ban hành các văn bản pháp luật xuất bản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trước hết, phải nói đến hoạt động ban hành các Luật, các Nghị quyết về tổ chức và hoạt động xuất bản của Quốc hội và ủy ban thường vụ Quốc hội, như: Luật xuất bản 1993; Luật xuất bản 2004 Tiếp theo là việc ban hành các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; các Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ nhằm cụ thể hóa các quy định trong các luật về tổ chức
và hoạt động xuất bản Sau đó các bộ, các cơ quan ngang bộ ban hành các thông
tư, bộ trưởng ban hành các quyết định, chỉ thị để điều chỉnh các quan hệ cụ thể
Trang 23
trong lĩnh vực xuất bản Ngoài ra, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành các Nghị quyết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân ban hành các quyết định để giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực xuất bản
Thứ hai, các cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật xuất bản Các cơ quan này bao gồm:
+ Hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với mọi hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước
+ Hoạt động của Chính phủ, UBND cấp tỉnh, Bộ Văn hóa thông tin; Sở Văn hóa thông tin trong: quản lý, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản; quản lý việc thực hiện kế hoạch xuất bản; lưu chiểu, kiểm tra lưu chiểu; tổ chức nhân sự
Có thể nói, trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản, hoạt động xây dựng pháp luật là hết sức cần thiết và quan trọng Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là pháp luật xuất bản được thực hiện trong thực tế đời sống xã hội có đạt hiệu quả cao hay không Lênin từng khẳng định: "Sự quan trọng của pháp luật không phải
ở chỗ chúng được ghi trên giấy, mà là ở chỗ được đem ra thi hành [32, tr.31] Pháp luật được thi hành là một trong những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng một nền pháp chế, vì một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng một nền pháp chế là pháp luật phải được thực hiện hóa trong đời sống xã hội
Tổ chức thực hiện pháp luật quan trọng không chỉ ở chỗ bảo đảm đưa pháp luật vào cuộc sống, mà còn qua đó để kiểm nghiệm tính đúng đắn, phù hợp thực tiễn khách quan của hệ thống các quy định pháp luật Chính vì vậy, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật xuất bản là cơ sở quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật xuất bản trong giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước
Tổ chức thực hiện pháp luật xuất bản có hiệu quả là phải kịp thời đưa toàn bộ nội dung, mục đích, nhiệm vụ được quy định trong pháp luật xuất bản vào cuộc sống, nói một cách khái uát hơn là phải kịp thời đưa chủ trương, đường lối của Đảng đối với hoạt động xuất bản vào thực tiễn cuộc sống với một chi phí tiết kiệm nhất Muốn đạt được mục đích trên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng; nắm vững những quy
Trang 24
định của pháp luật, đồng thời phải khẩn trương, linh hoạt đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống với thái độ công tâm, nhiệt tình, có trách nhiệm Có như vậy, QLNN bằng pháp luật về xuất bản mới có cơ sở tiến hành trôi chảy, có hiệu quả
Tổ chức thực hiện pháp luật xuất bản của các cơ quan QLNN có thẩm quyền là khâu trung tâm trong quá trình QLNN về xuất bản, là cầu nối giữa quy định của pháp luật xuất bản với các quan hệ xuất bản phát sinh trong đời sống xã hội Vì vậy, hiệu lực, hiệu quả của tổ chức thực hiện pháp luật xuất bản không chỉ phụ thuộc vào hệ thống cơ quan, cơ chế hoạt động, con người của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà còn phụ thuộc vào sự phù hợp của hệ thống quy định pháp luật xuất bản với thực tiễn xã hội
Thứ ba, hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật xuất bản Nói cách khác là hoạt động bảo vệ pháp luật xuất bản
Bảo vệ pháp luật nói chung, là hoạt động của các cơ quan: Viện kiểm sát nhân dân; Tòa án nhân dân, cơ quan công an, thanh tra Hoạt động của các cơ quan này nhằm đấu tranh, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật, bảo
vệ lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của công dân
Trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản, hoạt động bảo vệ pháp luật được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Bảo vệ pháp luật là hoạt động nhằm phát hiện, đấu
tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật xuất bản của các cơ quan nói trên
Theo nghĩa hẹp: Là hoạt động thanh tra việc xuất bản, in, phát hành;
thanh tra việc thi hành Luật xuất bản; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật xuất bản do các cơ quan quản lý hành chính trong lĩnh vực này tiến hành
Để đảm bảo chức năng bảo vệ pháp luật trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản, các hoạt động thanh tra, xử lý các vi phạm pháp luật xuất bản phải
Trang 251.2.2 Các nguyên tắc các quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
Qua nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và các văn bản pháp luật xuất bản, chúng tôi thấy QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, QLNN bằng pháp luật về xuất bản phải đảm bảo quyền tự do sáng tạo, công bố, phổ biến xuất bản phẩm
Quyền tự do sáng tạo, công bố, phổ biến xuất bản phẩm là quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp 1992 ghi nhận: QLNN bằng pháp luật
về xuất bản bản tạo lập một hành lang, một môi trường an toàn, thuận lợi cho công dân, các tổ chức tự do sáng tạo, công bố, phổ biến xuất bản phẩm, đồng thời, nhà nước bảo vệ môi trường tự do cho hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, công bố và phổ biến xuất bản phẩm Tuy nhiên, QLNN bằng pháp luật về xuất bản phẩm đảm bảo sự tự do xuất bản là tự do trong khuôn khổ pháp luật, những hoạt động sáng tạo, công bố, phổ biến xuất bản phẩm trái với quy định của pháp luật đều phải có những biện pháp, chế tài xử lý thỏa đáng
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản khẳng định: "Bảo đảm tự do, dân chủ cho mọi sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật, tạo điều kiện làm việc thuận lợi để phát huy hiệu quả của lao động nghệ thuật Văn nghệ sĩ nêu cao trách nhiệm trước nhân dân, trước Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội" [21, tr.115]
Khi thực hiện nguyên tắc này, các chủ thể của QLNN cần đề phòng hai khuynh hướng, tư tưởng lệch lạc sau:
Trang 26
- Coi pháp luật là mục đích thay vì nhu cầu xuất hiện và tồn tại của nó chỉ là phương tiện Như vậy, khi pháp luật trong tay những người quản lý sẽ không kích thích, mở đường, tạo điều kiện và bảo vệ quyền tự do sáng tạo mà nó
sẽ khống chế tự do sáng tạo
- Đề cao đặc trưng của lao động sáng tạo, đặt hoạt động này ra ngoài pháp luật Như vậy, sẽ không lường hết được tác hại của những sản phẩm tinh thần trong đời sống xã hội, do tự do sáng tạo ngoài khuôn khổ pháp luật mang lại
Thứ hai, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng trong hoạt động xuất bản
QLNN bằng pháp luật về xuất bản phải đảm bảo cho các tổ chức và cá nhân
có quyền bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm của mình, đồng thời phải chịu trách nhiệm về tác phẩm của mình trước pháp luật
QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở đây phải có các yêu cầu cơ bản sau:
- Các thủ thể xuất bản đều được pháp luật trao cho các quyền nhất định, trong đó có những quyền giống nhau và có những quyền khác nhau do tính chất, đặc điểm hoạt động của các chủ thể quy định Vì vậy, mọi nhà xuất bản chỉ được phép xuất bản những xuất bản phẩm đã đăng ký và được cơ quan QLNN có thẩm quyền cho phép Mọi cơ sở in, tổ chức phát hành chỉ được phép kinh doanh những mặt hàng đã đăng ký và được cơ quan QLNN có thẩm quyền cho phép
- Quan niệm bảo thủ độc quyền trong xuất bản Xu hướng này cho rằng trong hoạt động xuất bản không thể có nhiều thành phần kinh tế, mà duy nhất chỉ
có cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội mới có quyền hoạt động xuất bản Khắc phục được quan niệm này sẽ khắc phục được tình trạng kìm hãm sự phát triển, thủ tiêu yếu tố cạnh tranh tích cực của cơ chế thị trường
Thứ ba, bảo đảm định hướng XHCN đối với xuất bản trong nền kinh tế thị trường
Định hướng XHCN trong xuất bản là định hướng nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, tư tưởng, khoa học và nghệ thuật của xuất bản phẩm, với chi phí thấp nhất, hiệu quả nhanh nhất để từng bước thỏa mãn nhu cầu đa dạng và phong phú của nhân dân, góp phần mở rộng giao lưu với các
Trang 27Trong nền kinh tế thị trường, kế hoạch xuất bản là kế hoạch từ thị trường, của thị trường Nhưng kế hoạch xuất bản không thể là phép cộng của mọi nhu cầu và thị hiếu bạn đọc Chỉ những nhu cầu phổ biến, lành mạnh và tiến bộ thể hiện xu hướng phát triển, phù hợp với định hướng XHCN mới nằm trong kế hoạch xuất bản Các loại thị hiếu "rẻ tiền", trái với truyền thống văn hóa Việt Nam, không phù hợp với quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước thì các cơ quan QLNN có thẩm quyền phải loại bỏ trong kế hoạch xuất bản
- Khai thác triệt để những mặt tích cực của kinh tế thị trường nhằm phát triển xuất bản Điều tiết, ngăn ngừa để hạn chế tối đa mặt trái của cơ chế thị trường tác động vào xuất bản Như vậy mới có thể giữ vững được định hướng xuất bản
Thực hiện nguyên tắc này, các cơ quan QLNN cần đề phòng hai khuynh hướng:
- Chủ quan, duy ý chí khi xác định mục tiêu, định hướng xuất bản Khuynh hướng này xuất phát từ sự non kém về tri thức, cộng với năng lực tự tin thái quá
- Tự phát, vô chính phủ trong hoạt động xuất bản, đưa hoạt động xuất bản chạy theo lợi ích trước mắt bất chấp những hậu quả không có lợi xảy ra
Trên đây là các nguyên tắc cơ bản trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản chúng ta cần quan tâm Ngoài ra, để quản lý đạt hiệu quả cao, các cơ quan QLNN trong lĩnh vực xuất bản còn phải tuân thủ các nguyên tắc của QLNN nói chung như: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân tham gia quản lý, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc dân chủ Đó là những nguyên tắc cơ bản của QLNN nói chung
Trang 28
Tóm lại, trong chương 1, chúng ta đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam, tạo cơ sở cho quá trình nghiên cứu tiếp theo
Trang 29
Chương 2
Thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật
về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
2.1 Quá trình hình thành hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tuyên bố bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong
đó có quyền tự do xuất bản Một năm sau, tháng 11 năm 1946 tại kỳ họp Quốc hội khóa II đã thông qua Hiến pháp, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực xã hội trong giai đoạn mới, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký ban hành sắc luật 003/SLt ngày 18-6-1957 quy định về chế
độ xuất bản Sắc luật này đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động xuất bản ở Việt Nam
Ngay tại Điều 1 - sắc luật đã ghi rõ:
"Quyền tự do xuất bản của nhân dân được tôn trọng và đảm bảo Tất cả các xuất bản phẩm đều không bị kiểm duyệt trước khi xuất bản, trừ tình thế cấp thiết, nếu Chính phủ xét cần" [38, tr.1] Có thể nói, đây là lời tuyên bố chính thức có giá trị nhân văn sâu sắc của Nhà nước Việt Nam để khẳng định quyền
Trang 30
con người và đảm bảo về mặt pháp lý cho việc thực hiện trong thực tế Nhà nước
đã nhận thức đầy đủ và sâu sắc, trí tuệ về vai trò, tính chất của hoạt động sản xuất, thể hiện ở Điều 3 của sắc luật: "Hoạt động xuất bản của bất kỳ cơ quan Nhà nước, chính Đảng, đoàn thể nhân dân hay là của tư nhân đều không phải là một hoạt động có tính chất đơn thuần kinh doanh mà là hoạt động văn hóa có ảnh hưởng nhiều đến việc giáo dục tư tưởng cho nhân dân, cho nên hoạt động xuất bản phải nhằm phục vụ quyền lợi Tổ quốc, nhân dân, xây dựng và bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân" [38, tr.1] Đến nay, nhận thức này vẫn còn giữ nguyên giá trị của
nó Cũng tại sắc luật này, những ý tưởng về quyền tác giả đã được hình thành, là
cơ sở cho sự phát triển từ Nghị định 42/CP; Pháp lệnh quyền tác giả đến Bộ luật dân sự về quyền tác giả hiện nay: "Nếu xuất bản hoặc tái bản tác phẩm mà không
có sự đồng ý của tác giả thì nhà xuất bản phải hoàn toàn chịu trách nhiệm" [38, tr.5]
a) Theo nguyên tắc về quyền tác giả thì khi xuất bản hoặc tái bản mà tác phẩm của một tác giả thì phải được sự đồng ý của tác giả hoặc người thừa kế hợp pháp hoặc người được tác giả ủy quyền
b) Khi xuất bản hoặc tái bản các văn kiện của chính quyền, của các chính đảng hoặc đoàn thể nhân dân cũng phải xin phép các cơ quan đoàn thể hữu quan
về quyền sử dụng các văn kiện ấy thuộc về các cơ quan đoàn thể" [38, tr.4]
Từ khi có sắc luật 003/SLt, hoạt động xuất bản luôn phát triển đúng hướng, từng bước thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ xuất bản phẩm của nhân dân, góp phần đắc lực trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Thành tựu của hoạt động xuất bản trong
36 năm (1957-1993) nằm trong phạm vi điều chỉnh của sắc luật 003/SLt Nhưng
từ khi nền kinh tế của đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, do việc nhận thức chậm dẫn đến bảo thủ với cơ chế quản lý cũ đã làm cho hoạt động xuất bản gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có lúc, có nơi nhiều nhà xuất bản có nguy cơ bị giải thể
Xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã bổ sung nhiều chỉ thị, nghị quyết để chỉ đạo và quản lý côngt ác báo chí xuất bản trong cả
Trang 31
nước cho phù hợp với tình hình và yêu cầu của nhiệm vụ mới Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới, cùng với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, thể chế hóa đường lối của Đảng, bảo đảm sự phát triển toàn diện của đất nước Các đạo luật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thảo luận và thông qua Đối với hoạt động xuất bản, một dự án Luật được xây dựng từ sau Đại hội lần thứVII, được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 07-7-1993 và Chủ tịch nước công bố ngày 19-7-1993 Luật xuất bản 1993 là cơ sở pháp lý bảo đảm cho sự phát triển của hoạt động xuất bản
Như vậy, Luật xuất bản và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất bản phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của đất nước, góp phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thực hiện, bên cạnh những ưu điểm, tích cực, cũng nảy sinh nhiều vấn đề mới do thực tế cuộc sống đặt ra Một số quy định trong Luật xuất bản và các văn bản hướng dẫn thi hành luật còn thiếu cụ thể hoặc
đã lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn hoạt động xuất bản, gây ra những khó khăn, vướng mắc cho cả khâu quản lý và tổ chức thực hiện
Mặt khác, trước yêu cầu phát triển sự nghiệp xuất bản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản liên quan đến hoạt động xuất bản để điều chỉnh từng mặt hoạt động xuất bản như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa 9), Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư Một số nội dung điều chỉnh này có nhiều khác biệt so với một số điều khoản của Luật xuất bản Đứng trước yêu cầu đó, Luật xuất bản 2004 đã được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 03-12-2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2005
Có thể nói, Luật xuất bản 2004 là đỉnh cao của pháp luật về xuất bản ở Việt Nam, nó đã kế thừa được những tiến bộ của Luật xuất bản 1993, tổng kết được thực tiễn lãnh đạo và quản lý xuất bản trong những năm đổi mới, đón nhận được những đòi hỏi mới của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và nhu cầu hòa nhập, giao lưu trong cộng đồng quốc tế
Trang 32Cùng với hoạt động xây dựng pháp luật nói chung đang "rất sôi động và
có tốc độ nhanh chưa từng thấy trong lịch sử hoạt động xây dựng pháp luật của nước nhà" [42, tr.17], từ năm 1993 đến nay hoạt động xây dựng pháp luật xuất bản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có những cố gắng, nỗ lực rất lớn, đưa đến những kết quả tích cực, góp phần giữ vững ổn định về văn hóa, chính trị, xã hội Điều đó đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động xây dựng pháp luật so với thời kỳ đầu của nền kinh tế thị trường đã thả nổi hoạt động xuất bản
Để tăng cường QLNN, phát huy vai trò của hoạt động xuất bản trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, năm 1993, Quốc hội khóa IX đã ban hành Luật xuất bản đầu tiên của nước ta Theo Luật xuất bản 1993: Hoạt động xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa tư tưởng, hoạt động xuất bản nhằm mục đích phổ biến những tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, giới thiệu những di sản văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa thế giới, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Đồng thời, hoạt động xuất bản phải đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại đạo đức, nhân cách và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam Tuy nhiên, trước tình hình đổi mới hiện nay, Luật xuất bản 1993 và các văn bản cụ thể hóa của nó đã trở nên bất cập, hạn chế Do đó, Luật xuất bản 1993 đã bị thay đổi
Luật xuất bản thứ 2 của Việt Nam được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 03-12-2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2005 Luật xuất bản 2004 vẫn tiếp tục nhấn mạnh vị trí của hoạt động xuất bản là "thuộc lĩnh vực văn hóa,
tư tưởng" như quy định tại Điều 1 - Luật xuất bản 1993 và tiếp tục thể hiện đường lối đổi mới, với trọng tâm đổi mới là tăng thêm quyền cho nhà xuất bản, tạo điều kiện để nhà xuất bản chủ động hơn trong công việc của mình Cụ thể là
Trang 33
bổ sung một số quyền cho giám đốc nhà xuất bản; cho phép nhà xuất bản liên kết với tư nhân trong cả ba lĩnh vực: tổ chức bản thảo; in và phát hành xuất bản phẩm với những đổi mới đó, Luật xuất bản 2004 là một hệ thống khá đầy đủ các quy định để điều chỉnh các quan hệ xuất bản, tạo điều kiện cho các chủ thể xuất bản yên tâm và năng động hơn trong việc của mình, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu "phấn đấu đưa sách đến mọi miền đất nước, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa, góp phần khắc phục sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở các vùng miền; mở rộng thị trường ra ngoài nước, nhất là các thị trường truyền thống Xây dựng thị trường sách lành mạnh, phong phú, đa dạng
về thể loại, có nội dung tư tưởng tốt, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân và giới thiệu nền văn hóa Việt Nam với các nước"
Những nỗ lực lớn trong tổ chức hoạt động xây dựng pháp luật xuất bản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được thể hiện rõ từ sau khi có Luật xuất bản 1993 ra đời Hơn 10 năm qua có gần 40 văn bản quy định pháp luật về xuất bản được ban hành ở cấp Trung ương Đó là những con số chứng tỏ sự nỗ lực, cố gắng của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực này
Với tổng số những văn bản kể trên, pháp luật xuất bản đã đạt được những thành tựu rất cơ bản:
Thứ nhất, pháp luật xuất bản đã xóa bỏ được sự lúng túng, bỡ ngỡ, buông lỏng quản lý của Nhà nước trong những năm đầu chuyển đổi cơ chế
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta xóa bỏ bao cấp, nhưng lại không kịp thời ban hành các chính sách kinh tế phù hợp đã đẩy các nhà xuất bản vào tình thế bị động, tự xoay xở, xa rời chức năng, nhiệm vụ Trước tình hình thiếu sự quản lý của Nhà nước, các tư nhân tham gia vào hoạt động xuất bản, in, phát hành đã cho ra đời nhiều loại "sách đen", sách "đầu nậu", làm phá
vỡ cơ cấu đề tài xuất bản Thực trạng này bị các nhà quản lý phê phán gay gắt và nhận thấy rằng cần thiết phải có một hệ thống các chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này Kể từ khi Luật xuất bản 1993 ra đời đến nay, hoạt động xuất bản đã có hành lang pháp lý rất thuận lợi, phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đạt được những tiến bộ rất đáng khích lệ,
Trang 34hóa, tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến những xuất bản phẩm đến nhiều người, không phải là hoạt động đơn thuần kinh doanh Nhà nước thống nhất quản
lý hoạt động xuất bản trong cả nước Công dân, tổ chức có quyền phổ biến tác phẩm của mình và được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, đồng thời họ có quyền hưởng thụ những giá trị văn hóa, nghệ thuật, khoa học, công nghệ của dân tộc và thế giới Đó là những chủ trương rất tiến bộ của Đảng ta trong sự nghiệp phát triển văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng
Trước tình hình đổi mới, hệ thống pháp luật xuất bản hiện hành đã ghi nhận những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước trong QLNN về xuất bản
Tại Điều 6 - Luật xuất bản 2004 quy định:
+ Nhà nước ưu đãi về thuế và cho vay vốn để tạo điều kiện xây dựng ngành xuất bản trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật phát triển toàn diện
+ Đặt hàng, trợ cước vận chuyển đối với những xuất bản phẩm cần phổ biến rộng rãi nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội trọng yếu và xuất bản phẩm phục vụ thông tin đối ngoại
+ Mua bản thảo những tác phẩm có giá trị nhưng thời điểm xuất bản chưa thích hợp; hỗ trợ mua bản quyền đối với những tác phẩm có giá trị phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản quy định trong Luật xuất bản
2004 đã thể hiện rõ tư tưởng chỉ đạo và định hướng phát triển ngành xuất bản được đề cập trong Chri thị số 42-CT/TW ngày 25-8-2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản", cụ thể là:
"hoạt động xuất bản phải coi trọng việc phục vụ nhiệm vụ chính trị, tư tưởng,
Trang 35
đáp ứng nhu cầu đọc của nhân dân, đồng thời phải thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh, xây dựng ngành xuất bản thành một ngành kinh tế - công nghệ phát triển toàn diện, vững chắc"
Thứ ba, pháp luật xuất bản đã tăng thêm quyền cho nhà xuất bản, tạo điều kiện để nhà xuất bản chủ động hơn trong việc thực hiện công việc của mình
Cụ thể như sau:
* Đối với việc đăng ký kế hoạch xuất bản:
Theo quy định tại Điều 33 - Luật xuất bản 1993 thì Bộ Văn hóa - Thông tin có nhiệm vụ quản lý việc thực hiện kế hoạch xuất bản, cấp, thu hồi giấy chấp nhận đăng ký kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản Tức là tất cả kế hoạch xuất bản của các nhà xuất bản đều phải đăng ký với Bộ Văn hóa - Thông tin và chỉ được thực hiện sau khi Bộ Văn hóa - Thông tin cấp giấy chấp nhận đăng ký kế hoạch xuất bản Theo quy định này thì cơ quan QLNN về xuất bản sẽ chịu trách nhiệm thay cho nhà xuất bản về nội dung của xuất bản phẩm, nhà xuất bản sẽ ỷ lại, có thể sẽ đổ lỗi cho cơ quan QLNN về hoạt động xuất bản Ngoài ra, quy định này cũng làm hạn chế tính tự chủ của xuất bản vì các nhà xuất bản phải chờ được cơ quan QLNN về xuất bản chấp nhận đăng ký kế hoạch xuất bản mới được xuất bản Trong khi đó, bí mật về đề tài, tên sách là một yếu tố quyết định
sự thành bại trong kinh doanh của nhà xuất bản Hơn nữa, qua hơn 10 năm thực hiện Luật xuất bản 1993 có một thực tế cho thấy: các bản đăng ký kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản có tính khả thi thấp Hiện tượng đăng ký "xếp chỗ" quá nhiều đề tài diễn ra khá phổ biến Thực tế này đã dẫn đến cơ quan QLNN rơi vào tình trạng quá tải khi xem xét, chấp nhận kế hoạch xuất bản, gây lãng phí thời gian, công sức
Để hạn chế tình trạng kế hoạch "ảo", đồng thời để phù hợp với chính sách nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản, phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, tạo sự thông thoáng và đề cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà xuất bản, đảm bảo cho cơ quan QLNN về xuất bản không bị rơi vào tình trạng quá tải, Luật xuất bản 2004 bỏ hoàn toàn việc chấp nhận đăng
Trang 36
ký kế kế hoạch xuất bản và chỉ quy định hằng năm nhà xuất bản phải đăng ký kế hoạch xuất bản với Bộ Văn hóa - Thông tin trước khi xuất bản
*Đối với việc liên kết trong lĩnh vực xuất bản:
Theo quy định tại Điều 19 - Luật xuất bản 1993: tư nhân chỉ được phép liên kết trong lĩnh vực in và phát hành xuất bản phẩm, nhưng trên thực tế tư nhân
đã tham gia trực tiếp vào cả 3 khâu là xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm;
tỷ lệ nhà xuất bản liên kết với tư nhân khá cao Theo kết quả điều tra năm 2003,
có tới 26/47 nhà xuất bản có số sách liên kết chiếm trên 50%, trong đó có đến 9 nhà xuất bản có số sách liên kết chiếm trên 80% Một số tư nhân không chỉ có khả năng huy động vốn mà còn có đội ngũ biên tập có trình độ, được trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại và đã xây dựng được nhiều tác phẩm có giá trị Để điều chỉnh thực trạng nêu trên, đồng thời tạo điều kiện cho nhà xuất bản chủ động hơn trong công việc, Điều 20 - Luật xuất bản 2004 đã quy định: "Nhà xuất bản được liên kết với tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, cá nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh về in hoặc phát hành xuất bản phẩm và tổ chức có tư cách pháp nhân để tổ chức bản thảo, in và phát hành từng xuất bản phẩm"
Song song với quy định mang tính chất "mở" trên, Luật xuất bản 2004 có quy định giám đốc nhà xuất bản tổ chức biên tập hoàn chỉnh và ký duyệt bản thảo trước khi đưa in, ký duyệt xuất bản phẩm liên kết trước khi phát hành, đồng thời bổ sung trách nhiệm của nhà xuất bản, của cá nhân, tổ chức tham gia liên kết, thông qua việc đứng tên trên xuất bản phẩm và liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với xuất bản phẩm trước khi liên kết Quy định này nhằm hạn chế những tiêu cực trong lĩnh vực liên kết như: tạo ra những xuất bản phẩm có chứa đựng nội dung xấu, gây ảnh hưởng tiêu cực trong xã hội
* Đối với nhiệm vụ, quyền hạn của giám đốc, tổng biên tập nhà xuất bản
Đối chiếu với quy định tại Điều 11 Luật xuất bản 1993, thì Luật xuất bản
2004 có bổ sung một số quyền cho giám đốc nhà xuất bản: bổ sung quyền được xây dựng bộ máy tổ chức và nhân lực của nhà xuất bản; xây dựng và tổ chức kế hoạch xuất bản; ký quyết định xuất bản đối với từng bản thảo trên cơ sở kế hoạch xuất bản đã đăng ký; ký duyệt xuất bản phẩm trước khi phát hành; quản lý
Trang 37
tài sản, cơ sở vật chất của nhà xuất bản Ngoài ra, Luật xuất bản 2004 còn giao thêm cho giám đốc nhà xuất bản có quyền định giá, điều chỉnh giá bán lẻ xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật, kể cả xuất bản phẩm liên kết Quy định này là hết sức cần thiết, vì trên thực tế giám đốc nhà xuất bản là người có điều kiện để xác định đúng giá trị của từng xuất bản phẩm sẽ đưa ra thị trường và tính toán chi phí sản xuất, nhuận bút của tác giả, phí phát hành một cách chính xác và trực tiếp Như vậy, sẽ tránh được tình trạng thả nổi giá xuất bản phẩm hiện nay Đồng thời, Luật xuất bản 2004 còn bổ sung thêm trách nhiệm của giám đốc nhà xuất bản, như: chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản về xuất bản phẩm và mọi hoạt động của nhà xuất bản Bên cạnh đó, Luật xuất bản 2004 còn bổ sung quyền cho tổng biên tập nhà xuất bản: giúp giám đốc xây dựng kế hoạch xuất bản, tổ chức bản thảo; đọc duyệt bản thảo; đồng thời bổ sung thêm quy định: tổng biên tập nhà xuất bản chỉ liên đới chịu trách nhiệm về nội dung xuất bản phẩm, chứ không phải chịu trách nhiệm về cả nội dung và hình thức xuất bản phẩm như quy định của Luật xuất bản 1993
Thứ tư, pháp luật xuất bản đã tạo lập một hành lang pháp lý thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế
Trong những năm gần đây, nhu cầu xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam ngày càng tăng Để phù hợp với tiến trình hội nhập, hợp tác khu vực và quốc tế, đồng thời chuẩn bị điều kiện
để Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Lần đầu tiên, Luật xuất bản 2004 có những quy định cho phép nhà xuất bản nước ngoài được mở văn phòng đại diện tại Việt Nam để giới thiệu về nhà xuất bản, sản phẩm của nhà xuất bản, giao dịch về bản quyền và xuất bản phẩm Bên cạnh đó, Điều 41 Luật xuất bản 2004 có quy định nhằm giảm bớt những thủ tục hành chính khi các nhà xuất bản xuất khẩu các xuất bản phẩm ra nước ngoài
Hiện nay, trong hoạt động xuất bản, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
là mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương, đa phương hóa với các Chính phủ, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, tổ chức văn hóa, xuất
Trang 38
bản Vì vậy, ngày tháng năm chúng ta đã tham gia vào công ước Berne
về quyền tác giả Tham gia vào công ước này, Việt Nam đã:
- Bảo vệ quyền lợi vật chất, tinh thần của tác giả Việt Nam có tác phẩm
sử dụng ở các quốc gia thành viên tham gia công ước
- Tham gia bình đẳng trong quan hệ giữa các quốc gia thành viên tham gia công ước về việc xuất bản các tác phẩm văn học, nghệ thuật của nhau
- Mở rộng giao lưu, hòa nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế
2.2.2 Về tổ chức thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với xuất bản ở Việt Nam hiện nay
Sau khi Luật xuất bản được Chủ tịch nước ký lệnh công bố, Bộ Văn hóa -Thông tin đã chỉ đạo các cơ quan báo chí đăng toàn văn Luật xuất bản nhằm phổ biến rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân Cục xuất bản - Bộ Văn hóa - Thông tin đã xuất bản cuốn "Luật xuất bản và các văn bản hướng dẫn" với số lượng lớn
để làm tài liệu cho các Hội nghị; mở các lớp tập huấn cho cán bộ quản lý xuất bản của các bộ, ngành ở Trung ương và Sở Văn hóa - Thông tin các tỉnh, thành phố, cán bộ lãnh đạo và biên tập viên của các nhà xuất bản, các cán bộ lãnh đạo các cơ sở in và phát hành trong cả nước để phổ biến, giới thiệu Luật xuất bản Các cơ quan chủ quản của các nhà xuất bản, các Sở Văn hóa - Thông tin đã tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, mời báo cáo viên giới thiệu những nội dung
cơ bản của Luật xuất bản cho các cán bộ quản lý, biên tập viên, cán bộ lãnh đạo nhà xuất bản, cơ sở in và phát hành, giúp cho những người hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, in, phát hành nắm vững các quy định của Luật, tạo điều kiện cho
họ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật trong QLNN được tốt hơn
Thứ nhất, về kế hoạch xuất bản
Trong suốt thời kỳ bao cấp, công tác QLNN về kế hoạch xuất bản được quản lý rất chặt chẽ, mỗi tít sách, văn hóa phẩm đều phải có ý kiến của Vụ xuất bản - Ban tư tưởng văn hóa Trung ương và sự xét duyệt của Cục xuất bản - Bộ Văn hóa - Thông tin mới được xuất bản