Khu vực có thể bao gồm một toà nhà hay một khu nhà… Điều đó hạn chế bởi khoảng cách đường dây cáp được dùng để liên kết các máy tính của mạng cục bộ Hạn chế đó còn là hạn chế của khả năn
Trang 1ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU KỸ THUẬT MEGANVÀ ỨNG DỤNG
Trang 2Đường truyền là hệ thống các thiết bị truyền dẫn có dây hay không dây dùng
để chuyển các tín hiệu điện tử từ máy tính này đến máy tính khác Các tín hiệu điện tử đó biểu hiện các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on-off) Tất
cả các tín hiệu được truyền giữa các máy tính đều thuộc một dạng sóng điện từ Tuỳ theo tần số của sóng điện từ có thể dùng các đường truyền vật lý khác nhau để truyền các tín hiệu Ở đây đường truyền được kết nối có thể là cáp xoắn đôi, cáp đồng trục, cáp quang, dây điện thoại, sóng vô tuyến… Các đường truyền dữ liệu tạo nên cấu trúc của mạng Hai khái niệm đường truyền và cấu trúc là những đặc trưng cơ bản của mạng máy tính
Mạng máy tính ra đời xuất phát từ nhu cầu chia sẻ và dùng chung dữ liệu Không có hệ thống mạng thì dữ liệu trên các máy tính độc lập muốn chia sẻ với nhau phải thông qua việc in ấn hay sao chép qua đĩa mềm, CD ROM… điều này gây rất nhiều bất tiện cho người dùng Các máy tính được kết nối thành mạng cho phép các khả năng:
+ Sử dụng chung các công cụ tiện ích
+ Chia sẻ kho dữ liệu dùng chung
+ Tăng độ tin cậy của hệ thống
+ Trao đổi thông điệp, hình ảnh
+ Dùng chung các thiết bị ngoại vi ( máy in, vẽ, Fax, modem…)
+ Giảm thiểu chi phí và thời gian đi lại
Trang 3
1.1.2 Phân biệt các loại mạng
1.1.2.1 Phương thức kết nối mạng được sử dụng chủ yếu trong liên kết mạng
Có hai phương thức chủ yếu dó là điểm - điểm và điểm - nhiều điểm
- Với phương thức “điểm - điểm”, các đường truyền riêng biệt được thiết lập để nối các cặp máy tính lại với nhau Mỗi máy tính có thể truyền và nhận trực tiếp dữ liệu mà nó nhận được sau đó chuyển trực tiếp dữ liệu đi cho một máy khác
để dữ liệu đó đạt tới đích
- Với phương thức “điểm - nhiều điểm”, tất cả các trạm phân chia chung một đường truyền vật lý Dữ liệu được gửi đi từ một máy tính sẽ có thể được tiếp nhận bởi tất cả các máy tính còn lại, bởi vậy cần chỉ ra địa chỉ đích của dữ liệu để mỗi máy tính căn cưa vào đó kiểm tra xem dữ lieu đó có phải dành cho mình không nếu đúng thì nhận nếu không thì bỏ qua
1.1.2.2 Phân loại mạng máy tính theo vùng địa lý
- GAN (Global Area Network) kết nối máy tính từ các châu lục khác nhau Thông thường kết nối này thông qua mạng viễn thông và vệ tinh
- WAN (Wide Area Network) mạng diện rộng, kết nối máy tính trong mạng nội bộ các quốc gia hay giữa các quốc gia trong cùng một châu lục Thông thường các kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông Các WAN được kết nối với nhau thành GAN hay tự nó đã là GAN
- MAN (Metrôpolitan Area Network) kết nối các máy tính trong phạm vi thành phố Kết nối này thông qua các môi trường truyền thông tốc độ cao (50-100 Mbit/s)
- LAN (Local Area Network) mạng cục bộ, kết nối các máy tính trong một khu vực bán kính hẹp thông thường khoảng vài trăm mét Kết nối được thực hiện thông qua các môi trường truyền thông tốc độ cao Ví dụ như cáp đồng trục thay bằng cáp quang Lan thường được sử dụng trong nội bộ các công ty, cơ quan hay
tổ chức… Các LAN có thể được kết nối với nhau thành WAN
- PAN ( Personal Area Network) mạng cá nhân, được triển khai trong phạm
vi rất hẹp (ví dụ trong phạm vi bán kính vài met) Thông thường, chúng ta ít quan tâm đến mô hình mạng này đối với các hệ thống mạng hữu tuyến Tuy nhiên, đây
Trang 4
lại là một mô hình mạng khá phổ biến trong hệ thống mạng không dây ( ví dụ mạng sử dụng IrDA, Bluetooth)
Hình 1-1: Mô hình chung của các mạng cơ bản
1.1.2.3 Phân loại mạng máy tính theo topology
- Mạng dạng sao (Star topology) Ở dạng sao, tất cả các trạm được nối vào một thiết bị trung tâm có nhiệm vụ nhận tín hiệu từ các trạm và chuyển tín hiệu đến trạm đích với phương thức kết nối là “điểm - điểm”
Hình 1-2: Mạng dạng sao
- Mạng dạng tuyến (Bus Topology) Trong dạng tuyến, các máy tính đều được nối vào dây truyền chính (bus) Đường truyền chính này được giới hạn hai đầu bởi một loại đầu nối đặc biệt gọi là terminator (dùng để nhận biết là đầu cuối
để kết thúc đường truyền tại đây) Mối trạm được nối vào bus qua một đầu nối chữ
T (T_connector) hay một bộ thu phát (transceiver)
Trang 5- Mạng dạng kết hợp: trong thực tế tuỳ theo yêu cầu và mục đích cụ thể ta
có thể thiết kế mạng kết hợp các dạng sao, vòng, tuyến để tận dụng các điểm mạnh của mỗi dạng
1.1.2.4 Phân loại mạng theo chức năng
- Mạng Client – Server: một hay một số máy tính được thiết lập để cung cấp các dịch vụ như file server, mail server, Web server, Printer server… Các máy tính
để cung cấp các dịch vụ được gọi là Server, còn các máy tính truy cập và sử dụng dịch vụ thì được gọi là client
Trang 61.1.2.5 Phân loại mạng cục bộ và mạng diện rộng
Mạng cục bộ và mạng diện rộng có thể được phân biệt bởi: địa phương hoạt động, tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền, chủ quản của mạng, đường đi của thông tin trên mạng, dạng chuyển giao thông tin
mạng liên kết các máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ Khu vực có thể bao gồm một toà nhà hay một khu nhà… Điều đó hạn chế bởi khoảng cách đường dây cáp được dùng để liên kết các máy tính của mạng cục bộ (Hạn chế đó còn là hạn chế của khả năng kỹ thuật của đường truyền dữ liệu) Ngược lại mạng diện rộng là mạng có khả năng liên kết các máy tính trong một vùng rộng lớn như là một thành phố, một miền, một đất nước, mạng diện rộng được xây dựng để nối hai hay nhiều
khu vực địa lý riêng biệt
Trang 7
Tốc độ truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền: Do các đường cáp của
mạng cục bộ được xây dựng trong một khu vực nhỏ cho nên nó bị ảnh hưởng bởi tác động của thiên nhiên (như sấm chớp, ánh sáng…) Điều đó cho phép mạng cục
bộ có thể truyền dữ liệu với tốc độ cao mà chỉ chịu một tỷ lệ nhỏ Ngược lại với mạng diện rộng do phải truyền ở những khoảng cách khá xa với những đường truyền dẫn dài có khi lên tới hàng ngàn km Do vậy mạng diện rộng không thể
truyền với tốc độ quá cao và khi đó tỷ lệ lỗi sẽ trở nên khó chấp nhận được
Mạng cục bộ thường có tốc độ truyền dữ liệu từ 4 đến 16Mbps và đạt tới
100 Mbps nếu dùng cáp quang Còn phần lớn các mạng diện rộng cung cấp đường truyền có tốc độ thấp hơn nhiều như T1 với 1.544 Mbps hay E1 với 2.048 Mbps Thông thường trong mạng cục bộ tỷ lệ lỗi trong truyền dữ liệu vào khoảng 1/107-108 còn trong mạng diện rộng thì tỷ lệ vào khoảng 1/106-107
duy trì các đường truyền dẫn nên khi xây dựng mạng diện rộng người ta thường sử dụng các đường truyền được thuê từ các công ty viễn thông hay các nhà cung cấp dịch vụ truyền số liệu Tuỳ theo cấu trúc của mạng những đường truyền đó thuộc
cơ quan quản lý khác nhau như các nhà cung cấp đường truyền nội hạt, liên tỉnh, liên quốc gia Các đường truyền đó phải tuân thủ các quy định của chính phủ các
khu vực có đường dây đi qua như: tốc độ việc mã hoá
Còn đối với mạng cục bộ thì công việc đơn giản hơn nhiều, khi một cơ quan cài đặt mạng cục bộ thì toàn bộ mạng sẽ thuộc quyền quản lý của cơ quan đó
được đi theo con đường xác định bởi cấu trúc của mạng Khi người ta cấu trúc của mạng thì thông tin sẽ luôn luôn đi theo cấu trúc đã xác định đó Còn với mạng diện rộng dữ liệu cấu trúc có thể phức tạp hơn nhiều do việc sử dụng các dịch vụ truyền
dữ liệu trong quá trình hoạt độngcác điểm nút có thể thay đổi các đường đi của thông tin khi phát hiện ra có trục trặc trên đường truyền hay khi phát hiện có quá
nhiều thông tin cần truyền giữa hai điểm nút nào đó Trên mạng diện rộng thông
tin có thể có các con đường đi khác nhau, điều đó cho phép có thể sử dụng tối đa
các năng lực của đường truyền hay nâng cao điều kiện an toàn trong truyền dữ liệu
Trang 8
phát triển cho việc truyền đồng thời trên đường truyền nhiều dạng thông tin khác nhau như video, tiếng nói, dữ liệu… Trong khi đó các mạng cục bộ chủ yếu trong việc truyền dữ liệu thông thường Điều này có thể giải thích do việc truyền các dạng thông tin trong một khu vực nhỏ ít được quan tâm hơn như khi truyền qua
những khoảng rộng lớn
- Mạng LAN chủ yếu sử dụng công nghệ Ethernet, Token Ring, ATM
- Mạng WAN sử dụng nhiều công nghệ như: Chuyển mạch vòng, chuyển mạch gói, chuyển mạch khung, ATM…
1.1.3 Mô hình mạng- Mô hình tham chiếu OSI 7 lớp (Open Systems Interconnection)
Ở thời kỳ đầu của công nghệ nối mạng, việc gửi và nhận dữ liệu ngang qua mạng thường gây nhầm lẫn do các công ty lớn như IBM, Honeywell và Digital Equipment Corporation tự đề ra những tiêu chuẫn cho hoạt động kết nối máy tính
Năm 1984, tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế -ISO (International Standard
Organization) chính thức đưa ra mô hình OSI (Open Systems Interconnect) là tập
hợp các đặc điểm kỹ thuật mô tả kiến trúc mạng dành cho việc kết nối các thiết bị không cùng chủng loại
Mô hình OSI được chia thành 7 tầng, mỗi tầng bao gồm những hoạt động, thiết bị và giao thức mạng khác nhau
Hình 1-7: Mô hình OSI 7 tầng
Trang 9
1.1.3.1 Các giao thức trong mô hình OSI
Trong mô hình OSI có hai loại giao thức chính được áp dụng: giao thức có liên kết (connection-oriented) và giao thức không liên kết (connectionless)
- Giao thức có liên kết: trước khi truyền dữ liệu hai tầng đồng mức cần thiết lập liên kết logic sẽ nâng cao độ an toàn trong truyền dữ liệu
- Giao thức không liên kết: trước khi truyền dữ liệu không thiết lập liên kết logic và mỗi gói tin được truyền độc lập với các gói tin trước hoặc sau nó
Như vậy với giao thức có liên kết, quá trình truuyền thông phải gồm 3 giai đoạn phân biệt:
- Thiết lập liên kết (logic): hai thực thể đồng mức ở hai hệ thống thương lượng với nhau về tập các tham số sẽ sử dụng trong giai đoạn sau (truyền dữ liệu)
- Truyền dữ liệu: dữ liệu được truyền với cơ chế kiểm soát và quản lý kèm theo (như kiểm soát lỗi, kiểm soát luồng dữ liệu, cắt hợp dữ liệu…) để tăng cường hiệu quả và độ tin cậy của việc truyền dữ liệu
- Huỷ bỏ liên kết (logic): giải phóng tài nguyên hệ thống dã được cấp phát cho liên kết để dùng liên kết khác
Đối với giao thức không liên kết thì chỉ có duy nhất một giai đoạn truyền dữ liệu mà thôi
Gói tin của giao thức: gói tin (Packet) được biểu hiện như là một đơn vị thông tin dùng trong việc liên lạc, chuyển giao dữ liệu trong mạng máy tính Những thông điệp trao đổi giữa các máy tính trong mạng, được tạo dạng thành các gói tin của nguồn máy Và những gói tin này khi đích sẽ được kết hợp lại thành thông điệp ban đầu Một gói tin có thể chứa dựng các yêu cầu phục vụ, các thông tin điều khiển và dữ liệu
Trên mô hình mạng phân tầng mỗi tầng chỉ thực hiện một chức năng là nhận
dữ liệu từ tầng bên trên để chuyển giao xuống cho tầng bên dưới và ngược lại Chức năng này thực chất là gắn thêm và gở bỏ phần đầu (header) đối với các gói tin trước khi chuyển nó đi Nói cách khác, từng gói tin bao gồm phần đầu (header)
và phần dữ liệu Khi đi đến một tầng mới gói tin sẽ được đóng thêm phần đầu đề khác và được xem như là gói tin của tầng mới, công việc trên được tiếp diễn cho đến khi gói tin được truyền lên đường dây mạng để đến bên nhận
Trang 10
Tại bên nhận các gói tin được gở bỏ phần đầu trên từng phần tương ứng
và đây cũng là nguyên lý của bất cứ mô hình phân tầng nào
1.1.3.2 Các chức năng chủ yếu từng tầng của mô hình OSI
Tầng vật lý (Physical) là tầng dưới cùng của mô hình OSI Nó mô tả các đặc trưng vật lý của mạng: Các loại cáp được dùng để nối các thiết bị, các loại đầu nối được dùng, các dây cáp có thể dài bao nhiêu… Mặt khác các tầng vật lý cung cấp các đặc trưng điện của các tín hiệu được truyền, để khi chuyển dữ liệu trên cáp
từ một máy này đến máy khác của mạng, kỹ thuật nối mạch điện, tốc độ cáp truyền dẫn
Tầng vật lý không qui định một ý nghĩa nào cho các tín hiệu đó ngoài các giá trị nhị phân 0 và 1 Ở các tầng cao hơn của mô hình OSI ý nghĩa của các bit được truyền ở tầng vật lý sẽ được xác định
Ví dụ: Tiêu chuẩn Ethernet cho cáp xoắn đôi 10 baseT định rõ các đặc trưng diện của cáp xoắn đôi, kích thước và các dạng của các đầu nối, độ dài tối đa
của cáp
Khác với các tầng khác, tầng vật lý là không có gói tin riêng và do vậy không có phần đầu (header) chứa thông tin điều khiển Dữ liệu đi theo dòng bit Một giao thức tầng vật lý tồn tại giữa các tầng vật lý để quy định về phương thức truyền (đồng bộ, phi đồng bộ), tốc độ truyền
Tầng liên kết dữ liệu là tầng mà ở đó ý nghĩa được gán cho các bit được truyền trên mạng Tầng liên kết dữ liệu phải quy định được các dạng thức, kích thước, địa chỉ gửi và nhận của mỗi gói tin được gửi đi Nó phải xác định quy chế truy nhập thông tin trên mạng và phương tiện gửi mỗi gói tin sao cho nó được đưa đến cho người nhận đã định
Tầng liên kết dữ liệu có hai phương thức liên kết dựa trên cách kết nối của máy tính, đó là phương thức “điểm - điểm” và phương thức “điểm - nhiều điểm” Với phương thức “điểm - nhiều điểm” tất cả các máy tính phân chia nhau một đường truyền vật lý
Trang 11
Tầng liên kết dữ liệu cũng cung cấp cách phát hiện và sửa lỗi cơ bản để đảm bảo cho dữ liệu nhận được giống hoàn toàn với dữ liệu gửi đi Nếu một gói tin có lỗi không sửa được, tầng liên kết dữ liệu phải chỉ ra được cách thông báo cho nơi gửi biết gói tin đó có lỗi để nó gửi lại
Các giao thức tầng liên kết dữ liệu chia làm 2 loại chính là các giao thức hướng ký tự và các giao thức hướng bit Các giao thức hướng ký tự được xây dựng dựa trên các ký tự đặc biệt của một bộ mã chuẩn nào đó (như ASCII hay EBCDIC) Trong khi đó các giao thức hướng bit lại dùng cấu trúc nhị phân để xây dựng các phần tử của giao thức và khi nhận, dữ liệu sẽ được tiếp nhận từng bit một
Tầng mạng nhắm đến việc kết nối các mạng với nhau bằng cách tìm đường (routing) cho các gói tin từ một mạng này đến một mạng khác Nó xác định việc chuyển hướng, vạch đường các gói tin trong mạng, các gói này có thể đi qua nhiều chặn đường trước khi đến được đích cuối cùng Nó luôn tìm các tuyến truyền thông không tắc nghẽn để đưa các gói tin đến đích
Tầng mạng cung cấp các phương tiện để truyền các gói tin qua mạng, thậm chí qua một mạng của mạng (netword of network) Bởi vậy nó cần phải đáp ứng với nhiều kiểu mạng và nhiều kiểu dịch vụ cung cấp bởi các mạng khác nhau Hai chức năng chủ yếu của tầng mạng là chọn đường (routing) và chuyển tiếp (replaying) Tầng mạng là tầng quan trọng nhất khi liên kết hai loại mạng khác nhau như mạng Ethernet với mạng Token Ring khi đó phải tìm một bộ tìm đường (quy định bởi 2 tầng mạng) để chuyển các gói tin từ mạng này sang mạng khác và ngược lại
Đối với một mạng chuyển mạch gói (packet – switch network) gồm tập hợp các nút chuyển mạch gói nối với nhau bởi các liên kết dữ liệu Các gói dữ liệu được truyền từ một hệ thống dữ liệu mở tới một hệ thống mở khác trên mạng phải được chuyển qua một chuỗi các nút Mỗi nút nhận gói dữ liệu từ một đường vào (incoming link) ròi chuyển tiếp nó tới một đường ra (outgoing link) hướng đến đích của dữ liệu Như vậy ở mỗi nút trung gian nó phải thực hiện các chức năng chọn đường và chuyển tiếp
Trang 12
Việc chọn đường là việc lựa chọn một con đường để truyền một đơn vị dữ liệu từ trạm nguồn tới trạm đích của nó Một kỹ thuật chọn đường phải thực hiện 2 chức năng chính sau đây:
- Quyết định chọn đường tối ưu dựa trên các thông tin đã có về mạng tại thời điểm đó thông qua những tiêu chuẩn tối ưu nhất định
- Cập nhật các thông tin về mạng, tức là thông tin dùng cho việc chọn đường Trên mạng luôn có sợ thay đổi thường xuyên nên việc cập nhật là việc cần thiết
Người ta có hai phương pháp cho việc chọn đường là phương pháp xử lý tập trung và xử lý tại chỗ
- Phương pháp chọn đường xử lý tập trung được đặc trưng bởi sự tồn tại của một hoặc vài trung tâm điều khiển mạng Chúng thực hiện việc lập ra các bảng đường đi tại từng thời điểm cho các nút và sau đó gửi các bảng chọn đường tới từng nút dọc theo con đường đã dược chọn đó Thông tin tổng thể của mạng cần dùng cho việc chọn đường chỉ cần cập nhập và được cất giữa tại trung tâm điều khiễn mạng
- Phương thức chọn đường xử lý tại chỗ đợc đặc trưng bởi việc chọn đường được thực hiện tại mỗi nút của mạng Trong từng thời điểm, mỗi nút phải duy trì các thông tin của mạng và tự xây dựng bảng chọn đường cho mình Như vậy các thông tin tổng thể của nút cần dùng cho việc chọn đường cần cập nhập và được cất giữ tại mỗi nút
Thông thường các thông tin được đo lường và sử dụng cho việc chọn đường bao gồm:
+ Trạng thái của đường truyền
+ Thời gian trễ khi truyền trên mỗi đường dẫn
+ Mức độ lưu thông trên mỗi đường
- Các tài nguyên khả dụng của mạng
Khi có sự thay đổi của mạng (ví dụ thay đổi về cấu trúc của mạng do sự cố tại một vài nút, phục hồi của một nút mạng, nối thêm một nút mới… hoặc thay đổi
về mức độ lưu thông) các thông tin trên cần được cập nhập vào các cơ sở dữ liệu
về trạng thái của mạng
Trang 13
Tầng vận chuyển cung cấp các chức năng cần thiết giữa tầng mạng và các tầng trên Nó là tầng cao nhất có liên quan đến các giao thức trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống mở Nó cùng các tầng dưới cung cấp cho người sử dụng các phục vụ vận chuyển
Tầng vận chuyển (transport layer) là tầng cơ sở mà ở đó một máy tính của mạng chia sẽ thông tin với một máy tính khác Tầng vận chuyển đồng nhất mỗi trạm bằng một địa chỉ duy nhất và quản lý sự kết nối giữa các trạm Tầng vận chuyển cũng chia các gói tin lớn thành các gói tin nhỏ trước khi gửi đi Thông thường tầng vận chuyển đánh số các gói tin và đảm bảo chúng chuyển theo đúng thứ tự
Tầng vận chuyển là tầng cuối cùng chịu trách nhiệm về mức độ an toàn trong truyền dữ liệu nên giao thức tầng vận chuyển phụ thuộc rất nhiều vào bản
chất của tầng mạng
Tầng giao dịch thiết lập “các giao dịch” giữa các trạm trên mạng, nó đặt tên nhất quán cho mọi thành phần muốn đối thoại với nhau và lập ánh xạ giữa các tên với địa chỉ của chúng Một giao dịch phải được thiết lập trước khi dữ liệu được truyền trên mạng, tầng giao dịch đảm bảo cho các giao dịch được thiết lập và duy trì theo đúng quy định
Tầng giao dịch còn cung cấp cho người sử dụng các chức năng cần thiết để quản trị các giao dịch ứng dụng của họ, cụ thể là:
- Điều phối việc trao đổi dữ liệu giữa các ứng dụng bằng cách thiết lập và giải phóng (một cách logic) các phiên (hay còn gọi là các hội thoại – dialogues)
- Cung cấp các điểm đồng bộ để kiểm soát việc trao đổi dữ liệu
- Áp đặt các qui tắc cho các tương tác giữa các ứng dụng của người sử dụng - Cung cấp cơ chế “lần lượt” (nắm quyền) trong quá trình trao đỗi dữ liệu Trong trường hợp mạng là hai chiều luân phiên thì nẩy sinh vấn đề: hai người sử dụng luân phiên phải “lấy lượt” để truyền dữ liệu Tầng giao dịch duy trì tương tác luân phiên bằng cách báo cho mỗi người sử dụng khi đến lượt họ được truyền dữ liệu Vấn đề đồng bộ hoá trong tầng giao dịch cũng được thực hiện như
Trang 14
cơ chế kiểm tra/phục hồi, dịch vụ này cho phép người sử dụng xác định các điểm đồng bộ hoá trong dòng dữ liệu đang chuyển vận và khi cần thiết có thể khôi phục việc hội thoại bắt đầu từ một trong các điểm đó
Ở một thời điểm chỉ có một người sử dụng đó quyền đặc biệt được gọi các dịch vụ nhất định của tầng giao dịch Việc phân bố các quyền này thông qua việc trao đổi thẻ bài (token)
Tầng giao dịch có các hàm cơ bản sau:
- Give Token cho phép người sử dụng chuyển một token cho một người sử dụng khác của một liên kết giao dịch
- Please Token cho phép một người sử dụng chưa có token có thể yêu cầu token đó
- Give Control dùng để chuyển tất cả các token từ một người sử dụng sang một người sử dụng khác
Trong giao tiếp giữa các ứng dụng thông qua mạng với cùng một dữ liệu có thể có nhiều cách biểu diễn khác nhau Thông thường dạng biểu diễn dùng bởi ứng dụng nguồn và dạng biểu điễn dùng bởi ứng dụng đích có thể khác nhau do ứng dụng được chạy trên các hệ thống hoàn toàn khác nhau Tầng thể hiện phải chịu trách nhiệm chuyển đổi dữ liệu gởi đi trên mạng từ một loại biểu diễn này sang một loại biểu diễn khác Để đạt được điều đó nó cung cấp một dạng biểu diễn chung dùng để truyền thông và cho phép chuyển đổi từ dạng cục bộ sang biểu diễn chung và ngược lại
Tầng thể hiện cũng có thể được dung kỹ thuật mã hoá để xáo trộn các dữ liệu trước khi được truyền đi và giải mã ở đầu đến để bảo mật Ngoài ra tầng thể hiện cũng có thể dùng các kỹ thuật nén sao cho chỉ cần một ít byte dữ liệu để thể hiện thông tin khi nó được truyền ở trên mạng Ở đầu nhận, tầng trình bày bung trở lại để được dỡ liệu ban đầu
Tầng ứng dụng là tầng cao nhất của mô hình OSI, nó xác định giao diện giữa người sử dụng và môi trường OSI và giải quyết các kỹ thuật mà các chương trình ứng dụng dùng để giao tiếp với mạng
Trang 15
Application Presentation Session Transport Network Data Link Physical
Application Presentation Session Transport Network Data Link Physical 10010111001011010010110101011110
segment
s packet
s frame
a
Tóm tắt bằng sơ đồ như sau:
Hình 1-8: Giao tiếp qua mô hình 7 lớp
1.1.3.3 Bộ giao thức TCP/IP
TCP/IP là bộ giao thức cho phép kết nối các hệ thống mạng không đồng nhất với nhau Ngày nay, TCP/IP được sử dụng rộng rãi trong các mạng cục bộ cũng như trên mạng internet toàn cầu
TCP/IP được xem như giản lược của mô hình OSI với bốn tầng như sau:
- Tầng liên kết mạng (Network Access Layer)
- Tầng internet (Internet layer)
- Tầng giao vận (Host-to-Host Transport Layer)
- Tầng ứng dụng (Application Layer)
Hình 1-9: Kiến trúc TCP/IP
Applications TCP/UDP
IP ICMP
ARP/RARP Network
Interlace and Hardware
Trang 16
Tầng liên kết (còn gọi là tầng liên kết dữ liệu hay là tầng liên kết mạng) là tầng thấp nhất trong mô hình TCP/IP, bao gồm các thiết bị giao tiếp mạng và chương trình cung cấp các thông tin cần thiết để có thể hoạt động, truy cập được truyền vật lý qua thiết bị giao tiếp mạng đó
Tầng Internet (còn gọi là tầng mạng) xử lý quá trình truyền gói tin trên mạng Các giao thức của tầng này bao gồm: IP (Internet Protocol), IMCP (Internet Control Message Protocol), IGMP (Internet Group Message Protocol)
Tầng giao vận phụ trách luồng dữ liệu giữa 2 trạm thực hiện ứng dụng của tầng trên Tầng này có 2 giao thức chính: TCP (Transmission Control Protocol) và UDP (User Datagram Protocol)
TCP cung cấp một luồng dữ liệu tin cậy giữa 2 trạm, nó sử dụng cơ chế như chia nhỏ các gói tin của tầng trên thành các gói tin có kích thước thích hợp cho tầng mạng bên dưới, báo nhận gói tin, đặt hạn chế thơig gian time-out để đảm bảo bên nhận biết được các gói tin đã gửi đi Do tầng này đảm bảo tính tin cậy, tầng trên sẽ không cần quan tâm đến nữa
UDP cung cấp một dịch vụ đơn giản hơn cho tầng ứng dụng Nó chỉ gửi các gói dữ liệu từ trạm này tới trạm kia mà không cần đảm bảo các gói tin đến được tới đích Các cơ chế đảm bảo độ tin cậy cần được thực hiện bởi tầng trên
Tầng ứng dụng là tầng trên cùng của mô hình TCP/IP bao gồm các tiến trình và các ứng dụng cung cấp cho người sử dụng để truy cập mạng Có rất nhiều ứng dụng được cung cấp trong tầng này, mà phổ biến là telnet: sử dụng trong việc truy cập mạng từ xa, FTP (file transfer protocol): dịch vụ truyền tệp, Email: dịch
vụ thư tín điện tử, WWW (worlk wide web)
Cũng tương tự như trong mô hình OSI, khi truyền dữ liệu, quá tiến hành từ tầng trên xuống tầng dưới, qua mỗi tầng dữ liệu được thêm vào một thông tin điều khiển được gọi là phần header Khi nhận dữ liệu thì
Trang 17
Hình 1-10: Mô hình giao tiếp TCP/IP
quá trình xảy ra ngược lại, dữ liệu được truyền từ tầng dưới lên và qua mỗi tầng thì phần header tương ứng được lấy đi và đến khi đến tầng trên cùng thì phần
dữ liệu không còn phần header nữa
- Trong tầng ứng dụng dữ liệu là các luồng được gọi là stream
- Trong tầng giao vận, đơn vị dữ liệu mà TCP gửi xuống tầng dưới gọi là TCP segment
- Trong tầng mạng, dữ liệu mà IP gửi tới tầng dưới được gọi là IP datagram
- Trong tầng liên kết, dữ liệu được truyền đi gọi là frame
TCP/IP với OSI: mỗi tầng trong TCP/IP có thể là một hay nhiều tầng OSI
Bảng sau ghi rõ mối tương quan giữa các tầng trong mô hình TCP/IP với OSI
Trang 18
Physical layer và Data link layer Data link layer Network layer Internet layer Transport layer Transport layer Session layer, Presentation layer,
Application layer
Application layer
Bảng 1-1: So sánh OSI và TCP/IP
Sự khác nhau giữa TCP/IP và OSI chỉ là:
- Tầng ứng dụng trong mô hình TCP/IP bao gồm luôn cả 3 tầng trên của mô hình OSI
- Tầng giao vận trong mô hình TCP/IP không phải luôn đảm bảo độ tin cậy của việc truyền tin như ở trong tầng giao vận của mô hình OSI mà cho phép thêm một lựa chọn khác là UDP
1.2 Các công nghệ mạng hiện tại
1.2.1 Công nghệ WAN
Wide Area Networks – WAN, là mạng được thiết lập để liên kết đến các máy tính của hai hay nhiều khu vực khác nhau, ở khoảng cách xa về mặt địa lý, như giữa các quận trong thành phố hay giữa các thành phố trong một quốc gia Đặc tính này chỉ có tính chất ước lệ, nó càng trở nên khó xác định với việc phát triển mạnh của công nghệ truyền dẫn không phụ thuộc vào khoảng cách Tuy nhiên việc kết nối khoảng cách xa buộc WAN phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố : giải thông
và chi phí cho giải thông, chủ quản của mạng, đường đi của thông tin trên mạng
WAN có thể kết nối thành mạng riêng của tổ chức, hay có thể phải kết nối qua nhiều hạ tầng mạng công cộng và của các công ty viễn thông khác nhau
WAN có thể dùng đường truyền có giải thông thay đổi trong khoảng cách rất lớn từ 56Kbps đến T1 với 1.544 Mbpsh hay E1 với 2.048 Mbps….và đến Gigabit- là các đường trục nối các quốc gia hay châu lục
Do sự phức tạp trong việc xây dựng, quản lý, duy trì các đường truyền dẫn nên khi xây dựng WAN người ta thường sử dụng các đường truyền được thuê từ hạ
Trang 19Các công nghệ kết nối WAN thường liên quan đến 3 tầng đầu trong mô hình OSI Đó là tầng vật lý liên (physical) quan đến các chuẩn giao tiếp WAN, tầng liên kết dữ liệu (Data link) liên quan đến các giao thức truyền thông của WAN, và một
số giao thức WAN liên quan đến tầng mạng
Khi sử dụng công nghệ này ta cần chú ý đến 3 yếu tố : Môi trường, các yêu cầu kỷ thuật, an ninh an toàn
1.2.2 Công nghệ X.25
Được CCITT ( Consultative Committee for International Telephony and Telegraphy ) uỷ ban tư vấn quốc tế về điện thoại và điện báo công bố lần đầu tiên vào 1970 lúc lĩnh vực viễn thông lần đầu tiên tham gia vào thế giới truyền dữ liệu với các đặc tính:
X25 cung cấp quy trình kiểm soát luồng giữa các đầu cuối đem lại chất
lượng đường truyền cao cho dù chất lượng đương dây truyền không cao
X25 được thiết kế cho cả truyền thông chuyển mạch lẫn truyền thông kiểu
điễm nối điểm
Được quan tâm và tham gia nhanh chóng trên toàn cầu
Trong X25 có chức năng dồn kênh (multiplexing) đối với liên kết logic (virtual circuits) chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát lỗi cho các frame đi qua Điều này làm tăng độ phức tạp trong việc phối hợp các thủ tục giữa hai tầng kề nhau, dẫn đến thông lượng bị hạn chế do tổng phí xử lý mỗi gói tin tăng lên X25 kiểm tra lỗi tại mỗi nút trước khi truyền tiếp, điều này làm cho đường truyền chó chất lượng rất cao gần như phi lỗi Tuy nhiên do vậy khối lượng tích toán tại mỗi nút khá lớn, đối với những đường truyền của những năm 1970 thì điều đó là cần thiết nhưng hiện nay khi kỹ thuật truyền dẫn đã đạt được những tiến bộ rất cao thì việc đó trở nên lãng phí
Trang 20
1.2.3 Công nghệ Frame Relay
Fram-relay bắt đầu được đưa ra như tiêu chuẩn của một trong những giao
thức truyền số liệu từ năm 1984 trong hội nghị của tổ chức liên minh viễn thông thế giới ITU-T( lúc đó gọi là CCITT – Consultative Committee for International Telegraph and telephone ) và cũng được viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ ANSY( American National Standard Institute) đưa ra thành tiêu chuẩn ANSY vào năm đó
Mục tiêu chính của Frame-relay cũng giống như nhiều tiêu chuẩn khác,
đó là tạo ra một giao diện chuẩn để kết nối thiết bị của các nhà sản xuất thiết bị khác nhau, giữa người dùng và mạng UNI (User to Network Interface) Frame-relay thiết kế nhằm cung cấp dịch vụ chuyển khung nhanh cho các ứng dụng số liệu tương tự như X.25 hay ATM
Khuôn dạng
Bảng 1-2: Khuôn dạng gói dữ liệu Frame-relay Frame-relay làm việc ở tầng Liên kết nhưng cũng phải giải quyết vấ đề
này để đảm bảo khả năng lưu chuyển thông tin
Frame relay không chỉ là một kỹ thuật mà còn là thể hiện một phương
pháp tổ chức mới Với nguyên lý là truyền mạch gói nhưng các thao tác kiểm soát giữa các đầu cuối giảm đáng kể Kỹ thuật Frame Relay cho phép thông luợng tối đa đạt tới 2Mbps và hiện nay nó đang cung cấp các giải pháp để tương nối các mạng cục bộ LAN trong một kiến trúc xương sống tạo nên môi trường cho ứng dụng multimedia
Trang 21
1.2.4 Integrated Services Digital Network (ISDN)
ISDN là một loại mạng viễn thông số tích hợp đa dịch vụ cho phép sử dụng cùng một lúc nhiều dịch vụ trên cùng một đường dây điện thoại thông thường Với
cơ sở điện thoại cố định hiện có, ISDN là giải pháp cho phép truyền dẫn thoại, dữ liệu và hình ảnh tốc độ cao Người dùng cũng một lúc có thể truy cập WAN và gọi điện thoại, fax mà chỉ cấn một đường dây điện thoại duy nhất, thay vì 3 đường nếu dùng theo kiểu thông thường Kết nối ISDN có tốc độ và chất lượng cao hơn hẳn dịch vụ kết nối theo kiểu quay số qua mạng điện thoại thường (PSTN) Tốc độ truy cập WAN có thể lên đến 128 Kbps nếu sử dụng đường ISDN 2 (2B+D) kênh và tương đương 2.048 Mbps nếu sử dụng ISDN 30 kênh (30B+D)
ISDN kết nối thông qua các thiết bị kết nối như ISDN Adapter hay ISDN router
ISDN có đặc tính là được chia thành 2 loại kênh khác nhau : Kênh dữ liệu (Data Channel), tên kỹ thuật là B Channel, hoạt động ở tốc độ 64 Kbps và kênh kiểm soát (Control channel), tên kỷ thuật là D channel, hoạt động ở 16 Kbps (Bisic rate) và 64 Kbps (Primary rate) Dữ liệu của người dùng sẽ được truyền trên các B channel, và dữ liệu tín hiệu được truyền qua D channel Đường ISDN có hai tốc độ
cơ bản là residential basic rate và commercial primary rate Basic rate ISDN hoạt động với B channel 64 Kbps và một D channel16 Kbps qua đường thoại thông thường, cung cấp băng thông dữ liệu là 128 Kbps Trong khi đó Primary rate hoạt động với 23 B channel 64 Kbps và một D channel 64 Kbps qua đường T1, cung cấp băng thông 1472 Kbps Primary rate đưa ra đường truyền quay số tốc độ cao, cần thiết cho các tổ chức lớn
1.2.5 Asynchronous Transfer Mode (ATM) Switching
Hiện nay kỹ thuật Cell Relay dựa trên phương thức truyền thông không
đồng bộ (ATM) có thể cho phép thông lượng hàng trăm Mbps Đơn vị dữ liệu dùng trong ATM được gọi là tế bào (cell) Các tế bào trong ATM có độ dài cố định
là 53 bytes, trong đó 5 bytes dành cho phần chứa thông tin điều khiển (cell header)
và 48 bytes chứa dữ liệu của tầng trên
Trong kỹ thuật ATM, các tế bào chứa các kiểu dữ liệu khác nhau được ghép kênh tới một đường dẫn chung được gọi là đường dẫn ảo (virtual path) Trong đường
Trang 22
dẫn ảo đó có thể gồm nhiều kênh ảo (virtual chanell) khác nhau, mỗi kênh ảo được
sử dụng bởi một ứng dung nào đó tại một thời điểm
ATM đã kết hợp những đặc tính tốt nhất của dạng chuyển mạch liên tục
và dạng chuyển mạch gói, nó có thể kết hợp dải thông linh hoạt và khả năng chuyển tiếp cao tốc và có khả năng quản lý đồng thời dữ liệu số, tiếng nói, hình ành và multimedia tương tác
Mục tiêu của kỹ thuật ATM là nhằm cung cấp một mạng dồn kênh, và
chuyển mạch tốc độ cao, độ trễ nhỏ dáp ứng cho các dạng truyền thông đa phương tiện (multimecdia)
Chuyển mạch cell cần thiết cho việc cung cấp các kết nối đòi hỏi băng
thông cao, tình trạng tắt nghẽn thấp, hổ trợ cho lớp dịch vụ tích hợp lưu thông dữ liệu âm thanh hình ảnh Đặc tính tốc độ cao là đặc tính nổi bật nhất của ATM
ATM sử dụng cơ cấu chuyển mạch đặc biệt: ma trận nhị phân các thành
tố chuyển mạch (a matrix of binary switching elements) để vận hành lưu thông Khả năng vô hướng (scalability) là một đặc tính của cơ cấu chuyển mạch ATM Đặc tính này tương phản trực tiếp với những gì diễn ra khi các trạm cuối được thêm vào một thiết bị liên mạng như router Các router có năng suất tổng cố định được chia cho các trạm cuối có kết nối với chúng Khi số lượng trạm cuối gia tăng, năng suất của router tương thích cho trạm cuối thu nhỏ lại Khi cơ cấu ATM mở rộng, mỗi thiết bị thu trạm cuối, bằng con đường của chính nó đi qua bộ chuyển mạch bằng cách cho mỗi trạm cuối băng thông chỉ định Băng thông rộng được chỉ định của ATM với đặc tính có thể xác nhận khiến nó trở thành một kỹ thuật tuyệt hảo dùng cho bất kỳ nơi nào trong mạng cục bộ của doanh nghiệp
Như tên gọi của nó chỉ rõ, kỹ thuật ATM sử dụng phương pháp truyền
không đồng bộ (asynchronouns) các tề bào từ nguồn tới đích của chúng Trong khi
đó, ở tầng vật lý người ta có thể sử dụng các kỹ thuật truyền thông đồng bộ như SDH (hoặc SONET)
Nhận thức được vị trí chưa thể thay thế được (ít nhất cho đến những năm
đầu của thế kỷ 21) của kỹ thuật ATM, hầu hết các hãng khổng lồ về máy tính và truyền thông như IBM, ATT, Digital, Hewlett - Packard, Cisco Systems, Cabletron, Bay Network, đều đang quan tâm đặc biệt đến dòng sản phẩm hướng
Trang 23
đến ATM của mình để tung ra thị trường Có thể kể ra đây một số sản phẩm đó như DEC 900 Multiwitch, IBM 8250 hub, Cisco 7000 rounter, Cablectron, ATM module for MMAC hub
Nhìn chung thị trường ATM sôi động do nhu cầu thực sự của các ứng
dụng đa phương tiện Sự nhập cuộc ngày một đông của các hãng sản xuất đã làm giảm đáng kể giá bán của các sản phẩm loại này, từ đó càng mở rộng thêm thị trường Ngay ở Việt Nam, các dự án lớn về mạng tin học đều đã được thiết kế với
hạ tầng chấp nhận được với công nghệ ATM trong tương lai
1.2.6 Internet protocol (IP)
Giao thức liên mạng IP là một trong những giao thức quan trọng nhất của bộ giao thức TCP/IP Mục đích của bộ giao thức liên mạng IP là cung cấp khả năng kết nối các mạng con thành liên mạng để truyền dữ liệu IP là giao thức cung cấp dịch vụ phân phát datagram theo kiểu không liên kết và không tin cậy nghĩa là không cần có giai đoạn thiết lập liên kết trước khi truyền dữ liệu, không đảm bảo rằng IP datagram sẽ tới đích và không duy trì bất kỳ thông tin nào về những datagram đã gởi đi Khuôn dạng dữ liệu dùng trong IP được thể hiện ở hình vẽ dưới đây
Bảng 1-3: Khuôn dạng dữ liệu dùng trong IP
Trang 24
Hình 1-11: Kiến trúc của địa chỉ IP (Ipv4)
Địa chỉ IP (IPv4) có độ dài 32 bit và được tách được 4 vùng, mỗi vùng ( mỗi vùng 1 byte) thường được biểu diễn dưới dạng thập phân và được cách nhau bởi dấu chấm(.) Ví dụ 192.168.0.1
Địa chỉ IP (IPv4) được chia thành 5 lớp A, B, C, D, E trong đó 3 lớp địa chỉ
A, B, C được dùng để cấp phát Các lớp này được phân biệt bởi các bit đầu tiên trong địa chỉ
Lớp A(0) cho phép định danh tới 126 mạng tối đa 16 triệu trạm trên mỗi mạng Lớp này thường được dùng cho cácmạng có số trạm cực lớn và rất khó được cấp Lớp B(10) cho phép định danh tới 19384 mạng với tối đa 65534 trạm trên mỗi mạng Lớp địa chỉ này phù hợp với nhiều yêu cầu nên được cấp phát nhiều nên hiện nay đã trở nên khan hiếm
Lớp C(110) cho phép định danh tới 2 triệu mạng với tối đa 254 trạm trên mỗi mạng Lớp này được dùng cho các mạng có ít trạm
Bảng1-4: Các lớp địa chỉ Internet
Trang 25
Ngoài ra còn một số địa chỉ được quy định dùng riêng (private address) Các địa chỉ này chỉ có ý nghĩa trong mạng của từng tổ chức nhất định mà không được định tuyến trên Internet Việc sử dụng các địa chỉ này không cần phải xin cấp phép
Ví dụ : 192.168.0.0 – 192.168.255.255
1.2.7 Routing Information protocol (RIP)
Routing Information Protocol (RIP) là giao thức định tuyến vector khoảng cách (Distance Vector Protocol) xuất hiện sớm nhất Nó suất hiện vào năm 1970 bởi Xerox như là một phần của bộ giao thức Xerox Networking Services (XNS) Một điều kỳ lạ là RIP được chấp nhận rộng rải trước khi có một chuẩn chính thức được xuất bản Mãi đến năm 1988 RIP mới được chính thức ban bố trong RFC1058 bởi Charles Hedrick RIP được sử dụng rộng rãi do tính chất đơn giản và tiện dụng của nó
RIP là giao thức định tuyến vector khoảng cách điển hình, là nó đều đặn gửi toàn bộ routing table ra tất cả các active interface đều đặn theo chu kỳ là 30 giây RIP chỉ sử dụng metric là hop count để tính ra tuyến đường tốt nhất tới remote network Thuật toán mà RIP sử dụng để xây dựng nên routing table là Bellman-Ford
IP RIP được mô tả chi tiết trong 2 văn bản Văn bản đầu tiên là RFC1058 và văn bản thứ 2 là Tiêu chuẩn Internet (STD)56
RIP được phát triển trong nhiều năm bắt đầu từ phiên bản 1 (RIPv1)
RIP chỉ là giao thức định tuyến theo lớp địa chỉ cho đến phiên bản 2(RIPv2) RIP trở thành giao thức định tuyến không theo lớp địa chỉ
RIPv2 có những ưu điểm hơn như sau:
+ Cung cấp thêm nhiều thông tin định tuyến hơn
+ Có cơ chế xác minh giữa các router khi cập nhật để bảo mật cho bảng định tuyến
+ Có hỗ trợ VLSM(variable Length Subnet Masking-Subnet mask có chiều dài khác nhau)
RIP tránh định tuyến lặp vòng đếm đến vô hạn bằng cách giới hạn số lượng hop tối đa cho phép từ máy gửi đến máy nhận, số lượng hop tối đa cho mỗi con đường là 15 Đối với các con đường mà router nhận được từ thông tin cập nhật của
Trang 26
router láng giềng, router sẽ tăng chỉ số hop lên 1 vì router xem bản thân nó cũng là
1 hop trên đường đi Nếu sau khi tăng chỉ số hop lên 1 mà chỉ số này lớn hơn 15 thì router sẽ xem như mạng đích không tương ứng với con đường này không đến được Ngoài ra, RIP cũng có những đặc tính tương tự như các giao thức định tuyến khác Ví dụ như : RIP cũng có horizon và thời gian holddown để tránh cập nhật thông tin định tuyến không chính xác
Các đặc điểm chính của RIP:
+ Là giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách
+ Thông số định tuyến là số lượng hop
+ Nếu gói dữ liệu đến mạng đích có số lượng hop lớn hơn 15 thì gói dữ liệu đó sẽ bị huỷ bỏ
+ Chu kỳ cập nhật mặc định là 30 giây
1.2.8 Interior Gateway Routing protocol (IGRP)
The Interior Gateway Routing Protocol (IGRP) là một giao thức định tuyến được phát triển vào giữa những năm 1980 bởi công ty Cisco Mục đích của Cisco trong việc tạo ra IGRP là muốn tạo ra một giao thức mạnh cho việc định tuyến bên trong của một hệ thống tự trị - AS (autonomous system)
Vào giữa những năm 1980 giao thức định tuyến phổ biến nhất là giao thức thông tin định tuyến (RIP)
1.2.9 Enhanced Interior Gateway Routing protocol (EIGRP)
Enhanced interior Gateway Routing Protocol (EIGRP) là giao thức định tuyến dạng lai giữa distance vector và link state EIGRP là một phát triển riêng của Cisco nhằm khắc phục các nhược điểm của RIP/IGRP và có những ưu điểm như dễ cấu hình, độ hội tụ nhanh, tiết kiệm tài nguyên mạng khi trao đổi thông tin, sử dụng địa chỉ multicast để liên lạc, khả năng sử dụng hiệu quả băng thông, hỗ trợ VLSM và vấn đề mạng không liên tục (discontiguous network).co nhằm khắc ph
EIGRP Router lưu giữ các thông tin về đường đi và cấu trúc mạng trên Ram, nhờ đó chúng đáp ứng nhanh chóng theo sự thay đổi Giống như OSPF, EIGRP cũng lưu những thông tin này thành từng bảng và từng cơ sở dữ liệu khác nhau
Trang 27
EIGRP lưu các con đường mà nó học được theo một cách đặt biệt Mỗi con đường có trạng thái riêng và có đánh dấu để cung cấp thêm nhiều thông tin hữu dụng khác
EIGRP có 3 bảng sau:
+ Bảng láng giềng ( Neighbor table )
+ Bảng cấu trúc mạng ( Topology table )
+ Bảng định tuyến ( Routing table )
Bảng láng giềng là bảng quan trọng nhất trong EIGRP Mỗi Router EIGRP lưu giữ một bảng láng giềng, trong đó là danh sách các Router thân mật với nó Bảng này tương tự như cơ sở dữ liệu về các láng giềng của OSPF Đối với mỗi giao thức mà EIGRP hỗ trợ, EIGRP có một láng giềng riêng tương ứng
Khi phát hiện một láng giềng mới, Router sẽ ghi lại địa chỉ và cổng kết nối của láng giềng đó vào bảng láng giềng Khi láng giềng gửi gói hello, trong đó có thông số về khoảng thời gian lưu trữ Nếu Router không nhận được gói hello khi đến định kỳ thì khoảng thời gian lưu giữ là khoảng thời gian mà Router chờ và vẫn xem là Router láng giềng còn kết nối được và còn hoạt động Khi khoảng thời gian lưu trữ đã hết mà vẫn không nhận được hello từ Router láng giềng đó, thì xem như Router láng giềng đã không còn kết nối được hoặc không còn hoạt động, thuật toán DUAL ( Diffusing Update Algorithm ) sẽ thông báo sự thay đổi này và thực hiện tính toán lại theo mạng mới
Bảng cấu trúc mạng là bảng cung cấp dữ liệu để xây dựng nên bảng định tuyến của EIGRP DUAL lấy thông tin từ bảng láng giềng và bảng cấu trúc mạng
để tính toán chọn đường có chi phí thấp nhất đến từng mạng đích
Mỗi EIGRP Router lưu một bảng cấu trúc mạng riêng tương ứng với từng loại giao thức mạng khác nhau Bảng cấu trúc mạng chứa thông tin về tất cả các con đường mà Router học được Nhờ những thông tin này mà Router có thể xác định đường đi khác để thay thế nhanh chóng khi cần thiết Thuật toán DUAL chọn đường đi tốt nhất đến mạng đích gọi là đường chính ( successor route )
Sau đây là những thông tin chứa trong bảng cấu trúc mạng:
+ Feasible distance ( FD ): là thông số định tuyến nhỏ nhất mà EIGRP tính được cho từng mạng đích
Trang 28Bảng định tuyến EIGRP lưu giữ danh sách các đường tốt nhất đến các mạng đích Những thông tin trong bảng định tuyến được rút ra từ bảng cấu trúc mạng Router EIGRP có bảng định tuyến riêng cho từng giao thức mạng khác nhau
Con đường được chọn làm đường chính đến mạng đích gọi là đường successor Từ thông tin trong bảng láng giềng và bảng cấu trúc mạng, DUAL chọn
ra một đường chính và đưa lên bảng định tuyến Đến một mạng đích có thể có đến
4 successor Những đường này có chi phí bằng nhau hoặc không bằng nhau Thông tin về successor cũng được đặt trong bảng cấu trúc mạng
Đường Feasible successor (FS) là đường dự phòng cho đường successor Đường này cũng được chọn ra cùng với đường successor nhưng chúng chỉ được lưu trong bảng cấu trúc mạng Đến một mạng đích có thể có nhiều feasible successor được lưu trong bảng cấu trúc mạng nhưng điều này không bắt buộc
Router xem hop kế tiếp của đường feasible successor là hop dưới nó, gần mạng đích hơn nó Do đó, chi phí của feasible successor được tính bằng chi phí của chính nó cộng với chi phí của Router láng giềng thông báo qua Trong trường hợp successor bị sự cố thì Router sẽ tìm feasible successor để thay thế Một đường feasible successor bắt buộc phải có chi phí mà Router láng giềng thông báo qua thấp hơn chi phí của đường successor hiện tại Nếu trong bảng cấu trúc mạng không có sẵn đường feasible successor thì con đường đến mạng đích tương ứng được đưa vào trạng thái Active và Router bắt đầu gửi các gói yêu cầu đến tất cả các láng giềng để tính toán lại cấu trúc mạng Sau đó với các thông tin mới nhận được, Router có thể sẽ chọn ra được successor mới hoặc feasible successor mới Đường mới được chọn xong sẽ có trạng thái là Passive
Trang 29
1.2.10 Open Shortest Path First (OSPF)
Giao thức OSPF (Open Shortest Path First) thuộc loại link-state routing protocol và được hổ trợ bởi nhiều nhà sản xuất OSPF sử dụng thuật toán SPF
để tính toán ra đường đi ngắn nhất cho một Route Giao thức OSPF có thể được sử dụng cho mạng nhỏ cũng như một mạng lớn Do các Router sử dụng giao thức OSPF sử dụng thuật toán để tính metric cho các route rồi từ đó xây dựng nên đồ hình của mạng nên tốn rất nhiều bộ nhớ cũng như hoạt động của CPU Router Nếu như một mạng quá lớn thì việc này diễn ra rất lâu và tốn rất nhiều bộ nhớ Để khắc phục tình trạng trên, giao thức OSPF cho phép chia một mạng ra thành nhiều area khác nhau Các Router trong cùng một area trao đổi thông tin với nhau, không trao đổi với các Router khác vùng Vì vậy, việc xây dựng đồ hình của Router được giảm đi rất nhiều Các vùng khác nhau muốn liên kết được với nhau phải nối với area 0 (còn được gọi là backbone) bằng một router biên
Các Router chạy giao thức OSPF giữ liên lạc với nhau bằng cách gửi các gói Hello cho nhau Nếu Router vẫn còn nhận được các gói Hello từ một router kết nối trực tiếp qua một đường kết nối thì nó biêt được rằng đường kết nối và router đầu xa vẫn hoạt động tốt Nếu như Router không nhận được gói hello trong một khoảng thời gian nhất định, được gọi là dead interval, thì Router biết rằng Router đầu xa đã bị down và khi đó Router sẽ chạy thuật toán SPF để tính route mới
Mỗi router sử dụng giao thức OSPF có một số ID để nhận dạng Router sẽ sử dụng địa chỉ IP của interface loopback cao nhất (nếu có nhiều loopback) làm ID Nếu không có loopback nào được cấu hình hình thì Router
sẽ sử dụng IP cao nhất của các interface vật lý
OSPF có ưu điểm là: thời gian hội tụ nhanh, được hổ trợ bởi nhiều nhà sản xuất, hổ trở VLSM, có thể sử dụng trên một mạng lớn, có tính ổn định cao
1.2.11 Remote Monitoring (RMON)
RMON là giao thức giám sát mạng và chuẩn phân tích IETF tương tự như SMNP (Simple Network Managegement Protocol - Giao thức quản lí mạng giản đơn) được thiết kế để bù đắp các giới hạn của SNMP Để hiểu rõ giao thức này, giả
Trang 30
sử bạn là người qui hoạch thành phố và muốn giám sát giao thông tại nhiều giao lộ trong thành phố Phương án thực hiện có thể bạn sẽ bố trí các trạm (agent) đứng tại các giao lộ quan trọng để thu thập thông tin giao thông Các trạm nầy sẽ báo cáo lại văn phòng trung tâm bằng điện thoại di động Mặt khác, những người thư ký tại văn phòng trung tâm có nhiệm vụ thu thập thông tin nầy Thông tin này được cập nhật liên tục để đưa vào máy tính để phân tích
Vấn đề duy nhất của phương pháp này là chi phí của các cuộc gọi Một phương pháp hiệu quả hơn là giao cho mỗi trạm một máy tính riêng và bảo họ đưa vào các thông tin giao thông, sau đó truyền dữ liệu nầy tới văn phòng trung tâm theo định kì hoặc theo yêu cầu của người quản lí
Tất nhiên, mô hình kém hiệu được mô tả ở trên tương tự như việc thu thập dữ liệu của SMNP, nhưng phương pháp hiệu quả hơn là RMON Cả SMNP và RMON đều
có các trạm, RMON thường gọi là máy dò (probes), là tiến trình phần mềm chạy trên các thiết bị mạng thu thập thông tin về lưu thông mạng và lưu trữ chúng trên MIB cục bộ (management information base - cơ sở thông tin quản trị) Với SMNP, một máy tính trung tâm quản trị mạng phải lần lượt hỏi (hoặc xoay vòng) các máy trạm của SMNP để thu thông tin MIB Thu thập thông tin như vậy để giám sát những xu hướng trong quá khứ Thu thập thông tin không những làm tăng các tắc nghẽn trên mạng mà còn tạo gánh nặng cho máy tính trung tâm vào việc thu thập thông tin
1.2.12 Simple Network Mannagement protocol (SNMP)
SNMP là giao thức quản lý phổ biến được những người dùng Internet với giao thức TCP/IP định nghĩa SNMP là một giao thức truyền thông để thu thập thông tin từ những thiết bị trên mạng Mỗi thiết bị chạy một chương trình con thu thập thông tin và cung cấp thông tin đó cho bộ phận quản lý Các đối tượng được quản lý sẽ định nghiã từng phần thông tin về một thiết bị như số gói tin mà thiết bị nầy nhận được MIB (cơ sỡ quản lý thông tin) là một tập hợp những đối tượng được quản lý SNMP và các MIB của SNMPá định nghĩa ngữ pháp và từ vựng để quản lý mạng Tùy thuộc vào nhà cung cấp mà họ sẽ sản xuất ra những sản phẩm
kế thừa những tiêu chuẩn SNMP và cho phép thiết bị trao đổi những thông tin quản
Trang 311.2.13 Virtual Private Network (VPN)
VPN là mạng riêng rẽ sử dụng mạng dùng chung (Internet) để kết nối các site riêng lẽ hoặc các người dùng từ xa VPN cho phép thành lập các kết nối riêng với những người dùng ở xa, các văn phòng chi nhánh của các công ty và đối tác của công ty đang sử dụng chung một mạng công cộng
Hình 1-12: Mô hình VPN
Những lợi ích của VPN đem lại:
VPN mang lại lợi ích thực sự và tức thời cho công ty Có thể dùng VPN để đơn giản hóa việc truy cập đối VPN với các nhân viên lam fviệc và người dùng lưu động, mở rộng Intranet đến từng văn phòng chi nhánh, thậm chí triển khai Extranet đến tận khách hàng và các đối tác chủ chốt và điều quan trọng là những công việc trên đều có chi phí thấp hơn nhiều so với việc mua thiết bị và đường dây cho mạng WAN riêng
Giảm chi phí thường xuyên : VPN cho phép tiết kiệm 60% chi phí so với
thuê đường truyền và giảm đáng kể tiền cước gọi đến của các nhân viên làm việc ở xa Giảm được cước phí đường dài khi truy cập VPN cho các nhân viên di động và các nhân viên làm việc ở xa nhờ vào việc họ truy cập vào mạng thông qua các điểm kết nối POP (Point of Presence) ở địa phương, hạn chế gọi đường dài đến các modem tập trung
Trang 32
Giảm chi phí đầu tư : Sẽ không tốn chi phí đầu tư cho máy chủ, bộ định
tuyến cho mạng đường trục và các bộ chuyển mạch phục vụ cho việc truy cập bởi vì các thiết bị này do các nhà cung cấp dịch vụ quản lý và làm chủ Công ty cũng không phải mua, thiết lập cấu hình hoặc quản lý các nhóm modem phức tạp Ngoài ra họ cũng có
Truy cập mọi lúc, mọi nơi : Các Client của VPN cũng có thể truy cập tất
cả các dịch vụ như www, e-mail, FTP … cũng như các ứng dụng thiết yếu khác mà không cần quan tâm đến những phần phức tạp bên dưới
Khả năng mở rộng : Do VPN sử dụng môi trường và các công nghệ
tương tự Internet cho nên với một Internet VPN, các văn phòng, nhóm và các đối tượng di động có thể trở nên một phần của mạng VPN ở bất kỳ nơi nào mà ISP cung cấp một điểm kết nối cục bộ POP
1.2.14 Mega WAN
Dịch vụ MegaWAN là giải pháp kết nối mạng diện rộng (WAN) sử dụng công nghệ chuyển mạch gói mạng riêng ảo MPLS/VPN qua đường truy nhập là cáp đồng công nghệ xDSL (ADSL hoặc HSDSL), được TCty Bưu chính Viễn thông (VNPT) khai trương từ ngày 19-11-2005
Theo VNPT, hiện dịch vụ này đã được cung cấp tại 18 tỉnh, thành phố lớn trên cả nước và sắp tới sẽ được mở rộng cung cấp trên tất cả 64/64 tỉnh, thành Nguyên nhân chính là sự phù hợp khi dùng WAN để điều hành sản xuất, kinh doanh, trao đổi dữ liệu, thông tin điện tử, thương mại giao dịch điện tử, thiết lập mạng điện thoại dùng riêng sử dụng VOIP
Hiện có 3 giải pháp chính kết nối WAN: dùng kênh thuê riêng (leased line), frame relay và kết nối bằng mạng riêng ảo MPLS-VPN
Giải pháp kết nối bằng đường kênh thuê riêng có ưu điểm là đường leased line được thuê dành riêng cho kết nối của mạng WAN nên chất lượng mạng tốt, độ bảo mật cao Tuy nhiên giải pháp này hiện đã lỗi thời, ít được sử dụng trong những thiết kế mới vì có một số hạn chế nhất định
Nếu như dùng Frame Relay (FR) – công nghệ chuyển mạch gói đã lỗi thời -
để kết nối mạng WAN, người sử dụng sẽ gặp phải những khó khăn chủ yếu sau: các thiết bị đấu nối FR đắt, khả năng hỗ trợ của nhà sản xuất hạn chế, khả năng
Trang 33
nâng cấp về tốc độ và dịch vụ kém, việc vận hành, khai thác mạng phức tạp, chi phí thuê đường truyền không rẻ hơn sử dụng kênh thuê riêng
1.3 Các công nghệ kết nối dùng cho Wan
Hiện nay trên thế giới có nhiều dịch vụ dành cho việc chuyển thông tin từ khu vực này sang khu vực khác nhằm liên kết các mạng LAN của các khu vực khác nhau lại Để có được những liên kết như vậy người ta thường sử dụng các dịch vụ của các mạng diện rộng Hiện nay trong khi giao thức truyền thông cơ bản của LAN là Ethernet, Token Ring thì giao thức dùng để tương nối các LAN thông thường dựa trên chuẩn TCP/IP Ngày nay khi các dạng kết nối có xu hướng ngày càng đa dạng và phân tán cho nên các mạng WAN đang thiên về truyền theo đơn
vị tập tin thay vì truyền một lần xử lý
Có nhiều cách phân loại mạng diện rộng, ở đây nếu phân loại theo phương pháp truyền thông tin thì có thể chia thành 3 loại mạng như sau:
1 Mạng chuyển mạch (Circuit Swiching Network)
2 Mạng thuê bao (Leased lines Network)
3 Mạng chuyển gói tin (Packet Switching Network)
1.3.1 Mạng chuyển mạch (Circuit Swiching Network)
Để thực hiện được việc liên kết giữa hai điểm nút, một đường nối giữa điểm nút này và điêm nút kia được thiết lập trong mạng thể hiện dưới dạng cuộc
Trang 34Với mô hình này mọi đường đều có thể một đường bất kỳ khác, thông qua những đường nối và các thiết bị chuyên dùng người ta có thể liên kết một đường tạm thời từ nơi gửi tới nơi nhận một đường nối vật lý, đường nối trên duy trì trong suốt phiên làm việc và chỉ giải phóng sau khi phiên làm việc kết thúc Để thực hiện một phiên làm việc cần có các thủ tục đầy đủ cho việc thiết lập liên kết trong đó có việc thông báo cho mạng biết địa chỉ của nút nhận
Hiện nay có 2 loại mạng chuyển mạch là chuyển mạch tương tự (analog) và chuyển mạch số (digital)
Trang 35
Chuyển mạch tương tự (Analog): Việc chuyển dữ liệu qua mạng chuyển
mạch tương tự được thực hiện qua mạng điện thoại Các trạm sử dụng một thiết bị
có tên là modem, thiết bị này sẽ chuyền các tín hiệu số từ máy tính sao tín hiệu tuần tự có trể truyền đi trên mạng điện thoại và ngược lại
Hình 1-14: Mô hình chuyển mạch tương tự
Chuyển mạch số (Digital): Đường truyền chuyển mạch số lần đầu tiên
được AT&T thiệu vào cuối 1980 khi AT&T giới thiệu mạng chuyển mạch số Acnet với đường truyền 56 kbs Việc sử dụng đường chuyển mạch số cũng đòi hỏi
sử dụng thiết bị phục vụ truyền dữ liệu số (Data Service Unit - DSU) vào vị trí modem trong chuyển mạch tương tự Thiết bị phục vụ truyền dữ liệu số có nhiệm
vụ chuyển các tín hiệu số đơn chiều (unipolar) từ máy tính ra thành tín hiệu số hai chiều (bipolar) để truyền trên đường truyền
Hình 1-15: Mô hình chuyển mạch số
Mạng chuyển mạch số cho phép người sử dụng nâng cao tốc độ truyền (ở đây do khác biệt giữa kỹ thuật truyền số và kỹ thuật truyền tương tự nên hiệu năng của truyền mạch số cao hơn nhiều so với truyền tương tự cho dù cùng tốc độ), độ
an toàn
Vào năm 1991 AT&T giới thiệu mạng chuyển mạch số có tốc độ 384 Kbps Người ta có thể dùng mạng chuyển mạch số để tạo các liên kết giữa các mạng LAN và làm các đường truyền dự phòng
Trang 36
1.3.2 Mạng thuê bao (Leased line Network)
Với kỹ thuật chuyển mạch giữa các nút của mạng (tương tự hoặc số) có một
số lượng lớn đường dây truyền dữ liệu, với mỗi đường dây trong một thời điểm chỉ
có nhiều nhất một phiên giao dịch, khi số lượng các trạm sử dụng tăng cao người ta nhận thấy việc sử dụng mạng chuyển mạch trở nên không kinh tế Để giảm bớt số lượng các đường dây kết nối giữa các nút mạng người ta đưa ra một kỹ thuật gọi là ghép kênh
Hình 1-16: Mô hình ghép kênh
Mô hình đó được mô tả như sau: tại một nút người ta tập hợp các tín hiệu trên của nhiều người sử dụng ghép lại để truyền trên một kênh nối duy nhất đến các nút khác, tại nút cuối người ta phân kênh ghép ra thành các kênh riêng biệt và truyền tới các người nhận
Có hai phương thức ghép kênh chính là ghép kênh theo tần số và ghép kênh theo thời gian, hai phương thức này tương ứng với mạng thuê bao tuần tự và mạng thuê bao kỹ thuật số trong thời gian hiện nay mạng thuê bao kỹ thuật số sử dụng kỹ thuật ghép kênh theo thời gian với đường truyền T đang được sử dụng ngày một rộng rãi và dần dần thay thế mạng thuê bao tuần tự
Trang 37
1.3.2.1 Phương thức ghép kênh theo tần số
Để sử dụng phương thức ghép kênh theo tần số giữa các nút của mạng được liên kết bởi đường truyền băng tần rộng Băng tần này được chia thành nhiều kênh con được phân biệt bởi tần số khác nhau Khi truyền dử liệu, mỗi kênh truyền từ người sử dụng đến nút sẽ được chuyển thành một kênh con với tần số xác định và được truyền thông qua bộ ghép kênh đến nút cuối và tại đây nó được tách ra thành kênh riêng biệt để truyền tới người nhận Theo các chuẩn của CCITT có các phương thức ghép kênh cho phép ghép 12, 60, 300 kênh đơn
Người ta có thể dùng đường thuê bao tuần tự (Analog) nối giữa máy của người sử dụng tới nút mạng thuê bao gần nhất Khi máy của người sử dụng gửi dữ liệu thì kênh dữ liệu được ghép với các kênh khác và truyền trên đưòng truyền tới nút đích và được phân ra thành kênh riêng biệt trước khi gửi tới máy của người sử dụng Đường nối giữa máy trạm của người sử dụng tới nút mạng thuê bao cũng giống như mạng chuyển mạch tuần tự sử dụng đường dây điện thoại với các kỹ thuật chuyển đổi tín hiệu như V22, V22 bis, V32, V32 bis, các kỹ thuật nén V42
bis, MNP class 5
1.3.2.2.Phương thức ghép kênh theo thời gian:
Khác với phương thức ghép kênh theo tần số, phương thức ghép kênh theo thời gian chia một chu kỳ thời gian hoạt động của đường truyền trục thành nhiều khoảng nhỏ và mỗi kênh tuyền dữ liệu được một khoảng Sau khi ghép kênh lại thành một kênh chung dữ liệu được truyền đi tương tự như phương thức ghép kênh theo tần số Người ta dùng đường thuê bao là đường truyền kỹ thuật số nối giữa máy của người sử dụng tới nút mạng thuê bao gần nhất
Hiện nay người ta có các đường truyền thuê bao như sau :
Đường T1 với tốc độ 1.544 Mbps nó bao gồm 24 kênh vớp tốc độ 64 kbps và 8000 bits điều khiển trong 1 giây
Trang 38
1.3.3 Mạng chuyển gói tin (Packet Switching NetWork)
Mạng chuyển mạch gói hoạt động theo nguyên tắc sau : Khi một trạm trên mạng cần gửi dữ liệu nó cần phải đóng dữ liệu thành từng gói tin, các gói tin đó được đi trên mạng từ nút này tới nút khác tới khi đến được đích Do việc sử dụng kỹ thuật trên nên khi một trạm không gửi tin thì mọi tài nguyên của mạng sẽ dành cho các trạm khác, do vậy mạng tiết kiệm được các tài nguyên và có thể sử dụng chúng một cách tốt nhất
Người ta chia các phương thức chuyển mạch gói ra làm 2 phương thức:
· Phương thức chuyển mạch gói theo sơ đồ rời rạc
· Phương thức chuyển mạch gói theo đường đi xác định
Với phương thức chuyển mạch gói theo sơ đồ rời rạc các gói tin được chuyển đi trên mạng một cách độc lập, mỗi gói tin đều có mang địa chỉ nơi gửi và nơi nhận Mổi nút trong mạng khi tiếp nhận gói tin sẽ quyết định xenm đường đi của gói tin phụ thuộc vào thuật toán tìm đường tại nút và những thông tin về mạng
mà nút đó có Việc truyền theo phương thức này cho ta sự mềm dẻo nhất định do đường đi với mỗi gói tin trở nên mềm dẻo tuy nhiên điều này yêu cầu một số lượng tính toán rất lớn tại mỗi nút nên hiện nay phần lớn các mạng chuyển sang dùng phương chuyển mạch gói theo đường đi xác định
Hình 1-17: Ví dụ phương thức sơ đồ rời rạc
Trang 39
Trước khi truyền dữ liệu một đưòng đi (hay còn gọi là đường đi ảo) được thiết lập giữa trạm gửi và trạm nhận thông qua các nút của mạng Đường đi trên mang số hiệu phân biệt với các đường đi khác, sau đó các gói tin được gửi đi theo đường đã thiết lập để tới đích, các gói tin mang số hiệu củ đường ảo để có thể được nhận biết khi qua các nút Điều này khiến cho việc tính toán đường đi cho phiên liên lạc chỉ cần thực hiện một lần
Hình 1-18: Ví dụ phương thức đường đi xác định
Trang 40
Chương 2
KỸ THUẬT MEGA WAN
Ngày nay, công nghệ thông tin và viễn thông đang hội tụ sâu sắc và cùng đóng góp rất tích cực trong sự phát triển kinh tế, xã hội toàn cầu Không một doanh nghiệp, tổ chức thành đạt nào lại phủ nhận sự gắn bó giữa hệ thống thông tin và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như lộ trình phát triển của họ Mỗi ngày, họ đầu tư nhiều hơn cho cả giá trị nội dung thông tin và hạ tầng mạng lưới thiết bị, dịch vụ Hàng loạt các giải pháp mới ra đời mang lại những biến đổi lớn trong cấu trúc hạ tầng mạng riêng của các người dùng doanh nghiệp, tổ chức Cấu trúc phổ biến hiện nay không còn xuất hiện ở dạng nội bộ LAN mà đã chuyển sang
mô hình diện rộng WAN (Wide Area Network).Với WAN, các doanh nghiệp, tổ chức dần mở cánh cửa văn phòng mình vươn rộng khắp cả nước và ra ngoài biên giới, và kết nối thường trực với tất cả chi nhánh, khách hàng, nhà cung cấp, nhà phân phối đại lý
2.1 Khái niệm về dịch vụ Mega WAN
2.1.1 Mega WAN là gì
Dịch vụ MegaWAN là giải pháp kết nối mạng diện rộng (WAN) sử dụng công nghệ chuyển mạch gói mạng riêng ảo MPLS/VPN qua đường truy nhập là cáp đồng công nghệ xDSL (ADSL hoặc HSDSL), được TCty Bưu chính Viễn thông (VNPT) khai trương từ ngày 19-11-2005
Cho phép kết nối các mạng máy tính của doanh nghiệp (như các văn phòng, chi nhánh, cộng tác viên từ xa, v.v ) thuộc các vị trí địa lý khác nhau tạo thành một mạng duy nhất và tin cậy thông qua việc sử dụng các liên kết băng rộng xDSL MegaWAN sử dụng phương thức chuyển mạch nhãn đa giao thức (Multil Protocol Label Switching), giao thức của mạng thế hệ tiếp theo
Là dịch vụ cung cấp kết nối mạng riêng cho khách hàng trên nền mạng IP/MPLS Dịch vụ VPN/MPLS cho phép triển khai các kết nối nhanh chóng, đơn giản, thuận tiện với chi phí thấp Cho phép vừa truy nhập mạng riêng ảo vừa truy cập Internet (nếu khách hàng có nhu cầu)