Vận dụng khái niệm về công chức, trong điều kiện ngành tài nguyên và môi trường, có thể hiều :“Công chức ngành tài nguyên và môi trường là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm và
Một số khái niệm cơ bản
Công chức
Theo Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 sửa đổi bổ sung năm
2019 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an,trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Công chức ngành tài nguyên môi trường
Đến nay chưa có một khái niệm cụ thể nào dành riêng cho công chức ngành tài nguyên môi trường Vận dụng khái niệm về công chức, trong điều kiện ngành tài nguyên và môi trường, có thể hiều :“Công chức ngành tài nguyên và môi trường là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của ngành tài nguyên và môi trường, công chức ngành tài nguyên môi trường phải công tác trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, cụ thể là các lĩnh vực như: đất đai, môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, đo đạc bản đồ và thông tin địa lý, biển và hải đảo, khí tưởng thủy văn và biến đổi khí hậu, viễn thám”
Ngành tài nguyên môi trường
Đến nay chưa có một khái niệm cụ thể nào dành riêng cho ngành tài nguyên và môi trường Vận dụng khái niệm về, trong điều kiện ngành tài nguyên và môi trường, có thể hiểu :“ngành tài nguyên và môi trường là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp của ngành tài nguyên và môi trường theo chế độ làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp ngành tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật, ngành tài nguyên môi trường phải công tác trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, cụ thể là các lĩnh vực như : đất đai, môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, đo đạc bản đồ và thông tin địa lý, biển và hải đảo, khí tưởng thủy văn và biến đổi khí hậu, viễn thám ”.
Vai trò đội ngũ công chức ngành Tài nguyên và Môi trường
Vai trò đội ngũ công chức nói chung
Nền hành chính nhà nước có 4 yếu tố cấu thành đó là:
Hệ thống thể chế pháp lý là nền tảng quản lý xã hội, gồm hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở quản lý Nhà nước.
Thứ hai, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp, các ngành từ chính phủ đến chính quyền cơ sở.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức hành chính bao gồm những người thực thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền, không kể những người lâu nay gọi là nhà nước nhưng làm việc ở các doanh nghiệp Nhà nước hoặc các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ không thuộc bộ máy công quyền.
Thứ tư, nguồn tài chính nhà nước để đảm bảo thực thi công vụ của bộ máy và thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước.
Như vậy cán bộ, công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kỳ nền hành chính nào Đội ngũ này có vai trò thực thi pháp luật để quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm hiệu lực của đường lối thể chế của giai cấp cầm quyền Tuy nhiên mục đích thực thi pháp luật ở mỗi nền hành chính khác nhau là không hoàn toàn giông nhau mà tùy thuộc vào chế độ chính trị, tính dân chủ… Để thực hiện được vai trò của mình mỗi công chức cần phải đấu tranh chống những biểu hiện thờ ơ, coi thường, lơ là trước những đòi hỏi của nhân dân, chống phương pháp làm việc bàn giấy hình thức làm việc hoàn toàn không phù hợp với bản chất nhà nước XHCN Đội ngũ công chức cần phải thể hiện vai trò của mình thông qua làm việc một cách cụ thể, chu đáo, trung thực và giải quyết nhiệm vụ chuyên môn một cách khẩn trương, nhanh chóng Tuyệt đối không được để xảy ra tình trạng giải quyết công việc tắc trách, vô tổ chức mà phải được tổ chức là việc có uy tín, điều hành, giải quyết kịp thời, chính xác mọi yêu cầu chính đáng của nhân dân Ở mỗi cơ quan, tổ chức công chức phải
“xúc tiến tiến trình chung của công việc, không được làm cho nó trì trệ”.
Với tiêu chí đạo đức đó, người công chức muốn thực hiện được tốt vai trò của mình thì không được quan liêu, xa rời dân vì vậy phải biết lắng nghe ý kiến quần chúng, thành tâm hộc hỏi quần chúng, biết tổ chức, biết lãnh đạo, lời nói phải đi đôi với việc làm…
Kế tục những tư tưởng lớn lao về vai trò của đội ngũ công chức trong nền hành chính, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta luôn khắng định tầm quan trọng của đội ngũ công chức Để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính trên các lĩnh vực thì nhất thiết phải xây dựng được đội ngũ công chức giỏi về chuyên môn, kinh nghiệm, có phẩm chất chính trị và cách mạng, hiểu biết về quản lý hành chính Nắm vững được yêu cầu này sẽ giúp chúng ta xây dựng được đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở nước ta hiện nay.
+ Vai trò công chức ngành tài nguyên và môi trường nói riêng:
Vận dụng vai trò của công chức nói chung trong điều kiện ngành tài nguyên và môi trường Trong ngành tài nguyên và môi trường công chức và của ngành có những vai trò như sau:
Một là, trong lĩnh vực về đất đai hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về quản lý, sử dụng đất sau khi được cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt, bố trí quỹ đất cho phát triển thị trường bất động sản trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quản lý, hướng dẫn hoạt động dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai, cấp chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực đất đai theo quy định của pháp luật.
Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt, ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm các nguồn nước Qua đó, đảm bảo khai thác, sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu, tiết kiệm và hiệu quả nguồn nước.
Ba là, về địa chất khoáng sản, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược khoáng sản, quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản trong phạm vi cả nước, tham gia ý kiến bằng văn bản về quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản do các bộ, ngành, địa phương xây dựng.
Bốn là, về lĩnh vực môi trường, kiểm tra việc thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường, hướng dẫn kỹ thuật thực hiện đánh giá tác động môi trường chiến lược và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chuyên ngành, tổ chức thực hiện theo thẩm quyền việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, thẩm định và phê duyệt đề án bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường và xác nhận bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường đối với cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường theo quy định của pháp luật
Trung tâm Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu quốc gia có chức năng quản lý, tổ chức quan trắc, điều tra, dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn, xây dựng và quản lý hệ thống dự báo, cảnh báo quốc gia, phát tin cảnh báo thiên tai và cấp độ rủi ro, đề xuất và thể chế hóa các cơ chế, chính sách về biến đổi khí hậu, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu.
Sáu là, về lĩnh vực đo đạc bản đồ và thông tin địa lý, xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác hạ tầng dữ liệu không gian địa lý, hệ quy chiếu quốc gia, hệ thống số liệu gốc đo đạc quốc gia, hệ thống điểm đo đạc cơ sở quốc gia, hệ thống trạm định vị vệ tinh quốc gia, hệ thống không ảnh, hệ thống bản đồ địa hình quốc gia, hệ thống bản đồ địa hình đáy biển, cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý quốc gia, ban hành danh mục địa danh thể hiện trên các bản đồ Thẩm định về sự cần thiết, phạm vi, giải pháp kỹ thuật công nghệ của nội dung đo đạc, bản đồ trong các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ có sử dụng ngân sách trung ương, trừ các dự án, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật.
Bảy là, về lĩnh vực biển và hải đảo, tham gia thẩm định các quy hoạch, đề án thành lập khu bảo tồn biển, tham gia thẩm định các dự án, công trình khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo, có ý kiến đánh giá đối với các đề án, dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt các bộ, ngành, địa phương có biển liên quan đến sử dụng quỹ đất lấn biển theo quy định của pháp luật Quan trắc tài nguyên, môi trường biển, điều tra, thống kê, phân loại, đánh giá các nguồn thải từ các hoạt động trên biển và hải đảo theo thẩm quyền, điều tra, đánh giá sức chịu tải môi trường của các khu vực biển, hải đảo ở vùng rủi ro ô nhiễm cao hoặc rất cao, công bố các khu vực biển, hải đảo không còn khả năng tiếp nhận chất thải, đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường, các hệ sinh thái biển, hải đảo; cải thiện và phục hồi môi trường, các hệ sinh thái biển, hải đảo bị ô nhiễm và suy thoái.
Tám là, về lĩnh vực viễn thám, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện việc xây dựng, cập nhật, quản lý việc thu nhận, cung cấp dữ liệu viễn thám, vận hành cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia, tổng hợp và công bố siêu dữ liệu viễn thám quốc gia Thẩm định về nội dung liên quan đến cơ sở hạ tầng viễn thám, thu nhận dữ liệu viễn thám quốc gia, ứng dụng và phát triển công nghệ viễn thám đối với các chương trình, đề án, dự án theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm đội ngũ công chức, ngành Tài nguyên và Môi trường
Đặc điểm của công chức , nói chung :
- Công chức phải là công dân Việt Nam.
- Về chế độ tuyển dụng và bổ nhiệm: Công chức phải là những người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, chức vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện
- Về phạm vi hoạt động: Công chức là những người hoạt động trong các cơ quan của Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân, công an nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
- Về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng, cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của bộ luật lao động
- Về chế độ công tác: Công chức được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công. Đặc điểm của công chức ngành tài nguyên và môi trường nói riêng
Đặc điểm chung của công chức ngành tài nguyên và môi trường bao gồm: am hiểu sâu sắc các quy định pháp luật về tài nguyên và môi trường, có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực tài nguyên và môi trường, nắm vững các quy trình, thủ tục liên quan đến quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Ngoài ra, công chức ngành này còn phải có khả năng xử lý các vấn đề phức tạp liên quan đến tài nguyên và môi trường, có kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm hiệu quả.
Một là, công chức ngành tài nguyên và môi trường đều là công dân Việt Nam Hai là, về chế độ tuyển dụng và bổ nhiệm : Công chức ngành tài nguyên và môi trường là những người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, chức vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện của ngành tài nguyên và môi trường.
Ba là, về phạm vi hoạt động, công chức ngành tài nguyên và môi trường là những người hoạt động trong các cơ quan, tổ chức, các đơn vị sự nghiệp của ngành tài nguyên và môi trường cụ thể ở 8 lĩnh vực: đất đai, môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, đo đạc bản đồ và thông tin địa lý, biển và hải đảo, khí tưởng thủy văn và biến đổi khí hậu, viễn thám.
Bốn là, về thời gian công tác, công chức ngành tài nguyên và môi trường cũng có thời gian công tác như công chức của các ngành khác theo quy định của pháp luật Công chức ngành tài nguyên và môi trường đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng, cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của bộ luật lao động
Năm là, về chế độ công tác, công chức ngành tài nguyên và môi trường được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Ngoài các đặc điểm chung đã nêu, lao động tài nguyên và môi trường còn mang tính đặc thù riêng biệt Đầu tiên, đây là lao động trí óc, đòi hỏi người lao động có trình độ học vấn cao, kiến thức chuyên sâu và khả năng tư duy phân tích Thứ hai, lao động tài nguyên và môi trường mang tính sáng tạo, luôn tìm kiếm những phương pháp mới, công nghệ tiên tiến để khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như bảo vệ môi trường sinh thái.
Lao động tài nguyên và môi trường sở hữu những đặc điểm riêng biệt: mang tính độc hại, độc lập cá thể cao, kế thừa và tích lũy, luôn coi trọng lý tưởng nghề nghiệp Đặc tính độc hại xuất phát từ bản chất nguy hiểm của công việc Độc lập cá thể cao thể hiện ở sự ít phụ thuộc vào tác động bên ngoài Tính kế thừa và tích lũy là do đặc điểm của nguồn tài nguyên và môi trường Cuối cùng, lý tưởng nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy người lao động vượt qua những khó khăn trong công việc này.
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
Khái quát về các đơn vị hành chính ngành tài nguyên và môi trường ở Đà Nẵng
Ngành Tài nguyên và Môi trường trên địa bàn thành phố được phân cấp phân quyền rõ ràng gồm 01 Sở Tài nguyên và Môi trường chính thức được thành lập theo quyết định số 114/2003/QĐUB ngày 15 tháng 7 năm 2003 của Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng trên nền tảng Sở Địa Chính và Nhà Đất Thành Phố tham mưu giúp UBND thành phố quản lý về đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp tài nguyên vả bảo vệ môi trường biển và hải đảo và các dịch vụ công về tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật, chịu sự chỉ đạo, quản lý và điều hành của UBND thành phố; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường có 01 Giám đốc Sở và 04 Phó giám đốc có nhiệm vụ giúp việc cho Giám đốc Sở có 04 phòng chức năng, 03 Chi cục trực thuộc, 05 Đơn vị sự nghiệp trực thuộc và quản lý Quỹ Bảo vệ Môi trường thành phố Tương tự như Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố, thì tại các quận, huyện cũng có các Phòng Tài nguyên và Môi trường có chức năng tham mưu cho UBND các quận, huyện và chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường Tuy nhiên, do thời gian gấp rút và tính hạn chế của việc tra cứu các nguồn tài liệu, thu thập số liệu nên trong bài luận này chỉ nghiên cứu về các đối tượng công chức tại Sở Tài nguyên và Môi trường, các Chi cục trực thuộc và Phòng Tài nguyên và môi trường tại các quận.
Căn cứ Thông tư số 05/2021/TT-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp thành phố, Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Chức năng của Sở Tài nguyên và Môi trường được quy định như sau: a Chức năng: Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp thành phố; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp thành phố quản lý nhà nước về: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (đối với các thành phố, thành phố trực thuộc trung ương có biển) và các dịch vụ công về tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật. b Nhiệm vụ
- Giúp việc cho UBND cấp thành phố, trình UBND cấp thành phố các nhiệm vụ sau: a) Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác về tài nguyên và môi trường thuộc phạm vi, thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân cấp thành phố; b) Dự thảo kế hoạch dài hạn, 05 năm, hàng năm, các chương trình, đề án, dự án, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp thành phố; c) Dự thảo quyết định việc phân cấp, ủy quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường đối với Sở Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp huyện; d) Dự thảo quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường; dự thảo quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chi cục và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; đ) Dự thảo quyết định thực hiện xã hội hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công về tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp thành phố và theo phân cấp của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp thành phố dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp thành phố.
- Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về tài nguyên và môi trường sau khi được phê duyệt; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về tài nguyên và môi trường.
Ủy ban nhân dân cấp thành phố và Chủ tịch của ủy ban này có trách nhiệm quản lý, tổ chức giám định, đăng ký và cấp các giấy phép, văn bằng, chứng chỉ Phạm vi của những trách nhiệm này phụ thuộc vào các chức năng và nhiệm vụ đã được phân công hoặc ủy quyền.
Sở TN và MT Phòng TN và
Về phạm vi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
Trên địa bàn thành phố Trên địa bàn quận
Nhiệm vụ, quyền hạn của Sở
TN & MT rộng hơn, trực tiếp hướng dẫn về chuyên môn cho Phòng TN & MT
2 Về đất đai Tham mưu quy định hạn mức giao đất, công nhận đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh
Chỉ có chức năng thẩm định hồ sơ theo định mức được ban hành của UBND TP
Sở TN & MT trực tiếp thực hiện quy hoạch về đất đai trên địa bàn thành phố, quy định các hạng mục như hạn mức giao đất, giá đất
-Cấp phép quyền khai thác tài nguyên nước theo thẩm quyền
Lập phương án khai thác và sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước
-Quản lý các danh mục sông, hồ nguồn nước chịu tải, danh mục ao hồ đầm phá không được san lấp
Chỉ phối hợp triển khai thực hiện
- Có thể thấy việc quy hoạch quản lý nguồn nước được giao cho Sở TN & MT, các phòng chỉ triển khai thực hiện để đảm bảo đồng bộ
4 Về tài nguyên khoáng sản
-Quản lý các hoạt động về khoáng sản trên địa bàn tỉnh
-Cấp giấy phép thu hồi, chuyển nhượng quyền khai thác, thăm dò khoáng sản
Chỉ phối hợp triển khai thực hiện
Tương tự như quản lý về tài nguyên nước
-Tổ chức cấp, điều chỉnh sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật
-Tổ chức xây dựng phương án bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học lồng ghép vào quy hoạch
-Tổ chức, xây dựng quản lý hệ thống quan trắc môi trường
-Tổng hợp kinh phí sự nghiệp vè bảo vệ môi trường của Sở ngành, quận huyện để báo cáo UBND
-Quản lý Quỹ Bảo vệ môi trường
- Kiểm tra việc thực hiện của các đơn vị trên địa bàn quận
- Tham mưu các vấn đề khác về môi trường trên địa bàn quận
- Triển khai các hoạt động theo quy hoạch của thành phố
-Việc triển khai của Sở TN &
MT rộng hơn, tổ chức triển khai, định hướng phương án cho nhiều nhiệm vụ về môi trường. -Quản lý Quỹ bảo vệ môi trường
Về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, đo đạc và bản đồ, viễn thám
Tham mưu trực tiếp các hoạt động theo dõi về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, đo đạc và bản đồ trên địa bàn thành phố
Không được phân cấp nhiệm vụ
Việc quản lý và khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, đo đạc và bản đồ là những mảng lớn, cần triển khai thực hiện ở cấp cao hơn do đó, phòng Tài nguyên và môi trường tại địa phương chỉ được phân cấp thực hiện theo phân cấp của cấp trên
Phân tích thực trạng đội ngũ công chức ngành Tài nguyên và môi trường ở Việt Nam đến năm 2020
1 Thực trạng đội ngũ công chức ngành Tài nguyên và môi trường tại các tỉnh, thành phố khác
Tại địa phương, đội ngũ công chức ngành tài nguyên và môi trường có khoảng 26.060 công chức Theo trình độ đào tạo, khối quản lý nhà nước có: 0,11% tiến sĩ, 6,12% thạc sĩ, 58,1% đại học, 7,3% cao đẳng và 28,37% trung cấp và sơ cấp Về độ tuổi, có 29,34% từ 30 tuổi trở xuống, 44,22% từ 31 đến 40 tuổi, 17,43% từ 41 đến 50 tuổi, 8,96% từ 51 đến 60 tuổi, 0,034% trên 60 tuổi.
Theo thống kê, số biên chế công chức trung bình của các Sở Tài nguyên và Môi trường hiện nay là 67 biên chế (lớn nhất là Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh có 309 biên chế, ít nhất là các Sở Tài nguyên và Môi trường: Kon Tum, Lai Châu có 40 biên chế, An Giang có 41 biên chế) Nhìn chung, số lượng công chức của các
Sở Tài nguyên và Môi trường là tương đối hạn chế so với yêu cầu về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức (31/63 thành phố có ít hơn 60 biên chế; 24/63 thành phố có ít hơn 55 biên chế , 13/63 thành phố có ít hơn 50 biên chế). Đối với Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, trung bình được giao trung bình 7 - 8 biên chế (cá biệt có Phòng Tài nguyên và Môi trường chỉ được giao 4 - 5 biên chế).
Cơ cấu nhân lực chuyên ngành hiện mất cân đối, nhất là địa chất khoáng sản, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu đang thiếu hụt về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ chưa hợp lý, kể cả lực lượng thanh tra, giám sát tài nguyên và môi trường Phần lớn lực lượng tập trung vào quản lý đất đai, trong khi các lĩnh vực bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, khoáng sản đang đặt ra nhiều thách thức cho địa phương, đòi hỏi tăng cường và phân bổ lại cơ cấu nhân lực phù hợp.
Trình độ đội ngũ công chức địa phương không đồng đều, đặc biệt là cấp huyện và cấp xã còn yếu chuyên môn, tập trung nhiều ở lĩnh vực quản lý đất đai, trong khi đó cán bộ về môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, quản lý biển, hải đảo, biến đổi khí hậu, khí tượng thủy văn còn rất thiếu Khối lượng nhiệm vụ hiện nay tại địa phương chủ yếu vẫn tập trung giải quyết các vấn đề về quản lý đất đai, tuy nhiên, các vấn đề khác, nhất là về quản lý môi trường, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, biển, hải đảo (đối với các địa phương có biển) ngày càng trở nên cấp thiết Thực tế hiện nay, các địa phương đang đứng trước tình trạng khan hiếm nhân lực có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ Việc tuyển dụng người có năng lực chuyên môn, được đào tạo chính quy ở các chuyên ngành về tài nguyên và môi trường rất khó khăn, kể cả ở các đơn vị cấp sở.
2 Thực trạng đội ngũ công chức ngành Tài nguyên và Môi trường theo từng lĩnh vực
2.1 Lĩnh vực đất đai a ) Cấp thành phố
Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở thành phố được giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố quản lý, và đơn vị trực thuộc là Chi cục Quản lý đất đai thành phố Đà Nẵng và Văn phòng đăng ký đất đai, Trung tâm phát triển quỹ đất trực tiếp thực hiện nhằm góp phần cải cách hành chính và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực đất đai; để việc sử dụng đất ổn định, đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả cao, bền vững; bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài và bảo vệ môi trường sinh thái.
Cơ cấu tổ chức của Chi cục quản lý đất đai gồm 01 Chi cục Trưởng, 01 Chi cục Phó, 03 Phòng là Phòng Hành Chính – Tổng hợp, Quy hoạch và Đăng ký đất đai, Kinh tế đất và bồi thường tái định cư theo Quyết định số 616/QĐ-STNMT ngày 21/10/2016 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường.
Ngoài ra, việc quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng còn Văn phòng đăng ký đất đai và Trung tâm Phát triển quỹ đất. b) Cấp quận, huyện, xã phường
Cấp quận huyện, xã phường gồm Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và cán bộ địa chính cấp xã. Đến nay lực lượng công chức của toàn lĩnh vực đã lên đến gần 100 người có mặt ở cả 4 cấp quản lý nhà nước, trong đó có hơn 50 công chức địa chính cấp xã… góp phần đảm bảo phát triển sản xuất bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, hình thành một lực lượng hùng hậu nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý và sử dụng đất đai trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, do mô hình tổ chức hiện nay thì ở cấp thành phố chỉ quản lý về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý về nguồn nhân lực, tuyển dụng, điều động, luôn chuyển, quy hoạch, bổ nhiệm thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân các cấp do đó việc đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho ngành có phần hạn chế, mới chỉ ở mức tổ chức các khoá tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý đất đai về giá đất, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, chính sách pháp luật đất đai…
2.2 Lĩnh vực môi trường a) Cấp thành phố
Tương tự về lĩnh vực đất đai, lĩnh vực môi trường được phân cấp cho Chi cục Bảo vệ Môi trường trực tiếp triển khai thực hiện, tham mưu cho Sở TN & MT các nhiệm vụ vượt quá thẩm quyền
Cơ cấu Chi cục Bảo vệ Môi trường gồm 01 Chi cục Trưởng, 02 Phó chi cục Trưởng và 03 Phòng chuyên môn gồm Phòng Tổng hợp, Phòng Thẩm định và cấp phép và Phòng Kiểm soát ô nhiễm, được thành lập theo Quyết định số 4262/QĐ-UBND ngày28/12/2021 của UBND thành phố Đà Nẵng.
Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý Quỹ Bảo vệ môi trường được thành lập theo Quyết định số 5908/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2014 Quỹ này được sử dụng cho các hoạt động bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng môi trường và ứng phó với các sự cố môi trường theo quy định tại Quy chế quản lý, sử dụng Quỹ Bảo vệ môi trường của tỉnh.
8 năm 2014 của UBND thành phố Đà Nẵng. b) Cấp quận, huyện, xã phường
Cấp quận huyện, xã phường gồm Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và cán bộ địa chính cấp xã trực tiếp triển khai thực hiện, kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực và phối hợp cùng các đơn vị trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Cảnh sát môi trường quận, huyện để triển khai thực hiện các nhiệm vụ về môi trường trên địa bàn thành phố.
2.3 Lĩnh vực khoáng sản, tài nguyên nước a) Cấp thành phố
Phòng Khoáng sản và Tài nguyên nước trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Quyết định số 143/QĐ-STNMT ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng Phòng này có nhiệm vụ triển khai thực hiện các nhiệm vụ về Khoáng sản và Tài nguyên nước cho cấp quận, huyện, xã, phường.
Đánh giá thực trạng công chức ngành Tài nguyên và Môi trường
So sánh mặt bằng chung về trình độ thì công chức khối quản lý nhà nước có trình độ cao hơn so với viên chức các đơn vị sự nghiệp Đội ngũ công chức đã bước đầu đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, trong khi đó đội ngũ viên chức cần được tăng cường đào tạo nâng cao trình độ, đặc biệt là trình độ sau đại học mới đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng, triển khai khoa học kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Về năng lực quản lý, hầu hết các cán bộ quản lý lớn tuổi của ngành được đào tạo cơ bản về chuyên môn, có bề dày kinh nghiệm, nhưng chậm tiếp thu phương pháp quản lý mới cũng như ứng dụng công nghệ mới Đối với thế hệ cán bộ trẻ của ngành, đa số được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, năng động, sáng tạo, nắm bắt nhanh những phương thức quản lý mới, nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý cũng như nắm bắt tình hình thực tế của ngành Một số cán bộ quản lý của ngành còn lúng túng trong công tác quản lý công việc và quản lý nhân viên trong bối cảnh kinh tế thị trường và toàn cầu hóa Việc quản lý những nội dung công việc mới, những con người mới được điều chuyển từ các vị trí, đơn vị khác nhau tiềm ẩn những khó khăn, thách thức trong quản lý văn hoá tổ chức và quản lý nhân viên Hơn nữa, nhiều cán bộ quản lý hầu như chưa được đào tạo các kỹ năng quản lý nhân viên, quản lý nhóm làm việc “Tính chuyên môn” của các nhà quản lý ngành rất cao trong khi đó kỹ năng quản lý lại thiếu Các cán bộ quản lý ngành tài nguyên môi trường phần nhiều trưởng thành từ các cán bộ chuyên môn giỏi, hầu hết chưa được đào tạo về kỹ năng quản lý, kinh tế Do đó, họ gặp phải nhiều khó khăn trước yêu cầu mới về công tác quản lý mang tính tổng hợp, phải phối kết hợp đa ngành, đa lĩnh vực.
Tình trạng quá tải trong công việc khiến cho các cán bộ quản lý nhiều khi sa vào giải quyết các công việc sự vụ, chưa dành nhiều thời gian cho các hoạt động mang tính chiến lược cũng như các hoạt động nghiên cứu thực tiễn Điều này ảnh hưởng tới chất lượng của các quyết định mà nhà quản lý đưa ra. Đối với các cán bộ chuyên môn của ngành, phần lớn xuất thân từ cán bộ kỹ thuật, quen làm việc với các vấn đề mang tính kỹ thuật, việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước với họ còn mới mẻ và còn nhiều khó khăn Tinh thần, thái độ phục vụ và ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ công chức chưa cao, kỹ năng giao tiếp chưa tốt ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ.
Cơ cấu đội ngũ cán bộ chưa phù hợp: số cán bộ, công chức được đào tạo về kỹ thuật nhiều hơn số cán bộ công chức được đào tạo về nghiệp vụ quản lý, kinh tế Số cán bộ, công chức có chuyên ngành đào tạo phù hợp với vị trí công tác không nhiều, tỷ lệ cán bộ trẻ còn thấp.
Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức địa phương không đồng đều Tỷ lệ cán bộ quản lý ở các lĩnh vực còn mất cân đối, hiện nay đang tập trung nhiều ở lĩnh vực quản lý đất đai, trong khi đó cán bộ về môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, quản lý biển, hải đảo, biến đổi khí hậu, khí tượng thủy văn còn rất thiếu.
Lực lượng nhân lực quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường còn rất mỏng, nhất là lực lượng thanh tra Cụ thể số lượng công chức
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ ngành tài nguyên và môi trường ở địa phương hình thành chủ yếu trên cơ sở đội ngũ cán bộ ngành địa chính trước đây Khối lượng nhiệm vụ hiện nay tại địa phương chủ yếu vẫn tập trung giải quyết các vấn đề về quản lý đất đai , tuy nhiên, các vấn đề khác, nhất là về quản lý môi trường, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, biển, hải đảo (đối với các địa phương có biển) ngày càng trở nên cấp thiết và cần bố trí một cơ cấu nhân lực phù hợp Trong khi đó, chuyên ngành đào tạo của công chức chủ yếu là quản lý đất đai, kinh tế Đối với các chuyên ngành môi trường, địa chất số lượng cán bộ chiếm tỷ lệ nhỏ Sự mất cân đối về số lượng, chuyên ngành đào tạo làm ảnh hưởng đến việc thực thi các nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương Có sự mất cân đối về trình độ đào tạo của cán bộ ngành tài nguyên và môi trường giữa các vùng, miền , trong đó, vùng đồng bằng, đô thị có tỷ lệ cán bộ được đào tạo đại học và sau đại học lớn hơn nhiều so với vùng miền núi, nông thôn, vùng khó khăn, đặc biệt là các vùng TâyBắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long
2 Đánh giá khả năng đáp ứng của công chức ngành Tài nguyên và Môi trường trong từng lĩnh vực
Trong những năm qua, việc sử dụng và bố trí nguồn nhân lực luôn được Tổng cục quan tâm Trên cơ sở nguồn nhân lực hiện có, chức năng nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc, Tổng cục đã phân công, bố trí cán bộ phù hợp với năng lực, chức danh nghề nghiệp và chuyên ngành đào tạo, tạo điều kiện để từng cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trình độ chuyên môn của cán bộ từng bước được nâng cao, cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ chuyên môn, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ Đa số cán bộ là lực lượng trẻ, năng động, nhiệt tình, có khả năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm. Bên cạnh những mặt mạnh và đóng góp, nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý đất đai còn một số tồn tại như: đội ngũ cán bộ trẻ của Ngành được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, năng động nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tế, số có độ tuổi dưới 30 có tỷ lệ khá cao , tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có trình độ cao (tiến sĩ, tiến sĩ khoa học), các chuyên gia đầu ngành còn thấp, một số cán bộ có bề dày kinh nghiệm nghiên cứu đã nghỉ hưu theo chế độ, nguy cơ thiếu hụt cán bộ chuyên môn có trình độ và kinh nghiệm chuyên sâu Trình độ ngoại ngữ của một số cán bộ chủ chốt, cán bộ nguồn hiện nay đang là thách thức lớn đối với việc hội nhập quốc tế, khả năng cập nhật thông tin chuyên ngành và nắm bắt thông tin kinh tế, xã hội phục vụ cho nhu cầu quản lý của ngành Thực tế hiện nay cho thấy, với các cán bộ mới ra trường khi về công tác tại cơ quan, phần lớn đều phải đào tạo lại một thời gian sau đó mới bắt nhịp được công việc của đơn vị.
Có thể nói trong những năm qua công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ công chức và nguồn nhân lực làm công tác quản lý nhà nước về môi trường đã được quan tâm và chú trọng Tỷ lệ công chức nguồn nhân lực trong lĩnh vực môi trường được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ ngày càng tăng và chất lượng ngày càng được nâng lên Nguồn lực đầu tư và kinh phí đào tạo tuy còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của ngành nhưng phần nào đã hỗ trợ tốt và đầu tư có hiệu quả nâng cao rõ rệt năng lực, trình độ, nhận thức của công chức công tác trong ngành môi trường.
Mặc dù đã rất cố gắng song do nguồn lực hạn chế nên các khóa đào tạo được tổ chức còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập rất lớn của công chức Còn nhiều lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, nhiều kỹ năng rất cần được tổ chức mở lớp bồi dưỡng cho cán bộ nhưng do không có kinh phí nên không thể tổ chức được Bên cạnh đó việc cử đi đào tạo bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng gặp khó khăn do chỉ tiêu cấp hàng năm còn hạn chế trong khi đó cán bộ, công chức có đủ điều kiện đi học thì còn rất nhiều.
2.3 Lĩnh vực địa chất khoáng sản
Nguồn nhân lực lĩnh vực địa chất và khoáng sản khá dồi dào Với trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn hiện có, đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản đã cơ bản bố trí, sắp xếp và sử dụng hợp lý theo đúng vị trí việc làm, yêu cầu công việc nhằm phát huy tối đa năng lực chuyên môn, quản lý bảo đảm hoàn thành mọi nhiệm vụ đạt hiệu quả, chất lượng cao.
Tuy nhiên, qua theo dõi, nguồn nhân lực vẫn còn tồn tại một số hạn chế về kỹ năng chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ nghề nghiệp và khả năng thích ứng với môi trường làm việc.
Do đặc thù của địa phương, hiện nay thành phố Đà Nẵng chủ yếu là các vật liệu xây dựng cung cấp cho trên địa bàn thành phố do đó, việc cấp phép, sử dụng tài nguyên khoáng sản không phải là trọng tâm của thành phố
2.4 Lĩnh vực tài nguyên nước
Cán bộ làm việc trong lĩnh vực tài nguyên nước cơ bản được đào tạo đúng chuyên ngành, đáp ứng được các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong lĩnh vực tài nguyên nước như: sử dụng mô hình toán, phân tích không gian, phân tích đánh giá nguồn nước và khả năng khai thác nguồn nước, đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước, quản lý tổng hợp tài nguyên nước, các máy phân tích chất lượng nước… , bảo đảm đáp ứng theo yêu cầu công việc và vị trí việc làm Tuy nhiên, phần lớn số công chức được đào tạo về các chuyên ngành kỹ thuật, thiếu kỹ năng quản lý.
Theo kết quả điều tra thì số lượng công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở địa phương mặc dù đã có những thay đổi tích cực nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc Lượng công việc thường quá tải đối với cán bộ thực hiện công tác này do khối lượng công việc lớn nhưng số lượng người làm việc ít mà thường được ghép với việc thực hiện cả quản lý trong các lĩnh vực khác như: khí tượng thủy văn, khoáng sản.
2.5 Lĩnh vực đo đạc , bản đồ và thông tin địa lý
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN 2030
Quan điểm, mục tiêu, phương hướng phát triển đội ngũ công chức , viên chức ngành Tài nguyên và Môi trường ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, tầm nhìn 2030
- Cán bộ là nhân tố quyết định, công tác cán bộ là khâu "then chốt Xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống trực tiếp là của các cấp uỷ, tổ chức Đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt.
Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường của các đơn vị thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, đảm bảo sự tập trung, thống nhất từ đầu mối quản lý, đồng thời có phân cấp, phân công rõ ràng, cụ thể, hợp lý.
Cơ cấu tổ chức, biên chế cán bộ, công chức và người lao động trong các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường được sắp xếp, bổ sung theo yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể và đặc thù của từng địa phương Việc sắp xếp này nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động và đáp ứng nhu cầu quản lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường của địa phương.
- Đội ngũ cán bộ quản lý về tài nguyên và môi trường, đặc biệt là cán bộ cơ sở được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước và các yêu cầu khác đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, gắn với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm.
- Xây dựng quy hoạch gắn với kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ tài nguyên và môi trường bằng nhiều hình thức và nguồn vốn khác nhau nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận liên tục Chú trọng đào tạo đội ngũ có trình độ cao, phù hợp với định hướng phát triển của ngành, phát huy khả năng của các cán bộ trẻ kết hợp sử dụng cán bộ có kinh nghiệm, có trình độ cao trong và ngoài nước.
- Trên cơ sở các quy định của Nhà nước về công tác cán bộ, phối hợp với các cơ quan chức năng để xây dựng quy chế, chính sách sử dụng cán bộ công chức phù hợp với đặc thù của ngành tài nguyên và môi trường
- Căn cứ vào Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Sở xây dựng các đề án để triển khai thực hiện chính sách thu hút,trọng dụng nhân tài và để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý.
Một số giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ công chức , viên chức ngành tài nguyên và môi trường ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, tầm nhìn 2030
- Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức mới cho đội ngũ công chức, viên chức trong đó ưu tiên cập nhật các kiến thức, ứng dụng công nghệ mới cho đội ngũ công chức, viên chức lớn tuổi và tăng cường hoạt động trao đổi chuyên môn nghiệp vụ giữa đội ngũ công chức, viên chức lớn tuổi giàu kinh nghiệm với các công chức, viên chức trẻ tuổi.
Để nâng cao chất lượng quyết định quản lý, cần lập kế hoạch công việc gắn với từng vị trí cụ thể, tránh tình trạng sa vào các công tác sự vụ Đồng thời, cần phân bổ thời gian hợp lý cho các công việc mang tính chiến lược, lâu dài.
- Xây dựng kế hoạch tuyển dụng, bố trí, sắp xếp nhân sự hợp lý để đảm bảo cân đối cơ cấu đội ngũ cán bộ, đáp ứng tính kế thừa, tính chuyên môn, chuyên nghiệp giữa các bộ phận Sớm có phương án trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để đảm bảo đủ cán bộ, đáp ứng chất lượng được sắp xếp hợp lý tại các cơ quan chuyên ngành về tài nguyên đặc biệt là tại cơ quan ở địa phương trong đó ưu tiên ở cấp phường, xã. Đối với một số lĩnh vực đặc thù như Đất đai, Môi trường, Khoáng sản, Khí tượng thủy văn một số giải pháp cốt yếu cũng được khuyến nghị thêm như sau:
- Đối với lĩnh vực Đất đai, cần tập trung ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận để đảm bảo tính kế thừa, không xảy ra tình trạng thiếu hụt cán bộ và đặc biệt là không có khoảng trống giữa các thế hệ khi đội ngũ cán bộ lớn tuổi, giàu kinh nghiệm, có trình độ cao nghỉ hưu theo chế độ, ngoài ra cần tăng cường đào tạo trình độ ngoại ngữ cho các bộ để đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế dang diễn ra sâu, rộng như hiện nay.
Để phát triển lĩnh vực Môi trường, cần ưu tiên phân bổ kinh phí và đảm bảo nguồn lực chất lượng cho đào tạo Điểm đặc biệt của lĩnh vực này là có sự hợp tác quốc tế mạnh mẽ, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có trình độ ngoại ngữ tốt, khả năng cập nhật kiến thức mới liên tục để bắt kịp xu hướng thế giới.
- Lĩnh vực Khoáng sản là một lĩnh vực có truyền thống lâu đời của ngành tài nguyên và môi trường, với lực lượng cán bộ khá lớn bố trí rộng khắp ở nhiều vùng miền trên cả nước Yêu cầu, đỏi hỏi đối với cán bộ trong lĩnh vực này đó chính là không ngừng học tập qua đào tạo, đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt là trong các hoạt động thăm dò địa chất khoáng sản
- Đặc điểm của lĩnh vực Khí tượng thủy văn đó là tính thường xuyên, liên tục, gắn liền với mọi miền, mọi vùng để đáp ứng yêu cầu cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời cho mọi người dân thông qua các thông báo mang tính chuyên đề cũng như thường xuyên Do đặc điểm cán bộ của lĩnh vực này ngoài cơ quan trung ương và các đài khí tượng thủy văn đóng trên địa bản các tỉnh, thành phố thì còn rất nhiều các điểm quan trắc khí tượng thủy văn đóng tại các vùng sâu, vùng xa ở miền núi, hải đảo nên điều kiện làm việc rất khó khăn trong khi chế độ đãi ngộ chưa tương xứng, do đó việc thiếu hụt cán bộ tại các điểm trên là đang hiện hữu và đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách ưu đãi kịp thời để đảm báo không thiếu hụt cán bộ, đặc biệt là cán bộ tại các điểm xa, sâu, hiểm trở.
2.1 Đổi mới và nâng cao nhận thức, tăng cường tuyên truyền về đào tạo, phát triển và sử dụng nhân lực ngành tài nguyên và môi trường
- Con người là trung tâm của sự phát triển, do vậy cần thiết phải nâng cao nhận thức, xác định con người là nền tảng, là yếu tố quyết định nhất của ngành tài nguyên và môi trường trong xu thế hợp tác, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
- Thực hiện trong ngành nguyên tắc sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường phải dựa vào năng lực thực sự và kết quả, hiệu quả công việc.
- Bảo đảm công tác đào tạo nhân lực trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường phải gắn với nhu cầu phát triển ngành, lĩnh vực, nhu cầu xã hội và thị trường lao động
- Tăng cường truyền thông về đào tạo và phát triển nhân lực trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thông qua các hình thức khác nhau.
2.2 Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo, phát triển và sử dụng nhân lực ngành tài nguyên và môi trường
- Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo và cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường các cấp.
Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường tự học tập, nâng cao kiến thức quản lý và chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới Cần tạo điều kiện cho cán bộ ngành tích cực tham gia nghiên cứu, giảng dạy tại các nước có trình độ tiên tiến về tài nguyên và môi trường, nhằm mở rộng tầm nhìn, học hỏi kinh nghiệm thực tiễn, đóng góp vào sự phát triển chung của ngành.
- Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ, ưu đãi đặc thù đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường, đối với những người tham gia đào tạo về tài nguyên và môi trường, xây dựng hệ thống chức danh, vị trí việc làm trong ngành tài nguyên và môi trường.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới cơ chế, chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên học các chuyên ngành về tài nguyên và môi trường, ưu tiên các chuyên ngành khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ, địa chất khoáng sản.
2.3 Đầu tư, xây dựng và phát triển các cơ sở đào tạo về tài nguyên và môi trường
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu, triển khai ứng dụng trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng khác nhau.