1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h

90 509 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đồ án: “Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV

Trang 1

Lời nói đầu.

Những năm đầu thập niên 90, nghề câu cá ngừ đại dương đã xuất hiện ở một

số tỉnh ven biển miền Trung nước ta Từ đó đến nay nghề này đã phát triển mạnh ởnhiều địa phương, thể hiện qua số lượng tàu khai thác cá ngừ đại dương tăng nhanh,sản lượng khai thác tăng qua các năm, đóng góp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩucủa ngành thuỷ sản, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội ở nhiều địa phương vàbảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia ở vùng biển xa bờ Khánh Hoà là một trong sốcác tỉnh của miền Trung có nghề câu cá ngừ phát triển với số lượng tàu khai tháclớn nhất trong khu vực, đặc biệt vài năm trở lại đây số lượng tàu câu cá ngừ đạidương của Khánh hoà được tăng lên rất nhanh chóng, tuy nhiên về công nghệ khaithác thì vẫn theo kinh nghiệm nghề cá nhân dân, sử dụng sức người là chính Trongquá trình khai thác nó luôn luôn tiềm ẩn những nguy cơ tai nạn có thể gây ra cho tàuthuyền, người lao động bất cứ lúc nào làm ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất của tàuthuyền Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đồ án:

“Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường Xương Huân Tp Nha Trang tỉnh Khánh Hoà”.

Nội dung của đồ án bao gồm:

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Đồ án với mục đích tìm hiểu rõ thực trạng về thiết bị khai thác, trang bị bảo

hộ lao động cũng như các khâu, nguy cơ tiềm ẩn tai nạn cho tàu thuyền nhóm côngsuất 45 ÷ 90CV của phường Xương Huân Để từ đó xây dựng lên mô hình về thiết

bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động phù hợp với nhóm tàu trên nhằm khắc phụcnhững nguy cơ tiềm ẩn tai nạn gây ra cho tàu thuyền và người lao động trong quátrình khai thác

Đồ án có ý nghĩa hết sức to lớn, trước hết về mặt thực tiễn nó sẽ giải quyếtkhắc phục, hạn chế được các khâu, nguy cơ tiềm ẩn tai nạn về thiết bị khai thác,

Trang 2

trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền và người lao động Bên cạnh đó về mặtkhoa học đây là cơ sở tin cậy để các cơ quan chức năng xây dựng thành các tiêuchuẩn ngành về thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu

cá ngừ có nhóm công suất 45 ÷ 90CV nói riêng và tàu thuyền nghề câu cá ngừ nóichung, để đảm bảo an toàn cho người lao động và phương tiện hoạt động trên biển

Nha trang, tháng 10 năm 2007

Người thực hiện Phạm Văn Đang

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

Tỉnh Khánh Hòa gồm có: 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện cụ thể như sau:

- Huyện đảo Trường Sa

Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa (Nguồn Websitehttp://baokhanhhoa.com.vn)

1.1.1.2.Các cụm dân cư nghề cá.

Tỉnh Khánh Hoà có các cụm dân cư nghề cá chủ yếu tập trung ở các nơi tiếpgiáp với biển, trong tổng thể 8 khu vực hành chính của tỉnh thì Khánh Hoà có tới 4khu vực là cụm dân cư nghề cá, chiếm 50 % trong tổng số khu vực hành chính củatỉnh Và chúng được phân bố cụ thể như sau:

Trang 4

Phường Cam Linh

Phường Cam Lợi

1.1.2 Năng lực tàu thuyền nghề cá.

1.1.2.1 Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản giai đoạn 2002 ÷ 2006.

Bảng 1.1: Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản giai đoạn 2002 ÷ 2006.

Trang 5

4 90 ÷ 150CV 131 158 217 312 326

(Nguồn: Phòng Kỹ thuật - Sở Thủy sản Khánh Hòa)

Cơ cấu tầu thuyền của tỉnh giai đoạn 2002 ÷ 2006.

5562 5402

5361

4944 4901

Chiếc

Năm Hình 1.2: Biểu đồ cơ cấu tàu thuyền nhóm công suất 50 ÷ 90CV qua các năm.

Chiếc

Năm Hình 1.1: Biểu đồ cơ cấu tàu thuyền của tỉnh giai đoạn 2002 ÷ 2006.

Trang 6

Nhận xét:

Qua hình 1.1 ta thấy rằng số lượng tàu thuyền của tỉnh Khánh Hoà qua cácnăm đều tăng, nếu như số lượng tàu năm 2003 tăng nhẹ 0,88 % so với năm 2002 thìnăm 2004 số lượng tàu tăng lên rất nhanh với 8,43 % so với năm 2003 (9,39 % sovới 2002) Qua năm 2005 số lượng tàu tiếp tục tăng nhẹ với 0,76 % so với năm

2004 (tương ứng với 13,49 % so với năm 2002) Số lượng tàu thuyền năm 2006tăng 2,96 % so với năm 2005 (tương ứng 13,49 % so với năm 2002)

Như vậy ta thấy số lượng tàu thuyền tăng mạnh nhất là vào năm 2004, nguyênnhân là do trong năm 2003 và năm 2004 đi ều kiện thời tiết thuận lợi, ít bão táp, nênnhiều hộ ngư dân đánh bắt thắng lớn nên có xu hướng đóng thêm tàu mới và muathêm tàu cũ từ các địa phương khác, và có xu hướng cải hoán các tàu công suất nhỏthành các tàu đủ khả năng đánh bắt vùng khơi, đây cũng là nguyên nhân mà dẫn tới

số tàu có công suất 50 ÷ 90CV qua năm 2004 lại giảm mạnh (theo hình 1.2) Bêncạnh đó do nghề nuôi trồng thuỷ sản ven bờ phát triển n ên số lượng tàu, ghe côngsuất nhỏ dưới 20CV tăng lên rõ rệt

1.1.2.2 Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản.

Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản của tỉnh được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.2: Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản.

ĐVT: Chiếc

TT

Nghề Nhóm công suất

Trang 7

Kéo 13%

Vây 25%

Rê 12%

Câu 8%

Nghề khác 42%

Qua hình 1.3 ta thấy số lượng tàu thuyền khai thác theo nghề năm 2006 củatoàn tỉnh phân bố không đồng đều

- Nghề lưới Kéo, Rê, Câu, Vây chiếm tỷ lệ tương ứng là: 13% ; 12% ; 8% ; 25%trong tổng số lượng tàu thuyền toàn tỉnh

- Nhóm tàu thuyền nghề khác chiếm tỷ lệ khá lớn với 42% so với tổng số tàuthuyền của toàn tỉnh

Số lượng tàu câu qua các nhóm công suất.

2 9

60 82

85 187

0 50 100

Chiếc

Hình 1.4: Biểu đồ số lượng tàu câu qua các nhóm công suất.

Công suất Hình 1.3: Biểu đồ cơ cấu tàu thuyền theo các nghề.

Cơ cấu tàu thuyền theo các nghề.

Trang 8

Nhóm tàu đánh bắt vùng khơi chiếm tỷ lệ khá nhỏ Điều này cho thấy nghề câu

là nghề khá nguy hiểm, do vậy các tàu phải được trang bị đầy đủ các trang bị máymóc và trang bị an toàn mới giám khai thác ở ngư trường vùng khơi, chính vì vậycác tàu câu khai thác ở vùng lộng chiếm đa số

Bên cạnh đó nhóm tàu có công suất từ 50 ÷ 90CV và trên 90CV có xu hướngngày càng phát triển Đặc biệt trong những năm gần đây nghề câu cá ngừ đại dươngphát triển, cho hiệu quả sản xuất rất cao, do đó một số nghề khai thác tuyến lộngcũng chuyển sang nghề câu cá ngừ đại d ương

1.1.2.3 Thống kê lượng tàu thuyền địa phương theo công suất.

Bảng 1.3: Thống kê lượng tàu thuyền địa phương theo công suất.

Phân chia công suất Địa phương

Tổng tàu thuyền (chiếc)

Tổng công suất (cv)

(Nguồn: Chi cục BVNLTS – Sở Thủy sản Khánh Hòa)

Sự phân bố tàu thuyền giữa các địa phương.

1406

3183

0 500 1000

Trang 9

Nhận xét:

Qua hình 1.5: Biểu đồ sự phân bố tàu thuyền giữa các địa phương, ta thấy NhaTrang có số lượng tàu thuyền đông đảo nhất với 3183 chiếc (chiếm 50,76% tổng sốtàu trong toàn tỉnh), với tổng công suất 145166CV, chiếm 67,88% tổng số công suấttrong toàn tỉnh Nguyên nhân chính là do Nha Trang là địa phương có nghề cá pháttriển, xuất hiện sớm nhất trong tỉnh, b ên cạnh đó đây là còn nơi có hệ thống bến cá,cảng cá khá hoàn thiện, với hệ thống neo đậu, khu tránh bão, hệ thống luồng lạchđược xây dựng và đầu tư khá quy mô, đặc biệt có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước

1.1.2.4. Thống kê số lượng tàu theo địa phương, nghề khai thác.

Bảng 1.4: Thống kê số lượng tàu theo địa phương, nghề khai thác.

Nghề khai thác Địa phương Tổng

t.thuyền (chiếc)

(Nguồn: Chi cục BVNLTS – Sở Thủy sản Khánh Hòa)

Sự phân bố tàu câu qua các địa phương.

65

396

0 100 200 300 400 500

Ninh Hoà Vạn Ninh Cam Ranh Nha Trang

Chiếc

Địa phương Hình 1.6: Biểu đồ sự phân bố tàu câu qua các địa phương.

Trang 10

Nhận xét:

Qua hình 1.6 ta thấy số lượng tàu nghề Câu trên địa bàn Tp.Nha Trang chiếm

tỷ lệ lớn nhất với 396 chiếc (tương ứng 81% tổng số tàu câu của toàn tỉnh) Điềunày cũng dễ hiểu bởi nghề câu được xâm nhập và phát triển ở Nha Trang sớm nhất

so với các địa phương khác của tỉnh Trong những năm gần đây sự quan tâm thíchđáng của chính quyền địa phương, Sở Thủy sản Khánh Hòa, Chi cục BVNLTS,Trung tâm Khuyến Ngư KH… nên việc phát triển nghề Câu cá Ngừ Đại d ương pháttriển khá mạnh đặc biệt trên địa bàn Tp Nha Trang

1.1.3 Ngư trường hoạt động.

Ngư trường hoạt động của tàu cá tương đối rộng từ Khánh Hòa đến KiênGiang, trong đó nhiều thuyền nghề hoạt động xa bờ nh ư nghề lưới kéo (ngư trườngchính từ Ninh Thuận đến Bà Rịa – Vũng Tàu), nghề lưới cản (ngư trường chính ở

Bà Rịa – Vũng tàu, Kiên Giang, Cà Mau), nghề vây (ngư trường chính ở KhánhHòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), và nghề câu cá ngừ đại dương (kéo dài từ quần đảoHoàng Sa đến quần đảo Trường Sa)

 Ở vùng biển Khánh Hòa có 3 ngư trường truyền thống gồm:

+ Ngư trường Bắc Khánh Hòa từ vĩ tuyến 12030’N trở lên

Nghề truyền thống: giã đơn, vây rút chì, rê lộng, đăng, trũ bao ánh sáng, giãđôi, pha xúc, vó mành, lưới cước…

+ Ngư trường Nha Trang nằm trong phạm vi từ vĩ tuyến 12000’N đến 12030’ N.Nghề truyền thống: giã đơn, trũ rút ánh sáng, đăng, vó mành ánh sáng, phaxúc, vây rút chì, câu, lưới cản, lưới chồng, lưới hai, giả đôi…

+ Ngư trường Nam Khánh Hòa từ vĩ tuyến 12000’N trở xuống phía Nam

Ở đây ngư dân có nghề truyền thống: giã đơn, trũ rút, pha xúc, vây rút chì, giảđôi…

1.1.4 Sản lượng khai thác.

1.1.4.1 Sản lượng khai thác cá ngừ của toàn quốc.

Sản lượng khai thác cá ngừ toàn quốc từ năm 2001 đến năm 2004 được thểhiện thông qua bảng tổng hợp sau:

Trang 11

Bảng 1.5: Sản lượng khai thác cá ngừ của toàn quốc qua các năm.

cá kiếm, cá mập và một số loài cá nổi đại dương khác Kết quả nghiên cứu cho thấytrữ lượng cá ngừ đại dương ở vùng biển nước ta khoảng 44.853 tấn, khả năng khaithác khoảng 17.000 tấn

1.1.4.2 Sản lượng khai thác của tỉnh qua các năm.

Sản lượng và năng xuất đánh bắt hải sản từ năm 2000 đến 2005 được thống kêqua bảng sau:

Bảng 1.6: Sản lượng khai thác của tỉnh qua các năm.

Năm

Số lượng thuyền máy

(chiếc)

Tổng công suất (cv)

Tổng sản lượng (Tấn)

Năng suất trung bình (Tấn/cv/năm)

Trang 12

Qua bảng 1.6 ta vẽ được biểu đồ thể hiện tổng sản lượng khai thác của tỉnh quacác năm.

88.74 59.7

66.095 67.6

67.6 65

0 20 40 60 80 100

1.1.5 Lao động nghề khai thác hải sản theo nghề, tuổi, học vấn

Toàn Tỉnh hiện nay có khoảng 20.500 lao động l àm nghề khai thác thủy sảntrong tổng số gần 80.000 lao động nghề cá, chiếm khoảng 25,6% tổng số lao độnglàm việc ở các lĩnh vực khác trong ngành Thủy sản Năng lực khai thác thủy sảnchiếm tỷ trọng đáng kể về số lượng nhưng trình độ thì hạn chế và mặt bằng nhậnthức thấp hơn so với các lĩnh vực khác Đại đa số ng ư dân chỉ biết đọc, biết viết vàchưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở

Lực lượng lao động trên tàu có trình độ nghề nghiệp phần lớn theo ph ươngthức cha truyền con nối Trình độ của đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng tuy có cao

Tấn

Năm Hình 1.7: Biểu đồ sản lượng khai thác của tỉnh qua các năm.

Trang 13

hơn song kiến thức cơ bản để sử dụng hiệu quả lợi ích của máy móc đem lại c ònhạn chế Thiếu kiến thức về pháp luật để có thể hoạt động ở những v ùng biển xa bờ.Qua tìm hiểu ở Sở Thủy sản, các số liệu báo cáo năm trước cho thấy số laođộng nghề cá có trình độ học vấn không cao.

Bảng 1.7: Trình độ học vấn của lao động nghề cá.

Số lao động là cấp I Số lao động là cấp II Số lao động là cấp III

(Nguồn: Sở thuỷ sản tỉnh Khánh Hoà)

Do lao động nghề cá là loại lao động đặc thù đòi hỏi có sức khoẻ tốt và khảnăng đi biển được Và thậm chí một số lượng lao động chưa một lần đến trường, vìrằng từ nhỏ họ đã theo gia đình đánh bắt thuỷ sản ngoài biển, theo thời gian họ tíchluỹ được nhiều kinh nghiệm đi biển nên dần dần họ trở thành thuyền trưởng mặc dùthất học Đó là vấn đề thực trạng còn hạn chế hiện nay của nghề cá tại tỉnh nh à.Với thực trạng như thế số lao động nghề cá có trình độ học vấn không cao, khảnăng sử dụng máy móc trang thiết bị tr ên tàu chưa đạt hiệu quả, chưa khai thácđược hết những tiện tích của máy móc, đa số chỉ l à những thao tác cơ bản, chỉ cómột số ít là sử dụng thành thạo mà số người này thường là chủ tàu, thuyền trưởnghoặc máy trưởng vì do lực lượng này tiếp xúc với trang thiết bị thường xuyên hơntrong thực tế sản xuất

1.1.6 Những chủ trương, chính sách, định hướng phát triển nghề cá của địa phương.

1.1.6.1 Chủ trương chính sách, định hướng phát triển nghề cá của Tỉnh.

a Mục tiêu của chiến lược khai thác hải sản đến 2010.

Trang 14

- Nâng cao mức sống của cộng đồng ngư dân nghề khai thác cá biển tỉnh KhánhHoà.

Mục tiêu cụ thể.

Khai thác hải sản Khánh Hoà đến năm 2010 phấn đấu đạt các chỉ ti êu sau:

• Tổng sản lượng thủy hải sản: 103.409 tấn, trong đó:

- Sản lượng khai thác hải sản: 72.330 tấn

- Khai thác & Nuôi trồng nội địa: 31.079 tấn

•Giá trị kim ngạch xuất khẩu: 297,438 triệu USD

Sắp xếp và cơ cấu lại tàu thuyền, cơ cấu nghề khai thác một cách hợp lý, phùhợp với khả năng nguồn lợi, trên cơ sở ưu tiên phát triển tàu có công suất lớn khaithác xa bờ; có kế hoạch giảm dần số l ượng tàu nhỏ khai thác ven bờ đảm bảo hàihoà giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, chuyển đổi nghề nghiệp đối vớingư dân ven bờ bị dư thừa

Bảo vệ và duy trì tốt nguồn lợi, tăng hiệu quả khai thác đảm bảo nâng cao mứcsống cho ngư dân Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn lợi thuỷ sản, trên cơ sở

đó xây dựng kế hoạch phát triển ngành thuỷ sản hàng năm; 5 năm; 10 năm

Xây dựng hệ thống hậu cần dịch vụ nghề cá ph ù hợp với yêu cầu phát triển tàuthuyền khai thác hải sản trong tỉnh Tạo sự liên kết giữa khai thác với các cơ sở chếbiến, tiêu thụ sản phẩm

Đào tạo tốt nguồn nhân lực cho nghề khai thác thuỷ sản bao gồ m cán bộ quản

lý, kỹ thuật và đội ngũ công nhân có tay nghề giỏi, trong đó chú trọng việc đ ào tạo –nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho ngư dân trực tiếp lao động trên biển

Ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ ti ên tiếnphù hợp với điều kiện thực tế của ngư dân trong tỉnh

b Định hướng phát triển khai thác thủy sản đến 2020

- Chấm dứt tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các nghề cấm mang tính huỷ diệtnguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản trên vùng biển Khánh Hoà.Hình thành và quản lý có hiệu quả hệ thống các khu vực: cấm khai thác, hạn chế

Trang 15

khai thác, khu bảo tồn biển nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên vùngbiển Khánh Hòa.

- Xây dựng quy hoạch, chương trình khai thác hải sản phù hợp với quy hoạchphát triển ngành theo hướng cơ khí hoá hiện đại hoá Hợp tác, du nhập các côngnghệ và trang bị kỹ thuật của các nước tiên tiến trên thế giới tiến tới tổ chức đượccác đội tàu đủ mạnh có thể tiến hành hợp tác đánh cá viễn dương

- Có giải pháp hạn chế đóng tàu cá loaị nhỏ, tiến tới cấm đóng mới các loại t àukhai thác thuỷ sản có công suất < 90 CV vào năm 2020, khuyến khích đầu tư đóngmới tàu vỏ thép, vỏ composit, loại tàu có công suất >150 CV cùng với việc đầu tưđồng bộ cho nghề khai thác hải sản xa bờ

- Bảo vệ và mở rộng diện tích các hệ sinh thái quan trọng đối với phát triển thuỷsản; tiến hành phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái; Bổ sung, tái tạo nguồngiống hải sản “nhân tạo” cho vùng biển, kể cả đối với các loài bản địa - đối tượngkhai thác từ bao đời của người dân ven biển

- Giáo dục cộng đồng để mọi người dân khi tham gia hoạt động nghề cá đều có

ý thức chấp hành tốt Luật Thuỷ sản, Luật biển và các công ước quốc tế cũng nhưluật pháp Việt Nam

1.1.6.2 Chủ trương chính sách, định hướng phát triển nghề cá của phường.

Phường Xương Huân là một phường nội thành thuộc khối biển, ½ chu vi củaphường chạy dọc theo dòng Sông Cái ra cửa biển và một phần bờ biển Nha Trang

Có diện tích 0.63 m2, với 2150 hộ và 13.850 nhân khẩu Trên 50% dân số củaphường sống bằng nghề đánh bắt hải sản, với 215 tàu thuyền tập trung tại các khuvực Cồn Tân Lập và đường Cồn Giữa Với điều kiện thuận lợi đó nhân dân trongphường đã tự phát triển nghề truyền thống và đánh bắt thuỷ sản với các ngành nghềchủ yếu như: lưới cản nilon, câu cá ngừ đại dương, câu mực…… góp phần tăng thunhập cho hộ gia đình và ổn định phát triển kinh tế của địa phương

Hướng phát triển của phường trong thời gian tới chính là chú trọng tới hoạtđộng đánh bắt xa bờ Cụ thể tăng công suất tàu thuyền, tăng thêm sản lượng đánhbắt cùng với đó là tập trung phát triển các nghề truyền thống như nghề làm mắm,

Trang 16

nghề chế biến thuỷ sản Bên cạnh đó Xương Huân không có nguồn nước giành chophát triển nuôi trồng thuỷ sản, do đó Phường sẽ tạo điều điều kiện cho các hộ dântrong Phường đi nuôi trồng thuỷ sản ở các nơi khác được thuận lợi.

1.1.7 Lịch sử phát triển nghề câu các ngừ đại dương tỉnh Khánh Hoà.

Khánh Hoà là tỉnh ven biển nằm ở Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 5258

km2, với 400 km đường ven bờ biển trong đó có 135 km đường bờ đảo, hơn 100 đảolớn nhỏ ven bờ, có nhiều cửa sông, đáy biển dốc cách bờ không xa có những đườngđẳng sâu lên tới 100m, nhiều nơi ăn sâu vào đất liền tạo ra những đầm vịnh kín gió

là những vị trí rất thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu và nghề khai thác thuỷ sản.Khánh Hoà lại được quản lý và khai thác quần đảo Trường Sa, đây là điều kiện hếtsức thuận lợi để vươn ra làm chủ biển khơi Ngư dân Khánh Hoà có tinh thần cần cùgắn bó với nghề, chịu khó học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn và ứng dụngkhoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất

Xuất phát từ những thuận lợi cơ bản trên, nghề khai thác thuỷ sản Khánh Hoà

đã có những bước chuyển biến đi lên rõ rệt Đến cuối năm 2005 toàn tỉnh có 5.424tàu thuyền với tổng công suất 216.775 CV, trong đó có 369 tàu trên 90 CV đủ điềukiện tham gia đánh bắt xa bờ Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2005 đạt 88.740 tấngồm khai thác biển 66.190 tấn, khai thác và nuôi trồng nội địa 22.550 tấn Giá trịkim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 230 triệu USD

Trong các nghề đánh bắt khơi, nghề câu là nghề quan trọng của tỉnh KhánhHoà, trước đây nghề câu Khánh Hoà gồm câu lộng chủ yếu là câu cá rạn, nghề câukhơi chủ yếu là câu cá mập để lấy vi cá, câu mực, câu cá chân rạn Đến năm 1995Khánh Hoà mới bắt đầu triển khai việc câu cá ngừ đại dương Đi đầu trong lĩnh vựcnày là công ty TNHH Trúc An, đơn vị có công nhiều trong việc đầu tư và tiêu thụsản phẩm cá ngừ đại dương Để phát triển được nghề này bước đầu công ty đã đãthuê 2 tàu đi câu, chịu toàn bộ phí tổn và trả 30 triệu đồng/tháng cho một tàu đi câuthử nghiệm Đầu tiên khi mới vào nghề, các thuyền trưởng sử dụng hải đồ có đánhdấu sẵn ngư trường của Nhật, khai thác theo mùa từ khu vực quần đảo Hoàng Sađến dưới quần đảo Trường Sa Đến năm 1996 khi 2 thuyền câu có kết quả khả quan,

Trang 17

nhiều ngư dân đã phổ biến kinh nghiệm lẫn nhau và học tập thêm kinh nghiệm củangư dân Phú Yên để nâng cấp tàu thuyền, mua sắm ngư lưới cụ tham gia nghề câu

cá ngừ đại dương Lúc này công ty và một số chủ nậu khác tổ chức bán trả chậmlưỡi câu dây cước cho chủ thuyền có có nhu cầu theo nghề câu cá ngừ đại dương vàmua lại sản phẩm Nghề câu cá ngừ ở Khánh Hoà bắt đầu phát triển từ đó Đến thờiđiểm hiện nay tỉnh có khoảng 400 chiếc tham gia nghề câu cá ngừ đại dương Đa sốcác tàu khai thác nghề câu cá ngừ đại dương đều kiêm nghề, hết mùa vụ các tàu nàylại chuyển sang các nghề khác như: câu mực, giã cào………

1.2 Tổng kết lại những kết qủa, tình hình nghiên cứu về vấn đề liên quan đến

đề tài.

Trong thời gian qua vẫn chưa có tài liệu, bài báo nào nói về những vấn đề liênquan đến thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động dẫn đến tai nạn, tổn thất chotàu thuyền, người lao động Tuy rằng có rất nhiều tài liệu nói về tình hình tổ chứcsản xuất trên tàu câu cá ngừ đại dương như:

- Trung tâm khuyến ngư (2006), Tổng kết nghề câu cá ngừ đại dương.

- Nguyễn Văn Thuần 43ATHH, Đồ án tốt nghiệp: “Thực trạng an toàn sản xuất trên tàu câu cá ngừ đại dương của công ty khai thác và dịch vụ hải sản Biển Đông”.

- Nguyễn Ngọc Dương, 43ATHH, Đồ án tốt nghiệp: “Thực trạng về an toàn sản xuất trên tàu câu cá ngừ đại dương ở tỉnh Khánh Hoà”.

- Trần Văn Vinh, Đề tài Thạc Sỹ: “Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất đội tàu trên biển cho nghề câu cá ngừ tại Bình Định”.

- Các tạp chí thuỷ sản và các trang web v.v…

Nhưng những tài liệu này cũng chỉ mới dừng ở lại khâu thống kê về số thiết bịkhai thác được trang bị trên tàu, vẫn chưa đi sâu vào các khâu vận hành của thiết bịkhai thác, sử dụng trang bị bảo hộ lao động trên tàu trong quá trình khai thác để từ

đó cho thấy rõ được các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của chúng có thể gây ra cho tàuthuyền và người lao động

Trang 18

1.3 Tổng hợp các văn bản quy định về thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động đối với tàu thuyền nghề cá nói chung và nghề câu cá ngừ nói riêng.

Qua tìm hiểu tại Chi Cục BVNL Thuỷ Sản Khánh Hoà thì cho tới thời điểmhiện nay vẫn chưa có một văn bản cụ thể nào quy định về thiết bị khai thác, trang bịbảo hộ lao động với tàu thuyền nghề cá nói chung và tàu thuyền hoạt động nghề câu

- Một số tiêu chuẩn của Việt Nam về thiết bị bảo hộ lao động:

TCVN 2606-78: Phương tiện bảo vệ tay - Phân loại

TCVN 2607-78: Quần áo bảo hộ lao động - Phân loại

TCVN 2608-78: Giầy bảo hộ lao động bằng da và vải - Phân loại

TCVN 2609-78: Kính bảo hộ lao động - Phân loại

1.4 Tổng quan về thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động tr ên các tàu thuyền nghề câu cá ngừ Việt nam.

Cho đến nay, cá ngừ đại dương ở nước ta chỉ được đánh bắt bằng nghề câuvàng, các nghề khác như lưới vây, lưới rê, câu tay… vẫn chưa được sử dụng để khaithác đối tượng này Về tàu thuyền, nghề câu vàng cá ngừ có thể chia thành hai loại:loại cơ giới hiện đại của khối doanh nghiệp có số lượng không nhiều (khoảng 45chiếc), vỏ tàu hoặc bằng thép hoặc bằng composite, chiều dài từ 22 ÷ 27m, lắp máyloại 200 ÷ 750CV với thiết bị hàng hải, khai thác, bảo quản sản phẩm đầy đủ, hiệnđại như: máy thu dây chính, máy thu dây nhánh, máy thả câu, phao vô tuyến, hầm

Trang 19

cấp đông và nhiều thiết bị điện tử, hàng hải chuyên dụng khác đáp ứng tốt hoạtđộng khai thác dài ngày ở vùng biển xa bờ Loại tàu còn lại của ngư dân được đóngmới hoặc được cải hoán từ tàu của các nghề khác Vỏ tàu bằng gỗ, chiều dài chủyếu từ 13.5 ÷ 18 m, lắp máy loại 33 ÷ 300CV Hầu hết tàu có trang bị máy thu dâycâu chính, máy định vị vệ tinh, la bàn, thông tin liên lạc… Thiết bị và kỹ thuật bảoquản sản phẩm trên tàu còn thiếu và lạc hậu (chỉ sử dụng nước đá xay để bảo quảnsản phẩm).

Cấu trúc vàng câu bao gồm: dây câu chính, dây câu nhánh, lưỡi câu, phao vàmột số thiết bị liên kết khác Kích thước vàng câu phụ thuộc vào quy mô tàu thuyền

và trang bị kỹ thuật cho nghề Đối với tàu câu công nghiệp, hiện đại của các doanhnghiệp, chiều dài vàng câu lớn từ 60 ÷ 120 km, tương ứng với số lưỡi câu là 1.800 ÷2.500 lưỡi Các tàu cỡ nhỏ của ngư dân, chiều dài vàng câu từ 15 ÷ 60 km, tươngứng khoảng 300 ÷ 1.000 lưỡi Dây câu chính thường là cước sợi đơn có đường kính

từ 2.4 ÷ 3.2mm; dây thẻo câu là cước sợi đơn có chiều dài từ 25 ÷ 40m, đường kính

từ 1.8 ÷ 2.2mm; khoảng cách giữa hai thẻo câu từ 60 ÷ 85m; dây phao thường làmbằng dây tổng hợp PP chiều dài là 10 ÷ 25m, đường kính 4 ÷ 6mm; phao sử dụngthường là phao PVC tròn, đường kính 200 ÷ 360mm và phao hình trụ chiều dài từ

310 ÷ 360mm, đường kính 110 ÷ 120mm

Về trang bị bảo hộ lao động trên tàu thì vẫn chưa được quan tâm đúng mức,hầu hết trang bị trên tàu chỉ được trang bị theo hình thức tự phát qua quá trình khaithác Đa số các tàu trang bị những phương tiện sau:

- Mũ bảo hộ: Là những mũ lá hoặc mũ vành chai để đội che nắng, che mưatrong quá trình làm câu

- Găng tay: Được trang bị phục vụ trong quá trình thu, thả câu, làm cá

- Ủng: Dùng trong trường hợp khi xuống làm việc dưới hầm đá

- Áo mưa: Được sử dụng trong thời tiết mưa, quá trình thu câu và làm cá

- Gương lặn: Trang bị để khi làm việc dưới nước

Trang 20

1.5 Phân tích nhận xét phần tổng quan.

Qua phần tổng quan nghiên cứu ta thấy rằng về thiết bị khai thác, trang bị bảo

hộ lao động trên các tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương chưa được nghiên cứu

kỹ, và đi sâu Thời gian qua cũng đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về tình hình tổchức hoạt động sản xuất của tàu câu cá ngừ, tuy nhiên những đề tài này cũng chỉdừng lại ở khâu thống kê những thiết bị khai thác được trang bị trên tàu, vẫn chưacho thấy được những mối nguy hiểm tiềm ẩn của các thiết bị n ày có thể gây ra chotàu và người lao động trên tàu

Bên cạnh đó những đề tài này cũng mới chỉ đề cập tới vấn đề thiết bị khai thácđược trang bị trên tàu còn thiếu và lạc hậu, kỹ thuật khai thác còn thô sơ Nghề cácủa ta vẫn còn mang tính chất là nghề cá nhân dân, quá trình khai thác trên tàu vẫncòn sử dụng sức người là chính Về thiết bị khai thác hầu hết các tàu mới chỉ trang

bị máy thu câu, chỉ có một số ít các tàu của khối doanh nghiệp thì trang bị khá đầy

đủ như: máy thu dây chính, máy thu dây nhánh, máy thả câu, phao vô tuyến, hầmcấp đông

Tuy vậy các đề tài này vẫn chưa đi sâu và nghiên cứu kỹ để đưa ra một môhình thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động phù hợp với các tàu câu mang tínhđặc thù của Việt Nam

Qua đây ta thấy rằng cần phải nghiên cứu thêm về vấn đề thiết bị khai thác,trang bị bảo hộ lao động trên tàu để từ đó nâng cao được hiệu quả sản xuất cho tàu

và hạn chế những tổn thất đáng tiếc mà các thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ laođộng có thể gây ra cho tàu và người lao động trên tàu

Từ đây đề tài của em phải đi nghiên cứu thực trạng về thiết bị khai thác, trang

bị bảo hộ lao động trên tàu để từ đó thấy rõ được những nguy cơ tiềm ẩn tai nạn dothiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động có thể gây ra cho tàu và người lao độngtrên tàu Qua đó xây dựng lên mô hình về thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ laođộng phù hợp với nhóm tàu có công suất 45 ÷ 90CV nói riêng và tàu câu cá ngừ nóichung nhằm đảm bảo an toàn cho tàu thuyền và người lao động trong quá trình sảnxuất

Trang 21

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

2.1 Nội dung đề tài nghiên cứu.

2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.

- Thời gian thực hiện: Từ ngày 30/07/2007 đến ngày 10/11/2007

- Địa điểm nghiên cứu: Phường Xương Huân – T.p Nha Trang – Tỉnh KhánhHoà

2.1.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài.

Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Tìm hiểu thực trạng về thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động được trang

bị trên nhóm tàu 45 ÷ 90CV tại địa điểm phường Xương Huân – T.p Nha Trang

- Cùng với đó là thực trạng về tai nạn, các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bịkhai thác, trang bị bảo hộ lao động có thể gây thiệt hại cho tàu và người lao độngtrên tàu

- Từ đó đề tài đi nghiên cứu xây dựng mô hình về thiết bị khai thác, trang bị bảo

hộ lao động tối ưu nhất cho nhóm tàu 45 ÷ 90CV để hạn chế được tối đa các nguy

cơ tai nạn có thể xảy ra cho tàu và người lao động trên nhóm tàu này

2.2 Phương pháp nghiên cứu.

2.2.1 Phương pháp điều tra số liệu.

- Điều tra xác nhận số liệu tàu câu cá ngừ đại dương có nhóm công suất 45 ÷90CV của phường Xương Huân thông qua báo cáo thống kê của cơ quan địa lýnghề cá của phường

- Nguồn thông tin thứ cấp: Tổng hợp các số liệu được đi xin từ các các cơ quanquản lý

- Nguồn thông tin sơ cấp: Số liệu thực trạng được phỏng vấn trực tiếp ngư dânthông qua các phiếu điều tra

- Xác định thực tế số liệu thông qua quan sát trực tiếp, chụp hình

2.2.1.1 Cách tiến hành thu thập số liệu.

Các bước tiến hành như sau:

Trang 22

- Thông qua phòng hành chính của Sở Thuỷ Sản Khánh Hoà đến liên hệ thựctập, qua đó tiếp xúc với phòng Kỹ Thuật để tìm hiểu về nghề câu cá Ngừ đại dươngcủa tỉnh.

- Thông qua phòng hành chính của chi Cục BVNL Thuỷ Sản tỉnh Khánh Hoàđến liên hệ việc thực tập và xin các văn bản, quy phạm đối với nhóm tàu câu nóichung và nhóm tàu có công suất 45 ÷ 90CV nói riêng, cùng bảng thống kê số lượngtàu thuyền hoạt động nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90CV tạiphường Xương Huân – T.p Nha Trang để phục vụ cho công tác tiến hành điều trađược thuận lợi

- Thông qua công ty Bảo Việt, Bảo Minh Khánh Hoà để tìm hiểu thực trạng vềtình hình tham gia bảo hiểm của tàu cá nói chung và tàu câu cá ngừ nói riêng, cùngvới đó là các loại hình tai nạn xảy ra đối với tàu thuyền trong những năm vừa qua

- Thông qua UBND Phường Xương Huân – T.p Nha Trang để liên hệ việc thựctập tại phường Và thông qua hội nghề cá của phường Xương Huân để có được cácthông tin về các tàu hoạt động nghề câu cá ngừ đại dương của phường để phục vụcho quá trình điều tra được thuận lợi

- Qua UBND Phường xin giấy giới thiệu của UBND Phường xuống các tổtrưởng tổ dân phố có các tàu hoạt động nghề câu cá ngừ đại dương để từ đó xin giấygiới thiệu của các tổ trưởng tổ dân phố tới các hộ gia đình có tàu hoạt động nghềcâu cá ngừ đại dương để quá trình điều tra thu được kết quả chính xác và tin cậynhất

- Bằng những chuyến đi phỏng vấn thực tế theo phiếu điều tra tại nhà các chủtàu và trên tàu câu cá ngừ nhóm công suất 45 ÷ 90CV của phường Xương Huân để

có cái nhìn tổng thể về tình hình thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động trên tàu,cùng các vụ tai nạn xảy ra liên quan tới chúng đối với nhóm tàu câu này

- Thông qua các chuyến tìm hiểu tại công ty đóng tàu Sông Thuỷ để biết đượcthực trạng về tình hình bảo dưỡng của các tàu câu cá ngừ đại dương của phườngXương Huân, cũng như tìm hiểu rõ hơn về các vụ tai nạn liên quan tới tàu để từ đó

Trang 23

thấy rõ được các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ laođộng cho tàu câu cá ngừ đại dương.

- Thông qua tìm hiểu về thực trạng thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao độngtrên đội tàu câu cá ngừ đại dương của công ty TNHH Đại Dương và công ty TNHHHoàng Long, cùng trên các tàu thuộc nhóm công suất trên 90CV để từ đó căn cứđưa ra mô hình về thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động tối ưu cho nhóm tàuđiều tra

2.2.1.2 Mẫu điều tra.

Sau khi có được danh sách của các tàu câu cá ngừ nhóm công suất 45 ÷ 90CVcủa phường Xương Huân, tôi thấy rằng tổng danh sách của nhóm tàu nghiên cứu có

số lượng dưới 100 chiếc tàu, do đó tôi đã lựa chọn mẫu điều tra là nghiên cứu điềutra 40 ÷ 50% trong tổng số danh sách nhóm tàu của phường Xương Huân

2.2.2 Các tiêu chí để đánh giá lựa chọn mô hình về thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động trên các tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương ứng với nhóm công suất 45 ÷ 90CV.

Số liệu qua điều tra thực tế sẽ được thống kê, tổng hợp thành bảng tổng quan

và xử lý phân tích qua phần mềm Excel Từ đây có được cái nhìn tổng quan về thựctrạng nguy cơ tiềm ẩn tai nạn do thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động gây racho tàu thuyền và người lao động

Trên cơ sở từ bảng tổng quan “Kết quả điều tra tai nạn về thiết bị khai thác ,trang bị bảo hộ lao động” ta sẽ dùng phần mềm Excel trích lọc ra những nhóm vềthiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động có số tần suất tai nạn xảy ra khác nhau.Trong số các nhóm được trích ra, nhóm nào có tần suất tai nạn xảy ra ít nhất thì đóchính là cơ sở để đánh giá, lựa chọn mô hình về thiết bị khai thác, trang bị bảo hộlao động cho tàu

Trang 24

CHƯƠNG 3: KẾT QỦA NGHIÊN CỨU.

3.1 Kết quả điều tra thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động tr ên các tàu thuyền.

3.1.1 Kết quả điều tra về thiết bị khai thác.

3.1.1.1 Ngư cụ.

Ngư cụ của nhóm tàu điều tra được thể hiện thông qua bảng tổng hợp sau:

Bảng 3.1: Kết quả điều tra ngư cụ trên tàu.

Ngư cụ và phụ tùng D.chính D.nhánh D.ganh L.câu Phao N.câu Đ.chớp Giỏ

Trang 25

sử dụng số lẻ thẻo thường có độ dài 17 sải hoặc 19 sải tay của ngư dân.

- Dây ganh có thông số 5 ÷ 6 mm, có độ dài từ 15 ÷ 25m (tương ứng từ 9 ÷ 15sải tay của ngư dân)

- Khoảng cách giữa mỗi thẻo câu là 60m (tương ứng 40 sải tay của ngư dân),khoảng cách giữa hai phao liên tiếp là 10 thẻo câu, giữa hai cây cờ là 10 chiếc phao

Về cấu tạo của vàng câu thì độ dài của dây triên, thẻo câu, dây ganh là cố định tuynhiên trong quá trình khai thác ngư dân có thể thay đổi cách bố trí số thẻo câu giữacác phao và số phao giữa các cây cờ với nhau để thuận lợi trong quá trình khai thác.Qua điều tra thực tế thấy rằng cấu tạo của ngư cụ được một số ngư dân lúc đầukhai thác trên biển cùng ngư trường với một số tàu câu của Đài Loan đã vớt 1 đoạnvàng câu của tàu họ lên và coi học hỏi cấu tạo vàng câu của họ Sau này trong quátrình sản xuất thì kinh nghiệm đó đã được các hộ ngư dân trong Phường học hỏi vàtruyền lại cho nhau

Hầu hết các hộ ngư dân thường trang bị vàng câu của mình ngay lúc tàu đóngmới hoặc được mua về đưa vào sản xuất, tuy nhiên về số lượng của vàng câu thì cóthể thay đổi trong quá trình khai thác Trong quá trình khai thác một số tàu lúc đầu

do vấn đề gặp khó khăn trong kinh tế nên các hộ ngư dân này chỉ trang bị số lượngvàng câu hạn chế, bên cạnh đó một số tàu sau một thời gian khai thác khi máy chínhcủa tàu yếu đi, họ tiến hành thay máy chính của tàu và một số tàu khai thác đượcmùa thì các hộ ngư dân này có xu hướng trang bị thêm vàng câu cho tàu mình đểđạt hiệu quả cao hơn trong quá trình khai thác

Trang 26

Ngoài ra trên mỗi tàu còn được trang bị từ 40 ÷ 50 tấm lưới dùng để bắt cáchuồn làm cá mồi cho quá trình khai thác của tàu Lưới bắt cá chuồn thường các hộngư dân sẽ tiến hành mua nguyên liệu về và tự đan lấy.

a Bản vẽ tổng thể vàng câu.

Bản vẽ tổng thể vàng câu được thể hiện thông qua hình 3.2.

Hình 3.1: Lưới bắt cá mồi.

Trang 27

b Cấu tạo vàng câu.

-Dây chính (triên): Là dây câu chính liên kết toàn bộ vàng câu được chế tạo và

lắp ráp bằng cước PA có đường kính 2,8mm ≤ d ≤ 3,5mm Trên dây triên chia thànhnhiều đoạn, mỗi đoạn dài khoảng 60m được liên kết với nhau bằng các khoá xoay(kiểu số 8) để chống xoắn trên dây triên, cũng là vị trí để xác định khoảng cách giữacác thẻo câu Qua điều tra thực tế ngư dân tại phường Xương Huân đa số dùng dâytriên do Việt Nam sản xuất

-Dây nhánh (thẻo): Là phần dây liên kết từ dây triên câu đến lưỡi câu Đầu

trên của thẻo câu là khoá kẹp để liên kết với dây triên, giữa thẻo và dây triên cókhoá xoay chống xoắn, phần cuối của dây thẻo là lưỡi câu được liên kết với thẻobằng ống kẹp Vật liệu chế tạo dây thẻo l à cước PA có đường kính d = 1,8mm,chiều dài từ 25m đến 30m

dây triên

Trang 28

-Dây giáp mối: Là một đoạn dây liên kết giữa dây triên và thẻo câu bằng khoá

kẹp (được gắn ở 1 đầu dây của thẻo) v à khoá xoay Cấu tạo là dây thừng PE cóđường kính d = 5mm, và có chiều dài 50 cm

-Nẹp câu: Nẹp câu thường được ngư dân mua tại các cửa hàng mộc, cũng có

trường hợp nẹp câu được ngư dân tự làm Một nẹp câu thông thường chứa được 60đến 80 lưỡi câu

-Dây ganh: Là dây thừng làm bằng vật liệu tổng hợp PE có đường kính d =

5mm, chiều dài khoảng 15m đến 25m Dây ganh dùng để liên kết giữa dây triên vớiphao ganh giúp cho vàng câu được định hình ở 1 độ sâu nhất định

Trang 29

-Lưỡi câu: Làm bằng Inox hoặc thép không gỉ Ngư dân thường dùng loại lưỡi

câu do Việt Nam sản xuất, có các thông số như sau:

+ Đường kính: d = 4mm

+ Chiều cao: 50mm

+ Độ rộng: 30mm

+ Góc kẹp: 80+ Chiều dài thân lưỡi câu: 22mm

-Phao: Có cấu tạo hình tròn với đường kính d = 300 mm, phao được nối với 1

đầu của dây ganh Thực tế ngư dân thường sử dụng phao tròn do Đài Loan sản xuất.Bên cạnh đó ngư dân thường dùng thêm phao chai có kích thước (360, Φ 120) dùng

hỗ trợ thêm cho phao tròn trong trường hợp trời sóng gió lớn

Đồ bấm lưỡi câu với thẻo.

Hình 3.7: Lưỡi câu.

Trang 30

-Cờ: Dùng để gắn vào vàng câu, Vải may cờ thường được sử dụng là vải có

màu sắc phản quang mạnh hoặc được quét sơn phản quang Cờ có tác dụng để cáctàu thuyền khác tránh vàng câu của tàu mình và để tàu mình có thể theo dõi đượcvàng câu vào ban ngày qua ống nhòm được trang bị trên tàu

-Đèn chớp: Là bộ phận được gắn dọc theo những cây cờ, có tác dụng phát tín

hiệu hoặc dấu hiệu (chớp sáng) để t àu mình có thể quan sát, theo dõi vàng câu dễdàng vào ban đêm Các tàu dùng đèn tín hi ệu gắn trên những cây cờ chủ yếu là đèncảm ứng ánh sáng do Trung Quốc sản xuất

-Khoá xoay (kiểu số 8): Khoá xoay có chiều dài 46mm Khoá xoay có hai

nhiệm vụ:

+ Khoá xoay được nối giữa các đoạn dây triên với nhau: Có tác dụng chốngxoắn giữa các đoạn dây triên

+ Khoá xoay được nối với dây thẻo: Có tác dụng nhả xoắn cho thẻo câu

-Khoá kẹp (khoá kẹp có lắp khoá xoay): Có chiều dài 140mm khoá kẹp có

nhiệm vụ:

Đèn chớp Cây cờ

Hình 3.10: Cờ, đèn chớp.

Trang 31

+ Dùng để liên kết dây thẻo với dây triên.

+ Dùng liên kết triên với dây ganh

-Giỏ đựng triên, thẻo: Giỏ đựng triên, thẻo thường được làm bằng tre, hoặc

INOX Trên tàu tuỳ thuộc vào không gian của tàu mà mỗi tàu trang bị số giỏ đựngtriên, thẻo là khác nhau, thông thường mỗi tàu trang bị 3 giỏ đựng thẻo, 2 giỏ đựngtriên, số triên còn lại được đựng trong “bọc đựng triên”

3.1.1.2 Máy khai thác.

Kết quả điều tra máy khai thác trên tàu được thể hiện qua bảng tổng hợp dướiđây:

Hình 3.12: Giỏ đựng triên, thẻo.

Hình 3.11: Khoá xoay, khoá kẹp.

Khoá xoay Khoá

kẹp

Trang 32

Bảng 3.2: Kết quả điều tra máy khai thác trên tàu.

Trang bị máy khai thác Máy

thu câu

Máy thả câu

Máy tời

Cần cẩu

Trang 33

Nhận xét:

Qua bảng điều tra máy khai thác trên tàu ta thấy rằng trang bị máy khai tháctrên tàu mới chỉ được trang bị máy thu câu, cẩu và máy xay đá Ta thấy 100% số tàuđược điều tra chưa trang bị máy thả câu, máy tời, nguyên nhân chính là do khônggian trên các tàu này còn hạn chế do vậy nếu ngư dân trang bị thì sẽ bị hạn chế vềkhoảng không gian khai thác trên tàu Bên cạnh đó chính là sự khai thác đánh bắtcòn theo tập quán cũ của ông cha để lại, trình độ ngư dân còn thấp chưa chịu họchỏi áp dụng những công nghệ tiên tiến của các nước có nghề câu cá ngừ phát triển

a Máy thu câu.

Kết quả điều tra về máy thu câu được thể hiện qua bảng tổng hợp dưới đây

Bảng 3.3: Kết quả điều tra máy thu câu trên tàu.

Truyền động

Nước sản xuất

Tỷ lệ s.dụng (%) xích T.lực điện

Bảo dưỡng (tháng)

Trang 34

- Về tình trạng của máy thu câu thì luôn luôn trong tình trạng hoạt động tốt, trênmỗi tàu ngư dân thường để sơ cua 1 chiếc bơm thuỷ lực phòng khi ra ngư trườngmáy bơm thuỷ lực bị hư sẽ được thay thế kịp thời để không ảnh hưởng tới quá trìnhkhai thác.

- Tuy nhiên về tình trạng bảo dưỡng máy thu câu trên tàu thì chưa được ngư dânchú trọng, số lượng tàu có bảo dưỡng máy thu câu không nhiều

Trang 35

Các bộ phận chính của máy thu câu.

+ Bơm thuỷ lực

+ Cần số điều khiển máy thu câu

+ Thân máy (giá đỡ) máy thu câu

+ Puly dẫn hướng

+ Bánh chủ động (tang thu câu)

+ Các bánh bị động

Hình 3.13: Vị trí lắp đặt bơm thuỷ lực Hình 3.14: Bơm thuỷ lực.

Hình 3.15: Cần số máy thu câu.

Cần số

Trang 36

Sơ đồ nguyên lý hoạt động của máy thu câu.

5

6

Hình 3.19: Sơ đồ nguyên lý hoạt động của máy thu câu.

Hình 3.18: Cao su bọc tang thu câu Hình 3.16: Toàn cảnh máy thu câu.

Hình 3.17: Cao su bọc bánh bị động.

Trang 37

Nguyên lý làm việc:

Khi trục chủ động quay, bánh bị động 4,5,6 ép lên bánh chủ động tạo lực masát kéo sợi dây triên Để tăng góc ôm cho dây triên trên bánh chủ động và làmchuyển động cuốn dây triên đi vào bánh chủ động người ta dùng bánh hướng 2.Máy thu câu làm việc theo nguyên lý ma sát, bánh bị động ép lên bánh chủ động,các bánh bị động và bánh chủ động được bọc cao su phía ngoài để tăng ma sát,tránh dập cho dây triên và khoá xoay Khi khoá xoay đi vào rãnh giữa 2 bánh chủđộng và bánh bị động làm cho nó bị kênh nên, do vậy các bánh được lắp trên cácthanh và thanh liên kết với máy bằng một bản lề, đầu kia buộc sợi dây có khả năngđàn hồi khi bị kênh các sợi dây này giãn ra và như vậy dây sẽ dễ dàng qua

Vị trí bố trí.

Qua điều tra thực trạng cho thấy máy thu câu đều được lắp đặt ở bên mạn phảitàu, và nằm về phía mũi tàu Thông thường vị trí máy thu câu được lắp đặt tại giữahầm số 1 và hầm số 2 của tàu

Trang 38

Vị trí bố trí.

Cẩu trên tàu được bố trí yêu cầu sao cho phải thuận lợi để có thể đưa cá xuốngtất cả các hầm của tàu Cẩu sẽ được bố trí có thể chạy dọc từ hầm đầu tiên tới hầmcuối cùng của tàu thông qua một sợi dây thừng kết nối ròng rọc với thanh xà ngangchạy dọc ở trên tàu

3.1.1.3 Quy trình khai thác một mẻ lưới.

Quy trình khai thác một mẻ lưới của tàu câu cá ngừ có công suất 45 ÷ 90 CVbao gồm 4 giai đoạn và được thể hiện thông qua sơ đồ sau:

a Khâu chuẩn bị.

Chuẩn bị về tàu thuyền.

Công tác chuẩn bị tàu thuyền bao gồm các công việc sau:

- Kiểm tra lại vỏ tàu phải đảm bảo an toàn độ kín nước

- Kiểm tra lại máy chính của tàu: Máy trưởng sẽ có nhiệm vụ kiểm tra máychính của tàu, nếu phát hiện có sự cố thì máy trưởng phải lập tức thông báo chothuyền trưởng và tiến hành khắc phục ngay sự cố

- Kiểm tra đầy đủ về trang thiết bị hàng hải, cứu sinh, cứu thủng và cứu hoả.Các trang thiết bị này phải luôn trong tình trạng hoạt động tốt để phục vụ cho quátrình khai thác của tàu

- Kiểm tra lại thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động trên tàu:

+ Về thiết bị khai thác phải kiểm tra lại tình trạng hoạt động của máy thu câu,kiểm tra đầy đủ lại số bọc triên câu, lượng thẻo câu, lưỡi câu dự trữ

+ Về trang bị bảo hộ lao động: Phải kiểm tra lại tất cả các trang bị bảo hộ laođộng trên tàu sao cho chúng phải đảm bảo yêu cầu an toàn cho người laođộng trong quá trình sử dụng

Chuẩn

bị

Thả câu

Ngâm câu

Thu câu

Sơ đồ: Quy trình khai thác một mẻ lưới.

Trang 39

- Cuối cùng phải kiểm tra lại khâu vệ sinh trên tàu: Tàu phải được vệ sinh sạch

sẽ trước khi ra ngư trường

Chuẩn bị về nhiên liệu, lương thực thực phẩm.

Khâu chuẩn bị nhiên liệu, lương thực thực phẩm thường sẽ được ngư dânchuẩn bị kỹ lưỡng ngay trước khi tàu xuất bến ra ngư trường khai thác:

- Về nguyên liệu: Nguyên liệu là đá cây để bảo quản cá Lượng đá chuẩn bị sẽtùy thuộc vào cấu trúc, số lượng hầm chứa cá của tàu và số ngày tàu dự định khaithác trên biển

- Về nhiên liệu: Nhiên liệu xăng, dầu được chuẩn bị cho chuyến biển sẽ đượccăn cứ vào công suất tiêu hao của máy đồng thời số ngày dự định tàu hoạt độngkhai thác trên biển

- Lương thực, thực phẩm: Khối lượng lương thực, thực phẩm cho chuyến biển

sẽ phụ thuộc vào số lượng thuyền viên trên tàu, và số ngày tàu dự định khai thác

- Bên cạnh đó một khâu rất quan trọng đó chính là công việc chuẩn bị đầy đủ vềthiết bị y tế, thuốc men phục vụ chăm sóc sức khoẻ cho người lao động trên tàu

Chuẩn bị mồi câu.

Một công việc hết sức quan trọng đó chính là khâu chuẩn bị cá mồi cho quátrình đánh bắt của mẻ lưới Thông thường với các tàu cá của ngư dân thì khâu này

được thực hiện ngay khi tàu ra tới ngư trường đánh bắt Tàu sẽ thả lưới bắt cá

chuồn làm cá mồi Sau khi thu cá mồi xong sẽ chuẩn bị sang giai đoạn thả câu Nếu

lượng cá mồi nhiều thì thuyền viên sẽ tiến hành muối, ướp cá để chuẩn bị mồi chonhững mẻ lưới tiếp theo

Qua điều tra thực tế ngư dân đi đánh bắt với nhau theo từng nhóm tàu, các tàutrong nhóm tàu thường là có chủ tàu là các anh em trong gia đình hoặc các hộ giađình thân thiết trong cùng một tổ dân phố Thường mỗi nhóm 3 ÷ 4 chiếc tàu sẽ đicùng nhau ra ngư trường Khi đó khâu tiến hành thả lưới bắt cá mồi của nhóm tàu

được tiến hành theo sơ đồ A như sau:

Trang 40

Lúc này các tàu sẽ liên lạc với nhau thông qua máy đàm thoại với một tần số

đã được nhóm quy định riêng để biết được vị trí toạ độ của các tàu còn lại trongnhóm đồng thời biết được kế hoạch hướng thả câu của nhóm Nguyên nhân dẫn đếncác tàu trong nhóm tàu đánh bắt có kế hoạch thả lưới bắt cá mồi như sơ đồ A là vìđặc điểm của đàn cá chuồn là đàn cá di cư theo dòng nước do đó để tránh hiệntượng 2 tàu ở cuối hướng di chuyển của đàn cá sẽ không bắt được cá mồi như theo

sơ đồ B ở trên.

Khâu chuẩn bị cá mồi này cũng có thể được các tàu mua sẵn chuẩn bị trước,tuy nhiên trường hợp này rất ít xảy ra chỉ khi vào những lúc đàn cá ngừ rất kén ănmồi khi đó ngư dân mới mua mồi mới để đổi mồi câu nhằm kích thích sự ăn mồicủa cá ngừ Trường hợp này chi phí cho chuyến biển sẽ mất thêm một khoản chi phíđáng kể cho việc mua chuẩn bị cá mồi

Khâu chuẩn bị cá mồi này nó hết sức quan trọng, mồi câu sẽ quyết định tớihiệu quả sản xuất của tàu Chính vì vậy các tàu ngư dân thường tự đánh bắt lấy cámồi ngay trước khi quá trình thả lưới (lúc đó con cá mồi sẽ còn tươi) Còn trườnghợp có cá mồi muối sẵn trong hầm thì trước khi tới ngư trường (hoặc trước giaiđoạn thả câu) khoảng 2h thuyền trưởng phải cho thuyền viên bỏ cá mồi ra ngoài để

Ngày đăng: 27/06/2014, 16:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Thống kê lượng tàu thuyền địa phương theo công suất. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Bảng 1.3 Thống kê lượng tàu thuyền địa phương theo công suất (Trang 8)
Bảng 1.4: Thống kê số lượng tàu theo địa phương, nghề khai thác. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Bảng 1.4 Thống kê số lượng tàu theo địa phương, nghề khai thác (Trang 9)
Bảng 1.6: Sản lượng khai thác của tỉnh qua các năm. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Bảng 1.6 Sản lượng khai thác của tỉnh qua các năm (Trang 11)
Bảng 3.1: Kết quả điều tra ngư cụ trên tàu. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Bảng 3.1 Kết quả điều tra ngư cụ trên tàu (Trang 24)
Hình 3.1: Lưới bắt cá mồi. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.1 Lưới bắt cá mồi (Trang 26)
Hình 3.3: Dây chính (triên) - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.3 Dây chính (triên) (Trang 27)
Hình 3.4: Dây nhánh (thẻo)nhánhDây - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.4 Dây nhánh (thẻo)nhánhDây (Trang 27)
Hình 3.6: Dây ganh. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.6 Dây ganh (Trang 28)
Hình 3.5: Dây giáp mối, nẹp câu. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.5 Dây giáp mối, nẹp câu (Trang 28)
Hình 3.7: Lưỡi câu. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.7 Lưỡi câu (Trang 29)
Hình 3.10: Cờ, đèn chớp. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.10 Cờ, đèn chớp (Trang 30)
Hình 3.12: Giỏ đựng triên, thẻo. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.12 Giỏ đựng triên, thẻo (Trang 31)
Hình 3.11: Khoá xoay, khoá kẹp. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.11 Khoá xoay, khoá kẹp (Trang 31)
Hình 3.16: Toàn cảnh máy thu câu. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.16 Toàn cảnh máy thu câu (Trang 36)
Hình 3.18: Cao su bọc tang thu câu. - Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn của thiết bị khai thác, trang bị bảo hộ lao động cho tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45 ÷ 90 CV của phường xương huân tp nha trang tỉnh khánh h
Hình 3.18 Cao su bọc tang thu câu (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w