Khái niệm về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Phương thức Tín dụng chứng từ TDCT là phương thức thanh toán, trong đótheo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bứ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá của nhân loại, hoạt độngkinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí quan trọng đặcbiệt trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta Từ khi gia nhậpWTO, Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do tiếp cận thịtrường quốc tế rộng lớn với 148 thành viên, và vị thế thị trường ngang nhau vớitất cả các quốc gia đó Với tư cách là chất xúc tác cho sự phát triển của thươngmại quốc tế, công tác thanh toán quốc tế cũng không ngừng được mở rộng vàphát triển Song, khi thương mại quốc tế càng phát triển thì mối quan hệ giữangười mua và người bán càng trở nên đa dạng và phức tạp Việc thực hiện đẩymạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt đã đạt được nhiều kết quả khảquan.Tuy nhiên đây là nghiệp vụ đa dạng, phức tạp, nhất là trong thời đại kinh tếthông tin và kinh tế tri thức đang dần chiếm ưu thế nên nó còn có nhiều tồn tạicần phải sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm mang lại hiệu quả ngày càng cao hơn Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung (Seaprodex Đà Nẵng) là công ty
cổ phần hóa, là đơn vị xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm thuỷ sản ở dạng đông lạnh.Thị trường của công ty khá đa dạng với thị trường chính là Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU.Trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang có những chuyển biến với sự pháttriển của nền kinh tế thị trường, sự phát triển của các khoa học công nghệ và sự hộinhập của nền kinh tế thế giới, công ty cần phải có những bước đi mới để tận dụng
cơ hội kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao uy tín trên trường quốc tế Trongquá trình học tập và nghiên cứu trên thực tế tại Seaprodex Đà Nẵng, nhận thứcđược tầm quan trọng của việc thanh toán quốc tế, em đã chọn đề tài :
“Một số biện pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Seaprodex Đà Nẵng ”.
Nội dung chuyên đề gồm có 3 phần :
Phần I : Lý luận chung về rủi ro trong thanh toán theo phương thức tín dụng
chứng từ.
Phần II : Tình hình hoạt động kinh doanh và thực trạng rủi ro trong thanh
toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại Seaprodex.
Trang 2Phần III : Phương hướng và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong thanh toán
tín dụng chứng từ tại Seaprodex.
Đây là đề tài tập trung nghiên cứu về rủi ro trong phương thức thanh toán tíndụng chứng từ, các vấn đề chung nhất về tín dụng chứng từ và những giải pháp
để thực hiện tốt quy trình nghiệp vụ khi thanh toán theo phương thức này
Với phạm vi của một khóa luận, đề tài tập trung nghiên cứu và trình bày cơ sở
lý luận theo thông lệ quốc tế liên quan đến tín dụng chứng từ, bản quy tắc và thựchành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 600) Và thực tiễn về thanh toán tạiSeaprodex trong những năm gần đây (2007 – 2009)
Trong đề tài này chủ yếu sử dụng các phương pháp sau : Phương pháp thống
kê – tổng hợp, Phương pháp so sánh, Phương pháp phân tích… cùng với việctham khảo các sách, tài liệu có liên quan
Với kiến thức còn hạn chế và chưa có kinh nghiệm thực tiễn trong nghiệp vụnên chuyên đề không tránh khỏi những sai sót nhất định Rất mong nhận đượcnhững ý kiến, đánh giá của thầy cô giáo và các cô, chú trong ban Xuất khẩu(Seaprodex Đà Nẵng) để chuyên đề được hoàn thành tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy Trần Văn Nghiệp,cùng với sự giúp đỡ tận tình của các cô, chú trong Ban Xuất khẩu
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2010
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bé
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN THEO
PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
I PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.1 Khái niệm về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Phương thức Tín dụng chứng từ (TDCT) là phương thức thanh toán, trong đótheo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi làthư tín dụng- letter of credit) cam kết trả một số tiền nhất định cho người thụhưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đónếu người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp vớinhững điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng
Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được ápdụng trong nội thương và ngoại thương Trong ngoại thương, theo yêu cầu củanhà nhập khẩu, ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng.Nội dung chủ yếu của thư tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽtrả tiền cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu tuân thủ những điều kiện quy địnhtrong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để thanh toán
Thuật ngữ “tín dụng- credit” ở đây được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là “tínnhiệm”, chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường.Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người nhập khẩu ký quỹ 100%giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụngnào, mà chỉ cho người nhập khẩu “vay” sự tín nhiệm của mình Ngay cả trongtrường hợp nhà nhập khẩu không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ
có thể xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu
và ghi nợ nhà nhập khẩu Như vậy, thuật ngữ “tín dụng” trong phương thứcTDCT chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của ngânhàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có tín nhiệm hơnnhà nhập khẩu
Như vậy, trong phương thức TDCT, ngân hàng không chỉ là người trung gianthu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng
Trang 4cho nhà xuất khẩu, bảo đảm cho nhà xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng Đồng thời, ngân hàng còn là người đảm bảo cho nhà nhập khẩu nhận được số lượng và chất lượng hàng hoá phù hợp với bộ chứng
từ và số tiền mình bỏ ra Rõ ràng là, nhà nhập khẩu có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà xuất khẩu phải xuất trình bộ chừng từ gửi hàng.Trong khi đó, nhà xuất khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng xuất khẩu nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo như qui định trong L/C
1.2 Quy trình nghiệp vụ
(7)
(6)
(2)
(1) (9) (10) (8) (5) (3)
(4)
Sơ đồ 1.1 : Quy trình mở L/C
(1) Người yêu cầu (đối với L/C thông thường là nhà nhập khẩu) làm "yêu cầu phát hành thư tín dụng" (Application for documentary credit) và làm các thủ tục cần thiết khác để yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người hưởng lợi (thông thường
là người xuất khẩu)
(2) Ngân hàng sau khi kiểm tra đơn và các điều kiện mở L/C của nhà nhập khẩu, nếu đồng ý sẽ căn cứ vào đơn để phát hành L/C và chuyển đến người hưởng lợi thông qua ngân hàng thông báo (thường là ngân hàng ở nước người hưởng lợi và có quan hệ đại lý với ngân hàng phát hành)
(3) Ngân hàng thông báo, sau khi làm các công việc cần thiết (kiểm tra, dịch thuật ) sẽ chuyển toàn bộ nội dung của L/C đến người hưởng lợi (Trên tất cả các trang của L/C đều phải có đóng dấu tên của ngân hàng thông báo và chữ ký của thanh toán viên)
Ngân hàng phát hành
(Issuing bank) Ngân hàng thông báo(Advising bank)
Người yêu cầu
(Applicant)
Người hưởng lợi (Beneficiary)
Trang 5(4) Người hưởng lợi sau khi kiểm tra nội dung L/C, nếu cần thiết có thể đềnghị đối tác tiến hành thủ tục tu chỉnh L/C, cho đến khi chấp nhận toàn bộ nộidung của L/C thì mới thực hiện L/C (giao hàng hoặc thực hiện một nghĩa vụ nào
đó theo L/C)
(5) Sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ theo L/C (chẳng hạn sau khi hoànthành việc giao hàng), người hưởng lợi sẽ lập bộ chứng từ thanh toán theo yêucầu của L/C và xuất trình lên ngân hàng chỉ định thường là ngân hàng đã thôngbáo L/C)
(6) Ngân hàng chỉ định chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phát hành L/C(trường hợp này L/C không được thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu tại ngânhàng chỉ định)
(7) Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán được xuất trình, nếuchấp nhận sự phù hợp của chứng từ thì sẽ tiến hành thanh toán cho người xuấttrình (trường hợp trả ngay) hoặc cam kết trả chậm, hoặc chấp nhận hối phiếu vàtrả tiền khi đáo hạn Nếu chứng từ không phù hợp có thể từ chối không thực hiệnnghĩa vụ đã cam kết theo L/C
(8) Ngân hàng thông báo chuyển tiền hoặc hối phiếu được chấp nhận hoặcthông báo về tình trạng chứng từ cho người hưởng lợi
(9) Ngân hàng phát hành yêu cầu người đề nghị mở L/C thanh toán hoặc nhận
1.3 Thư tín dụng (Letter of Credit - L/C) - Công cụ quan trọng của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Thư tín dụng là một văn bản do ngân hàng mở thiết lập theo yêu cầu củangười nhập khẩu (người xin mở L/C), trong đó cam kết của ngân hàng phát hành
và những điều kiện cụ thể đặt ra cho người hưởng lợi thực hiện
Trang 6L/C do ngân hàng mở chuyển cho ngân hàng thông báo bằng thư, điện haySwift Tùy vào hình thức chuyển mà hình thức của L/C có thể khác nhau, còn nộidung về cơ bản là giống nhau vì nó được lập trên cơ sở của "Đơn yêu cầu mở L/C" do người nhập khẩu lập Nội dung cơ bản của L/C như sau:
Phần đầu của L/C thường bao gồm các nội dung như: Số tham chiếu (khiphát hành L/C bộ phận phát hành sẽ đăng ký mã số tham chiếu); Số trang của L/
C và tổng số trang của L/C; Thời gian phát hành
Vào phần sau của L/C sẽ có các nội dung chủ yếu sau :
(1) Số hiệu của L/C: Do ngân hàng phát hành thiết lập Tạo thuận tiện
trong việc trao đổi thông tin giữa các bên có liên quan trong quá trình giao dịchthanh toán và ghi vào các chứng từ liên quan trong bộ chứng từ thanh toán nhưghi vào hóa đơn, hối phiếu
(2) Địa điểm mở L/C : là nơi ngân hàng mở tạo lập và chuyển giao L/C
nhau,quyền lợi nghĩa vụ của các bên liên quan cũng khác nhau nên cần xác nhận loại thư tín dụng cần mở.
(5) Tên và địa chỉ các bên liên quan đến L/C gồm : người yêu cầu mở L/C,
ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác nhận và người hưởng lợi L/C.
(6) Đồng tiền và giá trị thanh toán của L/C : Số tiền của L/C vừa ghi
bằng số, vừa ghi bằng chữ và thống nhất với nhau họăc có thể chỉ cần số tiền bằng số Tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng Cách ghi số tiền tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được Những từ “khoảng chừng, độ khoảng hoặc những từ ngữ tương tự được dùng để chỉ biên độ số tiền của L/C cho phép xê dịch hơn kém không quá 10% của tổng số tiền đó.
Trang 7(7) Thời hạn hiệu lực(Expiry date) : là thời hạn mà ngân hàng mở L/C
cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với L/C.
(8) Thời hạn trả tiền của L/C (Latest payment date) : là thời hạn trả
tiền ngay hay trả tiền về sau Điều này có thể nhận dạng ở hối phiếu của người xuất khẩu ký phát Thời hạn về giao hàng cũng được ghi trong L/C và
do hợp đồng mua bán quy định như đã phân tích ở trên, thời hạn giao hàng
có thể có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.
(9) Thời hạn giao hàng (shipment date) : là thời hạn quy định bên bán
phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực
(10) Những nội dung về hàng hoá (Description of goods) : tên hàng, số
lượng, trọng lượng (có cả sai lệch cho phép) , giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu cũng được ghi vào thư tín dụng.
(11) Những nội dung về vận tải (Shipment term) : giao nhận hàng hoá như
điều kiện có sở giao hàng, nơi gửi, giao hàng từng phần nơi giao hàng cũng được ghi vào thư tín dụng.
(12) Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình (Documents for payment): là nội dung then chốt của thư tín dụng, bởi vì bộ chứng từ quy định
trong thư tín dụng là môt bằng chứng của người xuất khẩu chứng mình rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những quy định của thư tín dụng.
(13) Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C: là nội dung cuối cùng của
thư tín dụng và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C
(14) Những điều kiện đăc biệt khác:như phí ngân hàng được tính cho bên
nào, điều kiện đặc biệt hướng dẫn đối với ngân hàng chiết khấu, dẫn chiếu
số UCP áp dụng…
(15) Chữ ký của ngân hàng mở L/C : L/C thực chất là một khế ước dân
sự, do vậy người ký nó cũng phải là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân luật L/C mở bằng thư phải được ký bằng chữ ký đã được lưu ký tại ngân hàng đại lý L/C mở bằng
Trang 8điện phải có sự đồng ý của ngân hàng và căn cứ vào mã khóa (textkey) của L/C.
Thư tín dụng có tính chất quan trọng vì tuy được hình thành trên cơ sở hợpđồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợpđồng này Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận thì cho dù nộidung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làmthay đổi quyền lợi và nghĩa vụ và của các bên có liên quan Có nghĩa là khi thanhtoán ngân hàng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, khi nhà xuất khẩu xuất trình bộchứng từ phù hợp về mặt hình thức với những điều khoản quy định trong L/C thìngân hàng phát hành L/C phải trả tiền vô điều kiện cho nhà xuất khẩu
Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hànghoá, ngân hàng cũng không có nghĩa vụ xem xét việc giao hàng hoá thực tế cókhớp đúng với chứng từ hay không mà chỉ căn cứ vào chứng từ do người bánxuất trình, nếu thấy các chứng từ đó bề mặt phù hợp với các điều kiện của L/Cthì trả tiền cho người bán
Chính những tính chất quan trọng của L/C khiến cho phương thức thanh toántín dụng chứng từ mau chóng trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu đặc biệttrong ngoại thương
1.4 Một số loại L/C trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.4.1 Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C):Là một L/C mà
ngân hàng phát hành có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C Như vậy, nếu không có sự nhất
trí của người xuất khẩu, của ngân hàng xác nhận (nếu có) thì ngân hàng mởkhông được phép thực hiện theo yêu cầu của bên nhập khẩu thay đổi L/C Do đóquyền lợi của người bán được đảm bảo hơn
Tín dụng không thể huỷ ngang tuy ít linh hoạt nhưng khá an toàn và có thểcân bằng được quyền lợi của các bên tham gia nên nó được sử dụng rộng rãitrong thương mại quốc tế ngày nay Tuy nhiên, rủi ro cũng vẫn có thể xảy ra khingân hàng mở L/C mất khả năng thanh toán, người xuất khẩu sẽ không thu được
tiền và trong khi người nhập khẩu đã thanh toán Loại này ít được sử dụng, bởi
vì nó là lời hứa trả tiền chứ không phải là sự cam kết
Trang 91.4 2 Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable L/C): là loại L/C
sau khi mở ra và người xuất khẩu thừa nhận thì ngân hàng mở L/C không đượcsửa đổi, bổ sung trong thời hạn hiệu lực của nó Loại này đảm bảo quyền lợicho bên xuất khẩu và hiện nay đang được sử dụng phổ biến
1.4 3 Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (confirmed
irrevocable letter of credit): là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ được một ngân
hàng xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C Nguyênnhân phát sinh loại L/C này là vì người hưởng lợi không tin tưởng vào khả năngthanh toán của ngân hàng mở L/C Tuy đây là loại L/C tạo cho người bán một sựđảm bảo hai lần trong việc sẽ được thanh toán tiền hàng - vậy là rất an toàn -nhưng nó lại thường không nhận được sự hưởng ứng nhiều của ngân hàng mở L/
C do nó gián tiếp làm giảm uy tín của họ Đôi khi việc thoả thuận lựa chọn ngânhàng xác nhận cũng gây chậm chễ, khó khăn với các bên liên quan: bên bánchậm thu được tiền để nhanh chóng tiếp tục đầu tư tái sản xuất; bên mua chậmnhận được hàng vì bên bán không giao hàng khi L/C chưa được xác nhận, dẫnđến mất cơ hội kinh doanh; ngân hàng mở L/C cũng có thể bị mất uy tín trên thịtrường khi các khách hàng khác nắm được thông tin này và cũng không còn tintưởng vào khả năng thanh toán của họ nữa
1.4.4 Thư tín dụng không thể hủy ngang, miễn truy đòi(irrevocable
without recourse letter of credit): là loại L/C mà sau khi người xuất khẩu đã
được trả tiền thì ngân hàng không còn quyền đòi lại tiền dù trong bất ký trườnghợp nào
1.4.5 Thư tín dụng tuần hoàn (revolving letter of credit):là loại L/C
không thể huỷ bỏ sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tựđộng có giá trị như cũ và cứ như vậy cho đến khi nào hoàn tất hợp đồng Loạinày được áp dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệthường xuyên và đối tượng thanh toán không thay đổi
1.4.6 Thư tín dụng giáp lưng (Back-to-Back Letter of Credit): Là loại
thư tín dụng không thể hủy bỏ được, mỏe ra căn cứ vào một L/C khác làm bảođảm theo L/C này tổ chức xuất khẩu căn cứ vào thư tín dụng của người nhập
Trang 10khẩu mở, yêu cầu ngân hàng mở một thư tín dụng cho tổ chức xuất khẩu kháchưởng thư tín dụng giáp lưng được sử dụng trong một số trường hợp:
+ L/C gốc không cho phép chuyển nhượng
+ Khi các chứng từ cần có theo L/C gốc không trùng hợp với cácchứng từ của L/C thứ hai
+ Khi người trung gian muốn bí mật một số thông tin
1.4.7 Thư tín dụng đối ứng (reciprocal L/C):Là loại L/C không thể hủy
bỏ trong đó quy định nó chỉ có hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra.Điều đó có nghĩa là tổ chức xuất khẩu khi nhận được L/C do tổ chức nhập khẩu
mở thì phải mở lại L/C tương ứng thì nó mới có giá trị L/C này được sử dụngtrong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng xuất khẩu Cả hai bên đều làngười mua , người bán của nhau
1.4.8 Thư tín dụng ứng trước (packing L/C):Là loại L/C mà trong đó
quy định một khoản tiền ứng trước cho người xuất khẩu vào một thời điểm xácđịnh trước khi bộ chứng từ hàng hóa được xuất trình Đối với khoản ứng trướcnày, người ta quy định trong một điều khoản đặc biệt, nhằm tạo điều kiện thuậnlợi cho các bên liên quan trong L/C
1.4.9 Thư tín dụng dự phòng (Standby letter of Credit SBLC)
+L/C dự phòng là một tín dụng chứng từ hay là dàn xếp tương tự, thể hiệnnghĩa vụ của ngân hàng phát hành tới người thụ hưởng trong việc:
+Thanh toán lại khoản tiền mà người yêu cầu mở L/C dự phòng đã vay hoặcđược ứng trước
+Thanh toán khoản nợ của người mở L/C dự phòng
+Bồi thường những thiệt hại do người mở L/C dự phòng không thực hiệnnghĩa vụ của mình
1.4.10 L/C có thể chuyển nhượng (Transferable Letter of Credit)
+Người thụ hưởng trong L/C chuyển nhượng có quyền yêu cầu ngân hàng củamình chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ tín dụng cho người thụ hưởng khác + Các chứng từ trong L/C chuyển nhượng nên được yêu cầu để có thể được
sử dụng theo như L/C gốc
Trang 11+Người thụ hưởng trung gian có quyền thay thế hóa đơn của L/C chuyểnnhượng bằng hóa đơn của mình.
1.5 UCP - Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức TDCT
Khi thanh toán bằng phương thức TDCT, các bên xuất nhập khẩu phải thoả thuậnvới nhau về việc sử dụng UCP (The Uniform Customs and Practice for Documentarycredit) UCP là bản quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ doPhòng thương mại quốc tế (ICC) tại Pari công bố lần đầu tiên vào năm 1933 Từ đóđến nay UCP đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983,
1994 UCP đã được hơn 175 nước áp dụng trong đó có Việt Nam Khác với luật quốcgia hay công ước quốc tế, UCP không tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt độngthanh toán TDCT mà mang tính chất pháp lý tuỳ ý Các bên tham gia có quyền lựachọn có hay không dùng UCP để điều chỉnh hoạt động thanh toán TDCT Nhưng mộtkhi các bên đã đồng ý áp dụng UCP thì các điều khoản áp dụng của UCP sẽ ràng buộcnghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia Một điểm cần lưu ý là UCP ban hànhsau không phủ nhận các nội dung của UCP trước đó Do đó các bên có thể thoả thuậnlựa chọn một UCP nào đó, nhưng điều quy định bắt buộc là phải dẫn chiếu nó trongL/C Chỉ UCP bản gốc bằng tiếng Anh mới có giá trị pháp lý giải quyết các tranhchấp, các bản dịch khác chỉ có giá trị tham khảo
Hiện nay, Sau 03 năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25 tháng 10 năm 2006, Uỷban Ngân hàng của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) đã thông qua Bản Quy tắcthực hành thống nhất về tín dụng chứng từ mới (UCP 600) thay thế cho Bản Quytắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ cũ (UCP 500) UCP 600 này cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 UCP 600 được coi là hoàn chỉnh nhất vàngày càng được nhiều ngân hàng của các nước thừa nhận và áp dụng rộng rãitrong thanh toán quốc tế UCP 600 thực sự được coi là cẩm nang cho nghiệp vụtín dụng chứng từ
II RỦI RO TRONG THANH TOÁN THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
2.1 Khái quát chung về rủi ro trong thanh toán quốc tế
Trang 122.1.1 Khái niệm
Khi đề cập đến rủi ro, mọi người hay quan đó là những điều không tốt lành,tổn thất hay thậm chí thiệt hại về vật chất vô hình hay hữu hình xảy ra ngoài dựkiến do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan
Ta có thể định nghĩa rủi ro như sau:
Trong cuộc sống hàng ngày, trong hoạt động kinh tế của con người thường có nhữngtai họa, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra gây thiệt hại về người và tài sản Những tainạn, tai họa, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên như vậy được gọi là rủi ro
Để đối phó với các loại rủi ro không lường trước được đó, con người đã cốgắng tìm kiếm mọi phương cách để phòng ngừa và hạn chế rủi ro Từ biện phápkhông thực hiện những việc làm quá mạo hiểm, chú ý đến những quy tắc về antoàn lao động, các chuẩn mực trong kinh tế thậm chí lập ra những quỹ dựphòng để dự trữ một khoản tiền nào đó nhằm bù đắp những rủi ro có thể gặpphải Tất cả những hành động đó nhằm một mục đích duy nhất là cố gắng hạnchế đến mức tối đa và phòng tránh các loại rủi ro để mọi quá trình sản xuất, kinhdoanh được diễn ra tốt đẹp
Trong thanh toán quốc tế cũng vậy, tuy là hoạt động mang đến cho hoạt độngthương mại nhiều lợi ích, nhưng có thể nói lợi ích đó đồng hành với rủi ro Người
ta định nghĩa rủi ro trong thanh toán quốc tế là :
Rủi ro trong thanh toán quốc tế là những hiện tượng khách quan có liên quan
và làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế Nó docác nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia quan hệ thanh toánquốc tế (nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và cáctác nhân trung gian ) hoặc do các nhân tố khách quan khác gây nên Con người
có thể nhận biết được các hiện tượng khách quan đó, song không thể lượng hóacác hiện tượng đó xảy ra vào lúc nào? ở đâu? và mức độ thiệt hại thực sự đếnthanh toán quốc tế
2.1.2 Phân loại
2.1.2.1 Rủi ro kỹ thuật
Trang 13Là những rủi ro do những sai sót mang tính chất kỹ thuật trong quy trìnhthanh toán L/C, thường do các bên tham gia thực hiện sai một khâu trong quytrình nghiệp vụ thanh toán.
a Rủi ro đối với người xuất khẩu
Như ta đã biết, trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàngphát hành đứng ra cam kết thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuất trình bộchứng từ phù hợp với L/C trong khi đó để đảm bảo việc giao hàng theo quy địnhcủa hợp đồng thương mại, L/C thường đòi hỏi nhiều điều khoản rất chi tiết vàkhắt khe Chỉ với một sai khác dù rất nhỏ cũng có thể bị ngân hàng mở và ngườimua từ chối thanh toán với lý do có sự sai biệt hoặc không phù hợp với L/C Việcduy nhất mà người xuất khẩu có thể làm để tránh được rủi ro trên là nhanhchóng, khẩn trương lập bộ chứng từ phù hợp với L/C Một bộ chứng từ thanhtoán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau :
- Các chứng từ phải được lập ra đúng yêu cầu về số lượng, số loại, nội dungnhư đã quy định trong L/C
- Nội dung của các chứng từ không được mâu thuẫn với nhau
- Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm trả tiền quy định trong L/Ctrong thời hạn hiệu lực của L/C
Nhưng trong thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ
mà thường gặp nhất là:
- Sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ
- Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng như số loại chứng từ, số bảncủa mỗi loại
- Các sai sót trên bề mặt chứng từ như:
+ Số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị L/C
Trang 14+ Các chứng từ không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc dỡ, về hãngvận tải, phương thức vận chuyển
Tất cả những sai sót trên đều có thể là nguyên nhân gây nên rủi ro trong thanhtoán, gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu
Khi nộp chứng từ cho ngân hàng chiết khấu, nếu ngân hàng phát hiện ra cácsai sót mà có thể sửa chữa được thì việc sửa chữa sẽ làm chậm quá trình thanhtoán Nếu sai sót không thể sửa chữa thì bộ chứng từ không được chiết khấu hoặcchấp nhận mà phải đợi ý kiến của ngân hàng mở và người mua để giải quyết.Như vậy, quá trình thanh toán sẽ bị kéo dài làm cho người bán không thể thu hồivốn nhanh được Hơn nữa, người mua và ngân hàng mở có thể dựa vào những saibiệt rất nhỏ của chứng từ để từ chối thanh toán trong khi đó hàng hoá đã đượcgửi đi Nhà xuất khẩu sẽ chịu thiệt hại khi phải bán giảm giá hàng hoá hoặc tìmkhách hàng khác để tiêu thụ và cùng với nó là một các chi phí như phí đền bù,cước lưu kho và các phí tổn phát sinh khác
Một rủi ro kỹ thuật nữa là việc người bán phạm phải các sai lầm khi tiến hànhgiao hàng như việc vi phạm thời hạn thanh toán thư tín dụng, giao hàng muộn,xuất trình chứng từ muộn Nếu việc xuất trình chứng từ thể hiện sự vi phạm mộttrong các thời hạn nói trên cũng sẽ bị từ chối thanh toán
b Rủi ro đối với người nhập khẩu
Rủi ro lớn nhất đối với người nhập khẩu là việc nhận hành hoá không đúngvới hợp đồng mua bán Sở dĩ xảy ra tình trạng trên là do bị lợi dụng tính độc lậpgiữa L/C và hợp đồng thương mại Việc thanh toán giữa ngân hàng hai bên muabán chỉ thực hiện trên cơ sở bộ chứng từ đã giao hàng xuất trình phù hợp với quyđịnh của L/C tức là ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm về sự khớp đúng trên bề mặtgiữa bộ chứng từ thanh toán với L/C chứ không chịu trách nhiệm về tính chânthực của chứng từ và tình hình thực tế giao hàng Do vậy, người mua sẽ phải chịurủi ro khi tiền hàng đã trả theo bộ chứng từ xuất trình cho ngân hàng đều phù hợp
cả về số lượng, chất lượng nhưng thực tế thì hàng hoá nhận được lại khôngđúng với mong muốn, không giống như trong hợp đồng thương mại mà trước đóhai bên đã thoả thuận
c Rủi ro đối với ngân hàng
Trang 15Trong nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng đóng vai trò quantrọng không thể thiếu Vì vậy, cũng giống như khách hàng của mình, với vị tríkhác nhau, ngân hàng cũng có thể gặp những rủi ro khác nhau.
Cũng như rủi ro trong nghiệp vụ tín dụng, rủi ro trong nghiệp vụ thanh toánL/C không hẳn là những mất mát, thiệt hại xảy ra cho các ngân hàng do khôngthu hồi được vốn đã thanh toán cho nước ngoài, nhiều khi còn là việc không thuhồi vốn đúng hạn, hoặc làm phát sinh các khoản chi phí vô ích khác
Ngân hàng mở L/C
Ngân hàng mở L/C là người cam kết trả tiền cho người xuất khẩu Vì vậy,nguy cơ rủi ro đối với ngân hàng mở là rất lớn
- Rủi ro trong nghiệp vụ mở:
Việc đầu tiên của các ngân hàng thương mại khi mở L/C nhập khẩu là phảikiểm tra tính pháp lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp mới giao dịch lầnđầu), hợp đồng thương mại, đơn xin mở L/C, nguồn vốn thanh toán bao gồm vốnvay hay vốn tự có và các chứng từ có liên quan khác Rủi ro ở công đoạn nàythường xảy ra ở phía doanh nghiệp thể hiện trong các điều khoản của hợp đồngngoại thương như giá cả, phương thức thanh toán, phương thức vận tải, điềukhoản trọng tài Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro, các cán bộ tác nghiệp của ngânhàng hết sức lưu ý nghiên cứu kỹ các điều khoản trong hợp đồng ngoại thương
và đơn xin mở L/C để tư vấn cho doanh nghiệp lấy lại lợi thế nếu thấy cần thiết.Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp mà lợi thế thuộc về khách hàng nước ngoài
và ngân hàng đã tư vấn dàn xếp ổn thoả theo đúng luật của nước phát hành vàquốc tế
Một rủi ro nữa mà ngân hàng có thể gặp phải khi mở L/C là dùng sai hoặc sóttrong từng chữ, dấu chấm, dấu phẩy so với đơn xin mở L/C của doanh nghiệp.Tất nhiên phí tu chỉnh cho những sai sót đó ngân hàng phải chịu Vì vậy, để khắcphục rủi ro này, cần phải tiến hành kiểm tra lại kỹ càng sau khi đã mở L/C trênmáy Một điều cũng cần quan tâm là ngân hàng mở tuyệt đối không được tự thêmbớt nội dung vào L/C so với đơn xin mở, ngoại trừ sự thêm bớt đó làm tăng thêmlợi thế cho khách hàng của mình và phù hợp với hợp đồng ngoại thương, và các
Trang 16văn bản pháp luật điều chỉnh đã được dẫn chiếu trong L/C như UCP 600 vàIncoterms 2000.
- Rủi ro khi kiểm tra bộ chứng từ đến và khi thanh toán
Có thể nói đây là nghiệp vụ "vạch lá tìm sâu" của ngân hàng mở nhằm pháthiện những sai sót, những điểm không phù hợp của bộ chứng từ so với nội dung
và bề mặt của L/C đã mở Rủi ro cho ngân hàng sẽ xảy ra khôn lường nếu ngânhàng không kiểm tra kỹ bộ chứng từ mà vẫn thực hiện thanh toán hoặc chấp nhậnthanh toán Bởi lẽ từ trước đến nay đã có những bộ chứng từ giả, đặc biệt là B/Lgiả nhằm mục đích lừa đảo hoặc rửa tiền, cũng có trường hợp ghi "theo lệnh" (toorder ) không đúng tên người nhận, làm cho việc nhận hàng bị chậm trễ, tăngchi phí lưu kho bãi, gây thiệt hại không chỉ cho khách hàng mà cả cho ngân hàng
mở nếu lô hàng đó ngân hàng cho vay thanh toán Nhằm hạn chế phần nào cáctrường hợp trên, các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng thương mại khi mởL/C nhập khẩu nên quy định thêm điều khoản: Gửi lên tàu ngay sau khi giaohàng một bản sao bộ chứng từ cho người mở L/C, nhằm mục đích để cho người
mở kiểm tra trước, nếu có sai sót thì kịp thời tu chỉnh sửa đổi, đồng thời có tácdụng tăng thêm độ tin cậy rằng hàng đã được bốc xếp lên tàu
Sau khi kiểm tra chứng từ, ngân hàng cũng có thể vấp phải một số rủi ro kỹthuật như không tuân thủ UCP, ví dụ: chuyển giao bộ chứng từ không phù hợpcho người mở đi nhận hàng, hoặc làm mất không trả lại chứng từ cho phía xuấttrình nguyên vẹn như khi nó nhận được, hoặc không giao chứng từ đó cho bênthứ ba do phía xuất trình chỉ định
Chúng ta đều biết rằng bằng việc đồng ý mở L/C, ngân hàng mở cam kết thaymặt người mua thanh toán cho người xuất khẩu nếu anh ta thực hiện đúng nhưquy định của L/C Chính vì tính thay mặt cho người mua đã làm xuất hiện khảnăng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng mở Đó là rủi ro không đòi được tiền từ phíanhà nhập khẩu do người nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản.Đây chính là rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng mở Nguyên nhân
có thể là do ngân hàng không tiến hành thẩm định khi doanh nghiệp lần đầu tiênđến quan hệ mở L/C thậm chí ngân hàng có tiến hành thẩm định nhưng khôngphải lúc nào kết quả thẩm định cũng chính xác do thông tin không đầy đủ, không
Trang 17tin cậy hoặc do lúc ngân hàng thẩm định thì tình hình tài chính của khách hàngrất tốt nhưng trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà nhập khẩu bị thua lỗ liêntục mà ngân hàng không hay biết, chẳng hạn như hàng nhập khẩu về bán khôngthu được tiền, nợ đọng thuế nhập khẩu kéo dài bị hải quan cưỡng chế không chonhận hàng.
Ngân hàng thông báo
Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng thông báo khi ngân hàng này quyết địnhthông báo phải một L/C giả hoặc một tu chỉnh L/C không có hiệu lực trong khichính ngân hàng chưa xác định được tình trạng mã khoá (hay mẫu chữ ký uỷquyền đối với trường hợp phát hành L/C bằng thư) hoặc khi ngân hàng thông báoquyết định của mình cho ngân hàng mở biết một cách chậm trễ
Theo quy định của UCP 600, khi trên thư tín dụng chuyển bằng điện có ghi
"các chi tiết đầy đủ gửi sau" hay những từ có nội dung tương tự hoặc ghi rằng thưxác nhận sẽ là văn bản có hiệu lực của thư tín dụng thì điện chuyển sẽ khôngđược xem như là văn bản có hiệu lực Vì vậy, nếu ngân hàng thông báo về thư tíndụng cho khách hàng thì phải ghi rõ trên thông báo: "thông báo sơ bộ chưa cóhiệu lực thi hành" Khi ngân hàng thông báo không làm đúng điều đó để kháchhàng hiểu lầm rằng đó là L/C có hiệu lực và thực hiện giao hàng thì mọi rủi rongân hàng sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm
Ngân hàng xác nhận (nếu có)
Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng xác nhận là do không nắm chắc năng lực tàichính của ngân hàng mở lại vội đi xác nhận theo yêu cầu của họ để rồi cuối cùngphải nhận lãnh trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở trong trường hợpngân hàng mở thiếu thiện chí hoặc mất khả năng thanh toán thậm chí bị phá sản
Ngân hàng chiết khấu (nếu có)
Đối với ngân hàng chiết khấu rủi ro xảy ra phần nhiều tuỳ thuộc vào thiện chícủa ngân hàng mở và nhà nhập khẩu Ngân hàng chiết khấu sẽ không thu hồiđược tiền hoặc thu chậm là do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán, thậm chí từchối thanh toán thông qua việc "bới bèo ra bọ" trong việc kiểm tra chứng từ củangân hàng mở Lý do để người nhập khẩu trì hoãn chủ yếu là do gặp khó khăntrong thanh toán hoặc cũng có thể do bên mua không tin tưởng bên bán vì hay giao
Trang 18hàng trễ, giao hàng kém chất lượng Mục đích của người mua là muốn hàng thật sự
về cảng, nhìn thấy hàng rồi mới trả tiền Để trì hoãn thanh toán, họ sẽ yêu cầu ngânhàng mở thông báo những sai biệt của chứng từ trong vòng 5 ngày làm việc để dànhquyền được từ chối thanh toán sau này Đối với ngân hàng chiết khấu, thời gian trìhoãn thanh toán càng dài, ngân hàng bị chiếm dụng vốn càng lâu
2.1.2.2 Rủi ro đạo đức
Mặc dù trong phương thức tín dụng chứng từ, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗibên tham gia được quy định rõ ràng, song không phải lúc nào nguyên tắc đó cũngđược tôn trọng Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia cố tìnhkhông thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cácbên còn lại
Về phía người xuất khẩu, họ có thể lợi dụng về tính độc lập giữa bộ chứng từ thanhtoán và tình hình giao hàng thực tế để lập ra những bộ chứng từ giả mạo phù hợp với L/
C nhằm đòi tiền hàng Về phía người nhập khẩu, họ có thể không hoặc kéo dài thời gian
đi nhận chứng từ và trả tiền khi không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng do cơ hội kinhdoanh đã mất hay do các mối hàng khác hoặc tình hình trên thị trường hàng hoá cónhững biến động bất lợi Đặc biệt khi vay ngân hàng để mở L/C, họ có thể sử dụng sốtiền bán hàng vào mục đích khác, kinh doanh quay vòng thay vì thanh toán cho ngânhàng ngay như là một hình thức chiếm dụng vốn của ngân hàng
Đặc biệt các ngân hàng mở cũng có thể vi phạm cam kết của mình như đứng
về phía người nhập khẩu từ chối hoặc trì hoãn thanh toán cho người xuất khẩu
Đó là chưa kể tới không ít trường hợp cán bộ ngân hàng và khách hàng thôngđồng với nhau cố tình vi phạm quy trình thanh toán của ngân hàng nhằm chiếmdụng vốn của ngân hàng và bạn hàng
Tất cả những rủi ro do những vi phạm nêu trên đều được coi là rủi ro đạo đức Ngàynay, khi quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế được mở rộng thì rủi ro đạo đức trởthành mối quan tâm lớn không chỉ của các ngân hàng mà cả doanh nghiệp nhằm bảo toànvốn và an toàn trong kinh doanh Mặc dù trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
đã có sự cam kết của ngân hàng mở, nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người bán vàngười mua vẫn được coi là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn và hiệu quả củathanh toán quốc tế Khi người mua có thiện chí thì việc thanh toán sẽ diễn ra thuận lợi
Trang 19hơn rất nhiều cho dù bộ chứng từ có sai sót cũng dễ được chấp nhận Ngược lại, khi họ có
ý không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể do cơ hội kinh doanh đã mất hay do cácmối hàng khác họ có thể dựa vào những sai sót dù là rất nhỏ của chứng từ để đòi giảmgiá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán Vớingười mua, sự trung thực của người bán cũng rất quan trọng, bởi vì ngân hàng chỉ làmviệc với những chứng từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay không
Do đó, người mua có thể vẫn phải thanh toán L/C với ngân hàng mà không nhận đượchàng hoá theo đúng hợp đồng Các vi phạm về hợp đồng có thể được giải quyết sau đónhưng phải mất nhiều thời gian và phí tổn, trước hết là người mua mất cơ hội kinh doanh
và bị chiếm dụng vốn Song ảnh hưởng gián tiếp chỉ là rất nhỏ so với những rủi ro trựctiếp mà nó có thể gây ra Nguyên nhân chủ yếu của rủi ro đạo đức là vấn đề thông tinkhông đầy đủ, thiếu chính xác về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh cũng như về
uy tín và tính trung thực của đối tác Chính vì vậy mà đưa ra những phán quyết sai lầmgây nên rủi ro trong thanh toán
Để hạn chế rủi ro đạo đức, vấn đề cốt lõi là khắc phục tình trạng thông tinkhông cân xứng Đứng ở góc độ nhà xuất khẩu, phải tiến hành điều tra, thu thậpthông tin chính xác về khách hàng để có thể sàng lọc những khách hàng chấtlượng Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn cả vẫn là uy tín của khách hàng
2.1.2.3 Rủi ro chính trị
Rủi ro chính trị trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
là những rủi ro bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế, chính trị của các nước có liênquan trong quá trình thanh toán
Tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề, có quan hệ với nhiều đối tượngkinh tế của nhiều quốc gia, thanh toán quốc tế mà chủ yếu là phương thức thanhtoán tín dụng chứng từ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường kinh tế - chínhtrị - xã hội của các quốc gia Một khi các yếu tố trên biến động dù là nhỏ cũng sẽảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởng tới quá trình thanh toán
Rủi ro chính trị thường gặp nhất là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lý đặc biệt ởnhững nước có hệ thống pháp luật chưa ổn định, thường xuyên có sửa chữa bổ sung.Những rủi ro pháp lý thường liên quan đến việc thay đối các quy định về dự trữ, thuế
Trang 20hay việc ban hành các quy định cản trở hoạt động của ngân hàng trong lĩnh vực thanhtoán quốc tế Trong thực tế, những thay đổi này thường khiến các bên xuất nhập khẩu
và ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình, làm cho L/C bị huỷ bỏ, gây thiệt hạicho các bên Sự phong toả kinh tế của các quốc gia vì mục đích chính trị như trườnghợp CuBa Iraq hay Việt Nam trước đây cũng mang lại những rủi ro tương tự
Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh, đảo chính,đình công cũng có thể gây ra rủi ro cho quá trình thanh toán như mất chứng từ, hànghoá bị mất mát, hư hỏng, ngân hàng bị phong toả hoặc tạm ngừng hoạt động
Những biểu hiện bất lợi của các yếu tố kinh tế - chính trị còn được nhân lên gấpnhiều lần khi nó ảnh hưởng đến sự ổn định giá trị đồng tiền Vì phương thức thanhtoán tín dụng chứng từ thường liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau với đồng tiềnkhác nhau nên rủi ro do thay đổi tỷ giá cũng là một rủi ro rất lớn tuy không xuất phát
từ quá trình thanh toán Một ngân hàng có thể bị thiệt hại khi cho khách hàng vay để
mở L/C hoặc chiết khấu chứng từ khi tỷ giá thay đổi Trong các giao dịch, người tathường dùng các ngoại tệ mạnh hơn để làm đơn vị tiền tệ, mà chủ yếu là USD.Thông thường, ngân hàng cho khách hàng vay ngoại tệ để thanh toán L/C, và có thểphải mua ngoại tệ này ở nơi khác Khi người mua trả tiền cho ngân hàng, nếu tỷ giátăng thì ngân hàng thu được một khoản chênh lệch tỷ giá bổ sung Ngược lại, nếu tỷgiá giảm thì khoản phí thu được chưa chắc đã bù đắp được khoản lỗ do chênh lệch
tỷ giá gây ra Ngoài việc ngân hàng buộc khách hàng phải ký quỹ mở L/C bằngngoại tệ mạnh sẽ không chỉ gây thiệt hại cho khách hàng trong giai đoạn tỷ giákhông ổn định mà nhiều khi còn tiềm ẩn những rủi ro đối với ngân hàng Vì ngânhàng nhà nhập khẩu không thể lường trước được mức độ trượt giá đồng nội tệ so vớingoại tệ mạnh nên khi hàng nhập về, tỷ giá trượt mạnh, đối với những mặt hàng bángiá cạnh tranh không thể tăng giá được, nhà nhập khẩu không muốn nhập hàng vì sợ
bị lỗ Trong trường hợp đó, nếu tỷ lệ ký quỹ không bù đắp tỷ lệ trượt giá nội tệ thìrủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng phát hành
Các biến động kinh tế, chính trị, xã hội dù trực tiếp hay gián tiếp, tức thì hay lâu dàiđều gây những ảnh hưởng tới hoạt động của các ngân hàng và khách hàng Vì vậy, rủi
ro chính trị luôn là mối đe dọa đến hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng
Trang 21Bên cạnh những rủi ro trên, hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụngchứng từ cũng như các hoạt động khác của ngân hàng còn gặp phải nhiều rủi ro bất khảkháng như thiên tai, hoả hoạn gây thiệt hại cho các bên nói riêng và nền kinh tế nói chung.Ngoài ra, các loại L/C cũng tiềm ẩn trong nó những rủi ro riêng Hiện nay, L/
C là phương thức thanh toán có nhiều loại hình đa dạng và thuận tiện nhất chocác hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng và phát triển Do đó, việcnghiên cứu các loại L/C hiện có và rủi ro của nó cũng rất cần thiết
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN HÀNG XUẤT KHẨU THEO PHƯƠNG THỨC
Vào đầu những năm 1980, trong bối cảnh nhà nước thử nghiệm cơ chế mới
“tự cân đối – tự trang trải”, cùng với nhu cầu khách quan về phát triển kinh tếthủy sản khu vực Miền Trung, ngày 26 tháng 2 năm 1983, Chi nhánh xuất khẩuthủy sản Đà Nẵng, tiền thân của Công ty xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trungđược thành lập thay thế cho trạm tiếp nhận thủy sản Đà Nẵng, xây dựng một môhình làm ăn mới
Công ty Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Miền Trung được thành lập theo quyếtđịnh số 242/TS-QĐ ngày 31/3/1993 của Bộ Thuỷ Sản, là Doanh nghiệp nhà nướchoạch toán độc lập, đơn vị thành viên của Tổng Công ty Thuỷ sản Việt Nam(Seaprodex Việt Nam), được nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạtđộng kinh doanh về thuỷ sản, phục vụ sản xuất kinh doanh thuỷ sản và các nghềkhác theo qui định của pháp luật Công ty có quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ về
Trang 22tài chính, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Tổng Công ty Thuỷsản Việt Nam
Nguyên tắc hoạt động kinh doanh của Công ty là gắn thương mại với sảnxuất, gắn kinh tế với chính trị xã hội, không ngừng tạo thế và lực cho mình mànội dung cơ bản là tạo vốn, tạo cơ sở vật chất, tạo uy tín, xây dựng một đội ngũquản lý, cán bộ nghiệp vụ kỹ thuật và công nhân lành nghề tận tâm, tận lực vì sựphát triển của Công ty, linh hoạt thích nghi, đảm bảo hài hoà lợi ích
Hiện nay, Công ty đã cổ phần hóa: căn cứ điều 3 nghị định 187/2004 củaChính phủ về việc chuyển Công ty nhà nước thành Công ty cổ phần (hình thức
cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước) Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh,
kế hoạch đầu tư sau khi cổ phần hóa, hình thức cổ phần hóa công ty xuất nhậpkhẩu thuỷ sản Miền Trung là giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghệp,phát hành thêm cổ phiếu để thu hút thêm vốn và có tên đầy đủ sau khi cổ phầnhóa như sau:
Tên Công ty: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thuỷ Sản Miền Trung(Seaprodex Danang)
Điạ chỉ trụ sở chính : 263 Phan Chu Trinh, TP Đà Nẵng
Điện thoại : 05113.821436
Fax : 05113.823769
Email : seadana@hn.vnn.vn
Website : www seadanang.com.vn
Công ty có các cơ sở sản xuất - kinh doanh như sau
Chi nhánh Công ty: Công ty Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Thọ Quang
Địa chỉ: Khu Dịch vụ Thuỷ sản Thọ Quang, Phường Thọ Quang, Quận SơnTrà, Thành phố phố Đà Nẵng
Điện thoại: (0511).3921959 Fax: (0511).3921958
Chi nhánh Công ty: Công ty Phát triển Nguồn lợi Thuỷ sản
Địa chỉ: Khu Công nghiệp Điện Nam- Điện Ngọc, Huyện Điện Bàn, TỉnhQuảng Nam
Điện thoại: (0510) 9444499 Fax: (0510).943974
Chi nhánh Công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 23Địa chỉ: Số 166 Nguyễn Công Trứ , Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: (08).823472- 8215330 Fax: (08).8210736
Chi nhánh Công ty tại Thành phố Hà Nội
Địa chỉ: Số 645/3 Kim Ngưu, Phường Vĩnh Tuy, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.Điện thoại: (04).6367597 - 6367599 Fax: (04) 6367598
Nhà máy chế biến thực phẩm Sơn Trà (địa điểm kinh doanh) trực thuộc
Trong suốt quá trình hoạt động toàn Công ty không ngừng phấn đấu vươn lên
để khắc phục những khó khăn này đến khó khăn khác, tự hoàn thiện bản thânmỗi cán bộ nhân viên từng bước đưa Công ty vượt qua hết khó khăn Điều nàyminh chứng là doanh số của Công ty ngày càng cao, thị trường ngày càng mởrộng, đội ngũ lao động ngày càng đông đủ, chất lượng ngày càng cao, đóng gópcho nhà nước qua nghĩa vụ đóng thuế, các hoạt động xã hội ngày càng nhiều hơn,tiếp tục là thành viên nòng cốt, vững mạnh của Công ty xuất khẩu thuỷ sản Việtnam tại khu vực miền Trung Quá trình phát triển của Công ty được chia làm 3giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1983-1988: Là giai đoạn hình thành, ổn định Công ty hoạt độngtheo mô hình tổ chức quản lý tập, chỉ đạo trực tuyến Công ty đã vận dụng, pháthuy linh hoạt cơ chế “ tự cân đối- tự trang trải “, góp phần vực dậy và khích lệngành kinh tế thuỷ sản toàn khu vực vượt qua khủng hoảng, tạo tiền đề để pháttriển Kim ngạch xuất khẩu đạt 31,39 triệu USD, giá trị chế biến thuỷ sản đạt0,77 triệu USD với 2 nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu
Trang 24- Giai đoạn 1989- 1997: Là giai đoạn hội nhập nền kinh tế thị trường, Công
ty chuyển đối sang mô hình phân cấp tự chủ đến các đơn vị thành viên, điều hànhcác đơn vị thành viên bằng các quy chế và theo định hướng phát triển thống nhấttoàn Công ty, đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra các đơn vị kinh doanh vàtài chính tại các đơn vị thành viên
Trong giai đoạn này, Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng, đangành, trong đó lấy hoạt động xuất nhập khẩu làm nòng cốt Kim ngạch xuấtkhẩu đạt 147,97 triệu USD, giá trị chế biến thuỷ sản đạt 43,59 triệu USD với 2nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu
- Giai đoạn 1998-2002: Được xem là giai đoạn đầu tư đổi mới công nghệ,tăng cường năng lực sản xuất Trong giai đoạn này, Công ty củng cố tổ chức cácđơn vị ngoài được mở rộng Kim ngạch xuất khẩu đạt 172,08 triệu USD, giá trịchế biến thuỷ sản đạt 53,2 triệu USD với 4 nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu
- Giai đoạn 2003-2007: là giai đoạn thực hiện chủ trương của nhà nước về sắpxếp, đổi mới Doanh nghiệp Seaprodex Danang không thuộc diện giữ lại làDoanh nghiệp nhà nước nên Bộ Thuỷ Sản đã có quyết định cổ phần hóa Công tytrong năm 2006 Công ty tiến hành các bước sắp xếp các đơn vị thành viên cònlại, đánh giá lại tài sản, xác định giá trị Doanh nghiệp, sắp xếp lại lao động…chuẩn bị cho cổ phần hóa Công ty
- Giai đoạn 2007 đến nay : Việt Nam gia nhập vào tổ chức thương mại thếgiới mang lại nhiều cơ hội lẫn thách thức cho các doanh nghiệp trong nước nóichung và Seaprodex nói riêng Hơn nữa, mấy năm gần đây tình hình tài chính thếgiới không ổn định kèm theo những vấn đề như lạm phát, tỷ giá hối đoái thayđổi đã gây ra nhiều thách thức hơn là cơ hội cho công ty Trong giai đoạn này,Seaprodex đang cố gắng hoàn thiện hơn sản phẩm nhằm đáp ứng tốt nhu cầungày càng cao của khách hàng, cũng như ra sức đáp ứng tốt nhiều thị trường mớikhi Việt Nam gia nhập WTO
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Seaprodex DaNang
1.1.2.1 Chức năng
Chức năng tổng quát: thực hiện chức năng kinh doanh đa dạng sản xuất kinh
doanh hàng thuỷ sản xuất khẩu và nội địa, kinh doanh vật tư, thiết bị tiêu dùng,
Trang 25sản xuất thức ăn nuôi tôm, hoạt động xây lắp, sản xuất bao bì và sản xuất kinhdoanh dịch vụ của các thành viên trực thuộc.
Chức năng cụ thể: tổ chức sản xuất và chế biến các sản phẩm thuỷ sản, thực
hiện hoạt động xuất nhập khẩu và chế biến thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản, thựchiện thương mại Xuất Nhập Khẩu, các vật tư thiết bị, phục vị ngành thuỷ sản
1.1.2.2 Nhiệm vụ
- Kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký, phù hợp với mục tiêu thànhlập Tự tạo nguồn vốn cho kinh doanh, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồnvốn, bảo đảm đầu tư, mở rộng kinh doanh theo hướng đa dạng, đa tuyến, khôngngừng đổi mới trang thiết bị, tự bù đắp chi phí, cân đối giữa xuất và nhập
- Phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu xuất nhập khẩu, xây dựng và đào tạo cán bộkinh doanh kỹ thuật có trình độ ngày càng cao
- Nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết trong hợp đồng mua bán ngoại thương
và hợp đồng khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty
- Thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường và làm tròn nghĩa vụ đối vớinhà nước
1.1.2.3 Quyền hạn
Công ty Xuất Nhập Khẩu Thuỷ Sản Miền Trung là một doanh nghiệp cổ phầntrực thuộc Bộ Thuỷ Sản có tư cách pháp nhân, hoạch toán độc lập, có con dấuriêng Công ty có tài khoản mở tại nhiều ngân hàng như: Ngân hàng Ngoạithương Vietcombank, Ngân hàng Eximbank Đà Nẵng, ngân hàng quốc tếVIBank… để phục vụ công tác giao dịch tài chính được thuận lợi và có cácquyền hạn cơ bản sau:
- Quyền tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh, chủ động xây dựng kếhoạch sản xuất kinh doanh cho mình
- Quyền sử dụng và huy động vốn từ các đơn vị kinh tế khác nhưng phải đảmbảo khả năng hoàn trả
- Quyền cân đối nguồn lực sản xuất, toàn chỉnh cơ cấu tài sản theo yêu cầucủa quy trình công nghệ mới, phát triển quy mô sản xuất, nâng cao chất lượngsản phẩm
- Quyền hợp tác, liên doanh, liên kết với các đơn vị khác
Trang 261.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của Seaprodex DaNang
1.1.3.1 Mô hình cơ cấu quản lý của Seaprodex DaNang
và KD vật tư
Ban xuất khẩu
Văn Phòng công ty
Công
ty PT Nguồn Lợi Thuỷ Sản
Xí nghiệp kho vận Sài Gòn
Xí nghiệp thuỷ sản Nha Trang
Cty CBiến Thuỷ Sản Cam Ranh
Trung tâm DV Thuỷ sản Hà Nội
Công ty Thọ Quang
Xí nghiệp F10
Phòng kho vận Đà Nẵng
Trang 27Quan hệ chức năng
Sơ đồ 2.1: Mô hình cơ cấu tổ chức quản lý của Seaprodex Đà Nẵng
1.1.3.2 Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận quản lý
Đại hội đồng Cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty Cổ phần XuấtNhập khẩu Thủy sản Miền Trung Đại hội đồng Cổ đông có nhiệm vụ thông qua cácbáo cáo của Hội đồng Quản trị về tình hình hoạt động kinh doanh; quyết định cácphương án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và đầu tư; tiến hành thảo luận thông qua,
bổ sung, sửa đổi Điều lệ của Công ty; thông qua các chiến lược phát triển; bầu ra Hộiđồng Quản trị, Ban kiểm soát; quyết định bộ máy tổ chức của Công ty
Hội đồng Quản trị
Hội đồng Quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của Công ty giữa hai kỳ đại hội,đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hội đồng Quản trị nhân danh Công ty quyếtđịnh mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của Công ty Hội đồng Quản trịCông ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Thủy sản Miền Trung có 5 thành viên
Ban Kiểm soát
Ban Kiểm soát thay mặt Đại hội đồng Cổ đông để kiểm soát mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh, quản trị điều hành Công ty, Ban kiểm soát có 3 thành viên
Ban giám đốc công ty
Giám đốc công ty: do tổng công ty thuỷ sản bổ nhiệm, có quyền trực tiếp
điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thông qua trưởngphòng của các bộ phận, phối hợp với các bộ phận để điều hành trực tiếp xuốngcán bộ công nhân viên của từng bộ phận mình
Phó giám đốc công ty: Tham mưu trợ giúp cho giám đốc Công ty có 2
phó giám đốc: một người là tham mưu cho giám đốc trong công việc hằng ngày,phụ trách nhập khẩu, quản lý các chi nhánh ở Hà Nội và Hồ Chí Minh và có thểđược giám đốc uỷ quyền khi vắng mặt Một người chuyên phụ trách việc quản lýcông ty phát triển nguồn lợi thuỷ sản, xí nghiệp 10 và là chủ tịch công đoàn
Các phòng ban chức năng
Trang 28Ban nhập khẩu: tham mưu cho giám đốc trong việc xây dựng các chiến lược
kinh doanh Tổ chức thực hiện các hợp đồng ngoại thương, thực hiện các thủ tụcnhập khẩu và thủ tục uỷ thác nhâp khẩu
Ban Xuất khẩu: tham mưu cho giám đốc trong nghiên cứu xây dựng các chiến
lược kinh doanh xuất khẩu, thị trường xuất khẩu, giá cả, cơ chế, các chính sáchcủa Nhà Nước về xuất khẩu và thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu
Phòng kinh doanh hàng thuỷ sản nội địa: có chức năng tham mưu cho giám đốc
trong việc nghiên cứu, xây dựng các chiến lược kinh doanh hàng thuỷ sản nội địa, mởrộng thị trường, thực hiện các hợp đồng kinh doanh theo sự phân công của công ty
Văn phòng công ty: tham mưu cho giám đốc trong việc xây dựng mô hình tổ
chức bộ máy quản lý, công tác nhân sự, quản lý tiền lương, pháp chế thi đua, kếhoạch công tác, thực hiện việc đối nội, đối ngoại theo sự uỷ quyền của giám đốc
Ban tài chính- kế hoạch-đầu tư: tổ chức, hạch toán, thống kê quản lý việc sử dụng
vốn, giải quyết các vấn đề thuộc về tài chính ngân hàng, định kỳ kiểm tra quyết toán củacác đơn vị thành viên Tổ chức công tác marketing chung, lập báo cáo định kỳ gởi cáccấp, xác định các chiến lược kinh doanh, thiết kế, phân phối, tiêu thụ sản phẩm
Phòng kinh doanh kho vận: Có chức năng quản lý hệ thống kho bãi, phương
tiện vận chuyển, máy móc thiết bị, vận hành và bảo dưỡng hệ thống kho lạnh đểđảm bảo phục vụ bảo quản lạnh hàng thuỷ sản, hàng vật tư
1.1.4 Tình hình nguồn lực sản xuất kinh doanh của Seaprodex
1.1.4.1 Cơ sở vật chất kỷ thuật
Toàn bộ máy móc trang thiết bị chính của công ty được nhập khẩu từ NhậtBản và Đài Loan Hầu hết máy móc nằm trong diện đầu tư tài sản cố định củacông ty Sau đây là một số máy móc thiết bị chính của công ty:
Máy móc thiết bị nhà xưởng
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng máy móc thiết bị tại công ty
lượng(cái)
Công suất thiết kế
Công suất sử dụng
Hiệu suất sử dụng(%)
Máy sản xuất nước đá 1 20 tấn/ngày 18 tấn/ngày 90
Dây chuyền chế biến hàng đông 2 500 kg/ngày 250 kg/ngày 50Dây chuyền chế biến hàng khô 2 500 kg/ngày 130 kg/ngày 26
Trang 29Thiết bị cấp đông IQF 1 0.2 tấn/giờ 0.2 tấn/giờ 100
( Nguồn: Phòng xuất khẩu Seaprodex )
Nhìn chung tình hình sử dụng máy móc trang thiết bị là khá cao Máy mócđược sử dụng tối đa công suất thiết kế từ đó cho thấy công ty đã tận dụng hiệuquả máy móc phục vụ cho năng lực sản xuất Nhưng dù sao đi nữa, công ty vẫnphải cố gắng thay đổi các thiết bị hiện nay để có những máy móc, thiết bị tiêntiến hơn để đảm bảo chất lượng cũng như năng suất chế biến sản phẩm của mình
Đất đai
Bảng 2.2 : Bất động sản thuộc sở hữu của công ty
Đất của công ty
- Khu đất nhà 9 gian Bắc Mỹ An-ĐN 1 335.92
- Văn phòng làm việc 21-Lê Hộng Phong-ĐN 1 212.46
- Văn phòng 261-263 Phan Châu Trinh-ĐN 1 308.80
- Văn phòng 166-Nguyễn Công Trứ-Tp HCM 1 90.45
- Nhà kho và dịch vụ-31 Ngũ Hành Sơn 1 10,456.40
- VP,Xí nghiệp CB và XK TS thọ Quang 1 36,147.00
- VP, NM công ty phát triển nguồn lợi thuỷ sản 1 20,020.00
- VP, NM chế biến thuỷ sản Cam Ranh 1 11,780.00
(Nguồn : Phòng xuất khẩu Seaprodex )
1.1.4.2 Tình hình nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới suốt quá trìnhkinh doanh cũng như hiệu quả, mục tiêu đạt tới lợi nhuận của doanh nghiệp Vìvậy, phát triển yếu tố con người là một khâu không thể thiếu trong tổ chức hệthống của doanh nghiệp Ngày nay, khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão cộng
Trang 30với sự bùng nổ về công nghệ thông tin giúp đỡ cho con người rất nhiều với cácmáy móc thiết bị hiện đại Song con người vẫn là yếu tố hết sức quan trọng vàkhông thể thiếu được, là một trong các yếu tố đầu vào cần thiết giúp quá trình sảnxuất kinh doanh của công ty thuận lợi.
Trình độ lao động phân chia theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giới tínhđược thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.3 : Cơ cấu lao động tại công ty
Chỉ tiêu
Số lượng T/T (%) Số lượng T/T (%) Số lượng T/T (%)
Cơ cấu lao động
1 phân theo giới tính
(Nguồn: Phòng xuất khẩu Seaprodex )
Theo bảng cơ cấu nguồn lực ở trên, ta có thể thấy lao động nữ chiếm tỉ trọngkhá lớn Điều này là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của ngành thuỷ sản nóichung và tại công ty nói riêng là cần nhiều lao động nữ
Do hoạt động của Công ty chủ yếu trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu thuỷsản nên lực lượng lao động trực tiếp chiếm đa số và tỉ trọng này ít thay đổi quacác năm Lao động gián tiếp của Công ty tuy chiếm tỉ trọng thấp nhưng có trình
độ cao, chủ yếu tập trung ở ban quản lý tại văn phòng Công ty và các đơn vịthành viên Ta lại thấy lao động trực tiếp chiếm tỷ lệ cao, lực lượng lao động củacông ty có xu hướng tăng giữa năm 2007 và 2008, nhưng tới năm 2009 lại giảm
do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, nên nhu cầu cắtgiảm nguồn lực đối với một công ty như Seaprodex là không thể tránh khỏi
Trang 31Lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất qua các năm Lực lượng lao động
có trình độ Đại Học và cao đẳng tăng dần, điều này chứng tỏ công ty đang bỏsung nguồn lực có trình độ cao nhằm tăng chất lượng quản lý của công ty, đây làlực lượng nòng cốt ở tất cả các bộ phận kinh doanh xuất nhập khẩu và bộ phậnhướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra chất lượng hàng hoá
Như vậy đội ngũ nhân lực của công ty được phân bổ một cách hợp lý, đápứng tốt được yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay
1.1.4.3.Tình hình tài chính của công ty
Tài chính là một nguồn lực quan trọng của bất kì một doanh nghiệp nào Nắm
rõ thực trạng tài chính của mình sẽ giúp cho các doanh nghiệp khai thác đượctiềm năng, cũng như dự đoán các xu hướng phát triển trong tương lai, đưa rađược những quyết định quan trọng liên quan đến tài chính và hầu như mọi quyếtđịnh đều cần phải có sự trợ giúp đắc lực của nguồn tài chính
Tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm 2007-2009 từbáo cáo tài chính của Công ty như sau:
Trang 32Bảng 2.4 : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
(Nguồn : Phòng xuất khẩu Seaprodex)
Bảng 2.5: Tổng kết tài sản nguồn vốn của công ty
TSLĐ và ĐTNH 439,421,602,052 84.42 382,837,291,761 80.36 459,700,538,469 84.18
Trang 33Tiền 20,166,020,934 3.87 9,975,416,969 2.09 15,522,130,005 2.84Khoản phải thu 299,079,307,161 57.46 293,340,447,044 61.58 294,438,601,624 53.92Hàng tồn kho 102,419,746,799 19.68 62,795,757,742 13.18 136,294,715,366 24.96TSLĐ khác 17,756,527,158 3.41 16,725,670,006 3.51 13,445,136,474 2.46TSCĐ và ĐTDH 81,106,434,204 15.58 93,591,870,063 19.64 86,369,773,768 15.82TSCĐ 80,053,334,204 15.38 79,383,810,063 16,66 69,848,293,768 12.79Khoản ĐTCKDH 1,053,100,000 0.2 14,208,060,000 2.98 16,521,480,000 3.03
Tống tài sản 520,528,036,256 100.00 476,428,161,824 100.00 546,070,257,237 100.00Nguồn vốn
(Nguồn : Phòng xuất khẩu Seaprodex)
Theo bảng cân đối kế toán ta thấy tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm tỷtrọng khá cao điều này chứng tỏ để xoay chuyển các khoản nợ ngắn hạn thì không mấykhó khăn đối với công ty, nhưng đi kèm theo nó là việc tỷ suất sinh lợi không cao, vìchúng ta đã biết tài sản dài hạn thì tỷ suất sinh lợi sẽ cao hơn tài sản ngắn hạn
Trong tổng tài sản thì tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn từ năm 2007 đến 2009 :năm 2007 chiếm 84.42%, năm 2008 chiếm 80.36%, năm 2009 chiếm 84.18%
Khoản phải thu chiếm từ 57.46% xuống còn 53.92%, như vậy tình trạng nợcủa khách hàng là giảm qua các năm
Về nguồn vốn, ta thấy sự đóng góp của vốn ngắn hạn là khá cao, luôn chiếm
tỷ lệ trên 80% tổng số vốn, điều này đặt ra áp lực trả nợ khá lớn cho công ty.Nguồn vốn chủ sở hữu năm 2008 tăng hơn so với năm 2007, tuy nhiên đến năm
2009 lại giảm xuống
Trang 34Dựa vào bảng cân đối kế toán trên, ta có thể tính được một số thông số tàichính nhằm hiểu rõ hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp
Điều này có thể là do chính sách thu nợ khá chặt chẽ của công ty, kỳ thu tiềnbình quân ngắn, thể hiện qua vòng quay khoản phải thu ở bảng sau:
Bảng 2.6 : Chỉ số vòng quay khoản phải thu của công ty từ năm
2007 - 2009
( Nguồn : Phòng xuất khẩu Seaprodex)
1.1.5 Tình hình hoạt động kinh doanh
1.1.5.1 Lĩnh vực hoạt động và sản phẩm kinh doanh
Các lĩnh vực kinh doanh chính của Seaprodex
- Chế biến - xuất khẩu thủy sản
- Kinh doanh vật tư nhập khẩu
- Kinh doanh dịch vụ kho vận
- Sản xuất thức ăn chăn nuôi thủy sản
Mặt hàng xuất khẩu của công ty
Mặt hàng kinh doanh xuất khẩu chủ yếu của Công ty là hàng thuỷ sản đượcchế biến tại hai xí nghiệp thành viên, xí nghiệp trong khu vực và cả nước baogồm các loại: tôm thẻ, tôm chì, tôm sú, tôm sắt, mực nang, cá thu, cá chim, cángừ và các loại thuỷ sản khác Mặt hàng xuất khẩu của công ty hiện nay khá đadạng ,có chất lượng tốt và giá thành hạ , đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.Mặt hàng xuất khẩu của công ty bao gồm :
+Sản phẩm khô :cá khô ,mực khô
+Sản phẩm đông block : tôm HLSO ,tôm thịt CPTO
Trang 35+Sản phẩm fastfood
+Sản phẩm bán lẻ đóng gói :tôm ,mực nang
+Sản phẩm đông rời IQF :chế biến dưới dạng rời ,gồm tôm HLSO,mực các loại
1.1.5.2 Cơ cấu mặt hàng và thị trường xuất nhập khẩu
Bảng 2.7: Sản lượng và kim ngạch hàng xuất khẩu (2007-2009)
Trị số Tăng,
giảm Trị số
Tăng,giảm Trị số
Tăng,giảmSản lượng (Kg) 4055308.14 -65.8 17015595.75 3.2 3277875.3 -80.7Kim ngạch(USD) 17211396.55 -54.96 31526794.21 83.1 17453623.6 -44.6
( Nguồn : Phòng xuất khẩu Seaprodex)
Biểu đồ 2.1 : Biểu đồ thể hiện Sản lượng và kim ngạch hàng xuất khẩu
0 10000000
Ta thấy rằng, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng của công tytăng giảm theo quy luật Dó là năm 2008, tăng tới năm 2009 lại giảm Điều này
có thể giải thích bởi tình hình biến động về kinh tế, năm 2008 khủng hoảng kéodài tới 2009 Nên các nhà nhập khẩu các nước có phần hạn chế nhập khẩu Hơnnữa, công ty cũng không có một nguồn hàng dồi dào để có thể đáp ứng đượcnhiều nhu cầu trong tình hình thị trường có nhiều biến động
Bảng 2.8 : Cơ cấu mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu ( 2007-2009)
Trang 36Giá trị (1000 USD)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (1000 USD)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (1000 USD)
Tỷ trọng (%)
( Nguồn : Phòng Xuất khẩu Seaprodex)
Biểu đồ 2.2 : Biểu đồ cơ cấu mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu ( 2007-2009)
1000USD
0 2 4 6 8 10 12 14 16
1.Tôm đông 2.Mực đông 3.Cá đông 4.Sản phẩm khác
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Trong những năm qua ,tôm vẫn luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty ,năm
2007 xuất khẩu mặt hàng này chiếm một tỷ trọng cao (>50%) so với các mặt hàng xuất
khẩu khác Tuy nhiên, năm 2008 mặt hàng tôm tại công ty có sự giảm sút, chiếm 35,5% về
tỉ trọng Sự suy giảm này xuất phát từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 - đầu
năm 2009 Nhưng tới năm 2009, tỷ trọng xuất khẩu của tôm rất cao chiếm 81,43%
Trái ngược với mặt hàng tôm ,mặt hàng cá có giảm sút đáng kể Từ 35,32%
năm 2007 xuống còn 7,45% năm 2009
Ngoài 2 mặt hàng trên ,các mặt hàng còn lại đều có sự gia tăng từ năm 2007
-2008 và giảm tới 2009 Sự giảm sút này chứng tỏ công ty đang gặp nhiều vấn đề
trong xuất khẩu, làm giảm số lượng và chất lượng xuất khẩu Vì vậy, công ty cần
có kế hoạch đề ra phù hợp với môi trường kinh doanh có nhiều biến động này
Bảng 2.9 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu thời kỳ 2007-2009
Trang 37Giá trị(1000 USD)
Tỷtrọng (%)
Giá trị(1000 USD)
Tỷtrọng (%)
Giá trị(1000 USD)
Tỷtrọng (%)
( Nguồn : Phòng xuất khẩu Seaprodex)
Biểu đồ 2.3: Các biểu đồ thể hiện cơ cấu thị trường xuất khẩu thời kỳ 2007-2009
Trang 38Năm 2007
1.Hoa Kỳ 2.Nhật Bản 3.EU 4.HK&TQ 5.Đài Loan 6.Nước khác
Năm 2008
1.Hoa Kỳ 2.Nhật Bản 3.EU 4.HK&TQ 5.Đài Loan 6.Nước khác
Năm 2009
1.Hoa Kỳ 2.Nhật Bản 3.EU 4.HK&TQ 5.Đài Loan 6.Nước khác
Ở châu Á ,thị trường Nhật là thị truờng truyền thống của công ty và luônchiếm một tỷ trọng nhập khẩu lớn trong châu lục (>20%) Sản phẩm xuất khẩusang thị trường này chủ yếu là tôm sú ,cá fillet và mực cao cấp với chất lượngcao Đây là thị trường có nhu cầu về thuỷ sản khá lớn và tương đối ổn định ,xuấtkhẩu thuỷ sản sang thị trường này không đòi hỏi khắt khe về chất lượng sảnphẩm Đây là một thuận lợi khi công ty xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này.Bên cạnh thị trường Nhật ,Mỹ là thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn của công
ty trong những năm gần đây Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu của công ty sangthị trường này trong các năm có tăng nhưng với tỷ lệ thấp, vì vậy công ty cần cóchính sách để đẩy mạnh sản phẩm sang thị trường đầy tiềm năng này
EU cũng là một thị trường truyền thống và đầy tiềm năng của công ty, thịphần luôn chiếm một tỷ lệ khá cao và tăng nhanh qua các năm
1.1.5.3 Tình hình khách hàng
a Tình hình nhập khẩu thủy sản Nhật Bản
Sau khi trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế, việc nhập khẩu thủy sản của NhậtBản từ công ty đã giảm sút từ 9.182.147,93 USD năm 2008 xuống còn
Trang 396.132.700,39 USD năm 2009; nhưng so với các thị trường khác thì Nhật vẫn làthị trường truyền thống và đấy tiềm năng
Các mặt hàng thủy sản Nhật Bản thường nhập khẩu là:
- Tôm đông lạnh với số lượng gần 900.000 Kg/năm, đạt 11 triệu USD, mộtgiá trị đáng kể so với các thị trường Hơn nữa nhu cầu từ Nhật luôn tăng hoặc giữmức ổn định hơn so với các thị trường khác
- Mực đông với số lượng hơn 200.000 Kg trên một năm tương đương vớihơn 2 triệu USD trên một năm
- Ngoài ra, còn có các mặt hàng như cá đông, các sản phẩm khác được xuấtkhẩu sang Nhật chiếm tỷ trọng khá là lớn so với các thị trường khác
Nhìn chung, thị trường Nhật Bản có lúc gặp khó khăn nhưng vẫn luôn là thịtrường nhưng vẫn luôn là thị trường nhập khẩu lớn nhất Mức nhập khẩu thủy sản
có giá cao như tôm, cá ngừ phụ thuộc vào sự phục hồi của nền kinh tế và sự ổnđịnh chính trị của Nhật Bản Tuy nhiên, dù thị trường này đang phục hồi dần,nhưng rõ ràng vẫn còn chứa đựng nhiều biến động khó dự đoán trước một cáchchính xác Do đó, việc đa dạng hoá các sản phẩm thủy sản bao gồm cả các mặthàng có giá trị trung bình như cá đông lạnh nguyên liệu, cá tươi nguyên liệu đểxuất khẩu vào Nhật sẽ có hiệu quả cao hơn Vấn đề thanh toán với thị trường nàythường thuận lợi hơn các thị trường khác do doanh nhân Nhật thường có tiền vàluôn có sự hỗ trợ khách hàng đáng kể
Mỹ là cường quốc thứ hai thế giới về nhập khẩu thủy sản, sau Nhật Bản Năm
2008, Mỹ nhập khẩu từ công ty 469.538 Kg đạt giá trị 2.400.427,40 USD, năm
Trang 402009 giảm xuống còn 448.004,83 đạt 2.672.390,32 USD Về lượng thì giảm,nhưng về mặt giá trị lại tăng do sự gia tăng về giá cả.
Tóm lại, Mỹ nhập khẩu 3 mặt hàng đáng kể nhất là tôm đông lạnh, cá ngừđóng hộp và cá fillet, thị trường Mỹ cũng rất ưu chuộng fillet cá rô phi hồng vàphi lê cá basa, là những sản phẩm có tiềm năng lớn ở các nước Châu Á
c Thị trường thủy sản EU
Liên minh Châu Âu (European Union - EU) thành lập 25/03/1957 Hiện nay
EU bao gồm 15 nước cũ: Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Ý, Luxembourg, Đan Mạch,Anh, Ailen, Tây Ban Nha, Bồ Đồ Nha, Áo, Phần Lan, Thủy Điển, Hy Lạp
Các nước mới gia nhập EU là: Ba Lan, Cộng hòa Czech, Slovakia, Hungary,Slovenia, Síp, Malta, Litva, Estonia, Latvia, Bungary, Romania, Thổ Nhĩ Kỳ,Croatia
Nhu cầu về thủy sản của các nước Châu Âu rất lớn và các nước EU tiêu dùngthủy sản rất đa dạng: tươi sống, đồ hộp, đông lạnh ở tất cả các mặt hàng: Cá,Tôm, Mực, Cua, Nhuyễn thể 2 mảnh
Khuynh hướng tiêu thụ thủy sản của các nước trong EU: người dân EU rất coitrọng vấn đề an toàn sức khoẻ trong việc tiêu thụ thực phẩm Trong khi thủy sảnđược xem là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao; ít có thành phần độc tố vàkhông tác động xấu đến môi trường; cộng với việc thời gian gần đây có bệnh lởmồm long móng trong gia súc, nên người dân EU có khuynh hướng thay thế việcdùng thịt bằng việc tiêu thụ các mặt hàng thủy sản các loại
+ Vấn đề chất lượng thủy sản cũng được xem trọng và người tiêu dùng khuvực này sẳn sàng trả giá cao để có được sản phẩm với chất lượng tuyệt hảo.+ Để thích nghi với cuộc sống công nghiệp; bên cạnh đó, xã hội ngày càng cónhiều phụ nữ tham gia lao động, ít có thời gian cho công việc nhà, đi mua sắm vànấu nướng; và số hộ gia đình chỉ gồm một người ngày càng gia tăng, nên ngườidân EU cần thực thẩm ít thời gian để chuẩn bị và nấu nướng Thủy sản chế biếntươi hay đông lạnh cũng đều có đặc tính dể nấu nướng và không cần nhiều thờigian, đã trở thành loại sản phẩm đáp ứng các yêu cầu trên nên ngày càng đượctiêu thụ mạnh tại các nước trong EU