1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện các quy Định về Điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia Đình việt nam năm 2014 tại Địa phương các Đồng chí

11 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện các quy định về điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 tại địa phương các đồng chí
Tác giả Quang Văn Thải
Chuyên ngành Nhà nước và Pháp luật
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 43,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình, từ quan niệm gia đình là tế bào của xã hội nên trong từng thời kỳ phát triển, Đảng và nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lớn tới vấn đề gia đình, đề ra những chủ trương thể chế hóa bằng pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng. Khi nhà nước quản lý và điều chỉnh quan hệ hôn nhân thì việc nam nữ tạo lập gia đình trở thành sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng, sự kiện này thể hiện dưới một khái niệm là kết hôn. Kết hôn luôn dựa trên quan điểm bình đẳng, tự nguyện. Tuy nhiên để làm phát sinh quan hệ hôn nhân thì phải đáp ứng được điều kiện kết hôn do luật định. Điều kiện kết hôn được coi là yếu tố quan trọng trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014. Để hiểu thêm về vấn đề này chúng ta hãy cùng tìm hiểu việc thực hiện các quy định về điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 tại UBND xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Trang 1

Chủ đề: Thực hiện các quy định về điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân

và gia đình Việt Nam năm 2014 tại địa phương các đồng chí

Bài làm:

Xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình, từ quan niệm gia đình là tế bào của xã hội nên trong từng thời kỳ phát triển, Đảng và nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lớn tới vấn đề gia đình, đề ra những chủ trương thể chế hóa bằng pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng Khi nhà nước quản lý và điều chỉnh quan

hệ hôn nhân thì việc nam nữ tạo lập gia đình trở thành sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng, sự kiện này thể hiện dưới một khái niệm là kết hôn Kết hôn luôn dựa trên quan điểm bình đẳng, tự nguyện Tuy nhiên để làm phát sinh quan hệ hôn nhân thì phải đáp ứng được điều kiện kết hôn do luật định Điều kiện kết hôn được coi là yếu tố quan trọng trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 Để hiểu thêm về vấn đề này chúng ta hãy cùng tìm hiểu việc thực hiện các quy định về điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 tại UBND xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An

I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾT HÔN, ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN

1 Khái niệm:

- Hôn nhân: là sự giao kết giữa nam và nữ trên cơ sở tự nguyện, bình

đẳng và theo quy định của pháp luật, nhằm chung sống với nhau suốt đời để xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, văn mình, hòa thuận và bền vững

- Kết hôn: Theo ngôn ngữ pháp lý được hiểu là việc nam nữ xác lập quan

hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

- Điều kiện kết hôn: là những quy định bắt buộc mang tính chất pháp lý do

Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh việc kết hôn phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Điền kiện kết hôn còn là cơ sở để xác định tính hợp pháp của việc kết hôn

2 Điều kiện để kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014:

Kết hôn được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

Trang 2

Pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu nam, nữ được phép kết hôn mà không quy định tuổi tối đa Quy định này trước hết xuất phát từ cơ sở khoa học Các nghiên cứu trong lĩnh vực y học đã chỉ rõ phải đạt đến độ tuổi này nam, nữ mới phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý Do vậy, họ có thể sinh ra những đứa con khỏe mạnh về thể chất và trí tuệ Đồng thời, họ cũng đủ trưởng thành để thực hiện các nghĩa vụ của người làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ; cùng nhau chia sẻ gánh vác các công việc gia đình Vì thế, quy định về tuổi kết hôn này góp phần tạo dựng lên những cuộc hôn nhân hạnh phúc và bền vững Quy định này còn dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán và truyền thống, văn hóa của dân tộc Điều này giải thích rõ vì sao tuổi kết hôn trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau Quy định về độ tuổi kết hôn tối thiểu đối với nữ theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 thể hiện sự thống nhất và đồng bộ vớLcác quy định trong hệ thống pháp luật Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ phải là người đủ 18 tuổi Vì vậy, quy định về độ tuổi kết hôn theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 còn thể hiện sự thống nhất và đông

bộ với các quy định trong hệ thống pháp luật

Trên thực tế, vẫn có những trường họp nam nữ lấy vợ lấy chồng khi chưa

đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Hiện tượng này được gọi là tảo hôn Như vậy cần phải hiểu rằng tảo hôn không chỉ là việc nam nữ kết hôn trước tuổi luật định mà còn bao gồm cả trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước tuổi luật định Theo điểm b khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm

2014 số 52/2014/QH13, “tảo hôn” được xác định là một trong các hành vi bị cấm Vì vậy, kết hôn trước tuổi luật định sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định:

Tự nguyện trong kết hôn trước hết phải thể hiện bằng ý chí chủ quan của người kết hôn Hai bên nam, nữ yêu thương nhau và tự mình quyết định xác lập quan hệ hôn nhân nhằm mục đích xây dựng gia đình Ý chí này của mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi một bên hoặc của người thứ ba

Tự nguyện kết hôn còn thể hiện bằng dấu hiệu khách quan Người kết hôn phải bày tỏ mong muốn được kết hôn với nhau trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hành vi đăng ký kết hôn Vì thế, khi đăng ký kết hôn yêu cầu phải có mặt của hai bên nam, nữ

Quyền kết hôn là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân Do vậy việc kết hôn phải do người kết hôn tự nguyện quyết định Tự nguyện kết hôn là

Trang 3

đảm bảo để quan hệ hôn nhân được xác lập phù hợp với lợi ích của người kết hôn, là cơ sở để xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững Vì thế, Luật Hôn nhân và gia đình không quy định việc đại diện trong kết hôn đồng thời cấm hành vi cưỡng ép, lừa dối, cản trở việc kết hôn làm cho việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện

- Không bị mất năng lực hành vi dân sự:

Theo quy định theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định Như vậy, tại thời điểm kết hôn mà một người có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó là người mất năng lực hành vi dân sự thì không đủ điều kiện kết hôn

Quy định này đảm bảo tính logic với quy định về sự tự nguyện kết hôn Bởi vì, người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự nguyện bày tỏ ý chí trong việc kết hôn Do vậy, việc chuyển hóa từ một điều cấm thành một yêu cầu đối với người kết hôn là thể hiện rõ tính nhân văn của điều kiện kết hôn này

Thực tiễn đời sống hôn nhân và gia đình cho thấy, nhiều trường họp người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tuy nhiên không có yêu cầu Tòa án tuyên người đó là người mất năng lực hành vi dân sự Vì thế, họ vẫn đủ điều kiện kết hôn, trong khi đó việc kết hôn này có thể ảnh hưởng đến lợi ích của người kết hôn cũng như gia đình

và xã hội Vì vậy, cần phải có các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật cũng như ý thức tôn trọng quyền tự do kết hôn của cá nhân để mọi người tự giác thực hiện, tránh tình trạng quy định điều kiện chỉ mang tính chất hình thức

- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam:

Pháp luật quy định các trường họp cấm kết hôn là nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng; giữ gìn thuần phong mỹ tục của người Việt Nam đối với đời sống hôn nhân và gia đình, góp phần duy trì và bảo tồn nòi giống, thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13, việc kết hôn bị cấm trong các trường hởp sau:

Trang 4

+ Cấm kết hôn giả tạo Quy định điều cấm thể hiện rõ thái độ của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền tự do kết hôn của cá nhân, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc

+ Cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng hoặc cấm người chưa

có vợ, có chồng kết hôn với người đang có vợ, có chồng

Người đang có vợ, có chồng là người đang tồn tại một quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014

số 52/2014/QH13, các trường họp được coi là đang có vợ, có chồng bao gồm:

Người đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và quan hệ hôn nhân đó vẫn đang tồn tại (chưa chấm dứt hôn nhân do sự kiện ly hôn, hoặc một bên chết hay một bên có quyết định của Tòa án tuyên bố

là đã chết);

Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 3/01/1987

và đang chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Theo quy định tại

Điều 131 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13: “Quan hệ hôn nhãn và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết” Theo

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này thì đối với trường họp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/01/1987 không đăng ký kết hôn nhưng tuân thủ các điều kiện kết hôn thì vẫn được thừa nhận là vợ chồng

Như vậy, chỉ những người chưa có vợ, có chồng hoặc đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân trước đã chấm dứt thì mới được phép kết hôn Nếu người đang

có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng thì việc kết hôn đó là trái pháp luật Quy định điều cấm này nhằm bảo vệ nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng, góp phần xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Quy định điều cấm này còn góp phần xóa bỏ chế độ đa thê, giải phóng và nâng cao vị thế của người phụ nữ trong xã hội

Quy định về cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng được dự liệu từ rất sớm (ngay từ đạo luật đầu tiên về hôn nhân và gia đình của Nhà nước

ta - Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, việc cấm kết hôn này đã được ghi nhận) Từ đó đến nay, trong các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ, điều cấm này luôn luôn là một quy định buộc người kết hôn phải tuân thủ Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tình trạng vi phạm điều cấm vẫn còn xảy

Trang 5

ra ở nhiều địa phương trên cả nước và ngày một có diễn biến phức tạp hơn Điều đáng lo ngại là tình trạng vi phạm ngày một tinh vi hơn, làm ảnh hưởng đáng kể đến quyền lợi của những người có quyền lợi liên quan cũng như tác động không tốt đến đời sống hôn nhân và gia đình Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng một trong những nguyên nhân đáng kể làm cho tình trạng vi phạm ngày một gia tăng đó chính là việc xử lý tình trạng vi phạm chưa nghiêm minh cho nên việc phòng ngừa vi phạm kém hiệu quả

Do vậy, để nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được bảo đảm thì cần phải làm tốt hơn nữa việc kiểm tra các quy định về điều kiện kết hôn thông qua thủ tục đăng ký kết hôn và xử lý nghiêm minh các trường họp vi phạm

+ Cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

Những người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau (Xem khoản 17 Điểu 3 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014) Ví dụ như cha mẹ với con, ông bà với các cháu

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác

mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba Vì vậy, cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời được xác định cụ thể như sau: cấm kết hôn giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; cấm kết hôn giữa bác ruột, chú ruột, cậu ruột với các cháu gái, bác ruột, cô ruột, dì ruột với các cháu trai và cấm kết hôn giữa anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì với nhau

Việc cấm kết hôn giữa những người có mối liên hệ huyết thống trong phạm vi trên là hoàn toàn phù hợp Quy định này góp phần duy trì và bảo tồn nòi giống, giúp gia đình thực hiện tốt chức năng sinh đẻ, nhằm thúc đậy sự phát triển của xã hội Bởi vì, dựa trên kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y học, các nhà khoa học đã chỉ rõ, việc kết hôn gần gũi về huyết thống trong phạm vi trực

hệ hoặc ba đời sẽ để lại nhiều di chứng cho thế hệ đời sau Thế hệ con cái của những cuộc hôn nhân này thường hay mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, tỷ lệ tử vong sau sinh cao Điều này là nguyên nhân làm suy giảm giống nòi, ảnh hưởng đến chất lượng dân số

Thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện nay, việc kết hôn giữa những người có quan hệ gần gũi về huyết thống trong phạm vi luật cấm vẫn còn tiếp diễn ở các

Trang 6

vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đáng báo động là tình trạng trên không được ngăn chặn có thể đe dọa dẫn đến sự diệt vong của một số dân tộc hiện đang có

số dân dưới 1.000 người Thực trạng này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do các hủ tục lạc hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số Vì thế, để giảm thiểu tình trạng này cần phải phát huy tốt hơn nữa việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu đối với đời sống hôn nhân và gia đình

+ Cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha

mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Ngoài việc cẩm kết hôn giữa nhưng người có quan hệ huyết thống trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, Luật hôn nhân gia đình năm

2014 số 52/2014/QH13 còn cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng Trái lại với quan điểm cho rằng, việc quy định điều cấm này là không cần thiết Do đó, ngay cả khi giữa những người có ỉhối liên hệ trực hệ không gắn kết bởi tính huyết thống vẫn bị cấm kết hôn Đây là quy định điều cấm phù hợp với đạo đức, văn hóa của người Việt Nam Do vậy, quy định điều cấm góp phần bảo vệ những nét đẹp mang giá trị văn hóa, truyền thống của người Việt Nam đối với đời sống , hôn nhân và gia đình, đồng thời góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình

- Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính:

Do vậy, việc kết hôn phải là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới tính Điều này có nghĩa, hôn nhân phải là sự “kết hợp” giữa nam và

nữ Quy định này trước hết tôn trọng quy luật tự nhiên Mặt khác, trong bối cảnh chung của thế giới cũng như điều kiện thực tế của Việt Nam, việc quy định như vậy là cần thiết và phù hợp nhằm ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình Thực

tế, ở Việt Nam trong những năm gần đây có xuất hiện tình trạng những người cùng giới tính xác lập việc sống chung với nhau Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng không cấm hai người cùng giới tính sống chung Vì vậy, việc sống chung giữa hai người cùng giới tính về nguyên tắc không bị coi là trái pháp luật

- Việc kết hôn phải được tiến hành đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 7

II THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014 TẠI XÃ CHIÊU LƯU

1 Khái quát về xã Chiêu Lưu

Chiêu Lưu là một xã nằm ở phía đông, cách trung tâm huyện 19 km, có tổng diện tích tự nhiên là 12,223,86 ha, địa bàn dân cư có 11 bản, được chia thành 2 vùng (vùng trong có 5 bản; vùng ngoài có 6 bản) với 1.538 hộ, 6.754 khẩu Có 04 hệ dân tộc cùng sinh sống đan xen lẫn nhau đó là: Thái, Kinh, Khơ

Mú và H'Mông Nhân dân toàn xã chủ yếu phát nương làm rẫy, trồng trọt, chăn nuôi và buôn bán dịch vụ hàng hoá nhỏ lẻ, tự cung tự cấp

2 Tình hình kết hôn tại xã Chiêu Lưu từ năm 2015 đến nay

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành ngày 18/06/2014

và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 31/12 năm 2014 Từ năm 2015 đến nay, vấn đề thực hiện các quy định về điều kiện kết hôn đã được Ban Tư pháp xã áp dụng, thực hiện một cách đúng đắn, thống nhất theo đúng các điều khoản được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Theo số liệu của Ban Tư pháp xã, từ năm 2015 đến nay đã có 224 trường hợp đến đăng ký kết hôn tại UBND xã, Ban Tư pháp xã đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định Về cơ bản, các trường hợp đến đăng ký kết hôn đều đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định theo Khoản 1, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:

- Về độ tuổi kết hôn: Từ năm 2015 đến năm 2020, độ tuổi kết hôn trung bình tại xã Chiêu Lưu là 22,5 tuổi đối với nam và 19 tuổi đối với nữ Có một số trường hợp chưa đủ tuổi kết hôn (thiếu ngày) Ban Tư pháp xã không thực hiện việc đăng ký kết hôn và vận động gia đình hai bên chưa tổ chức các thủ tục cưới hỏi theo phong tục tập quán, mà phải chờ đủ năm, đủ tháng, đủ ngày mới tiến hành đăng ký kết hôn theo đúng quy định và thực hiện các thủ tục theo phong tục địa phương Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp do chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn mà vẫn sống chung với nhau như vợ chồng xảy ra trên địa bàn trong năm 2016 tại bản Lưu Tiến, Lưu Thắng, xã Chiêu Lưu Các trường hợp này đều

đã được Ban Tư pháp xã phối hợp với Ban Công an, các đoàn thể xuống trực tiếp tại địa bàn trao đổi, vận động gia đình hai bên tạm thời chưa thể sống chung với nhau như vợ chồng

Trang 8

- Về sự tự nguyện của nam nữ khi thực hiện kết hôn: Trong số 224 trường hợp đến đăng ký kết hôn tại UBND xã, 100% các trường hợp đều tự nguyện và không có bất kỳ sự ràng buộc, ép buộc nào

- Về năng lực hành vi dân sự của người kết hôn: Các trường hợp đến kết hôn đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, chưa có trường hợp nào người không có năng lực hành vi dân sự đến đăng ký kết hôn

- Từ năm 2015 đến nay, việc thực hiện đăng ký kết hôn tại xã Chiêu Lưu

đã được Ban Tư pháp xã thực hiện một cách nghiêm túc, minh bạch, không có trường hợp nào vi phạm các trường hợp cấm trong kết hôn như kết hôn giả tạo, kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng hoặc cấm người chưa có vợ, có chồng kết hôn với người đang có vợ, có chồng, kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của

vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Việc thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã đã được Ban Tư pháp xã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, cụ thể, thủ tục đăng ký kết hôn như sau:

Bước 1: Chuẩn bị giấy tờ

Thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ cần phải chuẩn bị những giấy tờ sau:

+ Mẫu tờ khai đăng ký kết hôn;

+ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được UBND cấp xã nơi cư trú cấp; + Quyết định hoặc bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật (nếu trước đó đã từng kết hôn và ly hôn);

+ CMND, hộ chiếu, thẻ CCCD hoặc giấy tờ khác có dán ảnh

(Lưu ý: những loại giấy tờ này phải đang còn thời hạn sử dụng)

Bước 2: Nộp hồ sơ cho cán bộ Tư pháp xã

Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch 2014, sau khi chuẩn bị đủ các giấy tờ nêu trên Các cặp đôi cần đến UBND xã nơi cư trú của một trong hai

bên để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn.

Trang 9

Ngoài ra, tại Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014, nợi thực hiện đăng ký kết hôn cho các cặp nam, nữ là UBND cấp huyện áp dụng cho các trường hợp sau đây:

+ Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài;

+ Công dân Việt Nam định cư nước ngoài kết hôn với nhau;

+ Công dân Việt Nam cư trú trong nước kết hôn với công dân Việt Nam định cư nước ngoài;

+ Công dân Việt Nam có quốc tịch nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài

Đặc biệt, đối với hai người nước ngoài khi có nhu cầu đăng ký kết hôn ở Việt Nam thì phải đến UBND cấp huyện nơi mà một trong hai bên cư trú để thực hiện việc đăng ký kết hôn (khoản 1 Điều 37 Luật Hộ tịch)

Bước 3: Giải quyết đăng ký kết hôn

Nếu đáp ứng đủ điều kiện để làm thủ tục đăng ký kết hôn, cán bộ tư pháp

sẽ ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch Hai bên nam nữ ký tên vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và Sổ hộ tịch

Đồng thời hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy đăng ký kết hôn và Sổ đăng

ký kết hôn sau đó cán bộ tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã để trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ

Bước 4: Cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn được cấp ngay sau khi cán bộ tư pháp nhận được đủ hồ sơ hợp lệ và xét thấy có đủ điều kiện kết hôn theo quy định ( Điều 18 Nghị định 123/2015/NĐ-CP) Trường hợp nếu cần xác minh thêm những điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn cấp Giấy chứng nhận kết hôn không được quá 05 ngày làm việc

Riêng trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài, việc trao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn được thực hiện trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày ký

Đặc biệt: Nếu trong 60 ngày kể từ ngày đăng ký mà hai bên không thể có mặt để nhận giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì Giấy đăng ký kết hôn này sẽ

bị hủy Nếu hai bên muốn tiếp tục kết hôn thì phải thực hiện thủ tục lại từ đầu

3 Đánh giá việc thực hiện các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 ở xã Chiêu Lưu

Trang 10

Trong thời gian qua, việc thực hiện các điều kiện các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được Ban Tư pháp xã thực hiện một cách nghiêm túc Công tác tuyên truyền, phổ biến Pháp luật đã được Ban

Tư pháp, Ban Công an và các đoàn thể thực hiện thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như tuyên truyền trực quan thông qua các cuộc họp dân, họp chi bộ, ban quản lý bản… qua hình thức thức phát thanh qua

hệ thống phát thanh của xã, loa thông báo của các bản, qua các phương tiện truyền thông như zalo, facebook…

Tuy nhiên, trong thời gian qua vẫn còn một số trường hợp chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn mà vẫn sống với nhau như vợ chồng (hay còn gọi là tảo hôn) xảy ra tại bản Lưu Thắng và Lưu Tiến

Nguyên nhân:

- Việc tuyên truyền chính sách pháp luật còn gặp rất nhiều khó khăn, mức

xử lý vi phạm còn thấp chưa đủ sức răn đe, cùng với đó, người dân các dân tộc thiểu số, vùng núi kinh tế còn nghèo nàn, vì vậy việc xử phạt cũng khó thu được tiền

- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại các vùng có nạn tảo hôn còn gặp nhiều khó khăn do nhiều yếu tố: rào cản về ngôn ngữ vì nhiều người dân không biết nói tiếng phổ thông, trình độ dân trí thấp, nhiều người dân không biết chữ, đối tượng tuyên truyền không tham gia vào các buổi tuyên truyền…

- Sự can thiệp từ phía chính quyền địa phương đối với các trường hợp tảo hôn còn chưa quyết liệt, một số nơi chính quyền địa phương còn hời hợt

- Chính sách đầu tư phát triển vùng miền núi còn khó khăn do hạ tầng kinh tế, xã hội của tỉnh còn nhiều yếu kém, dân số ít và sống phân tán, trình độ dân trí không đồng đều… vì vậy đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn

- Ảnh hưởng của phong tục tập quán và quan niệm lạc hậu trong hôn nhân, những hủ tục lạc hậu vẫn tồn tại như đã ăn sâu vào mỗi người dân Có thể

kể đến các hủ tục lạc hậu như bắt vợ, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy

- Do người dân thiếu hiểu biết và trình độ học vấn thấp kết hợp với phong tục lạc hậu

- Sự quan tâm và chăm lo của cha mẹ đối với con cái ở nhiều gia đình còn buông lỏng, hời hợt Sự phát triển của mạng xã hội, sự du nhập của văn hóa

Ngày đăng: 09/07/2024, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w