Việt Nam vẫn là một nước nghèo, năm 2010GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD1 Do đó, em quyết định chọn đề tài tiểu luận: “ Khoảng cách giàu nghèo và những vấn đề đặt ra trong phát triể
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nhiệm vụ 3
PHẦN 2 NỘI DUNG 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Khái niệm,thuật ngữ có liên quan 4
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội 4
1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững 5
1.1.2.1 Khái niệm phát triển 5
1.1.2.2 Khái niệm phát triển bền vững 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 5
2.1 Nhận diện vấn đề 5
2.2 Thực trạng khoảng cách giàu nghèo và những vấn đề đặt ra trong phát triển bền vững 6
2.2.1 Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam đang ngày càng nới rộng .7
2.2.2 Người nghèo vẫn chưa được hưởng lợi nhiều từ hệ thống an sinh xã hội 8
2.3 Nguyên nhân dẫn đến khoảng cách giàu nghèo ở nước ta ngày càng gia tăng 10
2.4 Hậu quả của chênh lệch giàu nghèo ở nước ta 11
2.5 Giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội 14
2.6 Khuyến nghị 16
CHƯƠNG 3 TÌNH HUỐNG 17
3.1 Nhận diện vấn đề 18
3.2 Nguyên nhân 18
3.3 Giải pháp 19
3.4 Vai trò của nhân viên công tác xã hội 19
Trang 2PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
An sinh xã hội là một trong những chính sách cốt lõi của mỗi quốc giabên cạnh các chính sách về kinh tế - xã hội Hiện nay, an sinh xã hội đăngđược nghiên cứu dưới nhiều cấp độ khác nhau cới các cách tiếp cận khácnhau
Ở Việt Nam, an sinh xã hội với trụ cột cơ bản là bảo hiểm xã hội là mộtchính sách lớn của Đảng và nhà nước ta, đã được thực hiện nay từ khi thànhlập nước Việt nam dân chủ cộng hòa Do đó, việc nghiên cứu, tiếp thu nhữngtri thức của nhân loại trong lĩnh vựa an sinh xã hội để áp dụng cho phù hợpvới điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam là rất cần thiết
Qua 20 năm đổi mới đất nước, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu tolớn trong tất cả các lĩnh vực Kinh tế - Chính trị - Xã hội, hệ thống an sinh củaViệt Nam cũng đạt được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên việc chuyển đổi
từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa với quy luật cung cầu, cạnh tranh khắc nghiệt làm cho chi phí vềđời sống và dịch vụ xã hội cơ bản của các đối tượng bảo trợ xã hội và gia đình
họ của họ tăng nhanh so với thu nhập của họ Thực tiễn những năm qua chothấy, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế, biến động bất lợi từ kinh tế thịtrường, thiên tai thì người nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội là những ngườiganh chịu trước, thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng trưởng kinh tếthì họ lại là người hưởng thụ sau Việt Nam vẫn là một nước nghèo, năm 2010GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD(1)
Do đó, em quyết định chọn đề tài tiểu luận: “ Khoảng cách giàu nghèo
và những vấn đề đặt ra trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay”
Trang 32.2 Nhiệm vụ
Làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng của khoảng cách giàu nghèo và nhữngvấn đề đặt ra trong phát triển bền vững ở nước ta hiện nay để từ đó thấy đượcnhững nguyên nhân, hậu quả của nó và đưa ra những giải pháp thích hợp đểhoàn thiện hệ thống an sinh xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo,giải quyết những vấn đề mà nước ta đăng gặp phải trên con đường hội nhậpkinh tế quốc tế
Trang 4PHẦN 2 NỘI DUNG
1.1 Khái niệm,thuật ngữ có liên quan
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội
Có nhiều khái niệm an sinh xã hội như :
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO):
An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viêncủa mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầuvới những khó khắn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảmnghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động,mất sức lao động hoặc tử vong An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợcấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em ( ILO – 1984)(2)
Theo hiệp hội an sinh thế giới ( ISSA):
An sinh xã hội giống như là sự chi phối kết hợp các thành tố (hợp phần) củachính sách công, có thể điều chỉnh đáp ứng nhu cầu của người công nhân, cáccông dân trong bối cảnh toàn cầu với sự thay đổi về kinh tế, xã hội, nhânkhẩu học chưa từng xảy ra (3)
Ngoài ra, còn có các quan điểm về an sinh xã hội của Cơ quan pháttriển Liên Hợp Quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB), các tài liệu củaNhật Bản, các tài liệu của Hoa Kỳ, các chuyên gia Việt Nam Trên cơ sởnhững khái niệm của các tổ chức quốc tế, các chuyên gia Việt Nam trong cáchội thảo, đã đúc kết để đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh hơn, phù hợp với về
an sinh xã hội, nó bao gồm cái phổ biến và cái đặc thù của việt nam như sau:
An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách giải pháp của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất
Trang 5nguồn thu nhập do bị ốm đau thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa và cung cấp dịch vụ chăm soc sức khỏe cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt (4)
1.1.2 Khái niệm vấn đề xã hội
Theo các tài liệu của các trung tâm Xã hội học, Học viện hành Chínhquốc gia Hồ Chí Minh thì “ Vấn đề xã hội là trong hoàn cảnh nhất định đượcnhận thức bởi một lực lượng xã hội cụ thể như một vấn nạ xã hội, nó ảnhhưởng đáng kể đến lợi ích nhóm, của xã hội và chỉ có thể khắc phục qua hànhđộng xã hội”
1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững
1.1.2.1 Khái niệm phát triển
Theo giáo trình “Dân số và môi trường” – Trường Đại học Lao Động
và Xã Hội phát triển là một quá trình một xã hội đạt đến mức thỏa mãm cácnhu cầu mà xã hội đó cho là tất yếu
1.1.2.2 Khái niệm phát triển bền vững
Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc thì pháttriển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại màkhông làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau
1.2 Cách đánh giá giàu nghèo ở Việt Nam
Theo thông tin của Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), tạimột cuộc hội thảo do Kiểm toán Nhà nước về nâng cao tính hiệu lực của chitiêu công ngày 2.6.2009 tại Hà Nội cho biết, mức thu nhập bình quân củanhóm nghèo nhất là 2 triệu đồng/người/năm; còn nhóm giàu nhất có mức thunhập bình quân là 15,8 triệu đồng/người/năm
– 2005 – Nguyễn Hải Hữu
Trang 6CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Nhận diện vấn đề
Khoảng cách giàu nghèo ở nước ta hiện nay ngày càng nới rộng điềunày ảnh hưởng rất lớn đến quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của nướcta
Khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng biểu hiện rõ ở khoảng cáchgiữa nhóm có thu nhập thấp với nhóm có thu nhập cao
Khoảng cách giàu nghèo gia tăng làm cho xã hội xuất hiện nhiều tệnạn dẫn, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng
2.2 Thực trạng khoảng cách giàu nghèo và những vấn đề đặt ra trong
phát triển bền vững
Là một nước mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, dưới sự quản lýcủa nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đạt được nhiềukinh nghiệm quý báu từ những thành công và thất bại của mô hình phát triển
Vì vậy, Đảng ta chỉ rõ trong quá trình phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tếluôn luôn gắn liền với thực hiện công bằng xã hội Sự công bằng xã hội, ởnước ta được thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất và khâuphân phối kết quả sản xuất Sự công bằng được thẻ hiện bằng việc tạo điềukiện cho mọi người dân đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực củamình, đảm bảo cho người nghèo, những người không may bị dị tật, tủi rođược tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản, có khả năng vươn lên hòanhập vào cộng đồng Nhờ đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Namkhởi xướng, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng khá cao và ổn định Nhịp độtăng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 1991 – 2005 là trên 7%/năm Từ mộtnước phải nhập khẩu lương thực Việt Nam đã có đủ lương thực cho một đại
bộ phận dân cư đảm bảo được an ninh lương thực và đã vươn lên vị trí số 2trong các nước xuất khẩu lương thực thế giới Đặc biệt cơ cấu kinh tế đã có sự
Trang 7chuyển đổi rõ rệt từ ngông nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng GDP năm 2009 nôngnghiệp 20,7% công nghiệp 42,3 %, dịch vụ 39,1 %.(5)
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, các lĩnh vực phát triển xã hội đã đượcchú trọng, trong đó có vấn đề xóa đói giảm nghèo Công tác xóa dói giảmnghèo ở Việt Nam nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền, cácnghành, các đoàn thể và đoàn thể cộng đồng nên đã trở thành phong tràokhông chỉ về chiều rộng mà còn cả chiều sâu Xóa đói giảm nghèo không chỉmang tính cấp thời mà đã có chiều hướng phát triển bền vững thông qua việcxây dựng các Chương Trình, dự án hướng vào giúp đỡ các hộ nghèo về vốn,công nghệ và cách thưc làm ăn để thoát khỏi nghèo về vốn, công nghệ và các
thức làm ăn để thoát nghèo đói một cách cơ bản: Chương trình phát triển kinh
tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn cùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay còn gọi là trương trình 135), Chương trình hỗ trợ sản xuất, đất đai nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Chương trình 134), Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn
2006 – 2007…
Thành công của các trương trình, dự án xóa đói giảm nghèo đã gópphần quan trọng cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội,bảo vệ môi trường sống và môi trường tự nhiên Đây là lôgíc của sựu pháttriển bền vững: Tăng trưởng kinh tế → xóa đói giảm nghèo → tăng trưởngkinh tế + bảo vệ môi trường → phát triển bền vững → xóa đói giảm nghèo…
Tuy nhiên, do các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội giảm đóinghèo vẫn là một thách thức lớn đối với Việt Nam cả trong hiện tại và tươnglai Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, bên cạn những thànhcông, những tác động tích cực, những mặt trái của cơ chế thị trường đã làmcho sự phân tầng xã hội, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra khá sâu ở thành thị
và nông thôn Nếu như những người đói đã giảm đi nhiều, thì những ngườinghèo, hộ nghèo tương đối vẫn có nguy cơ tăng lên Sự phân hóa giàu nghèothể hiện qua mức độ chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư
Trang 82.2.1 Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam đang ngày càng nới rộng
Nếu như phân chia số hộ dân cư thành 5 nhóm thu nhập từ thấp đếncao, ứng với 5 giải phân tầng bằng nhau, mỗi nhóm bằng 20% số hộ thìkhoảng cách chênh lệch giữa nhóm hộ giàu và hộ nghèo có xu hướng tănglên
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học vừa công bố tại Hội nghị cậpnhập nghèo do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức cuối tháng 3-2007:Khoảng cách giữa các nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất đang
bị nới rộng một cách liên tục và đáng kể
Cụ thể năm 1992, hệ số chênh lệch giữa nhóm dân cư có thu nhập caonhất và nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất là 5,6 lần, năm 2006 tỷ lệ này tănglên 8,38 lần Do vậy tỷ lệ chi tiêu bình quân đầu người của nhóm giàu nhấttrong tổng chi tiêu dùng xã hội tăng từ 41,8% lên 44,7%, trong khi đó nhómnghèo nhất lại giảm từ 8,4% xuống còn 7,1% ở cùng thời kỳ.(6)
Sự khác biệt trong chỉ số khoảng cách nghèo giữa nông thôn và thànhthị rất lớn, nhưng tốc độ gia tăng trong khoảng cách chi cho tiêu dùng cóchiều hướng chậm lại kể tử năm 1998 trở lại đây Do đó mức độ bất bìnhđằng ở nông thôn đang tiến gần hơn đến mức độ bất bình đẳng ở thành thị.Một phần nguyên nhân là do di cư từ nông thôn ra thành thị đã tăng mạnh t ừkhi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới kinh tế
Hiện nay, ở Việt Nam đang xuất hiện một nhóm nghèo mới Đó là doquá trình đô thị hoá khiến người lao động mất đất sản xuất, không kịp chuyểnđổi nghề nghiệp và di dân ra đô thị Họ không có việc làm ổn định, thu nhậpthấp, không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, đối mặt vớinhiều nguy cơ và tệ nạn xã hội và khả năng rơi vào đói nghèo của nhóm dân
cư này là rất cao
2.2.2 Người nghèo vẫn chưa được hưởng lợi nhiều từ hệ thống an sinh xã hội
Trang 9Theo báo cáo của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP),người nghèo ở Việt Nam vẫn chưa được hưởng lợi nhiều từ hệ thống an sinh
xã hội
Các chuyên gia nhận định, hệ thống an sinh xã hội không tác độngngang nhau lên toàn bộ dân số Phát triển kinh tế kéo theo nâng cao an sinh xãhội không nâng mọi người lên một mức như nhau Các hộ trong nhóm thunhập cao nhất - nhóm 20% giàu nhất nhận được khoảng gần 40% lợi ích ansinh xã hội Trong khi đó, nhóm nghèo nhất chỉ nhận được chưa tới 7%
Những người sống ở đô thị có cơ hội hưởng nhiều chính sách an sinh
xã hội hơn người sống ở nông thôn, người dân tộc Kinh, Hoa được hưởng lợinhiều hơn dân tộc thiểu số, sống ở miền Bắc hưởng nhiều an sinh xã hội hơn
ở miền Nam
Như chúng ta biết, an sinh xã hội giúp cải thiện kỹ năng và sức khỏecho lực lượng lao động quốc gia, từ đó, giúp các doanh nghiệp có tính cạnhtranh hơn Đồng thời, an sinh xã hội giúp cộng đồng có thể chia sẻ và quản lýđược rủi ro kinh tế Nếu không doanh nghiệp và người lao động dễ bị rủi ro, ít
có khả năng đổi mới Quan trọng hơn, một hệ thống an sinh xã hội tốt có thểgiúp người dân tự thoát nghèo và không thể tái nghèo Nước ta đang cố gắngthực hiện chính sách an sinh xã hội nhằm đảo bảo công bằng nhất, đem lại lợiích cho toàn dân nhưng thực tế cho thấy, một bộ phận người dân nghèo vẫnchưa thực sự được hưởng những lợi ích mà an sinh xã hội đem lại
Hiện nay ở Việt Nam, nhóm giàu nhất nhận được 47% lương hưu, cònnhóm nghèo nhất chỉ nhận được 2% Nhóm giàu nhất nhận được 45% trợ giúp
y tế, còn nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 7% Tỷ lệ nhận trợ giúp giáo dụccủa nhóm giàu nhất và nghèo nhất tương ứng là 35% và 15%7 Chuyên giakinh tế cao cấp Jonanthan Pincus kết luận: nhìn tổng quát, tình hình an sinh
xã hội Việt Nam là luỹ thoái
Trang 10Ông phân tích thêm, người hưởng lợi ích từ an sinh xã hội của ViệtNam lại là nhóm có thu nhập cao Bất cứ lợi ích nào mà người nghèo nhậnđược từ an sinh xã hội lại bị lấy lại bằng cách trả phí sử dụng và các khoảnchi tiêu khác cho y tế và giáo dục
Chính phủ trợ cấp tiền cho các hộ nghèo nhất nhưng lại lấy đúng khoản
đó thông qua chi phí sử dụng “Nếu một bên cho tiền thông qua an sinh xã hội, một bên lấy lại thông qua các khoản phí, lợi ích của người dân thu được
sẽ bằng 0, thậm chí, ở con số âm”, ông Pincus nhấn mạnh.
Cũng theo thông tin từ UNDP công bố năm 2008, xét riêng về thunhập, nhóm 20% giàu nhất có thu nhập gấp 8 lần nhóm 20% nghèo nhất vàgấp 2,6 lần so với mức thu nhập bình quân của cả nước Về an sinh xã hội,nhóm 20% giàu nhất có thu nhập từ an sinh xã hội gấp 10 lần so với nhóm20% nghèo nhất (660 nghìn đồng so với 70 nghìn đồng)
Cụ thể hơn, xét trên tất cả các thành phần của các chương trình an sinh
xã hội (bảo hiểm xã hội cho người đang đi làm và hưu trí, trợ cấp y tế, trợ cấpgiáo dục và phúc lợi xã hội) thì hai nhóm người giàu nhất đều được hưởngphần lớn
2.3 Nguyên nhân dẫn đến khoảng cách giàu nghèo ở nước ta ngày càng
gia tăng
Khoảng cách giàu nghèo ở nước ta ngày càng gia tăng là do ảnh hưởngcủa rất nhiều nguyên nhân như: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ dântrí, cơ chế chính sách chưa được tốt …
Vị trí địa lí của nước ta bên cạnh mặt thuận lợi cho phát triển kinh tếcũng gây nhiều khó khăn do hình thế trải dài, gây nên sự cách biệt chênh lệch
về phát triển kinh tế giữa các vùng lãnh thổ trong lịch sử
Nước ta là nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi các thiên tai như
lũ, lụt, hạn hán, sâu bệnh … thường xuyên xảy ra đe dọa tới tài sản của con
Trang 11người Do vậy những vùng thường xuyên xảy ra những thiên tai dịch bệnh thìnền kinh tế của người dân ở vùng này rất kém phát triển.
Do cơ chế chính sách chưa thoả đáng: trung ương cũng như địa phươngchưa có chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng thoả đáng, nhất là các vùng núi cao,vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến cũ, thiếu các chính sách đồng bộ như:chính sách ưu đãi, khuyến khích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, cungcấp dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, văn hoá cũng như chuyển giao công nghệ,
tổ chức chưa tốt việc chăm lo của cộng đồng xã hội đối với người nghèo
Hiện nay nước ta đang trên con đường phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa do đó có những người đã nhanh chóng tiếp thunhững tri thức, khoa học tiến bộ, họ thích ứng nhanh chóng với sản xuất kinhdoanh và các nghành dịch vụ Cuộc sống của bộ phận này được cải thiệnnhững khoản thu của họ không những đủ để chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày
mà còn để mua sắm tài sản cố định để nâng cao mức sống hoặc tích lũy để mởrộng sản xuất Vì vậy mức sống của họ ngày càng cao Còn một số bộ phậnkhông chạy theo được sự thay đổi của xã hội thì ngày càng tụt sâu dưới đáy
xã hội
Tất cả những nguyên nhân trên đã làm những người nghèo ngày càngnghèo thêm và những người giàu thì giàu thêm và tạo ra hố ngăn giữa ngườigiàu và người nghèo ngày càng rộng
Tóm lại, qua thực trạng Việt Nam như hiện nay ta có thể thấy hàng loạtnhững nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo Có rất nhiều nguyênnhân chúng tác động qua lại lẫn nhau và tạo nên vận may, cơ hội của mỗi cánhân, do vậy tạo nên sự khác biệt chênh lệch trong thu nhập, tài sản và hàngloạt các mặt khác của cuộc sống tạo nên sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội
2.4 Hậu quả của chênh lệch giàu nghèo ở nước ta
Bất bình đẳng gia tăng