Nguyên đơn là một trong các thành phần cấuthành nên đương sự trong vụ án dân sự.Theo từ điển Luật học , “ Nguyên đơn” là người được giả thiết có quyền hoặc lợi íchhợp pháp bị vi phạm hay
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của cách mạng công nghệ 4.0 kéo theo đó là sự phát triển kinh tế, xã hội, Việt Nam đang dần trở thành một nước có nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên đi kèm với sự phát triển đồng nghĩa với các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động nảy sinh đa dạng và phức tạp Để giải quyết vấn đề trên đòi hỏi phải tiến hành hoàn thiện, xây dựng hệ thống pháp luật và không ngừng nâng cao chất lượng nghành tư pháp, nhất là xây dựng thủ tục tố tụng ổn định, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội Để các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS được đảm bảo những quyền và lợi ích của mình, thì pháp luật phải trao cho họ các quyền năng phù hợp với tư cách của từng đối tượng Nguyên đơn với tư cách là chủ thể phát động quá trình tố tụng phải được pháp luật thừa nhận và quy định những quyền năng hợp lý để sử dụng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Quyền tố tụng của nguyên đơn đã được ghi nhận trong BLTTDS năm 2005,
2011 và hiện hành là BLTTDS 2015 với những quy định mới, đánh dấu một bước phát triển của pháp luật TTDS nói chung và pháp luật TTDS về quyền tố tụng của nguyên đơn nói riêng Tuy nhiên, sau khi áp dụng trong thực tiễn, những quy định này đã bộc lộ nhiều vướng mắc và bất cập, như thiếu tính chặt chẽ, chưa được xây dựng dưới góc độ tiếp cận quyền con người, quyền công dân; ngoài ra nguyên đơn- chủ thể chủ động trong quá trình tố tụng - vẫn chưa nắm rõ những quyền và nghĩa vụ trong tư cách của mình do xuất phát từ quy định của pháp luật, vẫn có nhận thức chưa đúng đắn về quyền của mình dẫn đến những hệ quả không đáng có.
Trong bối cảnh hiện nay, nghiên cứu nhằm mục đích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và pháp lý về quyền tố tụng của nguyên đơn trong tố tụng dân sự là hết sức cần thiết Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu "Quyền tố tụng của nguyên đơn trong tố tụng dân sự Việt Nam" mang giá trị khoa học cao, góp phần đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong thời điểm hiện tại.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền tố tụng của nguyên đơn là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật TTDS Việt Nam Có nhiều công trình khoa học có liên quan đến đề tài này đã được nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau Trong 10 năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí liên quan đến quyền của nguyên đơn trong BLTTDS năm 2004 và BLTTDS sửa đổi năm 2011 như “ Quyền khởi kiện với vấn đề xác định tư cách đương sự trong Tố tụng dân sự ” – Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Lê Nguyễn Hồng Phúc năm 2011; “Đương sự trong Tố tụng dân sự – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”- Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Triều Dương năm 2010; Luận văn Thạc sĩ luật học “ Quyền tố tụng của đương sự và thực tiễn thực hiện” năm 2013 của tác giả Đỗ Thị Hà; Luận văn thạc sĩ luật học “ Quyền tố tụng của nguyên đơn trong Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2017 của tác giả Vũ Hoàng Anh; các bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí pháp luật có nghiên cứu những vấn đề riêng có liên quan đến quyền tố tụng của nguyên đơn như: bài viết “Việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự tại phiên tòa dân sự” của tác giả Bùi Thị Huyền đăng trên tạp chí Luật học số 9/2007,….Những bài viết trên đều tập trung phân tích cũng như đánh giá các quy định của BLTTDS năm 2004, 2011 nhiều hơn là BLTTDS hiện hành năm 2015 Tuy đã đề cập đến những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn những vẫn còn những vấn đề đề cập đến chưa sâu và cần được tiếp tục nghiên cứu để đưa ra cái nhìn rõ ràng hơn.
Như vậy, qua các công trình đã công bố ở trên, có thể nhận thấy, hiện tại mới chỉ có công trình khoa học của tác giả Vũ Hoàng Anh nghiên cứu trực tiếp và cụ thể về quyền của nguyên đơn trong TTDS Việt Nam tuy nhiên đó là ở thời điểm năm
2017 Với tình hình phát triển của kinh tế- xã hội hiện tại, đi kèm với đó là vấn đề phức tạp nảy sinh trong mối quan hệ pháp luật TTDS, vì vậy, có thể nói, luận văn hiện tại là công trình nghiên cứu khoa học gần nhất với tình hình phát triển cũng như biến đổi ngày nay mang đến cho người đọc cái nhìn sâu và rõ nét hơn về quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS Việt Nam ở năm 2023.
Cơ sở lý luận, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của khái niệm “ quyền”
- Phương pháp phân tích và bình luận được sử dụng để đem lại góc nhìn đa chiều và làm rõ các quy định về quyền tố tụng của nguyên đơn trong pháp luật TTDS Việt Nam
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp và tổng hợp được tác giả sử dụng để khái quát các ý chính trong từng vấn đề cụ thể; giúp cho các ý tưởng trong bài luận được sáng rõ.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Làm rõ, sâu hơn kiến thức lý luận về quyền tố tụng của nguyên đơn trong tố tụng dân sự Việt Nam, giúp nguyên đơn hiểu rõ về quyền của mình trong quá trình tham gia tố tụng
Phân tích đánh giá hiệu quả của những quy định pháp luật hiện hành về quyền tố tụng của nguyên đơn góp phần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đảm bảo quyền tố tụng của nguyên đơn được thực hiện một cách công bằng, hiệu quả.
- Trở thành nguồn tài liệu tham khảo đối với những người quan tâm đến quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS
Kết cấu đề tài
Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS Chương 2 : Quy định pháp luật việt nam hiện hành về quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật ttds việt nam hiện hành về quyền tố tụng của nguyên đơn và kiến nghị hoàn thiện
Khái niệm, đặc điểm và vai trò về quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS
1.1.1 Khái niệm quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS
“ Quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS” là gì? Để đưa ra được khái niệm về nó, ta cần hiểu được “ TTDS” là gì và “ Nguyên đơn trong TTDS” là gì
Thứ nhất, về khái niệm TTDS
“ Tố tụng” là việc thưa kiện tại tòa án nói chung Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: "tố tụng" là việc thưa kiện (procès), "tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code deprocédure) Sách Tiếng nói nôm na của
Lê Gia, dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt (NXB Văn Nghệ TP HCM, 1999) giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái".Hiểu một cách đơn giản: "Tố tụng" là việc thưa kiện ở tòa án “Tố tụng dân sự” theo từ điển Luật học 2006, là “Trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự” Mục đích của TTDS là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích Nhà nước.Thủ tục này được Tòa án áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự theo nghĩa rộng, tức là các vụ việc tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động ( sau đây gọi chung là vụ án dân sự- VADS).TTDS bao gồm: “ khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự, thụ lí vụ việc dân sự, giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án dân sự.
Hoạt động tố tụng dân sự được thực hiện bởi hai loại chủ thể khác nhau, đó là người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Nếu thiếu một trong hai loại chủ thể nêu trên thì sẽ không hình thành quan hệ tố tụng.Pháp luật tố tụng dân sự chia người tham gia tố tụng thành 2 nhóm:
- Nhóm thứ nhất là đương sự, là nhóm không thể thiếu trong hoạt động tố tụng, có quyền lợi, nghĩa vụ gắn liền với việc giải quyết vụ án;
- Nhóm thứ hai là những người tham gia tố tụng khác, bao gồm những người có liên quan đến hoạt động tố tụng và họ không phải là những người có quyền lợi, nghĩa vụ gắn với việc giải quyết vụ án.
Thứ hai, về khái niệm nguyên đơn trong TTDS
Trong nhóm những người tham gia tố tụng, nổi bật và quan trọng nhất chính là đương sự Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự. Quan điểm về TTDS cũng có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng mô hình tố tụng và pháp luật của mỗi quốc gia Do Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi mô hình phân loại tố tụng của các nước theo hệ thống luật dân sự, nên thủ tục tố tụng được chia thành hai loại là thủ tục giải quyết VADS ( bao gồm thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn) và thủ tục giải quyết việc dân sự Và trong hai thủ tục này, tư cách nguyên đơn chỉ xuất hiện trong VADS Nguyên đơn là một trong các thành phần cấu thành nên đương sự trong vụ án dân sự.
Theo từ điển Luật học , “ Nguyên đơn” là người được giả thiết có quyền hoặc lợi ích hợp pháp bị vi phạm hay tranh chấp nên khởi kiện ( hoặc được người khác khởi kiện, khởi tố) theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ những quyền lợi đó Nguyên đơn có hai đặc điểm cơ bản: giả thiết có quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm hoặc tranh chấp; đã khởi kiện hoặc được người khác khởi kiện, Viện Kiểm Sát khởi tố để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp Trường hợp VKS khởi tố, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì người có quyền, lợi ích hợp pháp được bảo vệ có thể tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn Còn VKS, tổ chức xã hội không phải là nguyên đơn Nguyên đơn có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Khi tham gia tố tụng, nguyên đơn được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình 1
Theo từ điển pháp luật Việt Nam năm 2020 “Nguyên đơn trong vụ án dân sự” là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.”
Khái niệm về quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS
Quyền là những điều mà tất cả mọi người, không phân biệt giới tính, chủng tộc, địa vị xã hội, pháp luật, xã hội, phong tục, tập quán cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành mà không ai được phép ngăn cản, hạn chế Quyền là thứ mà con người có và được tự quyết định sử dụng hoặc không sử dụng.
“Quyền” theo từ điển tiếng Việt - GS Hoàng Phê : “ điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi.Theo từ điển Luật học 2006, Xét ở góc độ thuật ngữ, thì quyền là một khái niệm pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó mà cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi một việc gì đó mà không ai có quyền ngăn cản, hạn chế.(tra từ điển trên thư viện) Đối với các quan hệ pháp luật nói chung cũng như quan hệ dân sự nói riêng, quyền cùng với nghĩa vụ là hạt nhân, là nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại của quan hệ pháp luật, là mục tiêu và cũng là động lực để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật
Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, các chủ thể phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, việc thực hiện đúng không chỉ đảm bảo quyền và lợi ích của bản thân chủ thể, tránh được trường hợp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, dẫn đến tranh chấp Các quyền và lợi ích hợp pháp được nhà nước đảm bảo trong quan hệ dân sự được hiểu là quyền dân sự…
=> Quyền tố tụng của nguyên đơn là quyền năng mà pháp luật dân sự quy định và bảo đảm thực hiện cho nguyên đơn dân sự tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự được thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích cộng đồng, lợi ích nhà nước.
1.1.2 Đặc điểm quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS
Thứ nhất, quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS được hình thành dựa trên mối quan hệ giữa năng lực pháp luật dân sự và năng lực pháp luật TTDS
NLPLDS của cá nhân không phải tự nhiên mà có Nó do Nhà nước quy định cho công dân nước mình và những người tham gia các quan hệ pháp luật dân sự chịu ảnh hưởng của pháp luật nước đó NLPL dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Trong đó, phạm vi các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự được Nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và các quy định khác cho công dân Việt Nam Đây được xem là khả năng đương nhiên mà mỗi cá nhân đều được pháp luật thừa nhận từ khi chào đời và chỉ chấm dứt khi cá nhân đó “chết” Điều đó được quy định rõ ràng tại khoản 3 Điều 16 BLDS năm 2015: “ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” Bên cạnh việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của cá nhân Nhà nước còn tạo ra cơ chế để các cá nhân thực hiện quyền vì thế để bảo vệ lợi ích hợp pháp của bản thân thì NLPLDS là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để quyền của các chủ thể được thực hiện Một chủ thể chỉ có quyền tham gia tố tụng dân sự khi được pháp luật thừa nhận có năng lực pháp luật tố tụng dân sự Năng lực pháp luật TTDS là biểu hiện quyền năng của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Nội dung của NLPLTTDS của đương sự bao gồm toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự mà đương sự có được theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự của các nước đều quy định các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đều có năng lực pháp luật tố tụng dân sự Bởi, năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực pháp luật dân sự là hai phạm trù pháp lý có mối quan hệ mật thiết với nhau và quyền tố tụng của nguyên đơn được dựa trên mối quan hệ đó.
Thứ hai, quyền tố tụng của nguyên đơn trong tranh tụng dân sự là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể được hưởng, được sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại tòa án Mục đích của quyền tố tụng là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực dân sự.
Cơ sở của việc quy định quyền tố tụng của nguyên đơn trong Tố tụng Dân sự
Quyền tố tụng của nguyên đơn được xây dựng trên cơ sở quyền con người
Theo góc độ lý luận, quyền con người trong TTDS xuất phát từ quyền tự nhiên của con người, các quyền đó được thừa nhận với những giá trị mang tính phổ quát nhất. Quyền con người luôn là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm và mỗi quốc gia trên thế giới đều phải đảm bảo cho quyền con người của mọi công dân trên lãnh thổ quốc gia mình được tôn trọng và thực thi trên thực tế Trong hệ thống pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn Thế giới, các Công ước quốc tế đã ghi nhận và đề cao quyền con người. Quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong TTDS đã được ghi nhận tại Điều 10 Tuyên ngôn thế giưới về nhân quyền (UDHR) Theo đó, “ Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, ” 2 Khoản 1 Điều
14 ICCPR ( Công ước về các quyền dân sự, chính trị 1996) nếu ra 03 thuộc tính cần thiết cảu một coq quan tư pháp, đó là có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật: “ Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền , độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật, để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ việc phi hình sự”.
Việc đảm bảo quyền con người trong TTDS phải được đặt trong tổng thể các quyền dân sự của con người trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tuyên bố Viên và Chương trình hành động về quyền con người năm 1993 đã khẳng định: “ Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau Trong khi phải luôn nghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, (thì) các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con người và quyền tự do cơ bản 3 ” Chính vì vậy quyền tố tụng của
2 Trung tâm nghiên cứu quyền co người và quyền công dân, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Gioi thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị(ICCPR), Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2012, tr.210
Các cơ quan nghiên cứu về nhân quyền quốc tế như Trung tâm Nghien cứu Quyền con người khẳng định rằng, người khiếu nại và các cơ chế bảo đảm quyền tố tụng trong tố tụng trọng tài thương mại quốc tế là nhu cầu cần thiết đối với mỗi quốc gia.
Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm về quyền con người, quyền cơ bản của công dân Đồng thời, Hiến pháp khẳng định tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lĩ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 102); Có thể thấy, việc Hiến pháp ghi nhận các quyền con người là rất quan trọng bởi đây là cơ sở pháp lí cao nhất để con người và công dân được thụ hưởng các quyền con người, quyền công dân cũng như để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Quyền tố tụng của nguyên đơn được xây dựng trên mối liên hệ với quyền dân sự.
Việc ghi nhận các quyền tố tụng của nguyên đơn trong vụ án dân sự phải dựa trên sự ghi nhận và bảo đảm quyền con người về dân sự Một khi tranh chấp xảy ra, chủ thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giai quyết vụ án và được Tòa án thụ lý thì chủ thể này được trở thành đương sự trong vụ án dân sự - cụ thể là nguyên đơn Khi đó nguyên đơn không chỉ có các quyền và nghĩa vụ về dân sự mà còn có thêm các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự để bảo vệ các quyền dân sự hợp pháp của mình Điều đó cho thấy các quyền tố tụng của nguyên đơn có mối quan hệ mật thiết với quyền dân sự của họ Hay nói cách khác, các quyền dân sự của ngueyen đơn chính là nền tảng phát sinh các quyền tố tụng dân sự của nguyên đơn Nguyên đơn không thể có quyền khởi kiện để bắt đầu vụ án hoặc không có các quyền khác nếu họ không có quyền dân sự liên quan trừ trường hợp họ khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể khácQuyền dân sự là quyền của công dân hoặc pháp nhân (chủ thể) được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ Khi các chủ thế tham gia vào quan hệ dân sự,HNGĐ, KDTM, lao động đều hướng đến mục đích đạt được những quyền và lợi ích theo thỏa thuận Tuy nhiên, để đảm bảo cho các quyền và lợi ích của các chủ thể này được thực hiện có hiệu quả trên thực tế, đem lại tối đa lợi ích cho các bên trong quan hệ thì Nhà nước cần phải tạo ra cơ chế để các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân khi chúng bị xâm phạm, mặt khác nằm tạo ra một cơ chế ràng buộc các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động Chính vì vậy, việc ghi nhận quyền tố tụng của nguyên đơn nhằm tạo ra một có chế pháp lý chủ động để họ có thể nhanh chóng bảo vệ quyền lợi của mình.
Điều kiện đảm bảo thực hiện quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS
Một là, pháp luật cần ghi nhận đầy đủ các quyền tố tụng của nguyên đơn phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới thì việc tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết Không chỉ phải luôn học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia mà còn là tiếp thu và chuyển hóa các quy định nhất là những quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người Theo đó quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS phải là sự nội luật hóa các quyền con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế. Điều này sẽ bảo đảm mức độ bảo vệ tối đa đối với các quyền lợi hợp pháp của con người trong lĩnh vực dân sự.
Hai là, pháp luật cần quy định đầy đủ các chế tài áp dụng với các chủ thể xâm phạm quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS Nhà nước luôn tạo điều kiện để các chủ thể có thể bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân khi bị xâm phạm bằng việc quy định các quyền và nghĩa vụ của họ cũng như có cơ chế để đảm bảo thực thi các quyền đó Do đó, trong trường hợp luật đã quy định những trách nhiệm, nghĩa vụ mà các chủ thể khác phải thực hiện đối với nguyên đơn mà họ không thực hiện thì phải có các chế tài pháp lý ràng buộc nhằm răn đe cũng như để các chủ thể nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, hướng đến không chỉ các chủ thể được hưởng những quyền nhất định, phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định mà còn để đảm bảo nguyên đơn thụ hưởng những quyền mà pháp luật quy định
Ba là, nhà làm luật cần đơn giản hóa các quy định về thủ tục áp dụng khi nguyên đơn thực hiện các quyền luật định Hiện nay, người dân nói chung, nguyên đơn nói riêng vẫn luôn tìm hiểu cũng như tuân thủ pháp luật về quyền cũng như nghĩa vụ của bản thân, tuy nhiên việc thực hiện quyền tố tụng của nguyên đơn vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong thủ tục, khiến quá trình đi tìm và bảo vệ quyền; lợi ích của bản thân gặp khó khăn, đôi khi chính những thủ tục rườm rà và phức tạp ấy khiến các quyền tố tụng của nguyên đơn có thể bị xâm phạm Đòi hỏi, các nhà làm luật cần nghiêm cứu để có những quy định phù hợp, tạo sự nhanh chóng, thuận lợi trong việc thực hiện quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS.
1.3.2 Điều kiện đảm bảo thông qua hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng Để đảm bảo thực hiện quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS những người tiến hành tố tụng bao gồm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ tố tụng của mình Hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án phải độc lập, khách quan không chỉ luôn phải nâng cao trình độ chuyên môn mà còn phải có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp Ngoài ra đảm bảo sự độc lập, khách quan của Tòa án là điều kiện cần thiết để bảo đảm quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS, tức Tòa án cấp dưới phải độc lập với Tòa án cấp trên, Thẩm phán xét xử phải độc lập với các Thẩm phán trong Tòa án nơi mình công tác, Bên cạnh đó và việc giám sát thông qua hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát trong xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Tòa án và những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng dân sự.
1.3.3 Điều kiện bảo đảm nguyên đơn phải được biết về quyền của mình
Nguyên đơn chỉ có thể bảo vệ tố nhất quyền và lợi ích của bản thân khi có nhận thức và nắm rõ về quyền của mình Nhận thức pháp luật của nguyên đơn là một trong những yếu tố góp phần thực hiện có hiệu quả việc đảm bảo thực thi quyền tố tụng của nguyên đơn trong quan hệ tố tụng dân sự.Vì thế, để đảm bảo mỗi người dân nói chung đều có thể hiểu biết pháp luật cũng như có định hướng tìm hiểu, nghiên cứu thì Nhà nước cần phải tuyên truyền, phổ biến giáo dục kiến thức pháp luật đến với họ Trong quá tring giải quyết vụ án, pháp luật TTDS cần uqy định cho Tòa án trách nhiệm thông báo với nguyên đơn đầy đủ những quyền mà pháp luật trao để nguyên đơn sử dụng hiệu quả những quyền mà mình có.
1.3.4.Điều kiện bảo đảm về cơ chế hỗ trợ
Hiện nay, rất nhiều trường hợp nguyên đơn nhận thức pháp luật chưa cao mà dẫn đến hành trình đi tìm công lý gặp nhiều khó khăn và trắc trở, chính vì vậy Nhà nước cần đảm bảo cơ chế hỗ trợ cho họ khi tham gia tố tụng tại Tòa án dưới sự giúp đỡ của các cá nhân, có quan, tổ chức khác như luật sự, trợ giúp viên pháp lý,
1 Quyền tố tụng của nguyên đơn là quyền năng mà pháp luật dân sự quy định và bảo đảm thực hiện cho nguyên đơn dân sự tham gia quan hệ pháp luật Tố tụng dân sự được thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích cộng đồng, lợi ích nhà nước.
2 Sự ghi nhân và bảo đảm thực thi các quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS ý nghĩa rất lớn, cụ thể không chỉ có ý nghĩa đối với chính nguyên đơn mà còn có ý nghĩa đối với nhà nước
3 Để quyền tố tụng của nguyên đơn trong TTDS được thực hiện tốt cần pahir có những điều kiện bảo đảm thích hợp như: các điều kiện đảm bảo về pháp luật, điều kiện đảm bảo thông qua hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng,điều kiện bảo đảm nguyên đơn phải được biết về quyền của mình,
Quyền tố tụng của nguyên đơn trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án
Khởi kiện là hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là một trong những điều kiện cần để có các giai đoạn tiếp theo của quá trình TTDS, Tòa án chỉ giải quyết VADS khi có đơn khởi kiện của đương sự Bởi, quan hệ pháp luật dân sự được hình thành từ sự thỏa thuận, tự nguyện của các bên trong quan hệ, và “việc dân sự cốt ở đôi bên” chính là điểm cốt lõi dẫn đến việc tiến hành thủ tục TTDS tại Tòa án chỉ có thể khởi động bằng chính hành vi khởi kiện của đương sự thông qua việc làm cụ thể là gửi đơn khởi kiện và mục đích chính là giúp các chủ thể bảo vệ được quyền và lợi ích bị xâm phạm của mình, ngăn chặn và chấm dứt các hành vi trái pháp luật trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Nếu thủ tục tố tụng dân sự Pháp - vụ kiện được khởi đầu bằng giấy tống đạt mời ra tòa hoặc nộp đơn yêu cầu chung tại phòng thư kí lục sư Ngoài ra, vụ kiện cũng có thể được thụ lí theo đơn kiện hoặc theo lời khai của mộ bên đương sự thì trong pháp luật TTDS Việt Nam Nguyên đơn- là người khởi khiện, khởi động quá trình tố tụng 4 Quyền khởi kiện VADS được quy định tại Điều 14 BLDS 2015, nguyên tắc tại Điều 4 BLTTDS
Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015, cụ thể tại Điều 69, 186, 187, người có quyền khởi kiện có thể tự hoặc nhờ người đại diện khởi kiện Người đủ tư cách khởi kiện này được gọi là nguyên đơn Mục đích khởi kiện của nguyên đơn thường bao gồm yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp Nếu không tự mình khởi kiện, nguyên đơn có thể nhờ người đại diện thực hiện thay.
Trần Anh Tuấn (2015) trong luận văn "Thủ tục tố tụng dân sự của một số nước châu Âu và so sánh với thủ tục tố tụng dân sự Việt Nam" đã nêu bật hai mục đích chính của việc khởi kiện trong thủ tục tố tụng dân sự: bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Mục đích khởi kiện đầu tiên nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền lợi chính đáng của cá nhân, trong khi mục đích thứ hai thể hiện tính chất xã hội của thủ tục tố tụng dân sự, với vai trò bảo vệ những lợi ích vượt ra ngoài phạm vi quyền lợi riêng tư.
Như Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Đồng thời, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp cho nên mọi tranh chấp, khiếu kiện, mọi yêu cầu của cơ quan , tổ chức, cá nhân về dân sự nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác” Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, đồng bộ với bộ luật và luật khác nên BLTTDS
2015 quy định “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” Đây là quy định nhằm đảm bảo điều kiện tốt nhất cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu khi họ cho rằng có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại Tuy nhiên, không phải mọi khởi kiện, mọi yêu cầu nào của tổ chức, cá nhân Tòa án cũng thụ lý giải quyết, BLTTDS 2015 cũng đã giới hạn vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng Như vậy, Tòa án chỉ giải quyết các yêu cầu đối với quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm mà pháp luật về dân sự đã quy định; còn các tranh chấp, các yêu cầu khác không phải là dân sự thì Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết theo quy định này Đồng thời việc giải quyết vụ việc dân sự quy định này sẽ được thực hiện theo các nguyên tắc do
- Pháp luật Pháp mở rộng hình thức khởi kiện, trong khi pháp luật Việt Nam chỉ quy định một hình thức là nộp đơn khởi kiện.- Pháp luật Pháp cho phép khởi kiện bằng giấy tống đạt ra tòa án, một hình thức khác biệt với quy định hiện hành của Việt Nam.
2.1.2.Quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh của nguyên đơn
Việc cung cấp chứng cứ là một hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng nói chung, nguyên đơn nói riêng, nhằm mục đích chứng minh cho việc đưa ra yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp Cung cấp chứng cứ và chứng minh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình TTDS Chính vì thế pháp luật tố tụng có những ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự BLTTDS 2015 đã có những quy định mới về vấn đề cung cấp chứng cứ, chứng minh trong TTDS Cụ thể như sau:
Thứ nhất, điều 93 BLTTDS 2015 quy định rõ: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định
5 Trần Anh Tuấn (2015),Thủ tục tố tụng dân sự của một số nước châu Âu và so sánh với thủ tục tố tụng dân sự ViệtNam, Luật học.Trường Đại học Luật Hà Nội,Số 11/2015, tr 44 - 57 các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.” Quy định này không chỉ giúp nguyên đơn nhận thức được như thế nào là chứng cứ mà còn là căn cứ trong việc đánh giá cũng như đưa ra các kết luận liệu rằng những tài liệu, đồ vật mình thu thập được có thể được coi là chứng cứ để giao nộp cho Tòa án hay không
Thứ hai, khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015 quy định: “Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm… ” Tức là, ngoài các điều kiện khởi kiện khác theo quy định của pháp luật, ngay khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện phải xuất trình cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh mình có quyền khởi kiện đối với một chủ thể về quan hệ pháp luật nhất định Quy định này nhằm đảm bảo cho việc khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức là có căn cứ Trước đây, BLTTDS 2004 quy định tại khoản 3 điều 165: “ Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp ”Theo đó điều kiện đặt ra với tài liệu, chứng cứ được cung cấp gồm hai yếu tố chính là “ có căn cứ” và “ hợp pháp” Nhưng lại không có quy định cụ thể để xác định tài liệu, chứng cứ “ có căn cứ” và “ hợp pháp” là gì Trên thực tế quy định này đã dẫn tới tình trạng khó cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật Nhiều trường hợp trong các quan hệ dân sự, do tin tưởng, sai sót, sai lầm nên giữa các bên không làm giấy tờ, văn bản giao dịch hoặc làm nhưng không rõ ràng, Điều này đã dẫn tới tình trạng người khởi kiện không đủ khả năng cung cấp tài liệu, chứng cứ theo đúng quy định Để giải quyết vấn đề đó, khoản 5 điều 189 BLTTDS 2015 quy định
“Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm ” Như vậy, BLTTDS 2015 đã sử dụng từ ngữ dễ hiểu hơn để quy định về tài liệu, chứng cứ được cung cấp phải: “chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm” mà không làm thay đổi bản chất vốn có của hoạt động cung cấp chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện( khó hiểu)
Có thể thấy, tại quy định trên, BLTTDS 2015 đã khắc phục được những bất cập của BLTTDS 2011, đối với “Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án” Còn nếu trong
Khi người khởi kiện không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ việc, phải có văn bản tường trình lý do không có tài liệu, chứng cứ hoặc không thu thập được tài liệu, chứng cứ, đồng thời yêu cầu tòa án thụ lý vụ án và thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định Nếu lý do không nộp tài liệu, chứng cứ là chính đáng, tòa án sẽ thụ lý vụ án và thực hiện thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho người khởi kiện thực hiện quyền khởi kiện của mình (Giải đáp số 01/2016/GĐ-TANDTC).
2.1.3.Quyền được tiếp cận chứng cứ của nguyên đơn
Quyền tiếp cận chứng cứ là quyền cơ bản của đương sự, bao gồm nguyên đơn, nhằm đảm bảo mức độ minh bạch và toàn diện của quá trình xét xử Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đương sự được quyền biết, sao chép tài liệu, chứng cứ do đương sự khác nộp hoặc do Tòa án thu thập Quyền này có thể được thực hiện bởi chính đương sự hoặc thông qua Tòa án (Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án), áp dụng cho các đối tượng được công khai.
2015 đã có những quy định mới về quyền được tiếp cận chứng cứ của nguyên đơn được thể hiện ở những nội dung sau:
Quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự được Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định cụ thể trong các điều luật như Điều 24, 70, 76, 96, 97, 109, 196, 199, 210,…
Xét về chủ thể thực hiện có thể chia thành hai dạng, là đương sự và Tòa án (Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án), xét về đối tượng thực hiện có thể chia là đối tượng được công khai và đối tượng không được công khai.
Quyền loại trừ một phần nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn khi thực hiện quyền khởi kiện
“Chứng minh” là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lí lẽ. Nghĩa vụ chứng minh là công việc bắt buộc phải làm, nếu không chứng minh được thì người có nghĩa vụ chứng minh phải chấp nhận hậu quả bất lợi Nếu trong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì trong TTDS nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự - là chủ thể của quan hệ pháp luật có tranh chấp, là người đưa ra yêu cầu nên phải có nghĩa vụ chứng minh. Nguyên đơn, với tư cách là chủ thể phát động quá trình tố tụng nên bên cạnh quyền đưa ra yêu cầu, nguyên đơn phải chứng minh cho Tòa án thấy yêu cầu mà mình đưa ra là có cơ sở Nhưng không phải trong mọi trường hợp nguyên đơn đều phải có nghĩa vụ chứng minh Theo quy định hoàn toàn mới tại khoản 1 điều 91 BLTTDS 2015 quy định những trường hợp đương sự không phải chứng minh thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người, theo đó đương sự được loại trừ một phần nghĩa vụ chứng minh khi:
Người tiêu dùng không cần phải đưa ra bằng chứng chứng minh lỗi của doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ Thay vào đó, trách nhiệm chứng minh được chuyển sang bên bị kiện, tức là bên bị kiện phải chứng minh được rằng họ không có lỗi gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng.
Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho tòa án.
Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;
- Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Ngoài ra, để tránh bỏ sót các trường hợp mà luật nội dung có quy định về trường hợp không phải chứng minh, Điều 91 có quy định một điều khoản “quét” với nội dung: “Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh”. Cùng với đó Điều 92 quy định những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh ở cả quá trình giải quyết VADS nói chung, giai đoạn khởi kiện nói tiêng, nhằm đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động tranh tụng, loại bỏ những hoạt động chứng minh không cần thiết có thể làm mất thời gian của đương sự và Tòa án, cụ thể:
- Đối với tình tiết, sự kiện mà bản thân nó đã chứa đựng sự thật khách quan bao gồm: Những tình tiết, sự kiển rõ tràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận ( phải những tình tiết, sự kiện khách quan).Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật hoặc những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính Quy định này vẫn còn gặp một số bất cập trong việc xác định thế nào là “ tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết” “ Mọi người” ở đây bao gồm những ai? Có phải chỉ cần là các bên đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ việc hay cả những người không có quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ việc , thậm chí cả những người không tham gia tố tụng cũng biết?
Trong trường hợp một bên thừa nhận hoặc không phản đối những dữ kiện, sự kiện được đưa ra bởi bên kia, bên đó không cần phải chứng minh Tuy nhiên, quy định này chưa hợp lý khi có hai trường hợp yêu cầu miễn chứng minh: khi đối phương thừa nhận và khi đối phương không phản đối Đoàn Hồng Châu đồng tình với quan điểm rằng miễn chứng minh khi đối phương thừa nhận là hợp lý vì đương sự có quyền định đoạt Ngược lại, trường hợp đối phương không phản hồi không đồng nghĩa với thừa nhận, vì có thể họ đang chờ xem bên kia đưa ra chứng cứ gì.
- Đối với tình tiết, sự kiện đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện.
Quyền tố tụng của nguyên đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
2.2.1 Quyền thay đổi, bố sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Trên cơ sở nguyên tắc quyền định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự, pháp luật đã quy định các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu thấy cần thiết và phù hợp với quy định của pháp luật Điều này được quy định tại Khoản 2 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, theo đó quy định: “Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu thấy cần
Trong quá trình giải quyết VVDS, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thảo thuận với nahu một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội” Việc thay đổi, bổ sung của đương sự nói chung, nguyên đơn nói riêng trước khi mở phiên tòa không được pháp luật TTDS hiện hành quy định cụ thể. Mặc dù, trên thực tế nguyên đơn vẫn có thể thực hiện được quyền này Nghĩa là nguyên đơn có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu nhiều lần, có quyền yêu cầu Tòa án giải
6 Để timf lại rồi footnote quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật mới, có quyền thay đổi, bổ sung về giá trị, định mực yêu cầu,
Tuy nhiên vì chỉ là thay đổi, bổ sung cho yêu cầu đã đưa ra trước đó nên mặc dù mới chỉ là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chưa đến giai đoạn xét xử sơ thẩm nhung đương sự cũng chỉ được thay đôi, bô sung trong phạm vi yêu câu khởi kiện.
Ví dụ, phạm vi khởi kiện của nguyên đơn được quy định tại Điều 188 BLTTDS năm
2015 đã đặt ra giới hạn cho quyên thay đôi, bô sung yêu câu khởi kiện của nguyên đơn Nguyên đơn được bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng bổ sung này chỉ là bổ sung cho yêu câu trước đó mà nguyên đơn đã đưa, yêu câu bô sung sau này đưa ra phải có liên quan với yêu câu đã đưa ra trước đó về thời hạn cho phép đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì mặc dù BLTTDS năm 2015 không có quy định cụ thê nhưng tham khảo khoản 7 mục IV của Công văn số01/2017/GD-TANDTC ngày 07/4/2018 giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ thì:‘Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đoi, bổ sung yêu cầu của mình nếu việc thay đôi, bô sung được thực hiện trước thời điêm mởphiên họp kiếm tra việc giao nộp, tiếp cận,công khai chứng cứ và hòa giải Tạiphiên họp và sau phiên họp kiêm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đoiyêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đâu” Như vậy, đương sự có thể thực hiện quyền thay đôi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tô, yêu câu độc lập trước thời diêm Tòa án mở phiên họp phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiêp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tại phiên họp, Tòa án chỉ châp nhận yêu câu thay đổi, bổ sung nếu yêu cầu của đương sự không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đau Bởi khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình thì có khả năng làm cho phạm vi xét xử sơ thâm và việc chứng minh cùa các đương sự khác phải thay đổi theo, do đó, để đảm bảo mục đích hòa giải và tạo điều kiện cho các đương sự khác chuẩn bị phương án bảo vệ nên giới hạn chậm nhât mà đương sự được thay đôi, bô sung yêu câu của mình là ở phiên họp giao nộp,tiêp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
2.2.2 Quyền rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Quyền rút yêu cầu khởi kiện là quyền tự định đoạt của nguyên đơn được ghi nhận tại Điều 5 và khoản 4 Điều 70 BLTTDS 2015 cụ thể tại Điều 5 quy định:“ Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội” khoản 4 Điều 70 BLTTDS 2015 quy định quyền, nghĩa vụ của đương sự: “Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này” Theo BLTTDS năm 2011 quy định khi người khởi kiện rút yêu cầu khởi kiện thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Điều luật này không quy định rõ là rút một phần hay rút toàn bộ dẫn đến không rõ ràng Về lý luận và trên thực tế Tòa án chỉ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện( thế trường hợp rút 1 phần thì giải quyết ntn) Do đó tại BLTTDS2015 quy định Toafa ns ra quyết định đình chỉ gaiir queyets vụ án dân sự khi người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn hợp lý Rút yêu cầu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm được quy định cụ thể tại Điều 217 BLTTDS năm 2015, theo đó nếu trong vụ án dân sự chỉ có yêu cầu của nguyên đơn mà nguyên đơn rút hết yêu cầu khởi kiện thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì đối tượng xét xử của vụ án không còn Nếu trong vụ án mà tất cả các đương sự đều rút tòa bộ yêu cầu một cách tự nguyện thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc cũng sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện nhưng trong vụ án vẫn còn yêu cầu của đương sự khác ( như yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn và thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự Đương sự có yêu cầu sẽ được xác định là nguyên đơn trong vụ án và ngược lại người khởi kiện ban đầu giờ trở thành bị đơn trong vụ án và Tòa sẽ tiếp tục giải quyết những yêu cầu còn lại của đương sự Qua quy định tại Điều 217 BLTTDS 2015, ta có thể nhận thấy pháp luật chưa có quy định về trường hợp nguyên đơn có nhiều yêu cầu những chỉ rút một phần yêu cầu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì Tòa án giải quyết như thế nào? Hoặc trường hợp vụ án dân sự có nhiều nguyên đơn những chỉ có một nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện còn các đồng nguyên đơn khác vẫn giữ nguyên?
2.2.3 Quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh của nguyên đơn Điều 84 BLTTDS 2011 quy định cho phép đương sư có quyền cung cấp chứng cứ trong mọi thời điểm của quá trình tố tụng; hay điều 84 BLTTDS 2004 quy định: “
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án.” Có thể đấy với BLTTDS các năm kể trên, thiếu quy định về thời hạn giao nộp, cung cấp chứng cứ , dẫn đến đương sự gặp nhiều khó khăn và bất lợi trong việc chứng minh Có trường hợp, đương sự trì hoãn việc giao nộp chứng cứ, chọn thời điểm có lợi cho mình mới giao nộp chứng cứ, việc này gây bất lợi không chỉ với bị đơn mà còn cả phía Tòa án Nhận ra điểm bất hợp lý trên, BLTTDS 2015 đã đưa ra những quy định mới để khắc phục hạn chế của BLTTDS
2011 về vấn đề cung cấp chứng cứ chứng minh Cụ thể, khoản 4 Điều 96 BLTTDS
2015 quy định : “ Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, ” Theo quy định này các đương sự nói chung, nguyên đơn nói riêng vẫn có quyền cung cấp chứng cứ trong quá trình tòa án giải quyết VADS.Tuy nhiên, việc cung cấp chứng cứ của nguyên đơn phải được thực hiện chủ yếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, sau giai đoạn này, việc cung cấp chứng cứ của nguyên đơn vẫn có thể được tòa án chấp nhận nhưng điều kiện đáp ứng sẽ có phần khắt khe hơn Việc giới hạn thời gian cung cấp chứng cứ của đương sự nói chung, nguyên đơn nói riêng sẽ buộc nguyên đơn có trách nhiệm hơn trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình, đồng thời bảo đảm cho việc giải quyết vụ án nhanh gọn, hạn chế nguy cơ kéo dài quá trình tố tụng Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn cho quy định này về “Thời hạn giao nộp chứng cứ do Thẩm phán được phân công gaiir quyết vụ việc ấn định ” Vấn đề là cơ sở nào để Thẩm phán ấn định thời hạn cung cấp chứng cứ, đặc biệt là ở giới hạn thời gian tối thiểu đương sự nói chung, nguyên đơn nói riêng phải cung cấp chứng cứ. Bên cạnh đó, xử lý như thế nào đối với trường hợp đương sự giap nộp chứng cứ vượt quá thời hạn do thẩm phán ấn định nhưng vẫn nằm trong thời hạn chuẩn bị xét xử?
2.2.4 Quyền tiếp cận chứng cứ Điểm b khoản 2 Điều 210 BLTTDS 2015 quy định: tại phiên họp giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thẩm phán có trách nhiệm công bố những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phải hỏi đương sự về những tài liệu chứng cứ đương sự đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác.Quy định này giúp Tòa án và các đương sự có thể xác định chắc chắn và đầy đủ những tài liệu chứng cứ mà các bên dẽ dùng để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa sơ thẩm.
Quyền tố tụng của nguyên đơn trong tại phiên tòa sơ thẩm
2.3.1.Quyền thay đổi, bố sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có thể được thực hiện ngay cả tại phiên tòa sơ thẩm nếu đáp ứng được điều kiện luật định Theo đó, tại phiên tòa sơ thẩm, chủ tọa phiên tòa hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện hay không (khoản 1 Điều 243 BLTTDS) Nếu nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện thì Hội đồng xét xử sẽ xem xét yêu cầu này Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu (khoản 1 Điều 244 BLTTDS Vì thế những thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm mà vượt quá phạm vi ban đầu thì không được Hội đồng xét xử chấp nhận Trước đây, Điều 32 Nghị quyet sổ 05/2012/NQ-HĐTP7 có hướng dẫn “ Việc thay đổi, bố sungyêu cầu cùa đương sự tại phiên toà chỉ được
Hội đồng xét xử chấp nhận nêu việc thay đôi, bô sungyêu câu của họ không vượt quá phạm viyêu cầu khởi kiện, yêu cầuphản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phán tổ cùa bị đơn, đơnyêu cầu độc lập cùa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Tuy nhiên có ý kiến cho rằng hướng dẫn này có phần bất hợp lý bởi đã gián tiếp giới hạn quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 7 Để áp dụng đúng quy định của Điều 244 BLTTDS năm 2015 thì cần phải xác định rõ “phạm vi yêu cầu ban đầu” và thế nào là “không vượt quá phạm vi” Em đồng ý với cách hiểu , “yêu cầu” là quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp giữa các bên mà Tòa án có nhiệm vụ xem xét, được đưa ra trong đơn khởi kiện và được phản ánh trong các biên bản lấy lời khai, hòa giải tại Tòa án Tại phiên họp kiêm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Toà án sẽ phải làm rõ các nội dung đã được các đương sự thông nhât và không thống nhất Như vậy, sẽ là hợp lý nếu “yêu cầu ban đầu” là yêu cầu đã được thống nhất tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiêp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cuối cùng 8 Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm về “ không vượt quá phạm vi” như:
Cách hiểu 1, không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu là không vượt quá về chủ thể của nghĩa vụ Không vượt quá về chủ thể của nghĩa vụ là trường hợp, khi khởi kiện, nguyên đơn trong vụ án chỉ yêu cầu một hoặc một số cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện một nghĩa vụ dân sự nhất định Nhưng tại phiên tòa, ngoài những cá nhân, cơ quan, tổ chức khác cũng phải có trách nhiệm liên đới trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo nội dung khởi kiện của họ 9
Cách hiểu thứ hai, “không bị coi là vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu” nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm được thực hiện trong giới hạn quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập, yêu
7 Vũ Hoàng Anh(2017), Quyền của nguyên đơn trong tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, trang 41
8 Trần Phương Thảo (2022), Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự tại tòa án cấp sơ thẩm, Tạp chí Nghề Luật số 07/2022, trang 31.
Trong phiên tòa, nếu đương sự có yêu cầu phản tố nhưng không làm phát sinh quan hệ pháp luật mới thì vẫn được chấp nhận Đương sự có thể thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu, thậm chí vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu Tuy nhiên, nếu các đương sự khác đồng ý thì Tòa án vẫn có thể chấp thuận yêu cầu này.
Em đồng ý với cách hiểu thứ 2 vì Nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới thì tòa án cấp sơ thẩm không thể chuẫn bị kịp về chứng cứ, tài liệu, dẫn đến không thể xét xử được tại phiên tòa trong khi thời hạn chuẩn bị xét xử sơ tham đã hết 11
Với những phân tích trên, BLTTDS 2015 cần thiết phải có hướng dẫn về quy định: “ việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu”.
2.3.2.Quyền rút yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 243 BLTTDS năm 2015, khi tiến hành các thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử sơ thẩm sẽ hỏi các đương sự về việc rút yêu cầu và nếu có đương sự rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử sơ thẩm sẽ chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút theo quy định tại Điều 244 BLTTDS năm 2015 nếu đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là hoàn toàn tự nguyện Còn trường hợp nguyên đơn rút tòan bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình hoặc nguyên đơn rút tòa bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giưc nguyên yêu cầu độc lập của mình thì Hội đồng xét xử sở thẩm sẽ xem xét, giải quyết thay đổi địa vị tố tụng của đưương sự theo quy định tại Điều 245 BLTTDS năm 2015, theo đó bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.
10 Cao Xuân Long (2018), Mộtsố bất cập trong xem xét việc đương sự thay đối, bố sung yêu cầu tạiphiên tòa dân sự sơ thấm và giải pháp khắc phục, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 11), tr 19.
11 Trần Phương Thảo (2022), Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự tại tòa án cấp sơ thẩm, Tạp chíNghề Luật số 07/2022, trang 31.
Việc xem xét rút yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự để tránh việc toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, sau đó nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập toà án lại phải thụ lý và tiến hành các công việc chuẩn bị xét xử, trong khi đó quan hệ pháp luật tranh chấp, chủ thể của các quan hệ đó không thay đổi Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả Tuy nhiên trong trường hợp nguyên đơn đã rút hết yêu cầu nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố , người liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập hướng đến cả bị đơn và nguyên đơn thì ai sẽ trở thành nguyên đơn , sai sẽ trở thành bị đơn thì hiện nay pháp luật chưa có quy định về trường hợp trên.
2.3.3 Quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh của nguyên đơn
Tại khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 đã ghi nhận quy định mở “Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự.” Quy định này đảm bảo cho các đương sự thời gian nghiên cứu, phân tích chứng cứ, tài liệu liên quan của các bên, đó là khoảng thời gian chờ mở phiên tòa xét xử Nếu bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chứng minh và được Tòa án chấp nhận chứng cứ trong khoảng thời gian chờ mở phiên tòa xét xử hoặc tại phiên tòa xử thì đương sự bên kia có quyền được biết chứng cứ đó và có thể yêu cầu Tòa án kéo dài thời gian xét xử để nghiên cứu, phân tích, thẩm định chứng cứ Có thể đánh giá quy định sửa đổi về thời hạn cung cấp chứng cứ trong BLTTDS năm 2015 là một bước tiến mới trong tư duy lập pháp.
2.3.4 Quyền tiếp cận chứng cứ
Theo khoản 7 Điều 70 BLTTDS 2015 thì Nguyên đơn có quyền đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ Về nguyên tắc, song song với việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chủ động sao chụp tài liệu, chứng cứ cho nguyên đơn Tuy nhiên Như đã phân tích ở trên, đương sự quyền cung cấp chứng cứ tại phiên tòa. Điều này đặt ra khó khăn đối với nguyên đơn trong trường hợp này i trong việc tiếp cận chứng cứ bởi hiện nay pháp luật chưa có quy định về vấn đề này Trong trường hợp, tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án chấp nhận cho cung cấp chứng cứ muộn vì có lý do chính đáng và những đương sự này cũng chủ động chuẩn bị một bản để gửi cho nguyên đơn thì nguyên đơn vẫn sẽ lúng túng khi chưa có thời gian nghiên cứu, phân tích chứng cứ mà phía bên còn lại mới cung cấp từ đó quyền chứng minh của nguyên đơn không được đảm bảo Thiết nghĩ để đảm bảo quyền chứng minh của nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án kéo dài thời gian xét xử để nghiên cứu, phân tích, thẩm định chứng cứ
2.3.5 Quyền tranh tụng tại phiên tòa của nguyên đơn
Mục 3 trong Chương XIV BLTTDS năm 2015 quy định về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm với 17 điều luật (từ Điều 247 đến Điều 263) Cụ thể là Điều 247 quy định
“Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa” như sau:
“1 Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự,quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án
2.Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa
3.Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự”.
Tuy Điều 247 đã quy định rõ phương thức tranh tụng tại phiên tòa, trình tự tranh tụng, trách nhiệm và quyền hạn của chủ tọa phiên tòa trong tranh tụng Nhưng để bảo đảm thực hiện đúng quy định tại Điều 247, BLTTDS năm 2015 còn quy định cụ thể về trình tự, nội dung tranh tụng tại các điều luật từ Điều 248 đến Điều 263 để chủ tọa phiên tòa điều hành và để người tham gia tố tụng tại phiên tòa, cơ quan tiến hành tố tụng dân sự giám sát việc thực hiện phương thức tranh tụng của Hội đồng xét xử.
THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN TỐ TỤNG CỦA NGUYÊN ĐƠN
NAM HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN TỐ TỤNG CỦA NGUYÊN ĐƠN.
3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền tố tụng của nguyên đơn.
- Thứ nhất, Tòa án luôn nỗ lực trong việc tiếp nhận yêu cầu và giải quyết yêu cầu của người dân trong lĩnh vực dân sự.
Cùng với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, hệ thống Tòa án đã không ngừng phấn đấu, nỗ lực đổi mới, tạo nên những chuyển biến tích cực và sâu sắc trên tất cả các mặt công tác, đóng góp xứng đáng vào công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước; đồng thời, tạo đà và động lực mới cho sự phát triển mạnh mẽ của các Tòa án trong tương lai Hoạt động xét xử của các Tòa án, nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động tư pháp, tiếp tục được bảo đảm và nâng cao chất lượng bằng việc thực hiện đồng bộ
14 giải pháp mang tính chiến lược trong toàn hệ thống Tinh thần “Trách nhiệm, kỷ cương, chất lượng, vì công lý” tiếp tục được đẩy mạnh, đã lan tỏa sâu rộng và thực chất, trở thành thông điệp hành động của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán các TAND 13 Trong báo cáo tổng kết công tác, nghành Tòa án luôn đặt việc nâng cao chất lượng xét xử là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu cần phải thực hiện.
Các thông tin dưới đây sẽ phần nào chứng minh cho những thành công mà ngahfnh Tòa án đã đạt được trong 5 năm quan Theo báo cáo tổng kết của nghành Tòa án, Từ ngày 01/12/2018 đến ngày 30/11/2019, các Tòa án đã thụ lý 554.269 vụ việc, đã giải quyết được 494.403 vụ việc (đạt tỷ lệ 89,2%); số
Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan là 1,13%, đáp ứng yêu cầu Quốc hội đề ra Theo số liệu thống kê, tại các Tòa án nhân dân có 13 vụ việc bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan và 01 vụ việc đang trong thời gian kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng chưa có kết quả giải quyết Phần lớn các vụ việc còn lại đều được giải quyết đúng thời hạn theo quy định pháp luật.
Về công tác giải quyêt các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Các Tòa án nhân dân đã thụ lý 432.666 vụ việc, đã giải quyết, xét xử 379.441 vụ việc, đạt tỷ lệ 87,7%, vượt 2,7% chỉ tiêu đề ra Trong đó, thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 415.763 vụ việc, đã giải quyết, xét xử 364.546 vụ việc; thụ lý theo thủ tục phúc thấm 16.089 vụ việc, đã giải quyết, xét xử 14.182 và thụ lý theo thủ tục giám đốc thâm, tái thấm
814 vụ việc, đã giải quyết, xét xử 713 vụ việc Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,61%, giảm 0,03% so với năm 2018 (do nguyên nhân chủ quan 0,46%); bị sửa là 1,3%, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2018 (do nguyên nhân chủ quan 0,6%.Các vụ việc dân sự mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 141.850 vụ việc (tăng 1.742 vụ việc so với năm 2018), chiếm tỷ lệ cao là các tranh chấp về họp đồng vay tài sản (39.587 vụ), tranh chấp về quyền sử dụng đất (16.812 vụ), tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (10.235 vụ), tranh chấp đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiêm (4.966 vụ) Các vụ án hôn nhân và gia đình mà Tòa án phải thụ lý, giải quyêt theo thủ tục sơ thẩm là 256.793 vụ, trong đó ly hôn do mâu thuẫn gia đình chiếm tới 84,2% tổng số các vụ án ly hôn mà Tòa án đã giải quyết Các vụ án kinh doanh thương mại mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 14.517 vụ việc, chủ yếu là tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư tài chính, ngân hàng (4.698 vụ), mua bán hàng hóa (3.014 vụ) Các vụ án lao dộng mà Tòa ánphai thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 2.395 vụ việc, chủ yếu là tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương châm dứt hợp đông lao động (685 vụ).
Các Tòa án cũng đã thụ lý 208 đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, trong đó: ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với 35 trường họp, ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với 53 trường họp (trong đó, đã tuyên bố phá sản 32 trường họp, đình chỉ 14 trường họp), các trường họp còn lại đang được tiêp tục xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật 14
Trong đó, năm 2020, các Tòa án nhân dân đã thụ lý tổng số 471.581 vụ việc; đã giải quyết, xét xử được 419.793 vụ việc10, đạt tỷ lệ 89,02% (so với năm 2019, số thụ lý giảm 25.189 vụ việc; giải quyết, xét xử tăng 32.365 vụ việc) Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,64% (do nguyên nhân chủ quan 0,46%); bị sửa là 1,2% (do nguyên nhân chủ quan 0,6%) Trong đó, các Tòa án đã thụ lý 448.025 vụ việc dân sự; đã giải quyết 400.651 vụ việc dân sự, đạt tỷ lệ 89% Các Tòa án đã thụ lý 4.067 vụ việc lao động; đã giải quyết 3.789 vụ việc11; đạt tỷ lệ 93,2%12 Đã thụ lý 19.256 vụ việc kinh doanh thương mại; giải quyết 15.245 vụ việc13; đạt tỷ lệ 79,2%14 Các Tòa án phải giải quyết 225 đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, trong đó: ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với 45 trường hợp; ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với
59 trường hợp, ra quyết định đình chỉ giải quyết 19 trường hợp, tuyên bố phá sản 30 trường hợp; các trường hợp còn lại đang được tiếp tục xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật 15
Trong năm 2021, các Tòa án đã thụ lý và giải quyết kịp thời 411.299 vụ việc bao gồm dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại cũng như các vụ liên quan đến lao động Đảm bảo đúng pháp luật, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự, các Tòa án đã xét xử, giải quyết được 324.813 vụ việc, đạt tỷ lệ 79% Ngoài ra, các Tòa án còn tập trung thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tương trợ.
14 https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND098091
Báo cáo 01/BC-TA về việc tổng kết công tác năm 2019 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2020 của các Tòa án
15 Báo cáo tổng kết công tác năm 2020 và nhiệm kỳ 2016-2020; phương hướng, nhiệm vụ trong tâm công tác năm
Tòa án các cấp năm 2021 đã tích cực triển khai thực hiện các chỉ đạo của cấp trên, đẩy mạnh cải cách tư pháp; tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin với các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện tốt việc hướng dẫn đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tài liệu cho vụ án.
Các Tòa án đã tích cực triển khai thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 03 Thông tư, 01 tập Giải đáp và nhiều văn bản hướng dẫn, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thi hành luật; xuất bản cuốn Thông tin khoa học xét xử chuyên đề về hòa giải, đối thoại tại Tòa án… Học viện Tòa án đã tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho gần 2.000 người để xét bổ nhiệm làm Hòa giải viên Đến nay, các Tòa án đã bổ nhiệm được gần 3.000 Hòa giải viên Tính đến ngày 30/9/2021, các Tòa án nhận được 197.279 đơn khởi kiện đủ điều kiện tiến hành hòa giải, đối thoại; trong đó, các đương sự đồng ý hòa giải, đối thoại là 28.004 đơn, đã hòa giải, đối thoại thành 13.279 vụ việc, đạt tỷ lệ 58,31% Tuy nhiên do luật mới có hiệu lực và ảnh hưởng của dịch bệnh nên cũng làm hạn chế đến kết quả hòa giải 16
Năm 2022, Các Tòa án đã thụ lý 567.521 vụ việc, đã giải quyết được 504.681 vụ việc (đạt tỷ lệ 88,9%; cao hơn năm trước 7,7%) So với năm 2021, số vụ việc đã thụ lý tăng 29.944 vụ; đã giải quyết tăng 68.021 vụ Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan của Tòa án là 0,9%, đáp ứng yêu cầu mà Nghị quyết Quốc hội và Tòa án đề ra (không quá 1,5%).
Trong đó Về các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động, đảm bảo đúng pháp luật, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự Các Tòa án đã thụ lý 444.402 vụ việc; đã giải quyết, xét xử được 386.944 vụ việc; đạt tỷ lệ 87,07%, vượt 2,07% so với chỉ tiêu Tòa án đề ra Chú trọng và tập trung thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tương trợ tư pháp; tăng cường phối hợp với các cơ quan hữu quan; làm tốt việc hướng dẫn đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ,
16 https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tdkt/chitietthongbao?dDocName=TAND199733
Báo cáo tổng kết công tác năm 20121 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2022 của các Tòa án tài liệu vụ án Các Tòa án đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tổ chức 4.916 phiên tòa rút kinh nghiệm trong lĩnh vực dân sự, hành chính, giúp nâng cao chất lượng tổ chức phiên tòa 17
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ QUYỀN TỐ TỤNG CỦA NGUYÊN ĐƠN
3.2.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện của nguyên đơn.
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành chỉ quy định một hình thức bắt đầu việc kiện là nộp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo trực tiếp tại toà án, qua bưu chính hoặc trực tuyến (Điều 190 BLTTDS sửa đổi năm 2015) Nhưng xét thực tiễn cho thấy vẫn còn tình trạng người dân không biết chữ hoặc những người tàn tật về cơ thể khó khăn trong việc tự mình viết đơn khởi kiện cũng như khó khăn trong việc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện Chính vì vậy, BLTTDS
2015 cần thiết bổ sung thêm quy định cho phép người khởi kiện được trực tiếp đến trụ sở Tòa án trình bày các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện hoặc ghi âm lại yêu cầu khởi kiện của mình gửi kèm tài liệu chứng cứ qua bưu điện nếu họ thuộc trường hợp không biết chữ Việc bổ sung quy định này giúp những đương sự là những người yếu thế trong xã hội hay những người dân tôc thiểu số họ có thể dễ dàng hơn trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
3.2.2 Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Thứ nhất, cần bổ sung quy định về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn CBXXST.
Thay đổi, bổ sung yêu khởi kiện là một quyền của nguyên đơn trong tố tụng dân sự, thể hiện quyền quyết định và tự định đoạt của họ (Điều 5, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) Nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện là việc nguyên đơn đưa ra một yêu cầu khởi kiện khác với yêu cầu ban đầu của họ để Tòa án xem xét, giải quyết trong cùng vụ án Hiện nay không có điều luật cụ thể nào quy định về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự trong giai đoạn CBXXST và thời hạn cho phép đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vẫn chưa có quy định cụ thể Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu cảu mình có khả năng làm cho phạm vi xét xử sơ thẩm và việc chứng minh của các đương sự khác phải thay đổi theo, do đó để tạo điều kiện chi các đương sự khác chuẩn bị phương án bảo vệ nên giới hạn chậm nhất mà đương sự được thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình ở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải BLTTDS cần bổ sung thêm quy định ngay sau khi chấp nhận thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án thông báo cho các đương sự khác để đảm bảo cho họ có thời gian chuẩn bị tài liệu, chứng cứ bảo vệ cho các quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước khi Tòa án
Thứ hai, cần bổ sung quy định về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong tại phiên tòa sơ thẩm.
Việc xác định thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu hay không cần được hướng dẫn cụ thể để có thể áp dụng pháp luật thống nhất, tránh những hậu quả pháp lý về sau.Theo tác giả, quy định về cách xác định “không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu” cần được bổ sung trong BLTTDS hoặc quy định trong văn bản hướng dẫn (là văn bản quy phạm pháp luật, thay vì công văn giải đáp nghiệp vụ) theo hướng như sau:
“Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm được xác định là không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nếu việc chấp nhận thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
1 Không cần phải thu thập bổ sung chứng cứ và không cần phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
2 Không làm xuất hiện người tham gia tố tụng mới.
3 Không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mới
4 Không nhằm gây khó khăn hoặc trì hoãn việc giải quyết vụ án.”
3.2.3 Hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền rút đơn khởi kiện của nguyên đơn
Bổ sung quy định về giải quyết trường hợp vụ án có nhiều nguyên đơn nhưng chỉ có một nguyên đơn rút yêu cầu, các đồng nguyên đơn khác vẫn giữ nguyên yêu cầu BLTTDS năm 2015 cần có quy định để giải quyết trường hợp này, bổ sung, giải quyết trường hợp này theo hướng: “khi nguyên đơn rút khởi kiện trong vụ án có nhiều nguyên đơn tham gia thì nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện sẽ trở thành người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự” Bởi vì trong vụ án có nhiều nguyên đơn thig quyền lợi, nghĩa vụ của các nguyên đơn thường liên quan đến nhau nên mặc dù nguyên đơn rút đơn dẫn đến tư cách nguyên đơn của họ không còn nữa nhưng họ vẫn có quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án, có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các nguyên đơn khác.
3.2.4 Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh của nguyên đơn
Ngoài ra, Dự thảo luật sửa đổi cũng đề xuất sửa đổi khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015, quy định về thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự nói chung và nguyên đơn nói riêng tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau: “Thời hạn giao nộp tài liệu chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết ấn định Thời hạn này phải được ấn định trước khi diễn ra phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Trong trường hợp có nhiều phiên họp thì thời hạn này phải được ấn định trước khi diễn ra phiên họp đầu tiên”.
Thứ hai, BLTTDS 2015 thiếu chế tài xử lý trường hợp nguyên đơn không nộp chứng cứ trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo yêu cầu của Thẩm phán Điều này dẫn đến việc kéo dài thời gian xét xử, gây phiền hà cho các bên tham gia tố tụng Vì vậy, cần bổ sung quy định chế tài xử lý hành vi này để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và thúc đẩy nguyên đơn thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ đúng hạn.
3.2.4 Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền tiếp cận chứng cứ của nguyên đơn
Bổ sung quy định hướng dẫn về nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ của các đương sự với nguyên đơn Theo đó khoản 5 Điều 96 cần được hướng dẫn theo hướng:
“ Bị đơn, người khởi kiện có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ cho nguyên đơn trước thời điểm diễn ra phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ( nếu có nhiều phiên thì phải gửi trước phiên đầu tiên)
Trong trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa sơ thẩm và được Tòa án chấp nhận phải có nghĩa vụ chuẩn bị trước một bộ tài liệu, chứng cứ để đồng thời chuyển giao cho nguyên đơn”.
Theo đó, khi Tòa án tiếp nhận chứng cứ chậm nộp của bên bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan thì vẫn phải có quy định để bảo đảm quyền chứng minh của nguyên đơn Trong trường hợp này, cần bổ sung thêm căn cứ về tạm ngừng phiên tòa Cụ thể, cần quy định rằng: "Nếu tại phiên tòa sơ thẩm,
Hội đồng xét xử chấp nhận việc cung cấp chứng cứ muộn mà xét thấy sự việc này gây bất lợi đến hoạt động chứng minh của đương sự khác thì Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa” 25
3.2.5 Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền được loại trừ một phần nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn.
Bổ sung quy định hướng dẫn về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Theo khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015, “một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.”
Trong trường hợp này xét thấy có khả năng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
25 Vũ Hoàng Anh(2017), Quyền của nguyên đơn trong tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại họcLuật Hà Nội, trang 88. pháp của chủ thể khác Vì vậy, để bảo đảm sự công bằng, khách quan trong hoạt động xét xử, cần có hướng dẫn đối với khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015: “ một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chủ thể khác thì vẫn phải chứng minh”
3.2.5 Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền tranh tụng tại phiên tòa của nguyên đơn