1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo chuyên ngành quản lý đất đai " vùng sinh thái, hiện trạng sử dụng đất… Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên " pot

32 997 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo thực tế vùng sinh thái, hiện trạng sử dụng đất tại các vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Trường học Trường Đại Học Tài Nguyên Và Môi Trường - [link](https://www.ut.edu.vn)
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Báo cáo thực tế
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là mộtcửa ngõ quốc tếNằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sôngCửu Long, địa hình thành p

Trang 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Tài nguyên đất quốc gia ngày càng được điều tra một cách toàn diện hơn,xác định đúng tiềm năng làm cơ sở cho việc khai thác, sử dụng đất đai tiết kiệm,

có hiệu quả theo hướng phát triển bền vững; Tài sản đất đai quốc gia đã được giao

đến tận tay người sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) đúng pháp luật để

sản xuất, khai thác làm giàu cho bản thân và làm giàu cho đất nước; Hệ thốngpháp luật về đất đai ngày càng được hoàn chỉnh, giác ngộ pháp luật của nhân dânđược nâng cao, tổ chức thi hành pháp luật về đất đai ngày càng hiệu quả, góp phầntăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai

Địa hình là một yếu tố quan trọng trong tự nhiên ví nó có hình dáng nổi bậtnhất và chi phối mạnh mẽ đến các yếu tố tự nhiên khác, là nơi diễn biến các yếu tố

tự nhiên, riêng bản thân nó thì khá bền vững và ít thay đổi Việt Nam nằm ở vùngnội chí tuyến đáng lẽ ít có sự phân hoá theo không gian, nhưng sự phân hoá ĐôngTây, Bắc – Nam, thấp lên cao làm cho tự nhiên Việt Nam vốn đã phức tạp lại càngphức tạp hơn do có sự đóng góp của địa hình Địa hình là nơi diễn ra mọi hoạtđộng sản xuất của xã hội, làm cho địa hình ngày càng thay đổi, làm mất đi vẻnguyên sinh, hình thành nên dạng địa hình mới là dạng nhân sinh, phần lớn địahình VN ngày nay là dạng địa hình nhân sinh

Thực tập thực tế chuyên ngành quản lý đất đai là hoạt động được tổ chứctrong dịp hè hàng năm của Bộ môn Tài nguyên đất đai thuộc Khoa Môi trường vàTài nguyên Thiên nhiên Chuyến đi qua một số tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông CửuLong, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên từ ngày23/07/2012 đến 29/07/2012

Đợt thực tập thực tế vừa qua, đã cung cấp thêm cho sinh viên chúng emnhiều kiến thức bổ ích về vùng sinh thái, hiện trạng sử dụng đất… Từ đó giúp chochúng em có được định hướng tốt hơn về nghề nghiệp cụ thể trong tương lai khitốt nghiệp ra trường

2 MỤC ĐÍCH THỰC TẾ

Trang bị cho sinh viên các kiến thức cơ bản về thực tế của ngành quản lýđất đai (địa chính) tại một vài Sở Tài nguyên môi trường và quản lý nguồn tàinguyên ngoài thực tế, sự khác nhau về cách thức quản lý ở các đơn vị khác nhau

để bổ sung kiến thức chuyên ngành cho sinh viên Sự đối chiếu giữa lý thuyết vàthực tế để bổ sung cho hoàn thiện kiến thức có thể ứng dụng sau khi tốt nghiệp vàđịnh hướng nghề nghiệp

Trang 2

và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây vàTây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thànhphố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách

bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực ĐôngNam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả

Trang 3

đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là mộtcửa ngõ quốc tế

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sôngCửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông.Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25mét Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận

9 Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có

độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét Các khu vực trung tâm,một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độcao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét

Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực:

 Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi

 Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi

 Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ

 Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ

* Địa Hình

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam

bộ và đồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình

Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng,

độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình (quận 9)

Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m

Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn Vùng này có độ cao trung bình 5-10m

Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng

Trang 4

* Thủy Văn

Sông Sài Gòn đoạn qua trung tâm thành phố và bán đảo Thủ Thiêm

Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, Thànhphố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng Sông Ðồng NaiBắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn,khoảng 45.000 km² Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15

tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố SôngSài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố HồChí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km.Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phốkhoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, haicon sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng Một con sôngnữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu haisông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp vàGành Rái Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bếncảng Sài Gòn Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệthống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ,Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu

Hũ, Kênh Ðôi Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việctưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủytriều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp vàhạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành

Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh cóđược lượng nước ngầm khá phong phú Nhưng về phía Nam, trên trầm tíchHolocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn Khu vực nội thành cũ cólượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thácchủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tích Miocen) TạiQuận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào,thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng

Trang 5

* Khí hậu, thời tiết

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình

có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt Mùa mưa được bắtđầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Trungbình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trungbình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C Hàng năm, thành phố

có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C Lượng mưa trung bình của thànhphố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhấtxuống 1.392 mm vào năm 1958 Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngàymưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệthai tháng 6 và 9 Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố khôngđều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc Các quận nội thành vàcác huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại

Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô Ngoài ra còn có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão.

12(0.5)

42(1.7)

220(8.7)

331(13)

313(12.3)

267(10.5)

334(13.1)

268(10.6)

115(4.5) 56 (2.2)

Khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

Hà Nội 1.278 km đường bộ

Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.197 km² Phần đất liền của tỉnh nằmkéo dài từ tọa độ địa lý 12°52’15" đến 11°42’50" vĩ độ Bắc và từ 108°40’33" đến109°27’55" kinh độ Đông Điểm cực Đông trên đất liền của Khánh Hòa nằm tạiMũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh và cũng là điểm cực đông trênđất liền của Việt Nam Chiều dài vào khoảng 150 km, chiều ngang chỗ rộng nhấtvào khoảng 90 km

Trang 7

Tỉnh Khánh Hòa nằm ở vị trí thuận tiện về giao thông đường bộ, đường sắt,đường biển và đường hàng không Việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Khánh Hòa

và các tỉnh thuận lợi nhờ đường sắt và Quốc lộ IA xuyên suốt chiều dài của tỉnh

Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược về mặt quốcphòng, vì nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng CamRanh và là cửa ngõ thông ra biển Ðông

Khánh Hoà luôn chan hòa ánh nắng, nhiệt độ trung bình hàng năm 26oC,lượng mưa trung bình hàng năm từ 1200 - 1800mm Khí hậu có hai mùa rõ rệt:mùa khô (từ tháng giêng đến tháng tám); mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12), chỉkéo dài khoảng hơn hai tháng, thuận lợi cho phát triển du lịch

Khánh Hòa có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, đặc biệttài nguyên biển có nhiều loại hải sản quý hiếm có thể khai thác, nuôi trồng, chếbiến xuất khẩu với khối lượng lớn, có yến sào, là nguồn nguyên liệu đặc biệt đểxuất khẩu và bào chế các sản phẩm bổ dưỡng quý hiếm cho con người

Ðiều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử văn hóa đã đem đến cho tỉnh KhánhHòa một tiềm năng lớn để phát triển du lịch, dịch vụ Nha Trang - Khánh Hòa hiệnđược xác định là một trong 10 trung tâm du lịch - dịch vụ lớn của cả nước Tháng5-2003, vịnh Nha Trang được công nhận là thành viên chính thức của Câu lạc bộcác vịnh đẹp nhất thế giới

* Địa Hình

Là một tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn, đa số diện tích Khánh Hòa là núinon, miền đồng bằng rất hẹp, chỉ khoảng 400 km², chiếm chưa đến 1/10 diện tíchtoàn tỉnh Miền đồng bằng lại bị chia thành từng ô, cách ngăn bởi những dãy núi

ăn ra biển Do đó để đi suốt dọc tỉnh phải đi qua rất nhiều đèo như đèo Cả, đèo Cổ

Mã, đèo Chín Cụm, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì

Bãi biển Dốc Lếch tại Ninh Hòa

Trang 8

+ Vùng núi và bán sơn địa

Khánh Hòa là một tỉnh có địa hình tương đối cao ở Việt Nam, độ cao trungbình so với mực nước biển khoảng 60 m Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnhcao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dãy Trường Sơn,lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng

Phía Bắc và Tây Bắc tỉnh có vùng núi cao thuộc dãy Vọng Phu cao hơn

1000 m, trong đó có dãy Tam Phong gồm ba đỉnh núi cao là Hòn Giữ (cao 1264 m), Hòn Ngang (1128 m) và Hòn Giúp (1127 m) Dãy Vọng Phu - Tam Phong cóhướng tây nam - đông bắc, kéo dài trên 60 km, tạo thành ranh giới tự nhiên giữahai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Đắk Lắk Các núi thuộc đoạn giữa của tỉnh thường

có độ cao kém hơn, có nhiều nhánh đâm ra sát biển tạo nên nhiều cảnh đẹp, gắnvới những huyền thoại dân gian và di tích lịch sử, sự kiện của địa phương Đếnphía nam và tây nam, lại xuất hiện một vùng núi rộng, với nhiều đỉnh núi cao trên

1500 m đến trên 2000 m, trong đó có Đỉnh Hòn Giao (2062 m) thuộc địa phậnhuyện Khánh Vĩnh, là đỉnh núi cao nhất Khánh Hòa Do có nhiều núi cao, mật độchia cắt lớn bởi khe, suối, sông tạo thành nhiều hẻm, vực, thung lũng sâu, gây khókhăn cho giao thông Ngoài ra, khu vực này còn có thung lũng Ô Kha, được biếtđến là một vùng nguy hiểm cho hàng không

+ Đồng bằng

Đồng bằng ở Khánh Hòa nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra biển.Chẳng những thế, địa hình rừng núi của tỉnh không thuận lợi cho quá trình lắngđọng phù sa, nên nhìn chung Khánh Hòa không phải là nơi thuận lợi để phát triểnnông nghiệp Các đồng bằng lớn ở Khánh Hòa gồm có đồng bằng Nha Trang -Diên Khánh nằm ở hai bên sông Cái với diện tích 135 km²; đồng bằng Ninh Hòa

do sông Dinh bồi đắp, có diện tích 100 km² Cả hai đồng bằng này đều được cấutạo từ đất phù sa cũ và mới, nhiều nơi pha lẫn sỏi cát hoặc đất cát ven biển Ngoài

ra, Khánh Hòa còn có hai vùng đồng bằng hẹp là đồng bằng Vạn Ninh và đồngbằng Cam Ranh ở ven biển,

Quang cảnh đồng bằng Diên Khánh - Nha Trang

Trang 9

+ Bờ biển và biển ven bờ

Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam.Đường bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng

385 km tính theo mép nước với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, cùng khoảng 200 đảolớn, nhỏ ven bờ Khánh Hòa có sáu đầm và vịnh lớn, đó là Đại Lãnh, vịnh VânPhong, Hòn Khói, đầm Nha Phu, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh.Trong đó có nổi bật nhất vịnh Cam Ranh với chiều dài 16 km, chiều rộng 32 km,thông với biển thông qua eo biển rộng 1,6 km, có độ sâu từ 18-20 m, và thườngđược xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á, trước đâyđược sử dụng làm căn cứ quân sự của Hoa Kỳ rồi Liên Xô (sau này là Nga) nhưng

về sau được chuyển thành cảng dân sự

Thềm lục địa tỉnh Khánh Hòa rất hẹp Địa hình vùng thềm lục địa phản ánh

sự tiếp nối của cấu trúc địa hình trên đất liền Các nhánh núi Trường Sơn đâm rabiển trong quá khứ địa chất như dãy Phước Hà Sơn, núi Hòn Khô, dãy HoàngNgưu không chỉ dừng lại ở bờ biển để tạo thành các mũi Hòn Thị, mũi Khe Gà(Con Rùa), mũi Đông Ba mà còn tiếp tục phát triển rất xa về phía biển mà ngàynay đã bị nước biển phủ kín Vì vậy, dưới đáy biển phần thềm lục địa cũng cónhững dãy núi ngầm mà các đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình thành cáchòn đảo như hòn Tre, hòn Miếu, hòn Mun Xen giữa các đái đảo nổi, đảo ngầm lànhững vùng trũng tương đối bằng phẳng gọi là các đồng bằng biển, đó chính làđáy các vũng, vịnh như vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh

Ngoài các đảo đá ven bờ, Khánh Hoà còn có các đảo san hô ở huyện đảoTrường Sa, với khoảng 100 đảo bãi cạn, bãi ngầm rải rác trên một diện tích từ 160đến 180 ngàn km², trong đó có từ 23 đến 25 đảo, bãi cạn nổi thường xuyên, vớitổng diện tích 10km² Đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa là Ba Bình chỉ rộng0,65km² Bãi lớn nhất là bãi Thuyền Chài, dài 30km; rộng 5km (ngập nước khitriều lên) Địa hình trên bề mặt các đảo rất đơn giản, chỉ là những mõm đá, vách

đá vôi san hô, cao vài ba mét

* Tài Nguyên

Khánh Hòa có nhiều tài nguyên khoáng sản như than bùn, cao lanh, sét, sétchịu lửa, vàng sa khoáng, cát thuỷ tinh, san hô, đá granit, quặng ilmênit, nướckhoáng, phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp khai thác Ngoài racòn có nhiều tài nguyên biển, bao gồm các nguồn rong, tảo thực vật, trữ lượng hảisản lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản; các điều kiệnthuận lợi để khai thác sinh vật biển và nuôi trồng thuỷ sản

Trang 10

* Sông ngòi

Thuyền trên sông Cái, đoạn qua Nha Trang, phía sau là cầu Trần Phú

Sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 consông dài từ 10 km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày Hầuhết, các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuốngbiển phía Đông Dọc bờ biển, cứ khoảng 5-7 km có một cửa sông

Mặc dù hướng chảy cơ bản của các sông là hướng Tây - Đông, nhưng tùytheo hướng của mạch núi kiến tạo hoặc do địa hình cục bộ, dòng sông có thể uốnlượn theo các hướng khác nhau trước khi đổ ra biển Đông Đặc biệt là sông TôHạp, bắt nguồn từ dãy núi phía Tây của huyện Khánh Sơn, chảy qua các xã SơnTrung, Sơn Bình, Sơn Hiệp, Sơn Lâm, Thành Sơn rồi chảy về phía Ninh Thuận.Đây là con sông duy nhất của tỉnh chảy ngược dòng về phía Tây Hai con sông lớnnhất tỉnh là Sông Cái (Nha Trang) và sông Dinh Sông Cái có độ dài 79 km, bắtnguồn từ hòn Gia Lê cao 1.812 m chảy qua Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Nha Trangrồi đổ ra biển qua Cửa Bé (Tiểu Cù Huân) và Cửa Lớn (Đại Cù Huân) Sông Dinhbắt nguồn từ vùng núi Chư H'Mư (đỉnh cao 2.051 m) thuộc dãy Vọng Phu, cótổng diện tích lưu vực 985 km2, chảy qua thị xã Ninh Hòa và đổ ra đầm Nha Phu

* Khí hậu

Khánh Hòa là một tỉnh ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, nằm trongkhu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Song khí hậu Khánh Hòa có những nét biếndạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt So với các tỉnh, thành phía Bắc từ Đèo

Cả trở ra và phía Nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa tương đối

ôn hòa hơn do mang tính chất của khí hậu đại dương Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt

là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng

12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên50% lượng mưa trong năm Những tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàngnăm có tới 2.600 giờ nắng

Trang 11

Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7 °C riêngtrên đỉnh núi Hòn Bà (cách Nha Trang 30 km đường chim bay) có khí hậu như ĐàLạt và Sa Pa.Độ ẩm tương đối khoảng 80,5%.

Từ tháng 1 đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổi dần Nhữngtháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trờinóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C (ở Nha Trang) và 37-38 °C (ở Cam Ranh).Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhiệt độ thay đổi từ 20-27 °C (ởNha Trang) và 20-26 °C (ở Cam Ranh) Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão

đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơnbão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam Các trận bão được dự đoán sẽ đổ bộ vàoKhánh Hòa trong những năm gần đây thường lệch hướng vào Nam hoặc tan ngaykhi gần vào bờ Tuy vậy, do địa hình sông suối có độ dốc cao nên khi có bão kèmtheo mưa lớn, làm nước dâng cao nhanh chóng, trong khi đó sóng bão và triềudâng lại cản đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt

Trang 12

3.1.2 Lâm Đồng

Bản đồ hành chính tỉnh Lâm Đồng

* Vị Trí Địa Lý

Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên có độ cao trung bình từ

800 - 1.000 m so với mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.772,19 km2; địa hìnhtương đối phức tạp chủ yếu, là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng cónhững thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau

về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật và những cảnh quan kỳ thú cho LâmĐồng

- Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận

- Phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai

- Phía nam – đông nam giáp tỉnh Bình Thuận

* Địa Hình

Trang 13

Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp,chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng

Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng

từ bắc xuống nam

- Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1.300m đến hơn 2.000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m)

- Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m)

- Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán bình nguyên

* Khí Hậu

Lâm Đồng nằm trong khuvực chịu ảnh hưởng của khí hậunhiệt đới gió mùa biến thiên theo

độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt;mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11,mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4năm sau

Nhiệt độ thay đổi rõ rệtgiữa các khu vực, càng lên caonhiệt độ càng giảm Nhiệt độtrung bình năm của tỉnh dao động

từ 18 – 250C, thời tiết ôn hòa vàmát mẻ quanh năm, thường ít cónhững biến động lớn trong chu kỳnăm

Lượng mưa trung bình 1.850 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình

cả năm 79 – 86%, số giờ nắng trung bình cả năm 2.028 – 2.347 giờ, thuận lợi chophát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồngốc ôn đới Đặc biệt Lâm Đồng có khí hậu ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệtđới điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đôngdân

Trang 14

* Thủy Văn

Lâm Đồng là tỉnh nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rấtphong phú, mạng lưới suối khá dày đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với 73 hồchứa nước, 92 đập dâng

Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, mật độ trung bình 0,6km/km2 với độ dốc đáy nhỏ hơn 1% Phần lớn sông suối chảy từ hướng đông bắc xuống tây nam

Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều cólưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn

Các sông lớn của tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai

Hệ thống cấp nước đã hoàn thiện tương đối tốt, hiện có: nhà máy cấp nước

Đà Lạt, công suất 35.000 m3/ngày-đêm hệ thống cấp nước thị xã Bảo Lộc, côngsuất 10.000 m3/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Đức Trọng, công suất 2.500

m3/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Di Linh, công suất 3.500 m3/ngày-đêm; hệthống cấp nước huyện Lâm Hà, công suất 6.000 m3/ngày-đêm Đồng thời với việccấp nước, hệ thống xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt đang được hoànthiện

3.2 Sự thay đổi sử dụng đất đai vùng Đồng Bằng đến vùng Cao Nguyên

Trang 15

Dọc theo tuyến Quốc lộ mà đoàn thực tập đi qua thì vùng Đồng bằng SôngCửu Long địa hình cao từ 1-4 m, đất phù sa nên chủ yếu trồng lúa, cây ăn trái như:chuối, mít, dừa, nhãn…bên cạnh đó là nhà của các hộ dân sống ven lộ kinh doanhnhỏ Khi đến các tỉnh Miền Đông thì hiện trạng sử dụng đất có thay đổi, địa hìnhcao từ 50-200m so với mực nước biển, đất là đỏ bazan và đất xám nên một phầntrồng cây ăn quả, canh tác lúa rất ít còn lại là cây công nghiệp như: cao su, đào lộnhột, sầu riêng…và phát triển công nghiệp, thương mại Qua các tỉnh thuộc Duyênhải Nam Trung Bộ địa hình từ 60-100m, nơi đây chủ yếu là đất cát nên thấy trồngcác cây nho, thanh long, dừa, khoai mì…phát triển thủy sản, làm muối, làm gạch,làm nước mắm, du lịch biển như Nha Trang - Khánh Hòa, tháp Chàm Ponagar…Đến Lâm Đồng đất chủ yếu là đất đỏ bazan, địa hình khá cao từ 700-2000m nêncây trồng chủ yếu là hoa màu như: hoa hồng, cúc, lan, cẩm tú, súp lơ, bắp cải, càrốt, sà lách, dâu, cây thông… Bên cạnh đó du lich sinh thái rừng cũng là thế mạnhcủa địa phương

3.3 Thổ nhưỡng từng vùng sinh thái

Trang 16

Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên vàhoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng:

đất xám Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4 % diện tích thành phố, đất xám

ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏvàng và hiếm hơn là đất xám gley Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh

có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi hình thành nhiều loại đấtkhác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha vàđất phèn mặn với 45.500 ha Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là

"giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò

Ngày đăng: 27/06/2014, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w