Khủng hoảng tài chính Thế giới 2007-2009 và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 5
1.1 Lý thuyết về chu kỳ kinh tế 5
1.1.1 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế 6
1.1.2 Nguyên nhân và biện pháp đối phó với chu kỳ kinh tế 6
1.2 Lý thuyết của Mác về CNTB và tính tất yếu của khủng hoảng kinh tế trong CNTB 9
1.2.1 Lý luận về giá trị của Mác 9
1.2.2 Lý luận của C.Mác về tài sản ảo trong CNTB 10
CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN GÂY RA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 2007-2009 13
2.1 Nguyên nhân sâu xa: 13
2.2 Nguyên nhân gián tiếp: 13
2.3 Nguyên nhân trực tiếp: 14
2.3.1 Các yếu tố kinh tế 14
2.3.2 Yếu tố pháp lý 17
CHƯƠNG III: DIỄN TIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 2007-2009 19
3.1 Diễn tiến của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới 2007-2009 19
3.2 Tác động của cuộc khủng đối với Hoa Kỳ và phản ứng của Hoa Kỳ 24 3.2.1 Tác động của cuộc khủng đối với Hoa Kỳ 24
3.2.2 Phản ứng của Hoa Kỳ 25
3.2.2.1 Phản ứng của Cục dự trữ liên bang Mỹ 25
3.2.2.2 Phản ứng của chính phủ Mỹ 26
3.3 Tác động của cuộc khủng hoảng đối với Thế giới 27
Trang 2CHƯƠNG IV: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI ĐẾN VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
ĐỐI VỚI VIỆT NAM 29
4.1 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến Việt Nam 29
4.1.1 Làm chậm tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam 29
4.1.2 Ảnh hưởng rõ rệt đến khu vực xuất nhập khẩu của Việt Nam 30
4.1.3 Thâm hụt tài chính 30
4.1.4 Chính sách tiền tệ 30
4.1.5 Một số vấn đề Xã Hội 31
4.2 Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam 31
4.2.1 Vấn đề đặt ra đối với Chính Phủ 31
4.2.2 Vấn đề đặt ra đối với hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán Việt Nam 33
4.2.2.1 Đối với hệ thống ngân hàng 33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 37
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU a.Tính tất yếu
Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới 2007-2009 đã kết thúcnhưng những hậu quả và sức tàn phá của nó thật khiến người ta cho đến nayvẫn không tin mình đã ra khỏi khủng hoảng Đây là một cuộc khủng hoảng gâythiệt hại lớn, có qui mô rộng và được đánh giá là một bước ngoặt trong lịch sửphát triển kinh tế của con người Bước ngoặt bởi lẽ trong cuộc khủng này,CNTB đã bộc lộ ra những điểm yếu chết người mang bản chất của nó bắt nguồn
từ sự “chạy theo siêu lợi nhuận” của các nhà đại tư bản và sự bất lực của cácchính khách Cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ cường quốc kinh tế số một thếgiới-Hoa Kỳ, làm suy sụp trung tâm tài chính trứ danh phố Wall và qua đó lanrộng sang các nước khác, làm tê liệt hệ thống tài chính toàn cầu và gây thiệthại cho rất nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Tư bản giàu có và các đạigia tư sản của Thế giới
Việt Nam trong những năm trước khủng hoảng, trong một khoảng thờigian dài đã duy trì được một tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao và ổnđịnh Tuy nhiên, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, ViệtNam chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế,đặc biệt là hệ thống tài chính được đánh giá là còn rất non trẻ ở Việt Nam
Với tính cấp thiết đó , đề tài “Khủng hoảng tài chính Thế giới 2007-2009
và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” đã được chọn để nghiên cứu.
b Mục đích
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu về cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu 2007-2009 và qua đó nêu ra một số vấn đề đối với Việt Nam
Trang 4c Đối tượng phạm vi
c.1 Đối tượng
Đề tài sẽ nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2009
c.2 Phạm vi
Nghiên cứu số liệu từ năm 1970 đến nay
d Phương án nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp , so sánh
e Kết cấu bài viết
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục , phụ lục và danh mục tài liệu thamkhảo, đề tài được trình bày thành 4 chương:
Chương I: Lý thuyết chung về khủng hoảng kinh tế
Chương II: Nguyên nhân khủng hoảng tài chính Thế giới 2007-2009
Chương III: Diến tiến của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới 2007-2009
Chương IV: Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới 2007-2009đối với Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
1.1 Lý thuyết về chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDPthực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùngnổ) Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉgồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng)
Đồ thị 1.1: Các pha của chu kỳ kinh tế
Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi Ở Mỹ và Nhật Bản, người
ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt haiquý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái
Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trướcsuy thoái Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế
Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suythoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ) Kết thúc
Trang 6pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới Điểm ngoặt từ pha hưng thịnhsang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh
tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăngtrưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương Trong thực tế, cácnhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêucực đến mọi mặt kinh tế, xã hội Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trongcác doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắtgiảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kếtquả là GDP thực tế giảm sút
Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao độnggiảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăngcao
Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuấtgiảm bởi nguyên nhân cầu sút kém Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăngkhông nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái
Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thườnggiảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinhdoanh Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suythoái
1.1.1 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật Không cóhai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hayphương pháp nào dự báo chính xác thời gian, thời điểm của các chu kỳ kinh tế.Chính vì vậy chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vựccông cộng lẫn khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn Khi có suy thoái, sản lượnggiảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, các thị trường từ hàng hóa dịch vụ cho đếnthị trường vốn thu hẹp dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội
1.1.2 Nguyên nhân và biện pháp đối phó với chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vực tư nhân và kếhoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn Việc làm và lạm phát cũng thườngbiến động theo chu kỳ kinh tế Đặc biệt là trong những pha suy thoái, nền kinh
tế và xã hội phải gánh chịu những tổn thất, chi phí khổng lồ Vì thế, chống chu
Trang 7kỳ là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra Tuy nhiên, vì cách lý giải nguyên nhângây ra chu kỳ giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nênbiện pháp chống chu kỳ mà họ đề xuất cũng khác nhau.
* Chủ nghĩa Keynes cho rằng chu kỳ kinh tế hình thành do thị trườngkhông hoàn hảo, khiến cho tổng cầu biến động mà thành Do đó, biện phápchống chu kỳ là sử dụng chính sách quản lý tổng cầu Khi nền kinh tế thu hẹp,thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nới lỏng Khi nền kinh
tế khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt chặt Hình 1minh họa một sự suy thoái do tổng cầu giảm: tổng cầu dịch chuyển từ AD sangAD' khiến cho sản lượng giảm từ Q xuống Q' và giá cả giảm từ P đến P' (lạmphát giảm)
* Các trường phái theo chủ nghĩa kinh tế tự do mới thì cho rằng sở dĩ cóchu kỳ là do sự can thiệp của chính phủ hoặc do những cú sốc cung ngoài dựtính Vì thế, để không xảy ra chu kỳ hoặc để nền kinh tế nhanh chóng điềuchỉnh sau các cú sốc cung, chính phủ không nên can thiệp gì cả Hình 2 minhhọa một trường hợp suy thoái do tổng cung giảm: vì lý do nào đó (ví dụ giá đầuvào tăng đột biến) tổng cung giảm từ AS xuống AS' khiến cho sản lượng giảm
từ Q xuống Q' nhưng giá cả lại tăng từ P lên P' (lạm phát tăng)
Trang 8Một số lý thuyết chính lý giải nguyên nhân của chu kỳ kinh tế là:
* Lý thuyết tiền tệ: cho rằng chu kỳ kinh tế là do sự mở rộng hay thắt chặt
của chính sách tiền tệ và tín dụng Đại diện tiêu biểu của lý thuyết này là nhàkinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế năm 1976, người đứng đầu trường pháiChicago Milton Friedman Lý thuyết này tỏ ra phù hợp với cuộc suy thoái củakinh tế Mỹ 1981-1982 khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất danh nghĩa tới18% để chống lạm phát
* Mô hình gia tốc - số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, mô hình này chorằng các biến động ngoại sinh được lan truyền theo cơ chế số nhân kết hợp với
sự gia tốc trong đầu tư tạo ra những dao động có tính chu kỳ của GDP
* Lý thuyết chính trị: đại diện là các nhà kinh tế học William Nordhaus,Michał Kalecki, Lý thuyết này quy cho các chính trị gia là nguyên nhân gây
ra chu kỳ kinh tế vì họ hướng các chính sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắngcử
* Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng: với những đại diện như RobertLucas, Jr., Robert Barro, Thomas Sargent phát biểu rằng những nhận thức sailầm về sự vận động của giá cả, tiền lương đã khiến cho cung về lao động quánhiều hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản lượng và việc làm Một trongnhững phiên bản của lý thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong suy thoái là do
Trang 9mức lương thực tế của công nhân cao hơn mức cân bằng của thị trường laođộng
* Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tíchcực hay tiêu cực về năng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trongnền kinh tế và gây ra những dao động có tính chu kỳ Những người ủng hộ lýthuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 2004 Edward Prescott,Charles Prosser,
Tuy vậy, cho dù mỗi lý thuyết trên đây đều có tính hiện thực, không có lýthuyết nào tỏ ra đúng đắn ở mọi lúc, mọi nơi Ngày nay, quan sát các chu kỳkinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp phát triển, người ta phát hiện ra hiệntượng pha suy thoái càng ngày càng ngắn về thời gian và nhẹ về mức độ thuhẹp của GDP thực tế Một trong những nguyên nhân quan trọng là chính phủcác nước này đã hiểu biết và vận dụng tốt hơn những hiểu biết về kinh tế vĩ mô.Bằng cách kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nhà nước cóthể ngăn chặn một cuộc suy thoái biến thành khủng hoảng
1.2 Lý thuyết của Mác về CNTB và tính tất yếu của khủng hoảng kinh tế trong CNTB.
1.2.1 Lý luận về giá trị của Mác
“Như các nguyên tử biệt lập, những con người chỉ quan hệ với nhau qua sức hút của những đồ vật-hàng hoá do họ làm ra để hình thành một hình thái
xã hội Và hình thái xã hội ấy chính là một cơ chế sản xuất vô chủ thể, chạy theo đồng tiền một cách điên cuồng, vận động bên ngoài ý thức của những người sản xuất, bất chấp những hậu quả gây ra cho người khác – đó chính là
tư tưởng của Marx về xã hội hàng hoá tư bản chủ nghĩa Rõ ràng đây là sự mô
tả mácxít về cái gọi là “bàn tay vô hình” mà những nhà kinh tế cổ điển đã coi
là sự diệu kỳ”_Lữ Phương
Trong bộ Tư Bản, Mác nói rằng “…với tư cách là kẻ sáng tạo ra giá trị
sử dụng là lao động có ích, thì lao động là một điều kiện tồn tại của con ngườikhông phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnhcửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên, tức là chobản thân sự sống của con người”
Mác cho răng “Quá trình lao động, như chúng ta đã hình dung nó trongnhững yếu tố đơn giản và trừu tượng của nó, là một hoạt động có mục đíchnhằm tạo ra những giá trị sử dụng, là sự chiếm đoạt những cái có sẵn trongthiên nhiên để thoả mãn những nhu cầu của con người, là điều kiện chung của
Trang 10sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, là một điều kiện tự nhiên và vĩnhcửu của đời sống của con người, và vì vậy quá trình lao động ấy không phụthuộc vào bất kỳ một hình thái nào của đời sống đó, mà ngược lại, nó là chungcho tất cả mọi hình thái xã hội của đời sống đó một cách giống như nhau Vìvậy, chúng ta không cần phải xét người lao động trong mối quan hệ với nhữngngười lao động khác Một bên là con người và lao động của con người, bên kia
là tự nhiên và vật liệu của tự nhiên – thế là đủ”
“Quả thật, một đầu óc phát triển hơn, có tính phê phán hơn, thừa nhận tínhchất phát triển về mặt lịch sử của của các quan hệ phân phối, nhưng đồng thờilại càng bám chặt hơn vào tính chất không thay đổi, bắt nguốn từ bản chất củaloài người và do đó, không phụ thuộc vào bất cứ một sự phát triển lịch sử nàocủa bản thân các quan hệ sản xuất”
“Quyền lực của nhà tư bản với cương vị là hiện thân, [đại biểu nhâncách] của tư bản trong quá trình sản xuất, với tư cách là người lãnh đạo sảnxuất, chức năng xã hội của hắn về bản chất khác với quyền lực trong một nềnsản xuất của những nô lệ, những nông nô v.v… Trong hệ thống tư bản chủnghĩa, tính chất xã hội của sản xuất tác động lên những người sản xuất trực tiếpnhư là một cơ chế xã hội được tổ chức theo đẳng cấp, trong đó những ngườihành xử quyền lực, do họ là những đại biểu nhân cách cho những điều kiện laođộng để chống lại lao động chứ không phải như trong những hệ thống sản xuấttrước đó, do họ là những kẻ thống trị chính trị hoặc thần quyền Ngược lại, giữanhững nhà tư bản nắm quyền và tác động vào nhau, chỉ với cương vị những kẻ
sở hữu hàng hoá, một tình trạng vô chính phủ hoàn toàn đã ngự trị , trong đó sựgắn kết xã hội của sản xuất chỉ vượt qua được sự tuỳ tiện cá nhân do nó là mộtquy luật tự nhiên đầy sức mạnh”
Tóm lại, theo Mác, sự bóc lột giá trị thặng dư sẽ cuối cùng tất yếudẫn tới sự thiếu hụt khả năng chỉ trả của người lao động và khả năng chỉ trả cáckhoản vay của người lao động
1.2.2 Lý luận của C.Mác về tài sản ảo trong CNTB
Khi phân tích về CNTB, C.Mác đã chỉ ra trong rất nhiều tài liệu lý thuyếtcủa mình về những mâu thuẫn nội tại của CNTB sẽ dẫn tới khủng hoảng
Mác cho rằng trong một thế giới gồm các thị trường cạnh tranh nhau, nềnsản xuất hàng hóa và sự đầu cơ tài chính tiền tệ, những gì ông gọi là “mâuthuẫn” chính là thứ cố hữu bẩm sinh của thế giới đó
Trang 11Mác viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Nếu giai cấp tư sảnkhông thường xuyên cải cách công cụ sản xuất, từ đó không làm cho quan hệsản xuất – cũng tức là toàn bộ mối quan hệ xã hội, thường xuyên cải cách, thìgiai cấp đó không thể sống còn.”
Mác cho rằng “Nhu cầu không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm đã thúc đẩy giai cấp tư sản đi tới khắp nơi trên toàn cầu”, và thấy được sựphát triển chủ nghĩa tư bản sẽ không thể tránh khỏi dẫn tới việc “mở đường chonhững cuộc khủng hoảng sâu sắc rộng khắp hơn”
Mác hiểu rõ các hành vi đầu cơ sẽ gây ra khủng hoảng và làm cho nó xấu
đi, các hành vi ấy có sức phá hoại rất lớn toàn bộ nền kinh tế Hơn nữa ông cònnhìn rõ biện pháp gọi là thông qua cải cách kiểu tiệm tiến (incremental reform)
để mãi mãi tránh khỏi khủng hoảng chẳng qua là một ảo tưởng chính trị
Khi nghiên cứu về CNTB, Mác đã ví von rằng chủ nghĩa tư bản giống nhưmột “thầy phù thủy (sorcerer), song lại bất lực trong việc điều khiển bày maquỷ do mình gọi ra.”
Mác viết: “Việc cho nhau vay giữa các nhà công nghiệp và thương nhânlại kết hợp với những khoản mà các ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho họvay, để đổi lấy các kỳ phiếu Vì các kỳ phiếu chỉ đơn thuần là những kỳ phiếu
ảo, và vì các giao dịch về hàng hóa chỉ nhằm độc có mục đích tạo ra các kỳphiếu, cho nên toàn bộ quá trình đã trở nên rắc rối tới mức cái vẻ bề ngoàitường như công việc kinh doanh vẫn diễn ra rất vững chắc và vẫn thu hồi được
tư bản về một cách liên tiếp - cái vẻ bề ngoài đó vẫn có thể được duy trì mộtcách yên ổn trong một thời gian dài, nhưng thực ra thì đã từ rất lâu, nhữngkhoản thu tiền về này chỉ được thực hiện một phần bằng cách đập vào lưngnhững người cho vay tiền bị lừa gạt, hay những người sản xuất bị lừa gạt.Thành thử chính ngay trước khi bị phá sản, công việc kinh doanh luôn luôn cócái vẻ hầu như vẫn quá ư lành mạnh, cho tới khi đột nhiên bị phá sản”
Marx không chỉ mô tả hiện tượng mà còn lý giải hết sức sâu sắc nguyênnhân của các cuộc khủng hoảng, vì sao người ta lại không nhận biết được dấuhiệu của một cuộc khủng hoảng sắp nổ ra, và rồi sau cuộc khủng hoảng mọi sự
sẽ diễn biến tiếp như thế nào v.v
"Chứng khoán, với tư cách là bản sao của tư bản thực tế, chỉ là tư bản giả,
ảo tưởng, tuy cũng được mua bán như hàng hóa Giá trị của chúng có thể tănghay giảm hoàn toàn độc lập với sự vận động của tư bản thực mà chúng đại biểu.Như vậy, cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì của cảitưởng tượng ấy cũng tăng lên do sự tăng giá trị của chứng khoán
Trang 12Trong chừng mực mà sự mất giá của các chứng khoán không biểu hiện
sự đình trệ thật sự của nền sản xuất, thì sự tan vỡ của các bong bóng xà phòngnày, chứa đầy tư bản tiền tệ danh nghĩa, cũng không làm cho quốc gia nghèobớt đi một đồng xu nào cả Tuy nhiên, sự mất giá của các chứng khoán có giátrong thời kỳ khủng hoảng là một phương tiện mạnh nhất để tập trung tài sảnbằng tiền…
… Trong một chế độ mà sản xuất chủ yếu dựa trên tín dụng, chừng nàoquá trình tái sản xuất vẫn diễn ra liên tục và việc tư bản quay về được đảm bảothì tín dụng vẫn được duy trì và mở rộng Nhưng nếu xây ra một sự đình trệ, doviệc tư bản quay về bị chậm lại, do thị trường bị tràn ứ do giá cả sụt xuống, thì
sẽ nổ ra khủng hoảng Hàng hóa không bán được, tư bản cố định thông sử dụngđược, tín dụng bị co hẹp Kết quả là nảy ra hiện tượng khan hiếm tín dụng Nếu đột nhiên tín dụng bị đình chỉ và chỉ những việc thanh toán bằng tiềnmặt mới có hiệu lực, thì ở đó hiển nhiên phải xảy ra khủng hoảng và tình trạng
xô đẩy nhau chạy theo các phương tiện thanh toán Cho nên mới thoạt nhìn thìtoàn bộ cuộc khủng hoảng có vẻ chỉ là một cuộc khủng hoảng tín dụng và tiền
tệ Và thật vậy, vấn đề chỉ là làm sao biến được các kỳ phiếu thành tiền Nhưngđại bộ phận các kỳ phiếu đó đều đại biểu cho các việc mua bán mà khối lượngvượt rất xa các nhu cầu của xã hội, thành thử chính điều đó lại là cơ sở của toàn
Trang 13CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN GÂY RA KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH THẾ GIỚI 2007-2009 2.1 Nguyên nhân sâu xa:
Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuộc khủng hoảng
1970 Trong suốt thời gian này, số liệu cho thấy thu nhập thực tế của người laođộng đã không tăng mặc dù năng suất lao động đã tăng đáng kể( Wolff, 2008).Nói cách khác, xét về mặt tổng thể, mặc dù số lượng hàng hóa tăng lên đáng kểnhưng khả năng thanh toán của đa số người lao động lại không tăng lên Do vậy, việc cho vay tiêu dùng là tất yếu Việc cho vay tiêu dùng như vậy rõ ràng làchỉ có thể trì hoãn được khủng hoảng chứ không chữa được căn bệnh kinh niên
là người lao đọng tiêu dùng phần khoog phải thuộc về mình trong tổng sảnphẩm Phần không thuộc về mình đó là tiêu điểm của sự xem xét Mác xít nhưchúng ta đã biết, vì đang ra nó( sản phẩm thặng dư đó phải thuộc về người laođộng), nhưng cấu trúc sỡ hửu và hệ thống chính trị pháp lý đã đảm bảo rằng nóthuộc về giới chú tư bản Đây là nguyên nhân sâu xa mà nếu không giải quyết ởmức hệ thống, sẽ không bao giờ giải quyết được bệnh căn của khủng hoảng chu
kỳ
2.2 Nguyên nhân gián tiếp:
Paul Krugman, người đoạt giải Nobel kinh tế 2008, đồng thời là một nhàbáo chuyên mục của tờ New York Times, và cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính MỹHenry Paulson, cùng có quan điểm cho rằng, sự mất cân đối toàn cầu - có thểđược hiểu là những khoản thặng dư thương mại khổng lồ của một số quốc gianhư Trung Quốc, và thâm hụt thương mại cũng vĩ đại không kém của một sốnước khác như Mỹ - là nguyên nhân gián tiếp gây ra khủng hoảng tài chính.Những người có quan điểm cho rằng mất cân đối toàn cầu (global imbalances)gây ra cuộc khủng hoảng nhìn nhận, một lượng tiền dư thừa từ những quốc gia
có tỷ lệ tiết kiệm cao, như Trung Quốc và các nước xuất khẩu dầu lửa, đã chảyvào nước Mỹ Những dòng tiền này khiến lãi suất tại Mỹ được duy trì ở mứcthấp và tạo ra sự bùng nổ trong lĩnh vực cho vay tín dụng, tiếp đó là sự tăng vọtcủa giá các loại tài sản như nhà đất và chứng khoán Rốt cục, khi những bongbóng này vỡ, khủng hoảng tài chính nổ ra theo
Trang 142.3 Nguyên nhân trực tiếp:
2.3.1 Các yếu tố kinh tế
Nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là đề tài đangđược tranh cãi và mổ xẻ Một trong những tác nhân chính gây nên tình trạngkhủng hoảng hiện nay là các ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tàichính Mỹ thông qua hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn và nghiệp vụ chứngkhoán hoá mà nhiều chuyên gia gọi là “Cỗ máy đầu tư cấu trúc” (StructuredInvestment Vehicle – SIV) Đây có thể được xem là mô hình chứng khoán hoábất động sản kiểu Mỹ được hình thành từ những năm 1980 Phương thức kinhdoanh của các SIV là huy động vốn ngắn hạn thông qua việc phát hành thươngphiếu (commercial paper) với lãi suất thấp để đầu tư vào các loại chứng khoánđược đảm bảo bằng tài sản (asset-backed securities), đa số trường hợp là bấtđộng sản với lãi suất cao Mô hình và diễn biến của hoạt động chứng khoán hoábất động sản có thể khái quát như sau:
Đồ thị 2.1: Diễn biến thay đổi của lãi suất chính sách ở Hoa Kỳ (đường màu xanh).
Nguồn: FED
Vào đầu năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự trữ liênbang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ lãi suất cơ bản, dẫn đến việc các ngân hàngthương mại cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản Còn nhớ, vào giữanăm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6%/năm nhưng sau đó lãi suất nàyliên tục được cắt giảm để kích thích TTCK và hoạt động đầu tư nhằm đẩy mạnhtăng trưởng kinh tế, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%/năm Trong khi đó,Chính phủ Mỹ lúc bấy giờ lại có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho
Trang 15dân nghèo được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn được thựchiện thông qua hai công ty tài chính (CTTC) được bảo trợ bởi chính phủ làFannie Mae và Freddie Mac Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bấtđộng sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM cho ngườinghèo mà không cần chứng minh thu nhập còn gọi là cho vay dưới chuẩn(subprime), biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoảnvay thế chấp (mortgage-backed securities – MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu
tư trên TTCK, chủ yếu là các nhà đầu tư tổ chức lớn như Bear Stearns vàMerrill Lynch Khi đã chứng khoá hoá các khoản cho vay bất động sản, hay nóicách khác là đã hình thành một sự liên thông mật thiết với TTCK thì thị trườngbất động sản (TTBĐS) không còn là sân chơi duy nhất của các NHTM hoặc cáccông ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa mà đã có sự tham gia tíchcực của các nhà đầu tư và đầu cơ trên TTCK vốn có khả năng tài chính rất dồidào Về bản chất, MBS là một công cụ phái sinh từ bất động sản nên việc pháthành, giao dịch và bảo hiểm MBS hết sức thông thoáng và Chính phủ Mỹdường như không thể kiểm soát nổi Do có thể bán lại phần lớn các khoản vay
để các công ty khác biến chúng thành MBS, các NHTM đã trở nên mạo hiểmhơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay Vòng xoáy củathị trường đã đi quá xa, đặc biệt là “bong bóng” bất động sản bắt đầu “xì hơi”thì điều gì phải đến đã đến…
Đồ thị 2.2: Mua repo MBS của Fed tăng vọt vào cuối năm 2007
Nguồn: FED
Trang 16Đồ thị 2.3: Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kỳ bong bóng thị trườngnhà ở.
Nguồn: WB
Theo Giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Tokyo) và Phó Giáo sưTrần Lê Anh (Đại học Lasell, Boston) thì, tính chất của công cụ đầu tư pháisinh MBS có thể mô tả đơn giản như sau: Một công ty tài chính (Fannie Maehay Lehman Brothers chẳng hạn), bỏ tiền ra mua lại các khoản cho vay thếchấp từ các NHTM, tập trung chúng thành từng loại khác nhau, rồi phát hànhMBS để bán lại cho các nhà đầu tư Ví dụ, Fannie Mae mua 1.000 khoản vaythế chấp với các đặc điểm giống nhau với giá gốc là 200.000 USD cho mỗikhoản vay Khi tập trung lại thì tổng trị giá các khoản vay này sẽ là200.000.000 USD Fannie Mae có thể biến khoản này thành 100.000 MBS, trịgiá 2.000 USD một phần và bán lại cho các nhà đầu tư Nếu nhà đầu tư mua 10MBS thì sẽ trả 20.000 USD Sau khi mua các MBS thì các nhà đầu tư sẽ nhậnlại khoản tiền vừa lãi vừa gốc được chuyển đến hằng tháng từ các người vaytiền (thông qua một công ty dịch vụ trung gian) trong một khoản thời gian nhấtđịnh nào đó Sau khi đáo hạn, thì tổng số tiền mà nhà đầu tư nhận được sẽ làtrên 20.000 USD (tiền vốn gốc bỏ ra đầu tư cộng với tiền lãi hằng năm) CácMBS dựa trên các khoản vay có tính chất rủi ro cao hơn thì tất nhiên sẽ đem lạilời nhiều hơn cho các nhà đầu tư Vì có sự khác nhau về rủi ro của các loạiMBS cho nên các công ty bảo hiểm và thẩm định rủi ro, chẳng hạn như AIG,cũng nhảy vào để bán bảo hiểm cho các nhà đầu tư MBS Các sản phẩm bảohiểm này được gọi là credit default swap (CDS), với mục đích bảo đảm cho cácnhà đầu tư MBS là trong trường hợp những người vay tiền mua nhà không trảđược nợ và làm cho MBS mất giá thì sẽ được bồi thường Sự việc này đã tạonên một loạt chân rết mới, kéo thêm các thành phần khác tham gia cuộc chơi,
Trang 17bởi vì bán bảo hiểm loại này trong lúc thị trường bất động sản đang phất lên và
ít người vỡ nợ thì rất có lời
Như vậy, nhìn vào thực tế thì các NHTM đã huy động vốn ngắn hạn đểcho vay dài hạn vào một lĩnh vực khá nhạy cảm là bất động sản, mặc dù để đảmbảo khả năng thu hồi nợ họ đã bán các khoản cho vay này cho các tổ chức tàichính và đã để lại cho nền kinh tế, thị trường tài chính rủi ro rất lớn Đó là rủi
ro vỡ nợ khi giá của các tài sản dài hạn là bất động sản xuống thấp hơn giá trịcủa các khoản nợ ngắn hạn và rủi ro thanh khoản do việc đi vay ngắn hạnnhưng lại cho vay dài hạn Rủi ro này sẽ tăng lên gấp bội trong điều kiện thiếu
sự kiểm soát và giám sát của Chính phủ
2.3.2 Yếu tố pháp lý
Chính vì huy động vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn nhằm chạy theo lợinhuận và bỏ qua các yếu tố kiểm soát rủi ro mà đã dẫn đến cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới vào những năm 1929-1933 củathế kỷ trước Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng lần đó là không có sự táchbạch giữa hoạt động kinh doanh tiền tệ và hoạt động kinh doanh chứng khoáncủa của các NHTM Hay nói khác đi, việc không có sự tách bạch giữa chứcnăng NHTM và ngân hàng đầu tư (NHĐT) trong cùng một ngân hàng đã tạo ra
kẽ hở nguy hiểm trong Luật ngân hàng Mỹ lúc bấy giờ Lợi dụng kẽ hở này,các NHTM sử sụng tiền huy động ngắn hạn để đầu tư vào chứng khoán KhiTTCK phát triển nóng đã mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các ngân hàng này
và đẩy giá chứng khoán vượt xa giá trị thực, tạo nguy cơ “bong bóng” Khi
“bong bóng” chứng khoán “xì hơi”, giá chứng khoán “tuột dốc không phanh”các ngân hàng không bán được chứng khoán để thanh toán các khoản vay đếnhạn hoặc để đáp ứng nhu cầu rút tiền trước thời hạn của người gửi tiền thì cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ đã thực sự nổ ra Bên cạnh đó, trước sự sụt giảmliên tục của giá chứng khoán, giới đầu cơ giá xuống “Bear” đã chớp thời cơthực hiện bán khống bằng cách vay những cổ phiếu của các tập đoàn, ngânhàng lớn ồ ạt bán ra tạo nên áp lực giảm giá không gì cứu vãn nổi Sau khi giáchứng khoán giảm đến một mức nào đó, giới đầu cơ sẽ mua và trả lại nơi đãcho vay cộng thêm một ít phí, còn lại sẽ được hưởng
Trong bối cảnh đó, để cứu nền kinh tế, Quốc hội Mỹ ban hành Đạo luậtngân hàng (Glass-Steagal Act) năm 1933, sau khi Tổng thống FranklinRoosevelt nhậm chức Đạo luật này đã tách bạch rõ ràng giữa hoạt động củaNHTM và hoạt động của NHĐT Theo đó, NHTM chỉ được hoạt động tronglĩnh vực cho vay vào các hoạt động kinh doanh truyền thống, ít rủi ro nhất trên
cơ sở đảm bảo tài sản của người vay NHTM trả lãi suất tiền gửi là X% thì cho
Trang 18vay lại chỉ ở mức X + 2 (hoặc 3%) mà thôi để đảm bảo tính an toàn và giữ vữngniềm tin của người dân đã gửi tiền tiết kiệm Các NHTM cũng bị cấm thực hiệnbảo lãnh phát hành chứng khoán công ty (trừ trái phiếu Chính phủ) Chỉ nhữngcông ty môi giới và tự doanh chứng khoán, các NHĐT mới được thực hiện cácdịch vụ liên quan đến chứng khoán công ty Điều kiện và chế độ cấp phép đốivới hoạt động của các công ty môi giới chứng khoán bị siết chặt Trong khi đó,hoạt động của NHĐT là những hoạt động kinh doanh với độ rủi ro cao nên cácnhà đầu tư vào các ngân hàng này phải được biết như vậy và phải chấp nhận rủi
ro Sự tách biệt giữa hoạt động NHTM và NHĐT là để làm rạch ròi mức độ rủi
ro, tránh sự mập mờ dễ gây ra sự ngộ nhận cho người dân khi gửi tiền tiết kiệmvào ngân hàng Sự tách biệt này cũng là để minh bạch hóa các hoạt động ngânhàng vì đó là nền tảng của cả một hệ thống ngân hàng ổn định, tạo nên sứcmạnh cho hệ thống tài chính và kinh tế phát triển bền vững Nhiều chuyên giacho rằng, Đạo luật Glass-Steagal đã giúp cho kinh tế, xã hội Mỹ phát triểnmạnh trong suốt 50 năm và trở thành một mô hình tài chính ngân hàng mẫumực cho cả thế giới Đặc biệt, Đạo luật trên là cơ sở pháp lý quan trọng của quátrình chuyển đổi mô hình ngân hàng đa năng sang mô hình ngân hàng chuyêndoanh tại Mỹ Điển hình là việc ngân hàng đa năng Morgan D.P phải tách rathành 2 ngân hàng mới: ngân hàng thương mại Morgan Guarantee và ngân hàngđầu tư Morgan Stanley Đầu những năm 1980, Tổng thống Reagan chủ trươngphát triển kinh tế thị trường theo hướng tự do hoá, đồng thời cho phép cácNHTM nhận tiền gửi tiết kiệm được mở rộng các hoạt động cho vay vàoTTBĐS Hệ quả là chỉ vài năm sau đã dẫn đến cuôc khủng hoảng ngân hàngđầu tiên và Chính phủ Mỹ phải tốn hơn 300 tỉ USD để cứu nguy Đến thờiTổng thống Clinton nắm quyền trong thập niên 1990, Ông đã thành công trongviệc thực thi các chính sách kinh tế, mang lại một thời kỳ phát triển khá ổn địnhcủa nước Mỹ Tuy nhiên, trước khi kết thúc nhiệm kỳ của mình, Tổng ThốngClinton dưới sự vận động của giới tài phiệt đã ký đạo luật Gramm-Leach-Blileythay thế Đạo Luật Glass-Steagal Theo đó, các NHTM lại được phép đầu tư vàocác lĩnh vực bị cấm trước đây như chứng khoán, bất động sản…
CHƯƠNG III: DIỄN TIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH THẾ GIỚI 2007-2009 3.1 Diễn tiến của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới 2007-2009
Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New CenturyFinancial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản Một số khác thì rơi vào tình
Trang 19trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation.Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây rahiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn.Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụchính thức nổ ra.
Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác Ở Anh quốc, ngân hàngNorthern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của mìnhra
Trước tình hình đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã tiến hành các biện phápnhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn như thựchiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quanchính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở.Tháng Chín 2007, Cục Dự trữ Liên bang còn tiến hành giảm lãi suất cho vay
qua đêm liên ngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống 4,75% Trong khi đó,
Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã bơm 205 tỷ Dollar Mỹ vào thị trường tíndụng để nâng cao mức thanh khoản
Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khinhững báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất độngsản diễn ra lâu hơn dự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn dự tính.Tình trạng đói tín dụng trở nên rõ ràng Hệ thống dự trữ liên bang cố gắng giảmmạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2 năm 2008 nhưngkhông có hiệu quả như mong đợi
Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu BearSterns, nhưng không nổi Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lạivới giá 10 dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollarmột cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra Việc Ngân hàng dựtrữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này
bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp của chínhphủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn Sự sụp đổ của Bear Stern đãđẩy cuộc khủng hoảng lên nấc thang trầm trọng hơn
Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vàoloại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản Tiếp sau Lehman là một sốcông ty khác Tháng 9 năm 2008, Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ổnđịnh Kinh tế Khẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ chi tới 700
tỷ USD cứu nền tài chính của nước này bằng cách mua lại các khoản nợ xấucủa ngân hàng, đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản