1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay docx

118 990 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
Trường học University of Economics and Business Management - Vietnam National University Hanoi
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp và Nông Thôn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Janovskij cũng đưa ra quan niệm tương tự trong định nghĩa của mình về nhân tố con người: "Nó như là tổng hòa những khả năng, thuộc tính, tri thức, kinh nghiệm, năng lực và thói quen đang

Trang 1

LUẬN VĂN:

Phát huy nhân tố con người trong quá

trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông

Trang 2

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đường lối đổi mới đất nước bắt đầu từ Đại hội VI mà đặc biệt là từ Đại hội VII Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ vai trò động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội là con người Chính con người với sức lực và trí tuệ của mình là nhân tố quyết định hiệu quả của việc khai thác nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác Từ đó đến nay, Đảng ta luôn coi trọng con người là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của CNXH

Trong điều kiện gần 80% dân cư sống ở nông thôn, từ một nước nông nghiệp lạc hậu bắt đầu đi vào CNH, HĐH ta chưa có những chỉ số cao về phát triển con người như mong muốn Đặc điểm ở nông thôn vùng núi chỉ số về phát triển con người còn quá thấp so với thành thị Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh theo hướng XHCN là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, nhưng đồng thời cũng rất khó khăn, phức tạp

Nhân tố con người được khẳng định là có giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định

sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng Vấn đề then chốt để tạo được động lực chính là có chủ trương, chính sách đúng đắn nhằm khơi dậy mọi khả năng tích cực, năng động, sáng tạo của nhân tố con người, đồng thời hướng tính tích cực, năng động và sáng tạo đi đúng quy luật, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Nghệ An là một trong những tỉnh miền Trung, đất tương đối rộng, người đông, chủ yếu dựa vào nông nghiệp Là một tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp, mang nhiều đặc

Trang 3

trưng chung cho nông nghiệp cả nước Do đó, yêu cầu phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH càng bức thiết cả về lý luận và thực tiễn

Vì vậy tôi chọn đề tài: "Phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay" (qua thực tế Nghệ An), nhằm góp

phần nhỏ bé đáp ứng đòi hỏi trên

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Do tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề nhân tố con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội Con người là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa của các quốc gia Nó đòi hỏi phải phân tích một cách khoa học về giá trị lớn lao

và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người Đã có không ít tài liệu trong nhiều và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này

ở Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu lý luận dưới các góc độ khác nhau đã tiếp cận một cách khoa học vấn đề: Vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

ở nước ta, nhất là từ giữa những năm 80 khi bắt tay vào sự nghiệp đổi mới, chúng ta càng nhận ra vai trò đặc biệt của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội

Do đó, đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu Với những công trình tiêu biểu như: Đề tài KX-07-13 "Về một số động lực phát triển kinh tế - xã hội hiện nay" do GS Lê Hữu Tầng chủ nhiệm; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" PGS TS Bùi Đình Thanh chủ nhiệm

Trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu tập trung ở vấn đề phát triển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chính sách

xã hội ở nông thôn, vai trò của nông nghiệp, nông thôn; xóa đói giảm nghèo, giải quyết

Trang 4

việc làm Đáng chú ý là các công trình "40 năm kinh nghiệm Đài Loan (Nxb Đà Nẵng, 1994); Công ty ADUKI "Vấn đề nghèo ở Việt Nam" (Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996); GS Nguyễn Điền "CNH nông nghiệp, nông thôn các nước châu á và Việt Nam" (Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997); PGS PTS Nguyễn Đức Bách "Những lợi ích kinh tế - xã hội tác động đến lòng tin của nông dân và con đường XHCN" (Tạp chí nghiên cứu lý luận số 2-1992) Điển hình hơn là chương trình khoa học cấp Nhà nước KX-08 "Phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, gồm 12 đề tài nhánh đã tập trung nghiên cứu một cách toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn và xây dựng nông thôn Việt Nam theo định hướng XHCN

Đối với khu vực Bắc Trung Bộ đã có một số công trình nghiên cứu: PGS TS

Lê Đình Thắng, PTS Nguyễn Thanh Hiền "Xóa đói giảm nghèo ở khu IV cũ" (Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1995); chương trình khoa học: "Con người Nghệ An trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH" (Sở khoa học công nghệ và môi trường, Vinh, 1998)

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ vai trò, vị trí của nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm phát huy có hiệu quả nhân tố con người Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải cơ

sở lý luận và thực tiễn cho việc phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An theo định hướng XHCN

3 Mục đích - nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở phân tích thực trạng việc phát huy nhân tố con người trong nông thôn, nông thôn Nghệ An hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm

Trang 5

góp phần phát huy có hiệu quả nhân tố con người trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Làm rõ quan điểm mác xít về nhân tố con người

- Đánh giá thực trạng việc phát huy nhân tố con người ở nông thôn Nghệ An hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả nhân tố con người trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An hiện nay

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài có nội dung rộng, chúng tôi không có điều kiện và không thể đi sâu nghiên cứu chi tiết nhân tố con người và quá trình CNH, HĐH cụ thể Điều mà luận văn quan tâm và tập trung nghiên cứu là: phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn (qua khảo sát thực tế Nghệ An)

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Là công trình nghiên cứu triết học, luận văn dựa trên cơ sở lý luận và

phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối của Đảng về nhân tố con người, về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Trang 6

- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực tiễn tình hình nông nghiệp, nông thôn Nghệ An, có kế thừa một số kết quả thu được của các công trình khoa học khác có liên quan, nhất là thực tế điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và nguồn lực con người Nghệ An

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp, kết hợp lôgic với lịch sử, trao đổi, phỏng vấn, thu thập và phân tích số liệu thống kê theo phương pháp hệ thống

5 Cái mới về khoa học của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa quan điểm Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về nhân tố con người và vai trò nhân tố con người

- Bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả nhân

tố con người trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An

6 ý nghĩa thực tiễn của luận văn

ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng để làm tư liệu tham khảo trong việc giảng dạy nghiên cứu triết học Góp phần phát huy nhân tố con người đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An hiện nay

7 Kết cấu luận văn

Trang 7

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 2 chương với 4 tiết và danh mục các tài liệu tham khảo

Trang 8

Chương 1

Nhân tố con người và vai trò của nhân tố

con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.1 quan điểm mác xít về nhân tố con người

1.1.1 Khái niệm về con người

Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như: sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học Song, giải đáp những vấn đề chung nhất

về con người như bản chất con người, mục đích và ý nghĩa cuộc sống của con người, vai trò của con người trong thế giới như thế nào là những câu hỏi lớn của các hệ thống triết học từ cổ đại đến hiện đại, từ phương Đông sang phương Tây

Trong triết học trước Mác đã từng tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn đề con người

Triết học thời cổ đại, trong quan niệm về con người thường tập trung tìm

kiếm xem có cái gì đó là cơ sở đầu tiên cấu tạo nên con người và cấu tạo như thế nào theo hai xu hướng (nhất nguyên luận và nhị nguyên luận)

Do hạn chế về điều kiện lịch sử, nên quan niệm về con người thường mang tính chất thần bí và duy tâm

Trang 9

Thời kỳ Trung cổ đại ở phương Tây cùng với sự thống trị của Thiên Chúa

giáo, con người được quan niệm là do thượng đế, đức Chúa trời sáng tạo ra, con người mắc phải tội tổ tông truyền, phải chịu khổ, chịu nạn, phải chuộc tội, phải cầu Chúa và tin tưởng vô điều kiện vào Chúa

Thời kỳ Phục Hưng con người được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau Chủ

nghĩa nhân đạo tư sản đề cao con người với những nhu cầu cá nhân ở thời kỳ Cận đại,

do ảnh hưởng của quan niệm siêu hình, máy móc, con người cũng được xem xét như "1

cỗ máy" Phơ-bách là một trong những nhà duy vật lớn nhất của triết học trước Mác đấu tranh quyết liệt chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Nhưng Phơ-bách không hiểu được hoạt động thực tiễn xã hội của con người, không hiểu được vai trò của thực tiễn sản xuất trong quá trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, coi thực tiễn là hành động tầm thường, có tính chất con buôn Cho nên, hạn chế lớn nhất trong triết học "nhân bản" của ông là ở chỗ hiểu không đúng về con người Ông coi con người chỉ là một thực thể mang bản chất tộc loại, không hiểu được bản chất xã hội của con người, không thấy được vai trò của mối quan hệ giữa người với người quy định bản chất của họ Quan niệm của Phơ-bách về bản chất con người vẫn mang tính trừu tượng, phi lịch sử Từ quan niệm này ông đã trượt từ chủ nghĩa duy vật trong quan niệm về giới tự nhiên sang chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm xã hội

Tóm lại, những sai lầm thiếu sót chủ yếu trong nhận thức triết học về bản chất

con người của các hệ thống triết học trước Mác là do xuất phát từ lập trường duy tâm hoặc từ phương pháp siêu hình trong cách xem xét vấn đề con người

Đến chủ nghĩa Mác, với chủ nghĩa duy vật triệt để và phương pháp biện chứng khoa học, vấn đề con người đã được giải đáp một cách toàn diện khoa học

Con người được chủ nghĩa Mác xem xét trong sự thống nhất biện chứng giữa cái sinh vật và cái xã hội

Trang 10

Tiền đề xuất phát của chủ nghĩa Mác không phải là con người trừu tượng, con người sinh học thuần túy, con người "xã hội" trống rỗng, không có cá nhân; mà hoàn toàn ngược lại "Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ, và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của họ sáng tạo ra" [23, tr 267] Đó là những con người sống trong một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định, có những quan hệ xã hội nhất định Những con người sống và hoạt động, mà hoạt động bản chất nhất, có tính người nhất là sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt của mình, mặc dầu ăn, uống, sinh con đẻ cái cũng là hoạt động có tính người

Triết học Mác không hề phủ nhận cũng không tuyệt đối hóa mặt tự nhiên sinh học khi xem xét con người với tư cách là những cá nhân đang sống và hoạt động Trước hết, Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp, sản phẩm của quá trình tiến hóa

tự nhiên Mác viết: "Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải duy trì một quá trình thường xuyên để tồn tại" [23, tr 135] Con người, do đó không nằm ngoài sự chi phối của quy luật tự nhiên bởi lẽ, "bản thân chúng ta là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên" [22, tr 657]

Thừa nhận yếu tố sinh vật của con người nghĩa là thừa nhận những quy luật sinh học chung của con người, những đặc điểm về cấu trúc và chức năng cơ thể, đời sống sinh lý, đặc tính di truyền Tuy nhiên, Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh học, là bản năng thuần túy của con người

Cái sinh vật của con người (cái sinh vật này không còn mang tính tự nhiên thuần túy động vật) chỉ tồn tại đối với con người xã hội Nghĩa là trong xã hội, cái sinh vật đã được xã hội hóa Nếu tách khỏi quan hệ xã hội thì chỉ còn lại bản năng sinh vật Những thiên chức bẩm sinh do tự nhiên "ban tặng" bởi quá trình tiến hóa lâu dài của sự

Trang 11

Vạch ra vai trò của các mối quan hệ xã hội trong yếu tố cấu thành bản chất của con người là một cống hiến quan trọng của triết học Mác

Mác viết: "Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của

cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội" [21, tr 11]

Kế thừa tư tưởng của Mác và tri thức triết học phương Đông, vốn văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến con người

Trong quan niệm Hồ Chí Minh, con người là những cá nhân cụ thể, vừa là cộng đồng người đang sống với những nhu cầu hiện thực của họ

Hồ Chí Minh khẳng định, lịch sử xã hội loài người là do chính con người sáng tạo ra bởi chính hoạt động của mình Hồ Chí Minh viết: "vô luận điều gì đều do con người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả" [16, tr 241]

Trang 12

Con người đã sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và giá trị tinh thần cho đời sống xã hội cũng như phương thức sử dụng, hưởng thụ những thành quả của hoạt động đó

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng

xã hội mới Hoàn cảnh tạo ra con người, nhưng trong chừng mực mà con người tạo ra hoàn cảnh Để cải tạo hoàn cảnh, trước hết con người phải ý thức rõ hơn hoàn cảnh cần được cải tạo Con người là chủ thể, hoàn cảnh là khách thể được cải tạo Hồ Chí Minh viết: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa" [18, tr 159] ở đây là con người giác ngộ XHCN có ý thức về sự cần thiết phải cải tạo xã hội

cũ, xây dựng xã hội mới

Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân - lực lượng sáng tạo chân chính ra lịch sử, là lực lượng nòng cốt của mọi cuộc cách mạng xã hội

Hồ Chí Minh khẳng định: "Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là người sáng tạo Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là người sáng tác nữa Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý" [17, tr 250]

Vấn đề quan trọng trong tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh là tin tưởng và tôn trọng mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, đặc biệt là quần chúng nhân dân lao động: "dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong"

Hồ Chí Minh rất coi trọng tính tự giác, chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo của con người trong hoạt động (cả trong hoạt động thực tiễn và nhận thức)

Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của con người Bởi vì, nếu các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của con người không được quan tâm đúng mực thì tính tự giác, tích cực của họ bị giảm sút, xã hội mất đi nguồn động lực của sự phát triển

Trang 13

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Có như vậy thì nhân dân mới tin, mới dám nói sự thật, đấu tranh cho lẽ phải và sự công bằng, mới có sự sáng tạo, từ đó tạo ra động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Hồ Chí Minh viết: "Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [16, tr 368]

Nhận thức trên đây là một căn cứ xuất phát rất quan trọng định hướng cho quá trình xây dựng và phát triển con người mới, phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, năng động, sáng tạo của nhân tố con người, cho quá trình xây dựng và phát triển đời sống vật chất, văn hóa tinh thần nói chung, và đặc biệt cho sự thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước ta hiện nay

Khái niệm nhân tố con người

Trong lịch sử triết học trước Mác, do quan niệm sai lầm về nguồn gốc bản chất của con người, cho nên các nhà triết học trước Mác chưa có được một quan niệm đúng đắn về vai trò của nhân tố con người trong tiến trình vận động của lịch sử, chưa thấy hết được sức mạnh cải tạo thế giới của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn Đặc biệt, họ không phát hiện được vai trò của quần chúng nhân dân - lực lượng sáng tạo chân chính ra lịch sử, là nhân tố quyết định tiến trình lịch sử

Vấn đề nhân tố con người cũng được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu Nhưng, do họ xuất phát từ những mục đích và phương pháp tiếp cận khác nhau mà hiện nay có nhiều quan niệm về nhân tố con người Có thể đưa ra một số quan niệm sau:

- Cách tiếp cận thứ nhất: Nhấn mạnh mặt hoạt động của nhân tố con người, vào

sự thể hiện các phẩm chất và đặc trưng bản chất của nó trong hoạt động có định hướng

Trang 14

và biến đổi (đó là các đại biểu như: G.A.En Janor; L.V.Nicolaer; O.N.Krutôva; N.E.Zelinsky; E.F.Sulimor )

- Cách tiếp cận thứ hai: Nhấn mạnh vào các đặc trưng, phẩm chất, năng lực đa

dạng của con người được thể hiện trong hoạt động như tác giả A.K.Ledov viết: Con người trong mọi biểu hiện của nó vốn có những đặc trưng nhân cách nhất định Những quan điểm và quan niệm chính trị, đạo đức, triết học " được con người lĩnh hội và trở thành thế giới quan, các nguyên tắc và quy phạm ứng xử, quan điểm sống của họ, nghĩa

là những bản tính hoặc thuộc tính, phẩm chất không tách rời con người - đó là những đặc trưng chính trị, tư tưởng, đạo đức và những đặc trưng khác của nhân tố con người Tất cả những phẩm chất đa dạng biểu hiện trong các dạng thức hoạt động khác nhau của con người, trong quan hệ của nó với những người khác, với thế giới chung quanh đều bao hàm trong khái niệm "nhân tố con người" Khái niệm đó thể hiện tính tích cực xã hội của "cá nhân" [5] RG Janovskij cũng đưa ra quan niệm tương tự trong định nghĩa của mình về nhân tố con người: "Nó như là tổng hòa những khả năng, thuộc tính, tri thức, kinh nghiệm, năng lực và thói quen đang phát triển của con người mà chúng biểu

lộ trong hoạt động của con người và qua đó ảnh hưởng đến các quá trình xã hội" [5]

ở Việt Nam, vấn đề nhân tố con người đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu xem xét nhân tố con người trong một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn bao quát những đặc trưng bản chất nói lên con người vừa là chủ thể hoạt động, chủ thể mang những đặc trưng về phẩm chất, năng lực, đồng thời là chủ thể tiếp thu sáng tạo giá trị xã hội Quan niệm khác xem:

Nhân tố con người là hệ thống các yếu tố, các đặc trưng quy định vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hòa các đặc trưng về phẩm chất, năng lực của con người trong một quá trình biến đổi và phát triển xã hội nhất định [27, tr 120]

Trang 15

ở đây, khái niệm "nhân tố con người" phản ánh những đặc trưng bản chất nhất của con người hiện thực - với tính cách là một thực thể xã hội:

- Hoạt động thực tiễn là đặc trưng bản chất nhất của con người hiện thực với tư cách là chủ thể sáng tạo Đương nhiên, hoạt động đó của con người là do nhu cầu của con người quyết định (chứ không phải do ý thức, tư duy), những nhu cầu đó "được phản ánh vào trong đầu óc con người làm cho người ta ý thức rõ hơn về nhu cầu đó" Do đó, quá trình hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có phương pháp Qua đó, nhân tố con người giữ vai trò là tác nhân trực tiếp tạo ra sự biến đổi, phát triển của lịch sử Hoạt động thực tiễn vừa là cơ sở vừa là động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức, thúc đẩy sự hình hành phát triển các đặc trưng về năng lực, phẩm chất của con người, đồng thời là quá trình hiện thực hóa các năng lực, phẩm chất của con người Cùng với sự tiến triển của hoạt động thực tiễn, các đặc trưng về năng lực, phẩm chất của con người ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn

- Những phẩm chất, năng lực của con người phản ánh những giá trị xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể - đặc trưng cho con người với tư cách là một nhân cách Các năng lực: nhận thức, tổ chức quản lý, điều hành hoạt động, khả năng tự ý thức, tự nhận thức, tự đánh giá hành vi trong hoạt động của chủ thể Các phẩm chất xã hội: quan điểm đạo đức, chính trị, thế giới quan, lý tưởng, niềm tin, lập trường, thái độ, lối ứng xử Những năng lực, phẩm chất đó đặc trưng cho con người với tư cách là chủ thể

Trang 16

tố con người biểu hiện ra với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo, đồng thời là đối tượng (khách thể) của quá trình đó Cũng với ý nghĩa này con người trở thành "vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội"

Vấn đề cần phân biệt ở đây là khái niệm "nhân tố con người" với "nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực" Hiện nay khái niệm "nguồn nhân lực" dùng cùng nghĩa với "nguồn lực con người"

Nói tới nguồn lực con người, ta thường nói tới mặt số lượng và chất lượng Mặt

số lượng của nguồn lực con người chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển kinh tế, xã hội Các chỉ tiêu về số lượng của nguồn lực con người của một quốc gia là dân số, tốc độ tăng dân số, tuổi thọ bình quân, cấu trúc của dân số; số dân ở độ tuổi lao động, số người ăn theo Về mặt chất lượng nguồn lực con người là khả năng hoạt động năng động sáng tạo của con người cho sự phát triển kinh tế - xã hội Các chỉ tiêu về chất lượng: thể lực, trí lực, kỹ năng kỹ xảo, các phẩm chất xã hội: ý thức đạo đức, chính trị, niềm tin, lý tưởng là yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người Mặt chất lượng của nguồn lực con người là yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế, xã hội

Trang 17

Khái niệm "nhân tố con người" và "nguồn lực con người" có cùng một nghĩa như nhau khi đặt trong mối quan hệ với các nhân tố khác (vật chất) đều biểu hiện ở những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của con người: là nhân tố hoạt động sống, khả năng tái sản sinh và tự nhân mình lên gấp bội tiềm năng vô tận của trí tuệ và tinh thần con người "Do đó, phát huy nhân tố con người có thể hiểu như là phát huy nguồn lực con người, khi con người trở thành một điều kiện, một tiềm năng cần phát huy để tạo ra động lực phát triển của một quá trình xã hội" [15, tr 127]

1.1.2 Những điều kiện khách quan ảnh hưởng đến việc phát huy nhân tố con người ở Việt Nam

- Môi trường tự nhiên (môi trường địa lý)

Việt Nam với vị trí địa lý và đặc điểm địa hình, khí hậu, tài nguyên sinh thái là một thiên nhiên nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng, chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với con người

Tuy ba miền Bắc - Trung - Nam mà mỗi miền có những nét khác biệt nhau về địa hình, khí hậu, môi trường sinh thái, tài nguyên, nhưng tính nhiệt đới gió mùa và bán

Trang 18

đảo vẫn là đặc trưng chung của thiên nhiên Việt Nam Những điều kiện tự nhiên đó kết hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà có ảnh hưởng nhất định đến vai trò hoạt động của nhân tố con người, đến tính tích cực, sáng tạo của con người, lòng say mê hoạt động của

họ cũng như tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ trong quá trình xây dựng nước nhà, phát triển kinh tế, xã hội

Trong lịch sử xây dựng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, con người Việt Nam vừa thích nghi vừa khai phá những tài nguyên và mặt thuận lợi của thiên nhiên để

mở mang ruộng đồng, làng xóm, phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước kết hợp với nghề thủ công, chăn nuôi, săn bắt Mặt khác, con người cũng phải liên kết với nhau trong cuộc đấu tranh khắc phục những trở ngại của thiên nhiên, chống thiên tai, nhất là

lũ lụt, hạn hán Từ rất sớm con người Việt Nam đã biết đắp đê sông, đê biển chống lũ lụt, bão tố, đào kênh, khơi mương làm thủy lợi để chống hạn hán, tưới tiêu cho đồng ruộng Công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội trong những đặc điểm của thiên nhiên Việt Nam, sớm tạo nên sự gắn bó cộng đồng, sự gắn bó quê hương, xóm làng là một trong những cơ sở của tình yêu đất nước Từ đó tạo ra sự gắn bó chung sống

và hòa đồng giữa con người với thiên nhiên, sự gắn bó con người với con người trong tính cộng đồng cao của truyền thống Việt Nam

Những nét đặc thù của thiên nhiên Việt Nam kết hợp với điều kiện lịch sử cụ thể mà trong hoạt động thực tiễn sản xuất đã sớm rèn luyện cho con người Việt Nam những đức tính tốt đẹp đáng trân trọng và cần được phát huy đó là: có lòng bao dung độ lượng, thương người như thể thương thân, hoạn nạn có nhau; yêu quê hương nơi chôn rau cắt rốn, yêu thiên nhiên; cần cù chịu khó trong lao động; khả năng thích ứng linh hoạt đối phó với thiên tai bất ngờ Đặc biệt là sớm hình thành ý thức sức mạnh của cộng đồng mà trong đó sức mạnh của mỗi thành viên được nhân lên trong quá trình khai khẩn đất đai, trị thủy

- Điều kiện kinh tế- xã hội (ảnh hưởng đến việc phát huy nhân tố con người)

Trang 19

Do đó, khả năng chinh phục giới tự nhiên rất kém, điều đó cũng có nghĩa là khả năng phát triển trí tuệ rất thấp - tư duy khoa học không phát triển lên được, dành chỗ cho tư duy huyền thoại vốn đã xuất hiện từ sớm cùng với lịch sử loài người

Nền sản xuất tiểu nông, năng suất lao động thấp, người ta phải lo vun vén cho lợi ích nhỏ nhen của mình Tính ích kỷ nhỏ nhen, trục lợi lại trỗi dậy có khi lấn át cả tính cộng đồng Người ta thường chỉ thấy lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ mà không thấy được lợi ích toàn bộ, lâu dài Phương pháp suy nghĩ nặng về tình cảm, nhẹ về lý trí,

dễ mắc bệnh chủ quan ảo tưởng, làm kìm hãm sự phát triển trí tuệ, hạn chế tính tích cực, năng động, sáng tạo của con người

Trang 20

Nền kinh tế khép kín, tự túc, tự cấp, lại bị hàng ngàn năm Bắc thuộc, do vậy không có khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật của nền đại công nghiệp Đây cũng là một nguyên nhân cản trở phát triển tư duy trí tuệ, tư duy kinh tế

Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, với nền sản xuất nhỏ, manh mún, đời sống bấp bênh đã rèn luyện cho con người tính cần cù, chịu khó, ý chí vượt qua khó khăn, khả năng phản ứng mau lẹ, linh hoạt, thông minh sáng tạo

Trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay đòi hỏi một mặt, kiên quyết đấu tranh khắc phục những tàn dư, tư tưởng tiêu cực, lạc hậu, mặt khác, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc gắn liền với nâng cao, phát triển tư duy lý luận, tư duy kinh tế

- Điều kiện văn hóa - lịch sử

Lịch sử dân tộc ta đã phải trải qua những cuộc chiến tranh tàn khốc, nguy hiểm đến sự tồn vong của dân tộc, nguy cơ bị đồng hóa, mất nước, để lại những hậu quả hết sức nặng nề, tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều, đòi hỏi thời gian lâu dài mới khắc phục được Ngay cả bây giờ, các thể lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế

độ XHCN và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta ảnh hưởng cực kỳ to lớn đến công cuộc xây dựng đất nước đi lên CNXH

Chính tính đặc thù trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã tác động sâu sắc đến sự phát triển tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, ý chí quật cường, bất khuất, niềm tự hào dân tộc

Tinh thần yêu nước, yêu quê hương xử sở, nơi chôn rau cắt rốn được hun đúc lên và phát triển thành ý thức bảo vệ non sông đất nước, ý thức sâu sắc về lãnh thổ quốc gia

Trang 21

Chủ nghĩa Mác - Lênin được Hồ Chí Minh truyền bá vào Việt Nam cùng với phong trào yêu nước và phong trào công nhân dẫn đến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi đến thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945, thành lập Việt Nam dân chủ cộng hòa Tiếp theo 30 năm kháng chiến đi đến thắng lợi mùa xuân năm

1975, giành lại được độc lập, thống nhất đất nước

Độc lập dân tộc kết hợp với CNXH, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nguồn động lực tinh thần và có ý nghĩa quyết định trong thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Như vậy, chủ nghĩa yêu nước là giá trị truyền thống quan trọng nhất của dân tộc Việt Nam, là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại" [7,

tr 94] Chủ nghĩa yêu nước là nhân tố cơ bản của bản lĩnh dân tộc, bảo đảm sự phát triển bền vững và ổn định của kinh tế, xã hội, bảo đảm giữ gìn bản sắc văn hóa và hội nhập vào cộng đồng khu vực cũng như cộng đồng thế giới Chính thời kỳ Bắc thuộc hơn một ngàn năm với tất cả những âm mưu đồng hóa của ngoại bang là một thử thách hết sức ác liệt đối với sự tồn vong của đất nước, dân tộc Chủ nghĩa yêu nước vẫn là động lực tinh thần nội sinh để chiến thắng bất cứ kẻ thù nào, để xây dựng phát triển đất nước

Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm tinh thần cao quý nhất của dân tộc Việt Nam,

là tư tưởng và tình cảm thiêng liêng giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng đầu bậc thang giá trị dân tộc Tinh thần đó đã được phát huy sức mạnh vô biên của nó trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và là mẫu số chung, là một động lực tinh thần nội sinh của cộng đồng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước

Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc ta cần được nâng cao lên ngang tầm thời đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước tiến lên văn minh hiện đại, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chuyển từ động lực tinh thần

Trang 22

trong chống ngoại xâm sang động lực tinh thần trong xây dựng đất nước, khắc phục nghèo nàn lạc hậu, coi nghèo nàn lạc hậu, coi thua kém các nước trong khu vực và thế giới là nỗi nhục như nỗi nhục mất nước, nỗi nhục nô lệ

Cũng cần phải nhấn mạnh thêm rằng, trong lịch sử đã phải chứng kiến không ít trường hợp phát triển chệch hướng của tinh thần dân tộc hoặc theo khuynh hướng Sô-vanh nước lớn, chủ nghĩa đại dân tộc, hoặc theo khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa quốc gia vị kỷ Trên thế giới hiện nay, cả hai khuynh hướng đó là nguyên nhân sâu xa của nhiều xung đột sắc tộc, quốc gia, khu vực Nhưng trong lịch sử cũng đã thể nghiệm sức mạnh lớn lao của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính của nhiều dân tộc trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc mình

Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính của Việt Nam trong thời đại ngày nay là:

Trang 23

dựng đất nước Chủ nghĩa yêu nước là nhân tố cơ bản của bản lĩnh dân tộc, là động lực nội sinh tạo nên quyết tâm, ý chí, nghị lực và trí tuệ để xây dựng đất nước, vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, tiến kịp trào lưu văn minh của thời đại, đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn định, đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc trong giao lưu văn hóa và hội nhập vào cộng đồng khu vực cũng như cộng đồng thế giới

Yêu cầu đặt ra trong việc phát huy chủ nghĩa yêu nước trong quá trình CNH, HĐH thực hiện sự nghiệp xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là phải nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa yêu nước, lòng tự tôn dân tộc Do vậy, cần phải có những giải pháp đồng bộ trong giáo dục gia đình, trường học và tạo lập môi trường văn hóa xã hội mang tính giáo dục cao của toàn xã hội

1.2 vai trò của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - thuận lợi và khó khăn

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và cũng là chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước ta nhằm đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có thể nêu ra một số đặc điểm sau đây:

- Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình phát triển LLSX vừa củng cố hoàn thiện QHSX XHCN ở nông thôn phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, xã hội nói chung của đất nước trong từng thời kỳ Thực chất là quá

Trang 24

trình tạo ra những tiền đề cần thiết về vật chất, kỹ thuật, về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp - những yếu tố cơ bản của LLSX cho CNXH Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã chỉ rõ: quá trình phát triển LLSX là "quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo năng suất lao động xã hội cao" [11,

tr 4]

- Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trước hết nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ngư nghiệp, đảm bảo vững chắc yêu cầu an toàn lương thực cho xã hội; tạo nguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu công nghệ chế biến; tăng giá trị hàng xuất khẩu; tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động; phân công lại lao động xã hội, hình thành các điểm công nghiệp gắn liền với đô thị hóa tại chỗ, mở rộng thị trường sản phẩm và dịch vụ công nghiệp

- Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không chỉ đơn giản là phát triển công nghiệp nông thôn và HĐH một số công đoạn sản xuất nông nghiệp như cơ giới hóa, điện khí hóa mà nó còn bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ đời sống vật chất và văn hóa tinh thần nói chung ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp hiện đại và phương thức tổ chức tiên tiến Đó là quá trình phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp; hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng vật nuôi, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa; phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản với công nghệ ngày càng cao gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp đô thị; phát triển các ngành nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới, văn minh hiện đại

Trang 25

Tóm lại: Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải giữ vững định

hướng XHCN vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển của LLSX, vừa là nhân tố tích cực để củng cố, hoàn thiện QHSX XHCN ở nông thôn phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chung của đất nước trong từng thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trước hết và chủ yếu nhằm tăng nhanh tốc độ tăng trưởng nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ, xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống nhân dân Song đích cuối cùng phải hướng tới đó là nâng cao hiệu quả tổng hợp của toàn bộ đất nước, bao gồm cả kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, môi trường, sinh thái

Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn:

Những thuận lợi:

- Chính quyền thuộc về nhân dân, nước nhà đi vào giai đoạn hòa bình để xây dựng, nhân dân ta vốn có truyền thống yêu nước tinh thần đoàn kết, lòng tự tôn dân tộc với quyết tâm chống nghèo nàn lạc hậu, có tinh thần lao động cần cù, chịu khó, thông minh, sáng tạo Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta sẽ là động lực tinh thần phát huy sức mạnh nội lực thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng

Trang 26

- Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu là khâu đột phá Chỉ thị 100 của Ban bí thư (khóa IV), nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI) được triển khai cùng các nghị quyết, chỉ thị khác của Đại hội và hội nghị Trung ương các khóa V, VI, VII và VIII đã thực sự đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ, đã đưa lại những thành tựu

to lớn trong nông nghiệp, nông thôn càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng

- Nông thôn nước ta chiếm đại bộ phận dân cư, với trên 70% lực lượng lao động

xã hội, là nguồn nhân lực dồi dào cho quá trình CNH, HĐH để mở rộng phát triển phân công lao động xã hội, phát triển mở rộng các ngành nghề, phát triển công nghiệp, dịch vụ Đây chính là nguồn nhân lực to lớn, có khả năng phát huy sức sáng tạo vô tận không cạn kiệt CNH gắn liền với đô thị hóa và thu hút nguồn lao động từ nông nghiệp chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp, chủ yếu là dịch vụ Quá trình CNH, HĐH tuy không đòi hỏi tăng nhanh về số lượng lao động vào các hoạt động thuần túy nông nghiệp, nhưng nó đòi hỏi nhiều hoạt động dịch vụ hỗ trợ như vận chuyển, bao bì, đóng gói, phân loại sản phẩm, ngân hàng, tiếp thị, thông tin thị trường, y tế, văn hóa, giáo dục, môi trường, điện nước Khi các hoạt động này tăng nhanh cả về số lượng và năng lực thì đòi hỏi nguồn lao động bổ sung rất lớn từ nông nghiệp

- Gần 80% dân số cả nước sống ở nông thôn là một thị trường rộng lớn cho CNH, HĐH đất nước nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng Với thị trường đông dân và sức mua hiện nay còn thấp, tiềm năng có thể khai thác rất lớn

Vì CNH và HĐH nền kinh tế muốn phát triển bền vững và ổn định phải dựa vào thị trường trong nước, trước hết là nông dân Có thể nói, sức mua của nông dân có vai trò quan trọng đôi khi là quyết định đối với quy mô và tốc độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ

Trang 27

- Nông nghiệp, nông thôn chiếm tuyệt đại đa số tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản, động, thực vật, rừng và biển là nơi ẩn chứa những tiềm năng to lớn cho quá trình CNH, HĐH Sự phong phú đa dạng của tài nguyên thiên nhiên sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cây trồng vật nuôi cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến xuất khẩu

Quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền sản xuất và đời sống xã hội, đã tạo khả năng vận dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại qua giao lưu, hội nhập và hợp tác quốc tế đa phương đa diện Điều đó cho phép bỏ qua những "nấc thang"

mà loài người đã phải trải qua một cách chậm chạp trong tiến trình lịch sử Đó chính là

cơ hội tốt nhất mà thời đại đưa đến cho các nước chậm phát triển đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa như Việt Nam

Khó khăn:

- Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh để lại hậu quả hết sức nặng nề Những tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ XHCN và nền độc lập dân tộc của nhân dân Đây là một khó khăn lớn cho việc xây dựng nông thôn mới, văn minh hiện đại - một trở lực cho quá trình CNH, HĐH

- Nền kinh tế Việt Nam vốn có điểm xuất phát thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, sản xuất manh mún, lại bị thiên tai, địch hoạ tàn phá nặng nề nên cơ sở vật chất - kỹ thuật, nhất là hệ thống thủy lợi bị xuống cấp nghiêm trọng, vốn đầu tư lại bị thiếu Thêm vào đó, ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài trong nhiều năm cũng tạo ra những yếu tố kìm hãm đối với sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường, làm cho tiềm năng sản xuất, tài nguyên thiên nhiên ở vùng nông thôn không được phát huy có hiệu quả Điều đó, làm chậm tiến trình CNH, HĐH đất nước cũng như đối với nông nghiệp, nông thôn

Trang 28

- Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi vào CNH, HĐH ta chưa có chỉ số cao về phát triển con người như mong muốn, mặt bằng dân trí thấp, số người được đào tạo tay nghề chưa cao cũng như số người có học vấn đại học và sau đại học đều đang ít Hiện nay số phần đông lao động chưa được đào tạo về nghề nghiệp Đây là khó khăn lớn nhất cho việc tiếp thu khoa học và công nghệ hiện đại nhằm đạt tới mục tiêu CNH, HĐH

- Thừa lao động là một sức ép lớn cho xã hội

Theo số liệu điều tra của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở nước ta có xu hướng tăng: năm 1996 tỷ lệ thất nghiệp 5,88%; năm 1997: 6,61%; năm 1998 là 6,85% [4, tr 35] Theo dự báo của các nhà kinh tế từ năm 1997 đến năm 2000, nước ta có nhu cầu giải quyết việc làm lên đến gần 8 triệu lao động (gồm lao động đến tuổi, thất nghiệp năm trước để lại, dôi dư trong các doanh nghiệp gặp khó khăn ), trong khi đó khả năng mỗi năm chỉ có thể tạo việc làm cho 1,1 đến 1,2 triệu lao động Đây là một trong những khó khăn lớn hiện nay đối với việc phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH

1.2.2 Vai trò của nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

Con người là nguồn lực của mọi nguồn lực

Trong bất cứ thời đại lịch sử nào cái quyết định sự phát triển sản xuất - nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội và là cơ sở của sự tiến bộ lịch sử - không phải là nhân tố nào khác mà là hoạt động của nhân tố con người Đương nhiên, hoạt động của con người là do nhu cầu của con người quyết định

Trang 29

Thực tiễn lịch sử loài người đã và đang ngày càng chứng minh rằng, "coi trọng nhân tố con người" và "phát triển nguồn lực con người" là bí quyết thành công của mỗi quốc gia, dân tộc - ưu thế của sự phát triển bền vững

Ngày nay, với thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khoa học ngày càng "trở thành LLSX trực tiếp" - đúng như dự đoán của Mác Một bước ngoặt mới về chất của nền sản xuất xã hội đã mở ra, mà trong đó đặc biệt hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu cấu thành sản phẩm Do xu thế mới của thời đại mở

ra - xu thế chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế trí tuệ Con người càng trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất xã hội, nguồn lực vô tận không bao giờ cạn kiệt

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH chúng ta càng nhận thức được vị trí, vai trò to lớn của nhân tố con người Đảng ta xác định: "nhân tố con người là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của mọi quốc gia" [9, tr 5]

Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn - một bộ phận gắn liền với CNH, HĐH đất nước - diễn ra trong những điều kiện thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy

cơ đan xen, tác động lẫn nhau Để tận dụng những thuận lợi và thời cơ, khắc phục những khó khăn và nguy cơ, để có thể "đi tắt, đón đầu" thực hiện mục tiêu CNH, HĐH tùy thuộc trước hết vào chất lượng nhân tố con người

Vai trò của nhân tố con người được biểu hiện tập trung ở vai trò nguồn lực con người, nhưng nó có ý nghĩa rộng hơn, bao gồm những mục tiêu, động lực, phẩm chất và năng lực của con người Vì vậy, vai trò nhân tố con người còn được xem xét ở vai trò của nhân tố tinh thần, tư tưởng mà sự giải phóng tinh thần và ý thức xã hội là một xung lực to lớn, một trong những động lực căn bản của sự phát triển xã hội" [3, tr 128]

Trang 30

Khi nói đến vai trò của nhân tố con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, phải đặt nó trong mối quan hệ với các nhân tố khác như: nhân tố tự nhiên (tài nguyên), nhân tố kỹ thuật, kinh tế, quốc tế Nhưng nhân tố con người vẫn là nguồn lực quyết định nhất - nguồn lực của mọi nguồn lực và không bao giờ cạn kiệt

Nhân tố tài nguyên thiên nhiên là cái sẵn có, có hạn, được con người khai thác

trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Cho nên, tài nguyên thiên nhiên dù có phong phú đến mức nào đó mà không được con người khai thác một cách hợp lý sẽ làm cho nó chóng cạn kiệt và mặt khác, những hậu quả khôn lường của nó nguy hiểm đến sự tồn sinh của con người Bởi vậy, tài nguyên thiên nhiên chỉ trở thành một nhân tố cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững khi và chỉ khi biết phát huy tính tích cực, tự giác, năng động, sáng tạo của nhân tố con người nhằm khai thác nó một cách có hiệu quả nhất, bảo vệ tốt nhất môi trường tự nhiên trong lành vì sự sống của con người Do đó, yêu cầu cấp thiết của quá trình CNH, HĐH là phải phát huy vai trò nhân tố con người nhằm bảo vệ và từng bước khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học vì tương lai lâu dài của đất nước và của cả nhân loại

Về nhân tố kỹ thuật được hiểu là:

Toàn bộ công cụ lao động và các tư liệu lao động khác mà xã hội dùng để khai thác và chế biến sản phẩm tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình; một trong những bộ phận cấu thành của LLSX xã hội Sự phát triển của kỹ thuật liên hệ trực tiếp với sự phát triển của khoa học tự nhiên và phụ thuộc lẫn nhau [30, tr 296]

Nhân tố kỹ thuật, đặc biệt là máy móc hiện đại đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội khi được kết hợp với sức lao động của con người Công cụ lao động như Ăngghen nói là "khí quan của bộ óc", là sức mạnh trí tuệ con người Bởi vậy, khi công cụ lao động đạt tới trình độ tin học hóa, được tự động hóa

Trang 31

thì vai trò "khí quan vật chất" của nó trở nên kỳ diệu Nhưng trong điều kiện của chế

độ tư hữu về tư liệu sản xuất, nhân tố kỹ thuật còn là phương tiện hữu hiệu để thực hiện sự tha hóa bản chất con người Chỉ khi hoàn toàn xóa bỏ chế độ tư hữu thì nhân

tố kỹ thuật mới thực sự trở thành duy nhất chỉ là phương tiện cho con người trở về với bản chất đích thực của con người với tư cách là con người xã hội

Thực tế hiện nay, những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại trước khi đem lại khả năng to lớn cho các nước chậm phát triển vượt lên thì nó còn phải làm nốt công việc giúp cho giai cấp tư sản quyền thống trị đối với các nước nhỏ yếu Đối với Việt Nam, từ một nền kinh tế thấp kém đi lên CNXH cũng không nằm ngoài sự chi phối đó Những thuận lợi và khó khăn, nguy cơ và thời cơ đang đặt ra trong việc phát huy vai trò nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH

Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhân tố

kỹ thuật là sự vật chất hóa những thành tựu của tri thức nhân loại đóng vai trò to lớn hơn bao giờ hết để lao động sống đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao Cho nên, nó

là phương tiện để phát huy có hiệu quả nhất vai trò nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nhân tố kỹ thuật chỉ là phương tiện, khả năng sử dụng nó là

do con người, do trình độ hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo của họ quyết định Do đó, để thực hiện CNH, HĐH thành công trước hết phải chăm lo bồi dưỡng nguồn lực con người Ngay cả khi có vốn (tài chính) lớn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cũng chỉ được phát huy sức mạnh khi con người biết sử dụng có mục đích, đúng mục đích và

có hiệu quả

- Nhân tố quốc tế: Điểm nổi bật là do thành tựu của cuộc cách mạng khoa học

và công nghệ hiện đại, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền sản xuất và đời sống xã hội

là một tất yếu đang diễn ra cuốn hút tất cả các nước vào quá trình hội nhập quốc tế Đây

là cơ hội lớn để chúng ta đẩy mạnh CNH, HĐH Nhưng, sự tác động của toàn cầu hóa đến quá trình CNH, HĐH phải thông qua con người, phụ thuộc vào việc con người tiếp thu vận dụng được hay không những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, phụ thuộc

Trang 32

vào khả năng giữ vững định hướng XHCN hay không Bởi lẽ, những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại với xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa cũng đem lại cho chủ nghĩa tư bản hiện đại nhiều phương tiện tối tân hơn và điều kiện dễ dàng hơn để bắt tất

cả các nước phải hàng phục nó, phải trở thành tư sản Do đó, cái có tính quyết định cho

sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững vẫn phải là bồi dưỡng, phát triển nhân tố con người cả về trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức cách mạng

Từ sự phân tích trên cho thấy tất cả các nhân tố của quá trình phát triển kinh tế -

xã hội thì nhân tố con người là trung tâm, là đóng vai trò quyết định

Phát huy nhân tố con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Nhân tố con người là động lực thúc đẩy các quá trình kinh tế - xã hội, mà kết quả cuối cùng đạt được là đem lại điều kiện thực tế cho việc giải phóng con người khỏi mọi sự tha hóa, đưa "con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do" Theo Mác, đó cũng chính là quá trình mà nhân loại tự tạo ra những điều kiện, những khả năng do chính mình đem lại sự phát triển toàn diện, tự do và hài hòa cho mỗi cá nhân con người trong cộng đồng xã hội Chỉ khi xã hội loài người đạt đến một trình độ phát triển cao về LLSX thì khi đó "sự phát triển độc đáo và tự do của cá nhân" mới

"không còn là lời nói suông"

Xuất phát từ bản chất của CNXH, phát huy nhân tố con người, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Hoạt động của nhân tố con người là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Vậy, trước hết cần xác định nguồn gốc, động lực của sự phát triển là thế nào ?

Trang 33

Theo quan điểm Mác xít:

Thứ nhất: Mâu thuần là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của

mọi sự vật, hiện tượng kể cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy

Thứ hai: Quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng diễn ra theo

khuynh hướng nào, mức độ nhanh hay chậm là tùy thuộc vào việc giải quyết mâu thuẫn của sự vật hiện tượng đó Nhấn mạnh động lực của sự phát triển, Lênin viết: "Sự phát triển là một cuộc "đấu tranh" giữa các mặt đối lập" [19, tr 379]

Từ tiền đề lý luận đó, có thể nói rằng khái niệm động lực của sự phát triển bao hàm cả nguồn gốc của sự phát triển (cái gì gây nên sự phát triển) của sự vật hiện tượng Mặt khác, động lực của sự vận động, phát triển còn nói lên vai trò, vị trí của các mặt, yếu tố, các mối liên hệ trong sự tác động qua lại lẫn nhau, bài trừ phủ định lẫn nhau, thúc đẩy nhanh tốc độ vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng đó

Vận dụng vào lĩnh vực của đời sống xã hội cụ thể ở đây là hiểu thế nào về quan điểm "con người là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội"

Nói đến con người, không phải là những con người chung chung, trừu tượng phi lịch sử mà là những cá nhân hiện thực cảm tính đang sống và hoạt động trong những quan hệ xã hội do họ sáng tạo ra, mà trước hết là hoạt động sản xuất vật chất

Chính trong lao động sản xuất, con người có quan hệ với giới tự nhiên thì giữa người với người phải có những quan hệ tất yếu khách quan nhất định Đó là những quan

hệ trước hết trong sản xuất, trao đổi, tiêu dùng Những quan hệ này là cơ sở của toàn bộ các quan hệ xã hội khác và tạo thành xã hội Đến lượt nó - tổng hòa của các quan hệ xã hội - lại trở thành cái quy định tính tích cực, năng động, sáng tạo của hoạt động con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội

Trang 34

cụ thể nhất định mà tính tích cực, năng động, sáng tạo của hoạt động của con người bị kìm hãm hay thúc đẩy Cho nên, hoạt động của con người là hoạt động được lý giải được nhận thức, hoạt động có mục đích định sẵn cũng không có nghĩa hoạt động đó hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, mà xét đến cùng là do quan

hệ kinh tế quyết định (không phải là duy nhất)

Thông qua các mối quan hệ xã hội gắn với phương thức sản xuất nhất định mà trong đó người ta sống và hoạt động mới biết được vai trò, địa vị của họ, cũng như sứ mệnh lịch sử của các giai cấp, tập đoàn xã hội có còn giữ vai trò tiên phong thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội hay đang là một trở lực của quá trình đó Cũng chính vì vậy

mà lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, khẳng định sức mạnh to lớn của tính cộng đồng, tính tập thể của con người với tư cách là chủ thể của lịch sử Quần chúng nhân dân là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Trong lịch

sử, mỗi khi lợi ích của quần chúng bị đe dọa, bị tước đoạt thì sớm hay muộn họ cũng đứng lên đấu tranh chống lại sự tước đoạt đó, và được kết thúc bằng một cuộc cách mạng xã hội lật đổ mọi ách thống trị, thúc đẩy sự tiến bộ vượt bậc của xã hội

Do vậy, chỉ thông qua các mối quan hệ xã hội gắn với phương thức sản xuất nhất định mới biết được yếu tố nào, mối liên hệ nào gây nên, kích thích, thúc đẩy hoạt động của nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Qua đó mới có thể tạo điều kiện khách quan nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò nhân tố con người (nhân

tố chủ quan) với tư cách là chủ thể của mọi sáng tạo các giá trị xã hội Đặc biệt là phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng XHCN Điều đó cũng xuất phát từ quy luật và bản chất tốt đẹp của CNXH, con người không chỉ

là động lực mà còn là mục tiêu của các quá trình kinh tế - xã hội, tất cả từ con người, do con người và vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân

Khi xem xét con người là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì không thể tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội trong đó họ thực hiện hoạt động cải biến

Trang 35

các quá trình kinh tế - xã hội, mà phải xem xét con người như một nhân tố trung tâm của quá trình đó Trước hết phải xem xét con người trong hai mặt của mối "quan hệ song trùng" thống nhất biện chứng với nhau, đó là mối quan hệ biện chứng giữa LLSX

và QHSX

Thứ nhất: Trong quan hệ với giới tự nhiên con người biểu hiện ra như một nhân

tố trong mối liên hệ, quan hệ biện chứng chặt chẽ với tư liệu sản xuất tạo thành một chỉnh thể thống nhất, đó là LLSX Sự tác động qua lại giữa các nhân tố trong chỉnh thể thống nhất đó là biểu hiện của mâu thuẫn biện chứng giữa nhân tố chủ quan (nhân tố con người) với nhân tố khách quan (nhân tố vật chất sản xuất) Đặc biệt trong quá trình

đó vai trò nhân tố chủ quan ngày càng được nâng cao "Sự vận động đó, đối với chúng ra

ít ra cũng là vô tận - vô tận đi lên trong sự nối tiếp của các thế hệ" Điều này thể hiện ở quá trình hoạt động sản xuất của con người không ngừng tạo ra những công cụ lao động mới ngày càng tinh xảo hơn, hiện đại hơn, trở thành phương tiện nâng cao sức sản xuất của họ Đồng thời sự hiểu biết, trí thông minh, kinh nghiệm sản xuất của con người cũng được phát triển nâng cao Nói cách khác, thông qua hoạt động sản xuất mà con người ngày càng phát hiện ra những quy luật của giới tự nhiên và vận dụng nó một cách

có hiệu quả hơn Do đó, quá trình giải quyết mâu thuẫn trên đây là động lực thúc đẩy

sự phát triển của LLSX và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi, phát triển mọi mặt của đời sống xã hội

Thứ hai: Để làm rõ vai trò động lực của nhân tố con người trong sự phát triển

kinh tế - xã hội phải xem xét nó trong sự thống nhất biện chứng giữa LLSX và QHSX

Những QHSX là quan hệ kinh tế được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người, nhưng không tồn tại bên ngoài mà ngược lại gắn liền với hoạt động của con người với tư cách là nhân tố cấu thành LLSX QHSX biểu hiện về mặt xã hội là quan hệ lợi ích giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội Do đó, nó trở thành cái chi phối mạnh mẽ nhất, xét đến cùng là cái quyết định động

cơ, mục đích và phương thức hoạt động của con người Bởi vậy, hoạt động có tính chất

Trang 36

"tự do" theo đuổi mục đích của con người lại bị chi phối, quy định, ràng buộc, giới hạn bởi tính tất yếu khách quan của những quan hệ lợi ích giữa các cá nhân với nhau, giữa

cá nhân với xã hội và điều đó tạo nên khuynh hướng vận động của lịch sử

Thế là, quá trình vận động của lịch sử diễn ra không phải là thẳng tắp mà ngược lại, rất phức tạp thể hiện ở tính đứt đoạn trong vận động liên tục, tính quanh co khúc khuỷu có những bước nhảy vọt lớn nhưng không loại trừ những bước thụt lùi tạm thời

Quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội thực chất là giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa chúng, và tạo thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động tự giác sáng tạo của con người trong quá trình phát triển kinh

tế - xã hội

Mối quan hệ lợi ích này, "mặc dù có thể bị những quan hệ khác - những quan hệ chính trị tư tưởng - ảnh hưởng đến đâu chăng nữa", nhưng xét đến cùng vẫn là cái quyết định nhất đối với hành động của con người Với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo, khả năng phát huy tính tự giác, tích cực, năng động, sáng tạo của con người được quy định trước hết bởi việc giải quyết mối quan hệ lợi ích chứ không phải bằng sự cưỡng chế đối với họ Việc giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và xã hội là động lực to lớn nhất làm cho người lao động, phát huy năng lực thể chất và năng lực tinh thần trong quá trình cải biến kinh tế - xã hội

Tình hình trong lĩnh vực chính trị - tư tưởng cũng tương tự Trước thực tế của Việt Nam, khi Tổ quốc lâm nguy, ngàn cân treo đầu sợi tóc bởi kẻ thù xâm lược, sự sống còn của mỗi thành viên gắn liền với cả cộng đồng dân tộc - một sự thống nhất cao về lợi ích đã thúc đẩy toàn dân nhất tề đứng lên tạo thành một sức mạnh của tính

tự giác chiến thắng bất cứ kẻ thù nào

Trang 37

ở đây cần nhấn mạnh hơn rằng, nhu cầu lợi ích của con người là vô cùng phong phú, đa dạng, không thể cùng một lúc đáp ứng đầy đủ, bởi nhu cầu lợi ích luôn luôn nảy sinh Cho nên, việc đáp ứng nhu cầu lợi ích ngày càng tăng của người lao động chỉ được thực hiện thông qua việc giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội Chính việc giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích này trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của con người vì lợi ích chính đáng của họ được bảo đảm tương ứng với sức sản xuất của họ

Mối quan hệ lợi ích trên không phải dựa vào ý muốn chủ quan của con người

mà ngược lại, được quyết định bởi QHSX (quan hệ kinh tế) hiện có tương ứng với trình độ của một LLSX nhất định Thực chất được quyết định bởi mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX Nếu QHSX không phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì sẽ kìm hãm sức sáng tạo của người lao động với tư cách là một nhân tố quan trọng nhất của LLSX

Tính ổn định của các quan hệ xã hội được bảo vệ, duy trì, củng cố bởi hệ thống các chính sách - cái phản ánh cơ sở kinh tế đó Bản thân các chính sách này là sản phẩm chủ quan của chính Đảng đang cầm quyền lãnh đạo với tính cách là chủ thể định hướng đối với các quan hệ kinh tế - xã hội Do đó, tính đúng đắn của các chính sách phụ thuộc vào năng lực nhận thức của chính Đảng (chủ thể định hướng) đối với các quá trình kinh

tế - xã hội (cái khách quan)

Thế là, nhân tố con người (quần chúng lao động) với tư cách là chủ thể hoạt động cải biến các quá trình kinh tế - xã hội, đồng thời vừa là khách thể, đối tượng của chính sách, của quản lý Tính đúng đắn của cơ chế, chính sách trước hết là phản ánh đúng đắn các quan hệ kinh tế (quan hệ lợi ích), lại trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động tích cực, năng động, sáng tạo của nhân tố con người trong quá trình cải biến kinh tế - xã hội Mặt khác, chính sách đúng đắn còn biểu hiện ở khả năng ngăn chặn một khuynh hướng phát triển nào đó để hướng quá trình phát triển theo một khuynh hướng khác ổn định, bền vững hơn

Trang 38

Từ phân tích đó cho thấy rằng, vai trò của chủ thể định hướng lại trực tiếp quyết định sự phát triển Do đó, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Tính đúng đắn của đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta xuất phát từ:

- Tiền đề lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

- Từ thực tiễn: xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân lao động, vì hạnh phúc của nhân dân

Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn xuất phát từ một nền kinh tế kém phát triển, trình độ LLSX thấp, trước hết cần phải giải quyết đúng đắn mối quan

hệ lợi ích kinh tế giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội Đó là nền tảng cho việc đáp ứng các nhu cầu lợi ích khác nhau của mỗi con người và cộng đồng xã hội - tạo nên sức mạnh cộng đồng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững

Có một cơ chế chính sách nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với xã hội trên cơ sở trình độ phát triển của LLSX hiện có, sẽ làm cho người lao động ý thức rõ hơn về sự cần thiết phải liên kết, đoàn kết với nhau trong tập đoàn, cộng đồng xã hội Hơn nữa, họ càng ý thức được rằng, chính trong sự đoàn kết cộng đồng mà sức mạnh của mỗi thành viên càng được nhân lên gấp bội và sự hưởng thụ cũng theo đó mà tăng lên - một sự hưởng thụ thực sự chính đáng bằng sức lao động sáng tạo của mình Qua đó, quần chúng nhân dân lao động ý thức rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhau và đối với xã hội, tạo thành động cơ tư tưởng thúc đẩy họ hoạt động sáng tạo trong quá trình cải biến kinh tế - xã hội Sự tác động của động cơ tư tưởng chính là ở chỗ người ta ý thức được tồn tại Đúng như Ăngghen nói:

Trang 39

Đây là cơ sở lý luận để hiểu thực chất vai trò động lực của nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nói đến phát huy vai trò nhân tố con người, một mặt tạo ra những điều kiện, môi trường xã hội cho hoạt động tự do sáng tạo của con người, mặt khác phải nâng cao năng lực nhận thức, năng lực thực tiễn cùng với những phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động sáng tạo trong quá trình cải biến tự nhiên và xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đặc biệt đối với nước ta, từ một nền kinh

tế kém phát triển đi vào CNH, HĐH thì việc bồi dưỡng, nâng cao, phát triển trình độ nhận thức, trình độ lý luận, năng lực thực tiễn, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng có một ý nghĩa quyết định rút ngắn tiến trình lịch

sử

Có nhiều ý kiến khác nhau về động lực của con người như: vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; chế độ dân chủ; chính sách xã hội; giáo dục - đào tạo; văn hóa; truyền thống; lý tưởng; niềm tin; nhu cầu lợi ích; công bằng; dân chủ; môi trường tâm lý Tùy đối tượng và phương pháp nghiên cứu mà coi đó là động lực của con người

Trang 40

Do điều kiện hạn chế, đề tài chỉ tập trung chỉ ra những động lực cơ bản nhất có tính quy luật nhằm phát huy vai trò nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay

- Cơ chế chính sách đúng đắn đối với nông dân nhằm đảm bảo khả năng thỏa mãn nhu cầu lợi ích ngày càng cao trên cơ sở phát triển sản xuất của họ là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động tích cực, năng động, sáng tạo của người dân nông thôn phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng và bền vững Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người dân nông thôn cũng đều tạo điều kiện và cơ hội tốt nhất cho mọi người tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả nhất và hưởng thụ chính đáng những thành quả do sự nghiệp đổi mới đem lại, bảo vệ quyền và nghĩa

vụ chính đáng của nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân đang là một động lực to lớn thúc đẩy quần chúng lao động ở nông thôn phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Dân chủ gắn bó chặt chẽ với quyền sống của con người, là nhu cầu không thể thiếu của từng cá nhân cũng như cộng đồng xã hội Dân chủ XHCN là một động lực chính trị - tinh thần to lớn thúc đẩy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong quá trình xây dựng đất nước theo định hướng XHCN

- Phát triển trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và trình độ sản xuất kinh doanh cho nông dân, đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng nhân tố con người là một động lực quan trọng nhằm khơi dậy và phát huy tối đa sức sáng tạo "tiềm ẩn" của người lao động đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Hoạt động thực tiễn cải biến các quá trình kinh tế - xã hội có đem lại sự phát triển nhanh và bền vững hay không, một mặt dựa vào nhận thức đúng đắn quy luật khách quan, mặt khác phụ thuộc vào phẩm chất xã hội của con người Nâng cao dân trí không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu của CNXH

Ngày đăng: 27/06/2014, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Tống Ban (1999), "18/19 huyện, thị xã phát hiện ra nhiễm HIV", Báo Nghệ An, Số ra ngày 31 tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 18/19 huyện, thị xã phát hiện ra nhiễm HIV
Tác giả: Nguyễn Tống Ban
Năm: 1999
[2]. Lê Hồng Bảng (1998), "Sử dụng vốn, giải quyết việc làm ở Nghệ An", Báo Công an nhân dân, Số ra ngày 20 tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng vốn, giải quyết việc làm ở Nghệ An
Tác giả: Lê Hồng Bảng
Năm: 1998
[3]. Hoàng Chí Bảo (1993), "Đổi mới ở Việt Nam. Một số vấn đề về con người và xã hội", Tạp chí Cộng sản, tháng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ở Việt Nam. Một số vấn đề về con người và xã hội
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1993
[4]. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội. Trung tâm Thông tin thống kê lao động và xã hội (1999), Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam 1998, Nxb Thống kê 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam 1998
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và xã hội. Trung tâm Thông tin thống kê lao động và xã hội
Nhà XB: Nxb Thống kê 1999
Năm: 1999
[5]. Nguyễn Như Diệm (1989), "Tổng thuật: Nhân tố con người và tính tích cực hòa nhân tố con người. Khái niệm và vấn đề", Thông tin khoa học - xã hội, tháng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng thuật: Nhân tố con người và tính tích cực hòa nhân tố con người. Khái niệm và vấn đề
Tác giả: Nguyễn Như Diệm
Năm: 1989
[6]. Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hiếu trung (1997), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hiếu trung
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hànhTrung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành "Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[14]. Vũ Minh Giang (1992), Thiết chế làng xã cổ truyền và quá trình dân chủ hóa hiện nay ở nước ta, Tạp chí Thông tin lý luận số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết chế làng xã cổ truyền và quá trình dân chủ hóa hiện nay ở nước ta
Tác giả: Vũ Minh Giang
Năm: 1992
[15]. Lê Quang Hoan (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vấn đề phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vấn đề phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Tác giả: Lê Quang Hoan
Năm: 2000
[16]. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[17]. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[18]. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[19]. V.I.Lênin (1981), Toàn tập tập 29, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
[20]. C.Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Sự thật,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w