Đối với sinh viên các vấn đề sức khỏe tâm thần còn ảnh hưởng đến khả năng và kết quả học tập của họ, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của nhà trường, thậm chí nguy hiểm hơn
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS Hoàng Thị Xuân Hương
HÀ NỘI - 2024
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các Thầy trong Ban Giám hiệu, cô giáo chủ nhiệm, cùng các giảng viên Trường Đại học Phenikaa đã hết lòng nhiệt tình truyền thụ kiến thức và luôn hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Hoàng Thị Xuân Hương - Phó trưởng Khoa Điều dưỡng - Trường Đại học Phenikaa là người đã trực tiếp dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tận tình cho tôi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy, cô trong Ban Giám hiệu và Khoa Y Dược Trường Cao đẳng Công thương Việt Nam đã động viên, giúp đỡ, dành thời gian cho tôi học tập và nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị đồng nghiệp những cộng tác viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tôi xin g i lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Trường và các ph ng an
đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu
Tôi xin g i lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, chồng, con đã tạo điều kiện và luôn ở ên tôi, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc và động viên tôi trong suốt thời gian làm nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2024
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Hồ Thị Ngân, học viên lớp cao học Khóa 03, chuyên ngành Điều
dưỡng, Trường Đại học Phenikaa xin cam đoan:
Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Hoàng Thị Xuân Hương – Phó trưởng Khoa Điều dưỡng – Trường Đại học Phenikaa
Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố ở Việt Nam
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Đã được đồng ý thu thập và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc thu thập số liệu
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2024
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
SRS : Social Relationship Scale
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 6MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 4
1.1.1 Khái niệm sức khỏe tâm thần 4
1.1.2 Khái niệm về sự lo âu 4
1.1.3 Trầm cảm 5
1.1.4 Stress 6
1.2 Một số nghiên cứu về trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 6
1.2.1 Trên Thế giới 6
1.2.2 Tại Việt Nam 7
1.3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress 8
1.3.1 Yếu tố cá nhân 8
1.3.1.1 Về giới tính 8
1.3.1.2 Tuổi 9
1.3.1.3 Chất lượng giấc ngủ 9
1.3.1.4 Thói quen tập thể dục, giải trí 10
1.3.1.5 Nơi ở hiện tại 10
1.3.2 Yếu tố học tập 11
1.3.2.1 Năm học 11
1.3.2.2 Áp lực học tập 11
1.3.2.3 Sự hài lòng với ngành học 12
1.3.2.4 Kết quả học tập 12
1.3.3 Yếu tố gia đình và ạn bè 13
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 71.3.3.1 Bất h a trong gia đình 13
1.3.3.2 Bất đồng với bạn bè 13
1.3.3.3 Khó khăn về tài chính 14
1.4 Một số thang đo đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu và stress 15
1.4.1 Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS) [63] 15
1.4.2 Thang đo lo âu trầm cảm của Zigmond và Snaith “Hospital Anxiety and Depression Scale”(HADS) [80] 15
1.4.3 Thang đánh giá stress, lo âu và trầm cảm (DASS) 15
1.5 Hành vi tìm kiếm hỗ trợ của sinh viên khi bị trầm cảm, lo âu, stress 17
1.6 Công cụ đo lường sự hỗ trợ xã hội 18
1.6.1 Thang đo mối quan hệ xã hội (SRS) [44] 18
1.6.2 Thang đánh giá rối loạn chức năng xã hội SDRS [42] 19
1.6.3 Thang đo hỗ trợ xã hội (MSPSS)[62] 19
1.7 Khung lý thuyết của nghiên cứu 19
1.8 Vài nét về địa điểm nghiên cứu 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm 23
2.3 Thiết kế cỡ mẫu và phương pháp nghiên cứu 23
2.4 Biến số nghiên cứu 24
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.6 Công cụ đo lường 28
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 28
2.8 Sai số có thể gặp và cách khắc phục 29
2.9 Đạo đức nghiên cứu 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên Trường Cao đẳng Công thương Việt Nam 31
3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 31
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 83.1.2 Đặc điểm về học tập của đối tượng nghiên cứu 35
3.1.3 Đặc điểm gia đình, ạn bè của đối tượng nghiên cứu 36
3.1.4 Đặc điểm sự hỗ trợ xã hội với đối tượng nghiên cứu 37
3.1.5 Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 37
3.2 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 38
3.2.1 Các yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên 38
3.2.1.1 Các yếu tố liên quan đến stress 39
3.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến stress 42
3.2.2 Các yếu tố liên quan đến lo âu ở sinh viên 43
3.2.2.1 Các yếu tố liên quan đến lo âu ở sinh viên 43
3.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu 46
3.2.3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở sinh viên 46
3.2.3.1 Các yếu tố liên quan 47
Chương 4: BÀN LUẬN 52
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 52
4.2 Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 52
4.2.1 Thực trạng lo âu của sinh viên 53
4.2.2 Thực trạng stress của sinh viên 54
4.2.3 Thực trạng trầm cảm của sinh viên 55
4.3 Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 56
4.3.1 Yếu tố cá nhân liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 56
4.3.2 Yếu tố học tập liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 58
4.3.3 Yếu tố gia đình, ạn è liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 59
4.3.4 Yếu tố hỗ trợ xã hội liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 61
4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm, lo âu, stress 62
KẾT LUẬN 64
KHUYẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng phân loại thang đánh giá Trầm cảm, lo âu và stress DASS 21 16
Bảng 2.1: Định nghĩa iến 24
Bảng 3.2: Đặc điểm tính cách, thói quen của đối tượng nghiên cứu (n = 420) 34
Bảng 3.3: Đặc điểm học tập của đối tượng nghiên cứu (n = 420) 35
Bảng 3.4: Đặc điểm gia đình và ạn bè của đối tượng nghiên cứu (n = 420) 36
Bảng 3.5 Mức độ HTXH ở sinh viên (n=420) 37
Bảng 3.6: Mức độ các triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên (n=420) 38
Bảng 3.7: Mối liên quan đặc điểm chung của ĐTNC đến stress (n=420) 39
Bảng 3.8: Mối liên quan yếu tố học tập của ĐTNC đến stress (n=420) 40
Bảng 3.9: Mối liên quan yếu tố gia đình, ạn bè của ĐTNC đến stress (n=420) 41
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa mức độ HTXH và stress ở sinh viên (n=420) 41
Bảng 3.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến stress 42
Bảng 3.12 Mối liên quan đặc điểm chung của ĐTNC đến lo âu (n=420) 43
Bảng 3.13 Mối liên quan yếu tố học tập của ĐTNC đến lo âu (n=420) 44
Bảng 3.14: Mối liên quan yếu tố gia đình, ạn bè của ĐTNC đến lo âu (n=420) 45
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa mức độ HTXH và lo âu ở sinh viên (n=420) 45
Bảng 3.16 Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu 46
Bảng 3.17 Mối liên quan đặc điểm chung của ĐTNC đến trầm cảm (n=420) 47
Bảng 3.18 Mối liên quan yếu tố học tập của đối tượng nghiên cứu đến48 trầm cảm (n=420) 48
Bảng 3.19 Mối liên quan yếu tố gia đình, ạn bè của đối tượng nghiên cứu đến trầm cảm (n=420) 49
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa mức độ HTXH và trầm cảm ở sinh viên (n=420) 50
Bảng 3.21 Các yếu tố ảnh hưởng đến stress 50
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 10DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Khung lý thuyết của nghiên cứu 21
Biểu đồ 3.1 Phân bố giới tính của đối tượng nghiên cứu (n=420) 31
Biểu đồ 3.2 Thói quen uống rượu bia của sinh viên (n=420) 33
Biểu đồ 3.3 Chất lượng giấc ngủ của sinh viên (n=420) 34
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên (n=420) 37
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Đặt vấn đề: Trầm cảm, lo âu, stress là những vấn đề thường gặp trong cuộc
sống Hiện nay tỷ lệ gặp phải những vấn đề sứ khỏe tâm thần học đường ngày càng cao và ngày càng được quan tâm Đối với sinh viên các vấn đề sức khỏe tâm thần còn ảnh hưởng đến khả năng và kết quả học tập của họ, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của nhà trường, thậm chí nguy hiểm hơn là có thể dẫn đến các hành vi như tự t hoặc s dụng các chất kích thích, chất gây nghiện
Mục tiêu: Thứ nhất: Mô tả mức độ trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên
Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam năm 2023 Thứ hai: Xác định một số yếu
tố liên quan đến mức độ trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên Trường Cao đẳng Công thương Việt Nam năm 2023
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: S dụng thiết kế nghiên cứu cắt
ngang với phương pháp chọn mẫu phân tầng trên 420 sinh viên của 5 khoa tại Trường cao đẳng công thương Việt Nam
Kết quả: Tỷ lệ sinh viên có iểu hiện trầm cảm, lo âu, stress lần lượt là 40%,
56,4% và 37,1% Biểu hiện trầm cảm của sinh viên có liên quan đến chất lượng giấc ngủ (OR = 2,44), tập thể dục (OR = 0.87), hài l ng với ngành học (OR = 1.68), tài chính gia đình (OR = 0,54), mối quan hệ ạn è (OR = 2,7), hỗ trợ xã hội (OR = 1,72) Biểu hiện lo âu ở sinh viên có liên quan đến yếu tố: Chất lượng giấc ngủ ( OR
= 1,95), tập thể dục (OR = 0,68), hài l ng với ngành học ( OR = 1,7), hỗ trợ xã hội (OR = 0,82) Biểu hiện stress ở sinh viên có liên quan đến các yếu tố: Giới tính (
OR = 1,3), chất lượng giấc ngủ ( OR = 2,89), tập thể dục (OR =0,85), hài l ng với ngành học ( OR= 1,36), quan hệ với ạn è ( OR = 1,69), hỗ trợ xã hội ( OR = 0,68)
Kết luận và khuyến nghị: Để hạn chế tỷ lệ sinh viên có iểu hiện trầm cảm,
lo âu, stress cần có những iện pháp hỗ trợ, can thiệp từ phía nhà trường, tăng cường hỗ trợ từ thầy cô, giúp sinh viên có được sự hỗ trợ từ ạn è, đồng thời ản thân sinh viên cần sắp xếp thời gian để có kế hoạch học tập, nghỉ ngơi, tập thể dục, tham gia ngoại khóa để ngăn ngừa, hạn chế hoặc không để gặp phải các iểu hiện của trầm cảm, lo âu, stress trong cuộc sống hiện tại
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 12MỞ ĐẦU
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1948) “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ không có bệnh hay tàn phế” Như vậy, bên cạnh sức khỏe thể chất chúng ta cũng cần quan tâm đến sức khỏe tâm thần [51]
Hiện nay, rối loạn tâm thần là khá phổ biến, nó gây ảnh hưởng đến 25% dân
số thế giới tại một thời điểm nhất định trong cuộc đời của họ Các rối loạn tâm thần thường gặp nhất bao gồm trầm cảm, lo âu và stress Từ năm 1990 đến năm 2013, số người bị trầm cảm và/hoặc rối loạn lo âu tăng gần 50%, từ 416 triệu lên 615 triệu người [61] Ước tính đến năm 2030, trầm cảm sẽ là nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [47] Rối loạn lo âu và trầm cảm có mối liên hệ mật thiết với nhau, khoảng 85% bệnh nhân trầm cảm có các biểu hiện lo âu [38]
Người bệnh trầm cảm nếu không được quan tâm phát hiện và điều trị kịp thời
sẽ để lại nhiều khuyết tật và là gánh nặng nặng nề cho xã hội Bệnh trầm cảm ảnh hưởng đến mọi hoạt động của con người, làm thay đổi thói quen của giấc ngủ, hoặc
bị mất ngủ dai dẳng; gây một số bệnh về tim mạch, suy giảm miễn dịch, bệnh nhân đau đầu nhiều[16] Đối với sinh viên các vấn đề sức khỏe tâm thần còn ảnh hưởng đến khả năng và kết quả học tập của họ, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của nhà trường, thậm chí nguy hiểm hơn là có thể dẫn đến các hành vi như tự t hoặc s dụng các chất kích thích, chất gây nghiện[35, 37]
Vấn đề trầm cảm, lo âu, stress trong sinh viên đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Theo một nghiên cứu ở Ấn Độ, năm 2014, kết quả chỉ ra
có 38,9% sinh viên bị stress ở mức nhẹ; 18,8 % sinh viên bị stress nặng[48] Một nghiên cứu trên sinh viên Điều dưỡng ở Hồng Kông (2016), cho thấy tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có trầm cảm, lo âu và stress lần lượt là 35,8%; 37,3% và 41,1% Việc gặp khó khăn về tài chính và có vấn đề về giấc ngủ có mối tương quan đáng kể đến trầm cảm, lo âu và stress[34]
Nghiên cứu khác tại Malaysia năm 2013 trên sinh viên các trường công lập cho kết quả khoảng 23,7% sinh viên bị stress vừa và nặng, 63% sinh viên có dấu
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 13hiệu của lo âu ở mức độ vừa, nặng và rất nặng; 39,2% sinh viên có dấu hiệu của trầm cảm ở mức độ vừa, nặng và rất nặng [53]
Tại Việt Nam, những vấn đề tâm lý của sinh viên đã trở thành vấn đề nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung năm 2017 tại Trường Đại học Y tế công cộng, tỷ lệ mắc stress là 34,4%; stress tập trung cao ở nhóm sinh viên có mẹ làm công nhân, áp lực học tập cao, không hài lòng với chuyên ngành học, mâu thuẫn bạn è và không thường xuyên chia sẻ với bạn thân[13] Theo nghiên cứu của Trần Kim Trang (2012) tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ sinh viên bị trầm cảm là 28,8%; lo âu là 22,4% và stress là 71,4% đa số ở mức độ nhẹ và vừa Cũng theo nghiên cứu này có 52,8% sinh viên có cả 3 dạng rối loạn trên [21] Một nghiên cứu khác của tác giả Hoàng Thị Quỳnh Lan tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2020 cho thấy tỷ lệ sinh viên có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress lần lượt là 4%; 49,9% và 69,5%[7] Trường Cao Đẳng Công Thương Việt Nam là cơ sở dạy nghề chất lượng số 1 cung cấp nhân lực chất lượng cao cho thủ đô Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Tính đến năm 2020 trường đang đào tạo 27 chuyên ngành hệ cao đẳng chính quy Mỗi năm, trường có hơn 2.000 sinh viên đào tạo liên tục ở các chuyên ngành khác nhau Tuy nhiên, việc đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên tại đây vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện Với mong muốn đánh giá đúng tình trạng sức khỏe tâm thần của sinh và tìm ra một số yếu tố liên quan để đề xuất biện pháp cải thiện các vấn đề tâm lý của sinh viên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên trường Cao
Đẳng Công Thương Việt Nam năm 2023” với mục tiêu:
1 Mô tả mức độ trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam năm 2023
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên Trường Cao đẳng Công thương Việt Nam năm 2023
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm sức khỏe tâm thần
Theo WHO, sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần
và xã hội chứ không chỉ là tình trạng không bệnh tật hay đau yếu[12] Định nghĩa này thể hiện rất rõ ràng rằng: Sức khỏe tâm thần là một phần không thể tách rời của sức khỏe nói chung; Sức khỏe tâm thần là một khái niệm rộng chứ không phải chỉ là không có bệnh tâm thần và sức khỏe tâm thần có mối liên quan mật thiết với sức khỏe thể chất và hành vi
Năm 2003 Tổ chức y tế Thế giới đã đưa ra khái niệm sức khỏe tâm thần là:
“Trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng”[12]
Theo khái niệm trên có thể hiểu rằng: Sức khoẻ tâm thần là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, là trạng thái tâm lý vui vẻ và ổn định của con người mà cá nhân đó nhận thức được khả năng của mình có thể ứng phó với những căng thẳng ình thường trong cuộc sống, có thể làm việc hiệu quả, tham gia và góp phần vào các hoạt động của cộng đồng Điều này được biểu hiện thông qua cá nhân đó cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vui tươi, yêu đời, tự tin từ đó kiểm soát được hành vi của mình, cư x đúng mực và tôn trọng mọi người xung quanh trên cơ sở ý thức đầy đủ về giá trị bản thân
1.1.2 Khái niệm về sự lo âu
Trải nghiệm lo âu là hiện tượng tâm lý mà hầu hết con người từng trải qua trong cuộc sống của mình, là phản ứng ình thường của con người khi họ gặp phải các tình huống gây căng thẳng Theo Fotimnash và Worret năm 2008 cho rằng lo âu
là một trạng thái của sự sợ hãi, căng thẳng về những điều sắp xảy ra, nó đến từ những ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và có nguy cơ áp đảo cá nhân[36]
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 15Lo âu c n được định nghĩa là một cảm giác sợ hãi, khó chịu, sự không chắc chắn hoặc căng thẳng do một mối đe dọa thực sự hoặc nhận thức được mối đe dọa
mà nguồn gốc thực sự của nó là không rõ ràng[58]
Theo tác giả Võ Văn Bản năm 2002 lo âu được miêu tả như một cảm giác khó chịu của nỗi sợ hãi mơ hồ, hay còn là lo sợ đi kèm với những tình trạng vật lý đặc trưng Đây là một phản ứng ình thường đối với những mối de dọa nhận thức được của một người với tâm sinh lý ình thường Trạng thái lo âu là sự cảnh báo để bản thân có những giải pháp thích hợp đối phó với những tình huống căng thẳng[23] Theo Nguyễn Viết Thiêm năm 2002, lo âu sẽ trở thành vấn đề sức khỏe tâm thần (tình trạng rối loạn lo âu) khi nó xảy ra mơ hồ, vô lý và không liên quan đến bất kỳ mối đe dọa nào hoặc là mức độ lo âu không tương xứng với các mối đe dọa
và diễn ra trong một thời gian dài Khi đó, lo âu gây trở ngại cho công việc, học tập, sinh hoạt và các mối quan hệ xã hội ình thường của cá nhân và được gọi là rối loạn lo âu[16]
1.1.3 Trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần Chủ yếu là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy và ức chế vận động Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10), trầm cảm đặc trưng ởi khí sắc trầm, mất quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong khoảng thời gian cần thiết ít nhất là 2 tuần Những triệu chứng khác như giảm sự tập trung, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn và tương lai ảm đạm i quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát cũng là các triệu chứng phổ biến Ngoài ra còn các triệu chứng cơ thể khác như: thức giấc sớm hơn ít nhất 2 giờ, trầm cảm nặng lên vào buổi sáng, sút cân (≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước…)[60]
Theo tác giả Trương Tuấn Anh, trầm cảm (depression) là một rối loạn khí sắc thường gặp trong các rối loạn tâm thần Trầm cảm dùng để mô tả một hội chứng bệnh tâm lý được đặc trưng ởi khí sắc trầm hay còn gọi là cảm xúc buồn bã cùng với một số triệu chứng khác duy trì trong một khoảng thời gian kéo dài trên 2 tuần,
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 16từ đó ảnh hưởng đến các hoat động trong cuộc sống như công việc, học tập, gia đình và xã hội[22]
1.1.4 Stress
Stress là một thuật ngữ tiếng Anh xuất hiện từ thế kỉ XV, nó được dùng để mô
tả sức nén mà vật liệu phải chịu trong vật lý Đến thế kỉ thứ XVII, thuật ngữ này để chỉ sức ép trên tâm lý con người khi trải qua th thách cam go, nỗi đau uồn hay tai họa Thuật ngữ stress được s dụng lần đầu trong sinh lý học vào năm 1914 ởi Walter Cannon, ông gọi stress là phản ứng sinh lý tấn công hay bỏ chạy trước các hoàn cảnh khẩn cấp
Sau đó Hans Selye đã đưa ra định nghĩa về stress một cách đầy đủ hơn Theo Hans Selye, stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể với những tình huống căng thẳng nhằm khôi phục lại trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục các tình huống để đảm bảo sự duy trì và thích nghi của cơ thể trước các điều kiện sống luôn biến đổi Đây là phản ứng thích nghi, nếu cá nhân không thích nghi được thì stress trở thành bệnh lý[1, 15, 52]
Sau định nghĩa về stress của Hans Selye cũng đã có nhiều nghiên cứu về stress được thực hiện, trong đó định nghĩa được chấp nhận nhiều nhất là của nhà tâm lý học Richard S Lazarus Tác giả Richard S Lazarus cho rằng: Stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra các yêu cầu, đ i hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và xã hội
mà họ có thể huy động được[40]
Như vậy theo các định nghĩa trên, stress bao gồm hai khía cạnh:
+ Tình huống stress chỉ tác nhân gây stress (Stressor): là một sự kiện kích thích từ bên trong hoặc bên ngoài khiến cơ thể phải có một đáp ứng thích nghi + Đáp ứng stress là sự phản ứng của cơ thể với các tác nhân có tính chất đe dọa, có hại (Strain): phản ứng sinh lý và phản ứng tâm lý[3, 15]
1.2 Một số nghiên cứu về trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên
Trang 17trầm cảm và rối loạn lo âu[55] Theo một nghiên cứu tổng quan hệ thống trên 195 nghiên cứu ở 47 quốc gia đã chỉ ra tỷ lệ sinh viên y khoa bị trầm cảm hoặc có dấu hiệu trầm cảm là 27,2% và tỷ lệ có ý tưởng tự sát là 11,1%[50]
Theo nghiên cứu của Moutinho ILD tại Brasil năm 2016 cho thấy có 34,6% sinh viên có dấu hiệu trầm cảm; 37,2% sinh có triệu chứng lo âu và 47,1% sinh viên
có stress đã chỉ ra rằng có sự khác biết đáng kể giữa các học kỳ của khóa học[45] Theo kết quả nghiên cứu của Wahed WAY tại Ai Cập năm 2016 trên 442 sinh viên Y khoa cho thấy độ tuổi trung bình là 20,15 ± 1,9 tuổi Tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm với các mức độ khác nhau lần lượt là 62,4%; 64,3% và 60,8% Điểm stress và điểm lo âu có mối liên quan đáng kể đến tuổi, giới tính và tình trạng béo phì Điểm số trầm cảm tương quan thuận với tuổi và tương quan nghịch với điều kiện kinh tế của sinh viên, sinh viên ở nơi khác đến có điểm số trầm cảm cao hơn[59]
Một nghiên cứu ở Ấn Độ năm 2014 trên sinh viên thuộc 5 trường Đại học tại thành phố Shilong liên quan đến các lĩnh vực: Hội họa, Thương Mại, Khoa Học, kết quả chỉ ra có 38,9% sinh viên bị stress ở mức nhẹ; 18,8 % sinh viên bị stress nặng[48] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Teris Cheung trên sinh viên Điều dưỡng ở Hồng Kông năm 2016, tỷ lệ sinh viên có trầm cảm, lo âu và stress lần lượt
là 35,8%; 37,3% và 41,1% Việc gặp khó khăn về tài chính và có vấn đề về giấc ngủ
có mối tương quan đáng kể đến trầm cảm, lo âu và stress[34]
Theo kết quả nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin và cộng sự năm 2013 trên
506 sinh viên thuộc 4 trường đại học công lập tại Klang Valley (Malaysia), kết quả cho thấy có 18,6% sinh viên bị stress ở mức vừa; 5,1% ở mức nặng và rất nặng[53] Theo tác giả Basudan S, tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên Nha khoa tại Ả Rập Xê Út lần lượt là 55,9%; 66,8% và 54,7% Các yếu tố dự đoán cho tình trạng lo âu và tress của sinh viên là giới tính, sự hài lòng về mối quan hệ với bạn bè
và giảng viên[30]
1.2.2 Tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Trần Kim Trang(2012) tại Đại học Y Dược thành phố
Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy có 28,8% sinh viên bị trầm cảm; 22,4% có biểu hiện
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 18lo âu và stress là 71,4%, đa số ở mức độ nhẹ và vừa Cũng theo nghiên cứu này, có 52,8% sinh viên có cả 3 dạng rối loạn trên[21]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Ngọc tại Trường Đại học Y Dược Hải
ph ng năm 2016 cho thấy: Tỷ lệ trầm cảm chung là 46%, đối với chuyên ngành Y học dự ph ng là 41,7% và đối với chuyên ngành Răng Hàm Mặt là 51,3% Tỷ lệ dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên năm nhất và năm thứ 4 cao nhất 52%; có mối liên quan giữa nguy cơ trầm cảm với các yếu tố cá nhân, yếu tố học tập, yếu tố bạn bè gia đình và xã hội[14]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung năm 2017 tại Trường Đại học Y tế công cộng, kết quả chỉ ra có 34,4% sinh viên mắc stress; những sinh viên thuộc nhóm: Có mẹ làm công nhân, có áp lực học tập cao, không hài lòng với chuyên ngành học, có mâu thuẫn bạn bè và không thường xuyên tâm sự, chia sẻ với bạn thân có tỷ lệ mắc stress cao hơn những sinh viên thuộc các nhóm còn lại[13]
Một nghiên cứu khác tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2020 của tác giả Hoàng Thị Quỳnh Lan cho thấy: Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress lần lượt là 4%; 49,9% và 69,5%[7]
1.3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress
1.3.1 Yếu tố cá nhân
1.3.1.1 Về giới tính
Theo tổng quan tài liệu, nhiều nghiên cứu trên thế giới và cả tại Việt Nam đã chỉ ra rằng tỷ lệ lo âu, trầm cảm và stress ở sinh viên nữ thường cao hơn sinh viên nam Theo kết quả nghiên cứu của Wahed WYA, Hassan SK(2016) tại Đại học Y khoa Fayoum Ai Cập chỉ ra rằng điểm trung bình của stress và lo âu ở sinh viên nữ cao hơn đáng kể so với sinh viên nam (p = 0,00 và 0,009); không có sự khác biệt về điểm trung bình trầm cảm giữa nam và nữ[59] Theo nghiên cứu của Virna Ribeiro Feitosa Cestari[32] (2017) tại Brazil cũng cho thấy sinh viên nữ dễ bị stress hơn sinh viên nam (p = 0,001)
Tương tự, tại Việt Nam kết quả nghiên cứu của Phùng Như Hạnh (2018) trên sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang chỉ ra rằng: Sinh viên nữ có nguy cơ
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 19stress cao gấp 4,7 lần sinh viên nam[19] Theo kết quả nghiên cứu tại khoa Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược Huế của tác giả Đoàn Phương Diễm Khánh (2016) cho thấy: tỷ lệ sinh viên nữ bị stress cao gấp 2,3 lần so với sinh viên nam (KTC:1,10 - 4,83)[5] Tác giả Đặng Đức Nhu nghiên cứu trên sinh viên năm thứ 3 Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội (2015) cũng chỉ ra rằng tỷ lệ stress ở sinh viên nữ cao hơn so với nam[2]
Ngược lại, theo nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự (2016) về lo âu, trầm cảm và stress của sinh viên Điều dưỡng tại Hồng Kông lại chỉ ra rằng: giới tính không có ý nghĩa thống kê trong việc dự đoán trầm cảm, lo âu và stress[34]
1.3.1.2 Tuổi
Ở mỗi độ tuổi khác nhau thì những vấn đề trong cuộc sống mà mỗi cá nhân gặp phải cũng khác nhau Đặc biệt là đối với những sinh viên lớn tuổi, họ thường gặp khó khăn hơn trong vấn đề học tập so với những sinh viên đúng tuổi đi học Ngoài ra có thể họ đã lập gia đình, hoặc có nhiều vấn đề cần phải quan tâm hơn trong cuộc sống, do vậy thường có nguy cơ trầm cảm, lo âu stress cao hơn
Theo kết quả nghiên cứu của Wahed WYA (2016) cho thấy những sinh viên trên
20 tuổi có mức độ stress, lo âu và trầm cảm cao hơn những sinh viên dưới 20 tuổi (p < 0,05) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trầm cảm ở mức cao được dự đoán bởi yếu tố tuổi[59] Tương tự, trong nghiên cứu của Virna Ribeiro Feitosa Cestari (2017) cũng cho thấy có mối liên quan giữa nhóm tuổi với stress (p = 0,029)[32] Một nghiên cứu khác trên trên 5245 sinh viên đại học của Lu Chen (2013) tại Cáp Nhĩ Tân (Trung Quốc) chỉ ra rằng yếu tố tuổi có mối liên quan đến trầm cảm ở sinh viên Những sinh viên trên 25 tuổi có nguy cơ trầm cảm cao gấp 1,8 lần so với những sinh viên dưới 25 tuổi[33]
Ngược lại, theo nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự (2016) chỉ ra tuổi tác không có mối tương quan đến trầm cảm và stress, mặc dù nó có tương quan đáng kể với lo âu Nhóm tuổi trẻ nhất (18-22 tuổi) có nhiều khả năng áo cáo lo âu hơn các nhóm lớn tuổi hơn (23-27 tuổi và 28-30 tuổi)[34]
1.3.1.3 Chất lượng giấc ngủ
Giấc ngủ tốt giúp con người giảm mệt mỏi, tái tạo năng lượng sau một ngày
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 20học tập, làm việc căng thẳng Theo nghiên cứu của Teris Cheung[34], những sinh viên có vấn đề về giấc ngủ có mối tương quan đáng kể với trầm cảm và stress Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Nguyên (2019) tại Đại học Y Hà Nội trên sinh viên Y khoa năm nhất cho thấy rối loạn giấc ngủ là yếu tố có mối liên quan đến lo âu (or = 1,94) và stress (or = 2,39) của sinh viên[11]
Các nghiên cứu trên đều chỉ ra chất lượng giấc ngủ có liên quan đến trầm cảm,
lo âu, stress
1.3.1.4 Thói quen tập thể dục, giải trí
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, tập thể dục, thể thao thường xuyên
và đúng cách có ảnh hưởng rất tích cực đến tâm lý và năng lực xã hội của cá nhân Hơn thế nữa, thể thao giúp con người xây dựng và phát triển những kỹ năng có giá trị trong cuộc sống, trong đó có giảm trầm cmar, lo â, stress
Theo nghiên cứu của Vũ Dũng (2015) tại Trường Đại học Thăng Long, những sinh viên tham gia tập thể dục ở mức độ thường xuyên hoặc thỉnh thoảng có nguy
cơ stress ở mức độ cao thấp hơn so với nhóm sinh viên không ao giờ tập thể dục (or = 0,33; CI = 0,13 - 0,79)[24] Theo nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự trên sinh viên điều dưỡng tại Hồng Kông, cũng cho thấy những sinh viên có lối sống không tốt như ít tập thể dục, giải trí dễ mắc stress hơn những sinh viên có lối sống lành mạnh[34]
1.3.1.5 Nơi ở hiện tại
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nơi ở trong quá trình học tập có tác động đến sự lo âu, trầm cảm và stress của sinh viên Theo nghiên cứu của Eisenberg
và cộng sự (2007) thực hiện trên sinh viên Mỹ đã cho kết quả sinh viên ở ký túc
xá có nguy cơ ị lo âu thấp hơn so với sinh viên không sống ở ký túc xá (or = 0,41; 95%CI: 0,21 - 0,78)[35] Một nghiên cứu khác của R Beiter và các cộng
sự (2015) chỉ ra rằng những sinh viên ở nhà trọ có tỉ lệ stress cao nhất so với các sinh viên khác[31]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Thu Huyền tại Đại học Y Dược thành phố
Hồ Chí Mình cũng cho kết quả tỉ lệ sinh viên bị stress khi ở nhà người thân và ở nhà
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 21trọ cao hơn 4,2 lần sinh viên ở kí túc xá [9]
Các nghiên cứu trên đều chỉ ra rằng nơi ở có liên quan đến mức độ stress của SV
1.3.2 Yếu tố học tập
1.3.2.1 Năm học
Các nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam đã chỉ ra rằng có sự khác nhau giữa
tỷ lệ sinh viên bị trầm cảm, lo âu và stress theo năm học Bằng chứng qua nghiên cứu của Virna Ribeiro Feitosa Cestari và cộng sự có kết quả stress tăng dần theo từng năm học và cao nhất là sinh viên năm cuối (43,3%)[32]
Theo tác giả Nguyễn Thành Trung (2017) nghiên cứu trên sinh viên Y tế công cộng cho thấy sinh viên năm thứ a có nguy cơ ị stress cao gấp gần 2 lần so với sinh viên năm nhất[13]
Ngược lại, theo kết quả nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự cho thấy sinh viên Điều dưỡng năm thứ hai stress nhiều hơn sinh viên các năm học còn lại[34] Một nghiên cứu khác tại Brasil năm 2017 cho thấy sinh viên Y khoa năm thứ nhất có tỷ lệ trầm cảm, lo lắng và stress cao hơn sinh viên năm thứ năm và thứ sáu[45]
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Quỳnh Anh (2016) trên sinh viên của tám trường Đại học Y dược Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ sinh viên năm thứ nhất có nguy cơ ị trầm cảm, lo âu cao hơn so với sinh viên năm thứ ba và thứ năm (p<0,001)[57]
Các nghiên cứu trên cho thấy năm học có liên quan đến mức độ trầm cảm, lo
âu, stress của SV
1.3.2.2 Áp lực học tập
Trong môi trường thời đại 4.0 hiện nay, để có cơ hội tìm kiếm được việc làm tốt sau tốt nghiệp sinh viên luôn phải cạnh tranh, phấn đấu không ngừng để đạt được thành tích xuất sắc và tự trang bị cho bản thân những kỹ năng tốt nhất phục vụ cho nghề nghiệp tương lai Tất cả những yếu tố trên đã làm tăng nguy cơ ị trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên
Nghiên cứu tại đại học Y Wah (Pakistan) năm 2008 đã chỉ ra rằng: sự không hài lòng với bài kiểm tra và quá tải với lịch kiểm tra có liên quan đáng kể đến nguy
cơ ị trầm cảm và lo âu ở sinh viên (p<0,05)[28]
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 22Theo kết quả nghiên cứu của Phan Thị Diệu Ngọc (2013) trên sinh viên Đại học
Y khoa Vinh, những sinh viên có nhiều áp lực học tập có nguy cơ ị trầm cảm cao gấp 4,4 lần so với sinh viên không có áp lực học tập (p<0,001)[17]
Theo nghiên cứu của Dr Abdullah I Aedh, loại stress hay gặp nhất ở sinh viên là do thiếu kiến thức và kĩ năng, thứ hai là từ bài tập và khối lượng công việc[25]
Theo nghiên cứu của Lê Thu Huyền và Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh cho thấy, có trên 80% sinh viên cho rằng họ cảm thấy stress vì khối lượng bài vở nhiều, stress trước mỗi kì thi[9] Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Như Hạnh, sự lo lắng về khoảng cách lớn giữa lý thuyết và thực hành cũng là một trong các nguyên nhân gây
ra stress ở sinh viên[18]
Các nghiên cứu trên cho thấy yếu tố áp lực học tập có liên quan đến trầm cảm,
lo âu, và stress của sinh viên
1.3.2.3 Sự hài lòng với ngành học
Mỗi cá nhân sẽ có sự đam mê và yêu thích với một công việc nào đó Được học tập, theo đuổi nghề mình yêu thích sẽ làm tăng sự hứng thú và động lực học của sinh viên Việc phải học ngành mình không thích (đôi khi do cha mẹ tự chọn ngành học cho con hoặc ép buộc) sẽ gây nhiều tác động đến tâm lý, từ đó làm tăng nguy
cơ ị trầm cảm, lo âu và stress trên sinh viên
Một nghiên cứu tại Trung Quốc (2015) trên 5245 sinh viên đã chỉ ra rằng sinh viên không hài lòng với ngành mình đang học có nguy cơ trầm cảm cao gấp 1,9 lần so với sinh viên hài lòng với mình đang học (p<0,001)[33]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Trung (2017) cho thấy sinh viên không hài lòng với ngành mình theo học có nguy cơ ị trầm cảm, lo âu và stress lần lượt cao gấp 2,2 lần, 1,8 lần và 2,6 lần so với sinh viên hài lòng với ngành mình theo học (p<0,05)[13]
1.3.2.4 Kết quả học tập
Kết quả học tập không tốt cũng gây ra stress ở sinh viên Theo nghiên cứu của
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 23Teris Cheung chỉ ra những sinh viên từng thi trượt trong năm học có khả năng ị stress cao hơn 1,7 lần so với các sinh viên thi đỗ (95%CI: 1,05 - 2,66)[34]
Kết quả nghiên cứu của Phùng Như Hạnh và cộng sự cũng cho thấy kết quả học tập từ trung ình khá trở xuống là một trong các yếu tố gây ra stress ở sinh viên,
p < 0,05[19]
1.3.3 Yếu tố gia đình và bạn bè
1.3.3.1 Bất hòa trong gia đình
Gia đình có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển về thể chất và tinh thần của sinh viên Gia đình là nơi để sinh viên có thể chia sẻ những khó khăn, tìm được lời khuyên giúp sinh viên có thể vượt qua những khủng hoảng trong cuộc sống Sự quan tâm của bố mẹ sẽ giúp sinh viên giảm nguy cơ ị các căng thẳng tâm lý Ngược lại, mâu thuẫn trong gia đình sẽ làm tăng nguy cơ ị trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên
Nghiên cứu của Lu Chen (2013) cho thấy sự bất hòa trong mối quan hệ của
bố mẹ làm tăng nguy cơ ị trầm cảm của sinh viên lên 1,4 lần (OR =1,4; 95%CI: 1,25 - 1,59)[33] Tương tự, một nghiên cứu trên 400 sinh viên Y khoa tại Ấn Độ (2012) cho thấy những sinh viên sống trong gia đình có mâu thuẫn có mối liên quan chặt chẽ tới mức độ trầm cảm của sinh viên[39]
Nghiên cứu của Trần Quỳnh Anh (2016) chỉ ra rằng sinh viên có bất đồng với bố mẹ có nguy cơ ị stress cao gấp gần 2 lần so với sinh viên không có bất đồng với bố mẹ (OR=1,66; 95%CI: 1,05 - 2,64)[57]
Với các nghiên cứu trong và ngoài nước trên cho thấy mối quan hệ của bố mẹ
có ảnh hưởng đến trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên
1.3.3.2 Bất đồng với bạn bè
Những mối quan hệ tốt với bạn bè giúp sinh viên có nhiều lựa chọn để chia sẻ các vấn đề khó khăn trong cuộc sống và trong học tập Việc có mối quan hệ tốt với bạn thân đã được nhiều nghiên cứu chứng minh là yếu tố bảo vệ cho sinh viên trước trầm cảm, lo âu, stress
Nghiên cứu của Phan Thị Diệu Ngọc (2014) cho kết quả sinh viên gặp rắc rối
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 24với mối quan hệ bạn è có nguy cơ ị trầm cảm cao gấp 1,9 lần so với sinh viên không
có rắc rối (p<0,05) Sinh viên không có người tâm sự có nguy cơ ị trầm cẩm gấp 3,1 lần so với sinh viên có người tâm sự (p<0,05)[17]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung (2017) cho thấy những sinh viên không có bạn thân có nguy cơ ị stress cao gấp 3 lần những sinh viên có bạn thân (OR=3,14; 95%CI: 1,1 - 8,3) Nhóm sinh viên không thường xuyên chia sẻ với bạn thân có nguy cơ ị trầm cảm, lo âu và stress cao gần gấp 2 lần so với nhóm sinh viên thường xuyên chia sẻ (p<0,05) Sinh viên thường xuyên mâu thuẫn với bạn è có nguy cơ ị stress gấp gần 2 lần so với sinh viên không xảy ra mâu thuẫn với bạn bè (OR=1,7; 95%CI: 1,1 - 2,7)[13]
1.3.3.3 Khó khăn về tài chính
Ở Việt Nam, hầu hết sinh viên vẫn được gia đình chu cấp toàn bộ tài chính trong quá trình học tập Nhưng mức độ chu cấp tài chính lại tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi gia đình sinh viên Những sinh viên có hoàn cảnh gia đình không dồi dào
về tài chính, đặc biệt là những sinh viên sống xa gia đình, phải thuê nhà trọ thì vấn
đề tài chính cũng có thể là nguy cơ dẫn đến lo âu, trầm cảm và stress
Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Dũng, những sinh viên không đủ tiền đóng học phí có nguy cơ ị stress cao gấp 10,22 lần những sinh viên có tình hình tài chính ở mức thoải mái (or = 10,22; 95%CI: 2,08 - 50,03)[24]
Nghiên cứu của Trần Quỳnh Anh (2016) cũng chỉ ra rằng sinh viên có kinh tế gia đình thuộc mức nghèo có nguy cơ ị trầm cảm cao gấp 2,5 lần so với sinh viên
có kinh tế gia đình không nghèo (OR =2,52; 95%CI: 1,44 - 4,23)[57]
Kết quả nghiên cứu của R Beiter và các cộng sự cho thấy 25,7% sinh viên stress mức độ trung bình và 28,3% sinh viên stress mức độ nặng có liên quan đến vấn đề tài chính[31] Trong nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự, kết quả cũng chỉ ra những sinh viên khó khăn về tài chính có nguy cơ mắc stress cao gấp 1,8 lần
so với các sinh viên khác (95%CI: 1,25 - 2,56)[34]
Nghiên cứu của Eisenberg và cộng sự năm 2007 tại Mỹ đã chỉ ra rằng sinh viên có các trở ngại về tài chính có nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần cao hơn so với các sinh không bị trở ngại (OR =1,6 - 9,0)[35]
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 251.4 Một số thang đo đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu và stress
Hiện nay có nhiều bộ công cụ đã được phát triển để đánh giá mức độ lo âu, trầm cảm được tiêu chuẩn hóa, có độ nhạy cao và có tính hiệu lực trong việc khảo sát các triệu chứng, cũng như cho kết quả thu được đáng tin cậy Các công cụ đánh giá sự lo âu, trầm cảm cho phép đánh giá ở nhiều mức độ khác nhau cũng như trong các quần thể khác nhau Một số công cụ đánh giá sự lo âu thường được s dụng đó là: Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS), thang đánh giá lo âu trầm cảm của Zigmond và Snaith (HADS), thang đánh giá stress, lo âu và trầm cảm của Lovibond (DASS - 21, DASS - 42)…
1.4.1 Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS) [63]
Thang tự đánh giá lo âu SAS (Self-Rating Anxiety Scale) do W.W Zung đề
xuất vào năm 1971 Thang đánh giá lo âu SAS lấy thông tin trực tiếp từ người bệnh
là một test khách quan, định lượng hóa và chuẩn hóa, s dụng nhanh, được WHO thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu
Thang đánh giá lo âu SAS gồm 20 câu hỏi dành cho người bệnh tự đánh giá theo thang điểm Likert, mỗi mục được tính điểm từ 1 đến 4 theo tần số xuất hiện triệu chứng theo thời gian Tổng số điểm chuyển đổi cho 20 câu của thang đo trong khoảng từ 20 đến 80 điểm
1.4.2 Thang đo lo âu trầm cảm của Zigmond và Snaith “Hospital Anxiety and Depression Scale”(HADS) [80]
Thang HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale) được phát triển bởi
Zigmond và Snaith (1983) Thang HADS là một công cụ tự đánh giá lo âu và trầm cảm
ở người bệnh Thang HADS bao gồm 14 mục Trong đó, 7 mục đo lo âu (HADS-A) và
7 mục khác đánh giá trầm cảm (HADS-D) Người bệnh được yêu cầu đánh giá theo thang Likert bốn điểm, mỗi mục được tính điểm từ 0 đến 3 Do đó, điểm tối đa cho thang HADS-A và HADS-D là 21 Điểm số cao hơn đại diện cho nhiều lo âu
1.4.3 Thang đánh giá stress, lo âu và trầm cảm (DASS)
Thang đánh giá stress, lo âu và trầm cảm DASS (Depression-Anxiety-Stress Scale) được xây dựng bởi Lovibond S H và Lovibond P F (1995) tại khoa tâm lý
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 26học đại học New South Wales, Australia với phiên bản đầu tiên là DASS - 42 Sau
đó đưa ra một phiên bản rút gọn là DASS - 21 được xây dựng năm 1997
Cả hai phiên ản DASS - 42 và DASS - 21 đều là thang đo trắc nghiệm tâm lý đánh giá cả a yếu tố stress, lo âu và trầm cảm Mỗi yếu tố gồm 14 câu hỏi với thang DASS 42 và 7 câu hỏi với thang DASS 21 Mỗi câu hỏi về một triệu chứng tương ứng với tình trạng sức khỏe tâm thần trong vòng 1 tuần qua theo thang Likert 4 điểm Mỗi câu trả lời tương ứng tình trạng mà đối tượng cảm thấy từ “Không đúng với tôi chút nào cả” đến “Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng”, mỗi mục được tính điểm từ 0 đến 3 Kết quả tổng điểm giúp phân loại năm mức độ: ình thường, nhẹ, vừa, nặng và rất nặng Đánh giá mức độ lo âu, trầm cảm, stress bằng cách tính tổng số điểm của mỗi vấn đề sức khỏe rồi nhân đôi kết quả và so sánh với bảng đánh giá
Bảng 1.1: Bảng phân loại thang đánh giá trầm cảm, lo âu và stress DASS 21
Tại Việt Nam, cả thang DASS 42 và thang DASS 21 đều đã được các chuyên gia
về sức khỏe tâm thần dịch sang tiếng Việt và s dụng khá phổ iến Như nghiên cứu của
Lê Minh Thuận tại Đại học Y Dược Hồ Chí Minh s dụng thang DASS 42 [8], nghiên cứu của Đặng Đức Nhu [2] và của Trần Kim Trang [21] s dụng thang DASS 21
Một số thang đánh giá về tình trạng sức khỏe chúng tôi đã đề cập ở trên đều
có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Các thang đo đều nhằm mục đích đánh giá đúng tình trạng sức khỏe tâm thần trên các đối tượng khác nhau Tuy
nhiên, thang SAS (Self-Rating Anxiety Scale) do W.W Zung chỉ đánh giá được
tình trạng lo âu, thang HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale) được phát
triển bởi Zigmond và Snaith (chỉ đánh giá được mức độ lo âu và trầm cảm mà
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 27không lượng giá được mức độ stress Nhưng thang đánh giá DASS - 21 lại có ưu điểm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ s dụng, đánh giá đồng thời cả 3 rối loạn tâm lý stress, lo âu và trầm cảm Đối tượng nghiên cứu có thể tự đọc và trả lời các câu hỏi trong DASS - 21 theo hướng dẫn, hoặc trả lời gián tiếp qua phỏng vấn của nghiên cứu viên chỉ trong vòng vài phút Đồng thời thang DASS-21 được các chuyên gia khuyến cáo s dụng cho các nghiên cứu tại cộng đồng cũng với các
ưu điểm nói trên Chính vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi s dụng thang đo DASS 21 để mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam năm 2023
1.5 Hành vi tìm kiếm hỗ trợ của sinh viên khi bị trầm cảm, lo âu, stress
Theo Lazarus RS, phản ứng đầu tiên của con người khi trải nghiệm tình huống là đánh giá xác định xem tình huống đó có gây căng thẳng hay không Tiếp theo đó là đánh giá để đưa đến lựa chọn một giải pháp ứng phó hiệu quả với căng thẳng Ứng phó
là những nỗ lực không ngừng nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của cá nhân để giải quyết các yêu cầu cụ thể, tồn tại ên trong cá nhân và trong môi trường mà cá nhân nhận định chúng có tính đe doạ, thách thức hoặc vượt quá nguồn lực của họ Nếu cá nhân không thể tự ứng phó hiệu quả với các tình huống gây stress, họ sẽ có xu hướng tìm kiếm sự hỗ trợ từ người thân, bạn è, đồng nghiệp hoặc các chuyên gia để ứng phó với sự stress này, sự hỗ trợ này được gọi là sự hỗ trợ xã hội[40]
Theo McDowell (2006), hỗ trợ xã hội là nguồn lực sự sẵn có từ những người xung quanh mà cá nhân anh ta có thể tin cậy, dựa vào và cảm thấy được chăm sóc Theo quan điểm này, hỗ trợ xã hội được coi là kết nối đối ứng giữa các cá nhân, các mối quan hệ tự nó mang lại hỗ trợ tích cực cho hành vi và ngược lại.[72]
Hỗ trợ xã hội bao gồm cả hỗ trợ hữu hình và vô hình mà cá nhân nhận được hoặc cảm nhận được từ những người thân trong gia đình, bạn bè và những người khác khi cần thiết Bất kể nguồn hỗ trợ có thể ao gồm một hoặc nhiều điều sau: sự ảnh hưởng, sự khẳng định và sự viện trợ (đồ vật, tiền ạc, thời gian để giúp đỡ ai đó) hay các thông tin[56]
Vì nghiên cứu này nghiên cứu trên sinh viên, họ c n ít tuổi, sống xa gia đình,
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 28chưa tự chủ được kinh tế và phụ thuộc rất nhiều vào gia đình Do đó, ên cạnh những người thân trong gia đình thì ạn thân, thầy cô giáo cũng là nguồn hỗ trợ rất quan trọng cho họ Sự hỗ trợ xã hội mà trong nghiên cứu này đề cập đến được coi là
cả hỗ trợ vô hình (hỗ trợ cảm xúc) và hỗ trợ hữu hình (trợ giúp thực tế hoặc trợ giúp thông tin) mà sinh viên nhận được từ người thân, ạn è và thầy cô giáo
Kết quả nghiên cứu của Muirhead V (2008) và Lee J-S (2004) đều chỉ ra rằng sinh viên càng được hỗ trợ xã hội cao thì các triệu chứng stress của họ càng giảm[41, 46] Hơn nữa, khi bạn thân cùng học đóng vai tr là người cố vấn thì stress và lo lắng sẽ giảm đáng kể[43] Phương pháp đối phó phổ biến nhất với stress là hỗ trợ tinh thần từ người khác, cụ thể là nói chuyện với bạn
è và gia đình[26, 49] Khi sinh viên thiếu nguồn hỗ trợ xã hội này, mức độ stress sẽ tăng lên[54]
Theo kết quả nghiên cứu của Basudan S (2017), một trong những yếu tố dự báo stress mạnh nhất là các mối quan hệ bạn bè; các mối quan hệ bạn bè thỏa đáng được bảo vệ chống lại sự đau khổ, hỗ trợ của giảng viên có liên quan đến mức độ stress thấp hơn đáng kể ở sinh viên[30] Tương tự, các sinh viên đã nói rằng mối quan hệ của họ với giảng viên hoặc nhân viên ảnh hưởng nghiêm trọng đến trải nghiệm học tập của họ[27, 29]
1.6 Công cụ đo lường sự hỗ trợ xã hội
1.6.1 Thang đo mối quan hệ xã hội (SRS) [44]
Thang SRS (Social Relationship Scale) được phát triển ởi Mc Farlane
(1981) Nó được thiết kế để đo lường mức độ mối quan hệ xã hội của một cá nhân
và sự nhận thức hữu ích của nó đối với việc ảo vệ một người khỏi những tác động stress trong cuộc sống lên sức khỏe
SRS là phép tự đo lường mối quan hệ xã hội, yêu cầu người ệnh xác định những người đã hỗ trợ anh ta trong việc thay đổi kinh nghiệm cuộc sống Sáu lĩnh vực thay đổi của cuộc sống được hỏi trong công cụ là các sự kiện liên quan đến công việc, thay đổi về tình hình tài chính, sự kiện trong gia đình và gia đình, sự kiện sức khỏe cá nhân, cá nhân và sự kiện xã hội và xã hội nói chung
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 291.6.2 Thang đánh giá rối loạn chức năng xã hội SDRS [42]
Thang SDRS (Social Dysfunction Rating Scale) được thiết kế ởi Linn (1969)
để s dụng chủ yếu với người cao tuổi
SDRS đánh giá các khía cạnh tiêu cực về điều chỉnh xã hội của một người Thang SDRS ao gồm 21 triệu chứng liên quan đến các vấn đề xã hội và cảm xúc, ao gồm hình ảnh ản thân, mối quan hệ giữa các cá nhân và sự thiếu thành công và không hài l ng trong các tình huống xã hội Người ệnh được yêu cầu đánh giá các vấn đề thông qua thang đo Likert, từ "không có mặt" đến "rất nghiêm trọng"
1.6.3 Thang đo hỗ trợ xã hội (MSPSS)[62]
Thang MSPSS (Multidimensional Scale of Perceived Social Support) được
thiết kế bởi Zimet, Dahlem, Zimet và Farley năm 1988 Thang MSPSS được thiết
kế để đánh giá sự hỗ trợ xã hội theo nhận định của từng cá nhân
Thang đo ao gồm 12 câu hỏi (item) chia thành 3 tiểu thang đo (su scale) tương ứng với 3 nguồn hỗ trợ từ người thân trong gia đình, bạn bè và những người đặc biệt khác Người tham gia cần chọn mức độ mà họ đồng ý với nội dung của từng câu hỏi trên thang Likert 5 điểm, từ 0- Rất không đồng ý đến 4- Rất đồng ý Tổng điểm nằm trong khoảng từ 0 đến 48 với điểm số cao hơn cho thấy mức độ hỗ trợ xã hội nhiều hơn Thang MSPSS đã được nhiều nghiên cứu chứng minh là có độ tin cậy cao với Cronbach's alpha từ 0,85 đến 0,91[62]
Phiên bản tiếng Việt của thang MSPSS cũng được chứng minh là có độ tin cậy tốt trong nghiên cứu của Đinh Thị Hồng Vân (2010) với chỉ số Cron ach alpha là 0,90[4] Vì vậy, chúng tôi s dụng phiên ản tiếng Việt thang đo MSPSS của Đinh Thị Hồng Vân để đánh giá sự hỗ trợ xã hội của sinh viên Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam
1.7 Khung lý thuyết của nghiên cứu
Theo nghiên cứu các tài liệu về lo âu, trầm cảm, stress và mô hình giao dịch - ứng phó căng thẳng của Lazarus & Folkman (1984), yếu tố lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trong nghiên cứu này được coi là kết quả và có thể bị ảnh hưởng bởi
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 30các yếu tố cụ thể là: yếu tố cá nhân; yếu tố học tập; yếu tố gia đình, ạn bè và sự hỗ trợ xã hội Để có một cơ sở lý thuyết phù hợp cho nghiên cứu về các yếu tố tác động đến mức độ lo âu trầm cảm stress của sinh viên, chúng tôi s dụng mô hình giao dịch - ứng phó căng thẳng của Lazarus & Folkman (1984), để khái niệm hóa mối quan hệ giữa các biến trong nghiên cứu hiện tại
Do đó trong nghiên cứu này, các yếu tố cá nhân; yếu tố học tập; yếu tố gia đình, ạn bè và sự hỗ trợ xã hội là những yếu tố được coi là yếu tố ảnh hưởng đến
lo âu trầm cảm stress của sinh viên Sự liên quan giữa các yếu tố với tình trạng lo
âu, trầm cảm, stress có thể được mô hình hóa theo hình dưới đây:
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 31Hình 1.1: Khung lý thuyết của nghiên cứu
Yếu tố cá nhân
Tuổi, giới tính, dân tộc, tôn
giáo, tình trạng hôn nhân, mức
Trang 321.8 Vài nét về địa điểm nghiên cứu
Trường Cao đẳng Công thương Việt Nam là một trường cao đẳng chuyên nghiệp chuyên đào tạo các ngành nghề phục vụ cho nhu cầu xã hội Trường gồm có
4 cơ sở: Hà Nội, Thái Nguyên, Đăk Lăk và Sài Gòn Với cơ sở Hà nội tọa lạc ở vị trí trung tâm của Khu đô thị Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội Trường Cao Đẳng Công Thương Việt Nam là cơ sở dạy nghề chất lượng số 1 cung cấp nhân lực chất lượng cao cho thủ đô Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Tính đến năm 2023 trường đang đào tạo 27 chuyên ngành hệ cao đẳng chính quy bao gồm: Khoa Y Dược( Dược – điều dưỡng, khoa công nghệ thông tin( Công nghệ thông tin và ứng dụng phàn mềm), khoa du lịch ( Kỹ thuật chế biến món ăn, hướng dẫn du lịch, quản trị nhà hang, quản trị khách sạn), khoa kinh tế( Quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ), khoa kỹ thuật công nghệ ô tô, khoa điện( điện công nghiệp, điện t công nghiệp) Mỗi năm, trường có hơn 2.000 sinh viên đào tạo liên tục ở các chuyên ngành khác nhau với đầy đủ giảng đường, phòng thực hành, chuyên môn cho từng chuyên ngành đào tạo Hiện tại, tháng 5 năm 2023 toàn trường có tất
cả 2000 sinh viên cho cả 4 cơ sở Riêng cơ sở Hà Nội có 800 sinh viên, Sài Gòn 800 sinh viên, Thái nguyên 200 sinh viên, còn lại là ở Đăk Lăk 200 sinh viên
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 33Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên hệ Chính quy thuộc trường Cao Đẳng Công Thương Việt Nam
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Sinh viên Cao Đẳng hệ chính quy có mặt tại trường trong thời gian nghiên cứu + Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Sinh viên vắng mặt trong thời gian nghiên cứu (bảo lưu, nghỉ học, …)
2.2 Thời gian và địa điểm
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 05/2023 đến tháng 09/2023
Địa điểm: Trường Cao đẳng Công thương Việt Nam - Cơ sở Nghĩa Đô - Cầu Giấy Hà Nội
2.3 Thiết kế cỡ mẫu và phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:
Trong đó:
- n: cỡ mẫu
- Z: trị số phân phối chuẩn
- α: xác suất sai lầm loại 1 (Chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95% thay vào bảng ta được Z (1 - α/2) = 1,96)
- d: sai số cho phép, chọn d = 0,05 để cỡ mẫu lớn nhất
Lấy p của trầm cảm, p của lo âu, p của stress Mỗi p tính ra 1 cỡ mẫu Rồi chọn cỡ mẫu lớn nhất Theo nghiên cứu của Châu Thúy Hằng năm 2018 tỷ lệ trầm
cảm, lo âu, stress lần lượt là: 28,9%, 54%, 35,5% [67]
Thay vào ta có cơ mẫu là 382 sinh viên (p = 54% để n lớn nhất)
- Dự phòng sai số 10%, vậy cỡ mẫu làm tròn được chọn là n= 420 (sinh viên)
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 34- Phương pháp chọn mẫu: Hiện tại danh sách sinh viên của 5 khoa: Y - Dược,
kinh tế, du lịch, công nghệ thông tin, kỹ thuật ô tô chúng tôi lựa chọn theo số liệu từ Phòng Công tác sinh viên cung cấp là 1533 sinh viên Cụ thể là: Khoa Y - Dược tổng
số sinh viên 3 khóa hiện tại là 99, khoa công nghệ thông tin 285 sinh viên, du lịch
430 sinh viên, kinh tế 154 sinh viên, kỹ thuật công nghệ ô tô 565 sinh viên
Cỡ mẫu cần lấy 420 sinh viên, vì vậy trong nghiên cứu này sẽ tiến hành chọn mẫu phân tầng theo các khoa cân đối phù hợp Số lượng đối tượng nghiên cứu ở mỗi khoa sẽ được lựa chọn sao cho tỷ lệ với kích thước của mỗi khoa trong tổng thể nói chung Như vậy sẽ tiến hành lấy mẫu sinh viên ở các khoa với số lượng như sau: Khoa Y Dược 27 sinh viên, khoa công nghệ thông tin lấy 78 sinh viên, khoa du lịch lấy 118 sinh viên, khoa kinh tế lấy 42 sinh viên và khoa kỹ thuật công nghệ ô tô lấy 155 sinh viên
2.4 Biến số nghiên cứu
- Mục tiêu số 1: Stress, lo âu, trầm cảm
- Mục tiêu số 2: Các yếu tố cá nhân, yếu tố học tập, gia đình - bạn bè, sự hỗ trợ xã hội tác động đến stress, lo âu, trầm cảm
Bảng 2.1: Định nghĩa biến
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
bằng năm 2023 trừ đi năm sinh
cùng văn hóa, sắc tộc, ngôn ngữ
hoá, tín ngưỡng, đức tin bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định
cụ thể, các quan niệm về thế giới, thể hiện thông qua các kinh sách
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 35STT Tên biến Định nghĩa biến Phân loại PP thu thập
thuốc lá trong 1 tháng qua của đối tượng nghiên cứu
ngủ
Chất lượng giấc ngủ tốt thể hiện dễ ngủ ngay sau khi lên giường, trong vòng 30 phút hoặc ít hơn Thường ngủ thẳng giấc suốt đêm thức dậy không quá một lần mỗi đêm Ngủ đủ số giờ được khuyến nghị cho nhóm tuổi của mình
10 Tần suất chơi thể
dục, thể thao
Là sở thích, có hay tham gia thể dục thể thao giải trí hay không
luyện
Là loại hình hoạt động thể chất hay kỹ năng dành cho mục đích giải trí, thi đấu rèn luyện bản thân thường tập
tượng nghiên cứu đang sinh sống
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 36STT Tên biến Định nghĩa biến Phân loại PP thu thập
chính ản thân
Là cảm nhận của ĐTNC
về mức tài chính bản thân: đủ sinh hoạt, đủ cho học phí, chi tiêu…
và được đo lường bằng các mức độ khác nhau theo hệ thống giáo dục
với ạn è
Là tần suất thể hiện sự
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 37STT Tên biến Định nghĩa biến Phân loại PP thu thập
của ĐTNC với bạn bè của mình
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Tất cả dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn sinh viên chính quy tham gia nghiên cứu dựa vào bộ công cụ xây dựng sẵn
Bước 1: Xin ý kiến chấp thuận của Hội đồng đạo đức/Hội đồng khoa học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Bước 2: Sau khi có được thông tin cũng như địa chỉ liên hệ của sinh viên đạt tiêu chuẩn chọn lựa Nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành tập huấn cho các điều tra viên
về cách thu thập số liệu một cách bài bản và có sự thống nhất với nhau trong quá trình thu thập số liệu
Bước 3: Điều tra viên sẽ liên hệ, trình bày cách thức thu thập thông tin cho giáo viên chủ nhiệm và cán bộ lớp để nắm được lịch học chi tiết của các lớp để thuận lợi trong quá trình tiếp cận gặp đối tượng nghiên cứu
Bước 4: Điều tra viên sau khi có lịch học của các lớp thuộc các khoa sẽ đến
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 38gặp các đối tượng nghiên cứu vào các buổi sáng các ngày trong tuần theo thời khoa biểu từ 09h - 09h30p khoảng thời gian sinh viên nghỉ giữa giờ Các điều tra viên giới thiệu và trình bày về mục đích và cách thức tiến hành nghiên cứu nhằm tạo sự gần gũi hơn đối với đối tượng tham gia nghiên cứu
Bước 5: Những đối tượng tham gia nghiên cứu được chọn hôm đó sẽ ký tên đồng ý tham gia vào nghiên cứu (Phụ lục 03) Điều tra viên tiến hành phát bộ câu hỏi đến đối tượng để các đối tượng nghiên cứu tự điền Trong trường hợp các đối tượng nghiên cứu có thắc mắc về nội dung câu từ, các điều tra viên sẽ giải đáp trực tiếp Các câu hỏi được hoàn thành ởi đối tượng tham gia nghiên cứu ngay tại phòng học và thu thập ởi các điều tra viên Thời gian cho mỗi đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn thành tất cả bộ câu hỏi là 20 phút (khoảng 25 giây cho mỗi câu)
Bước 6: Sau khi có toàn bộ thông tin, các điều tra viên sẽ dành 5 phút kiểm tra trọn bộ dữ liệu Các số liệu được mã hóa sẵn để chuẩn bị cho việc nhập, phân tích dữ liệu
2.6 Công cụ đo lường
Bộ công cụ s dụng trong nghiên cứu gồm 3 phần
Phần 1; Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Phần này thu thập các thông tin bao gồm: Tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, mức độ s dụng rượu bia, hút thuốc lá, chất lượng giấc ngủ, tần suất chơi thể thao, nơi ở hiện tại, người sống cùng, tình trạng tài chính bản thân………
Phần 2: Đánh giá mức độ stress, lo âu, trầm cảm Chúng tôi s dụng bộ công
cụ DASS 21 (chi tiết về bộ công cụ đã được trình bày tại phần 1.4.3 chương I, trang 14) Trong nghiên cứu này, DASS 21 có giá trị Cronbach’s Alpha bằng 0.861 ở mức độ tốt
Phần 3: Đánh giá sự hỗ trợ xã hội, chúng tôi s dụng thang đo hỗ trợ xã hội MSPSS (chi tiết về bộ công cụ đã trình ày tại phần 1.6.3, chương I, trang 16)
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu được làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0 Các thuật toán thống kê dùng để mô tả các biến bao gồm: tần số, tỷ lệ phần trầm, giá trị trung
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 39- Cách khắc phục:
+ Tập huấn rõ cho điều tra viên về bộ câu hỏi, để điều tra viên có thể giải thích được rõ nội dung cho ĐTNC (đặc biệt là giải thích, nhấn mạnhvới ĐTNC về việc khuyết danh và giữ bí mật thông tin cá nhân.)
+ Làm sạch số liệu trước khi chạy phân tích kết quả
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ được triển khai sau khi đã được Hội đồng đề cương của Đại học Phenikaa và Hội đồng đạo đức nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định theo giấy chứng nhận số 836/GCN-HĐĐĐ, ngày chấp thuận 14/4/2023
Đối tượng được lựa chọn tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích và nội dung nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi đối tượng nghiên cứu ký vào bản chấp nhận tham gia nghiên cứu Đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu mà không cần bất kỳ lý do nào Trong quá trình nghiên cứu không có sự có mặt của bất cứ cá nhân/tổ chức nào có thể gây áp lực tới việc tham gia nghiên cứu tự
Copies for internal use only in Phenikaa University
Trang 40nguyện của đối tượng
Nghiên cứu không gây ảnh hưởng gì tiêu cực cho đối tượng bởi thu thập số liệu chỉ đơn thuần là phòng vấn thông qua bộ câu hỏi tự điền khuyết danh
Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc xác định, đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần hiện nay của sinh viên, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp cân bằng tâm
lý, dự phòng về một số rối loạn tâm thần Điều này rất có ý nghĩa và giá trị với hoạt động học tập và sức khỏe của sinh viên
Copies for internal use only in Phenikaa University