Bảng 1: Kết cấu dân tộc của huyện Phú Bình Thái Nguyên Bảng 2: Thống kê các ngôi chùa trên địa bàn huyện Phú Bình Bảng 3: Niên đại một số chùa cổ ở Phú Bình Bảng 4: Khảo sát các điêu k
Trang 1Luận văn
Hệ thống chùa huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trang 2Bảng 1: Kết cấu dân tộc của huyện Phú Bình (Thái Nguyên)
Bảng 2: Thống kê các ngôi chùa trên địa bàn huyện Phú Bình
Bảng 3: Niên đại một số chùa cổ ở Phú Bình
Bảng 4: Khảo sát các điêu khắc đá trong một số chùa Phú Bình
Bảng 5: Tượng thờ ở một số chùa Phú Bình
Bảng 6: Các chùa ở Phú Bình được xếp hạng di tích
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Mặt bằng chữ Đinh của chùa Hản (xã Tân Đức)
Sơ đồ 2: Mặt bằng chữ Công của chùa Ha (xã Nhã Lộng)
Sơ đồ 3: Mặt bằng Nội công ngoại quốc của chùa Úc Sơn (TT Hương Sơn)
Sơ đồ 4: Bài trí tượng Phật trong thượng điện chùa Ha
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn hoá làng xã có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn hoá dân tộc Chùa lại là nhân tố phổ biến góp phần tạo nên hệ thống văn hoá làng xã truyền thống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Những ngôi chùa như một phần không thể thiếu trong bức
tranh về làng quê chúng ta xưa và nay
Việt Nam là nước nông nghiệp nên hệ thống chùa luôn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của mỗi người dân nông thôn Nó không chỉ có vị trí đặc biệt trong văn hoá làng mà còn tác động sâu sắc, toàn diện đến nhiều mặt của xã hội cổ truyền Chùa với người Việt không chỉ là không gian tôn giáo, nơi phục vụ các hoạt động thờ cúng, tâm linh mà còn là một nơi sinh hoạt cộng đồng, là nơi in dấu những thiết chế lâu đời Dân gian có câu “đất vua - chùa làng - phong cảnh bụt” là vì thế Do vậy, đã từ lâu chủ đề này trở thành đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội, trong đó có khoa học lịch sử
Hiện nay, dưới tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, diện mạo của thôn làng, xóm ngõ có nhiều biến đổi Trong quá trình hội nhập, những yếu tố văn hoá ngoại quốc đang có xu thế lấn át và làm mai một đi những yếu tố văn hoá cổ truyền Vậy làm thế nào để chọn lọc, giữ gìn và phát huy được các giá trị tốt đẹp của văn hoá truyền thống, trong đó có
hệ thống chùa làng Đây là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội
ta quan tâm Đặc biệt là các nhà nghiên cứu khoa học xã hội
Từ lâu hệ thống chùa Việt Nam nói chung và hệ thống chùa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến Tuy nhiên, tìm hiểu đề tài này ở một địa phương cụ thể thì chưa có nhiều, nhất là các địa phương khu vực trung du miền núi lại càng ít hơn Thái Nguyên là
Trang 4tỉnh nằm ở trung tâm của khu vực trung du miền núi phía Bắc, cửa ngõ nối liền với vùng châu thổ Bắc Bộ, là địa bàn chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng Việc đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết hệ thống chùa làng ở đây do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên chưa được quan tâm sâu sắc
Chính vì vậy, qua luận văn thạc sĩ của mình, chúng tôi mong muốn được tìm hiểu toàn diện và đầy đủ hơn vấn đề còn bỏ trống đó Việc nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống tinh thần của người dân địa phương nói riêng và nhân dân tỉnh Thái Nguyên nói chung, nhằm góp thêm những hiểu biết về ngôi chùa ở vùng trung du miền núi phía Bắc, thấy được sự giao thoa văn hoá giữa đồng bằng và miền núi trong tiến trình lịch sử
Chọn đề tài “Hệ thống chùa huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên” làm
luận văn Thạc sĩ, bản thân tôi là người địa phương cũng như mọi người dân địa phương khác có nhu cầu hiểu biết về đời sống văn hoá tinh thần của người dân quê hương qua hệ thống chùa làng và mong muốn những truyền thống tốt đẹp của quê hương sẽ luôn được phát huy trong cuộc sống hiện tại
Trước hết phải kể đến cuốn “Chùa Việt” của tác giả Trần Lâm Biền
xuất bản năm 1996 Cuốn sách đã khái quát diễn biến của ngôi chùa Việt, phân tích văn hoá, hướng, bố cục chung và khảo tả về hệ thống tượng thờ trong chùa
Trang 5Cuốn sách “Chùa Việt Nam” của tác giả Hà Văn Tấn là công trình kết
tinh các hình ảnh và giá trị của khối di sản văn hoá và tôn giáo - tín ngưỡng, được các tác giả thể hiện tinh tế, súc tích qua bài dẫn luận công phu về toàn cảnh chùa Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và quá trình du nhập đạo Phật ở Việt Nam 118 ngôi chùa trong cả nước đã được phủ kín trong sách “Chùa Việt Nam”; đặc biệt thêm hai dạng chùa mới ít thấy xuất hiện là chùa miền núi và chùa miền hải đảo
Trong cuốn “Đình chùa, lăng tẩm nổi tiếng ở Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Mạnh Thường xuất bản năm 1999, tác giả đã giới thiệu các công trình kiến trúc cổ được xếp hạng cấp quốc gia trên phạm vi cả nước
Gần đây, đề tài chùa làng còn được nghiên cứu, thống kê dưới hình
thức các cuốn địa chí hay từ điển như cuốn Từ điển di tích văn hoá Việt Nam
do tác giả Ngô Đức Thọ chủ biên xuất bản năm 2003, cuốn Địa chí tôn giáo -
lễ hội Việt Nam của tác giả Mai Thanh Hải xuất bản năm 2004
Các công trình nghiên cứu kể trên chủ yếu tập trung ở đồng bằng Bắc
Bộ Việc tìm hiểu “Hệ thống chùa huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” trước
nay chưa được thực hiện Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực và khía cạnh khác nhau, các nhà nghiên cứu đã có đề cập tới nó một cách trực tiếp hay gián tiếp
Như cuốn “Thái Nguyên đất và người” do Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Thái
Nguyên xuất bản năm 2003 điểm qua một số di tích lịch sử văn hoá ở Phú
Bình, cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Bình” cung cấp thêm một số tư liệu
khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội, truyền thống đấu tranh bất khuất quật cường của nhân dân các dân tộc huyện Phú Bình, trong đó có đề cập đến một
số ngôi chùa là di tích lịch sử, nơi in ấn các tài liệu cách mạng, che giấu các chiến sĩ yêu nước thời kỳ tiền khởi nghĩa
Vì thế, tìm hiểu hệ thống chùa ở một huyện trung du miền núi Bắc Bộ - huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên - là mới mẻ và cần thiết Trong quá trình
Trang 6thực hiện luận văn, chúng tôi tôn trọng thành quả của những người đi trước, tham khảo và coi đó là ý kiến gợi mở quý báu, tạo điều kiện cho chúng tôi tiếp tục vào nghiên cứu đề tài khoa học của mình
3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là hệ thống chùa huyện Phú Bình về các khía cạnh như: niên đại ngôi chùa, các vị thần, Phật được thờ ở chùa, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của ngôi chùa Từ đó, thấy được sự ảnh hưởng của chùa làng với đời sống văn hoá tinh thần của cư dân Phú Bình,
sự giao lưu văn hoá giữa miền xuôi với miền ngược và hiện trạng của các ngôi chùa ở Phú Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm những ngôi chùa đang còn hiện diện, còn dấu ấn trong nhân dân và cả những ngôi chùa mới được xây dựng lại trên địa bàn huyện Phú Bình
3.3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Hệ thống chùa huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”,
chúng tôi mong muốn tìm hiểu và phản ánh được một cách khoa học, chân thực hệ thống chùa của một huyện cụ thể ở khu vực trung du miền núi Bắc
Bộ, để từ đó có được nhận thức sâu sắc hơn về ngôi chùa và tôn giáo thờ Phật của cư dân miền núi
Thực hiện đề tài này, chúng tôi còn nhằm cung cấp cho giáo viên, học sinh, cán bộ văn hoá và nhân dân địa phương một cái nhìn khách quan về văn hoá chùa làng Từ đó, người dân có những hành động đúng về tín ngưỡng, tôn giáo, không đi chệch hướng chủ trương của Đảng và Nhà nước
3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 7- Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội – văn hóa của huyện Phú Bình
- Tìm hiểu hệ thống chùa huyện Phú Bình
- Tìm hiểu vai trò của chùa trong đời sống cư dân Phú Bình
4 Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu chung: bao gồm một số sử sách và địa chí được viết dưới các
triều đại phong kiến như: Dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí,…; các sách chuyên khảo về chùa và liên quan đến chùa Việt Nam nói chung, chùa ở Thái Nguyên nói riêng Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: tài liệu về kiến trúc, điêu khắc dân gian, văn hoá làng xã, tôn giáo đặc biệt là đạo Phật, …
- Nguồn tư liệu điền dã: hương ước, sắc phong, thần tích, câu đối còn lưu lại trong các ngôi chùa làng Ngoài ra, còn các tư liệu truyền miệng do các cụ cao niên ở Phú Bình cung cấp (truyện thần thoại, truyền thuyết lịch sử, những nghi lễ thờ tế)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và biên soạn luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu Do có một số tư liệu chữ Hán nên công tác giám định tư liệu cũng được chú trọng Với đối tượng nghiên cứu là hệ thống chùa trên địa bàn huyện Phú Bình, chúng tôi đã sử dụng phương pháp miêu tả, thống kê, tổng hợp, hệ thống hoá bằng bảng biểu, phương pháp phân loại, phương pháp đối sánh Đồng thời, kết hợp với các phương pháp liên ngành như: điều tra xã hội học, điền dã dân tộc học,…
6 Đóng góp của Luận văn
Đề tài “Hệ thống chùa huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” mong muốn
góp phần nhỏ bé vào việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá cổ truyền của đồng bào các dân tộc huyện Phú Bình qua việc khảo tả hệ thống chùa trên địa
Trang 8bàn huyện và đánh giá ảnh hưởng của nó với đời sống văn hoá tinh thần của
cư dân địa phương Từ đây, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước và trách nhiệm đối với việc bảo tồn các giá trị văn hoá cho các thế hệ người dân Phú Bình
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Nội dung của luận văn được chia thành 3 chương
Chương 1: Khái quát về huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Hệ thống chùa huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Vai trò của chùa trong đời sống cư dân Phú Bình
Ngoài ra trong luận văn còn có các phần: Tài liệu tham khảo, Phụ lục
và Mục lục
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí, địa hình
Phú Bình là huyện trung du, miền núi, địa đầu phía đông nam của tỉnh Thái Nguyên, gồm hai dải đất nằm dọc hai bờ sông Cầu, huyện lị đặt tại thị trấn Hương Sơn, cách thành phố 28 km theo đường quốc lộ 37 Địa bàn huyện
có toạ độ địa lí từ 21023’33’’ đến 21035’22’’ vĩ Bắc, giữa 105051’ đến
106002’ kinh Đông Phía bắc và tây bắc giáp huyện Đồng Hỷ, phía tây và tây nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía đông giáp huyện Yên Thế, phía nam giáp huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang)
Theo số liệu thống kê tháng 12 năm 2004, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 249,36 km2 (bằng 24.936 ha) với 21 đơn vị hành chính gồm 20 xã và
1 thị trấn
Đặc điểm kiến tạo địa chất cùng dòng chảy của sông Cầu, sông Máng
và kênh Đông (thuộc hệ thống đại thuỷ nông) chia cắt Phú Bình thành 3 vùng:
- Vùng I (tả ngạn sông Máng) gồm 8 xã trong đó có 7 xã miền núi là Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Tân Hoà và xã trung du Bảo Lý
- Vùng II có địa hình trung du gồm 7 xã: Xuân Phương, Kha Sơn, Dương Thành, Thanh Ninh, Lương Phú, Tân Đức và thị trấn Hương Sơn
- Vùng III (vùng nước kênh núi Cốc) có 6 xã: Hà Châu, Nga My, Điềm Thuỵ, Thượng Đình, Nhã Lộng và Úc Kỳ
Muốn đến Phú Bình, lấy trung tâm thành phố Thái Nguyên làm điểm xuất phát, xuôi theo đường Cách mạng tháng Tám chỉ khoảng 15 km ta đã ở địa phận Phú Bình, xã đầu tiên giáp thành phố là Thượng Đình
Trang 10Ở Phú Bình, tuy đồi núi thấp chiếm một diện tích lớn nhưng về giao thông lại có ưu thế cả đường bộ lẫn đường sông Phú Bình được ví như chiếc cầu nối liền vùng đồng bằng châu thổ - nơi có những đô thị buôn bán sầm uất, với miền núi non hiểm trở phía bắc – nơi ngã ba của con đường giao lưu với các tỉnh lân cận: Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, …
Vị thế này rất thuận tiện cho Phú Bình giao lưu với các huyện xung quanh, với thành phố và một số địa phương khác
Nhìn chung, toàn huyện Phú Bình có địa hình tương đối bằng phẳng Vùng đồi núi hình bát úp thấp dưới 100m Độ cao so với mặt nước biển trung bình là 14m, nơi thấp nhất thuộc địa phận xã Dương Thành là 10m và đỉnh đèo Bóp (xã Tân Kim) là nơi cao nhất (250m so với mặt biển) Địa hình Phú Bình có độ dốc giảm dần theo hướng đông bắc - tây nam Diện tích có độ dốc nhỏ hơn 8o chiếm 67,56% tổng diện tích tự nhiên của huyện Địa hình mang đặc điểm của vùng đồi trung du xen với đồng bằng phù sa sông Cầu là điều kiện tự nhiên thuận lợi để Phú Bình phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
là trồng cây lương thực
1.1.2 Giao thông, sông ngòi, khí hậu
Huyện Phú Bình có 2 con sông và 3 dòng suối chảy qua
Dòng sông Cầu trước có tên là sông Phú Lương (theo “Thủy kinh chú”
thế kỷ VI), bắt nguồn từ độ cao trên 1200m phía Bắc Tam Tao (Chợ Đồn, Bắc Kạn), chảy qua thị xã Bắc Kạn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Bắc Ninh và thị trấn Phả Lại
Sông có lưu lượng nước lớn, khoảng 1353
/s Nhờ có lưu lượng nước lớn mà từ xa xưa sông Cầu đã là một trong những tuyến đường thủy quan trọng đảm nhận việc giao lưu buôn bán giữa các địa phương dọc hai bên bờ sông với một số địa phương khác Sông Cầu dưới nước cùng quốc lộ 3 trên bộ
Trang 11là những con đường truyền thống nối liền miền núi Việt Bắc với miền xuôi châu thổ
Đoạn sông Cầu qua Thái Nguyên chảy theo hướng bắc – nam, uốn khúc quanh những xóm làng trù phú lâu đời Kết quả điền dã cho thấy lòng sông có độ rộng hẹp khác nhau ở từng đoạn sông, khúc sông Đoạn sông Cầu chảy từ đập Thác Huống (xã Đồng Liên) qua 9 xã rồi đổ về Chã (huyện Phổ Yên) có chiều dài 29km, có lưu lượng nước trung bình vào mùa mưa từ 280 đến 610m3
/s, vào mùa khô từ 6,3 đến 6,5m3/s Do chảy qua địa hình huyện tương đối bằng phẳng, không có nhiều ghềnh đá nên lòng sông như mở rộng
ra, trung bình khoảng 120m, lòng sông cũng nông hơn, nước chảy hiền hòa hơn so với ở thượng nguồn
Sông Cầu gắn bó mật thiết với người dân Phú Bình, cung cấp nguồn nước chính cho sinh hoạt và sản xuất của huyện Sông còn được sử dụng vào mục đích thông thương, vận tải, tạo điều kiện cho Phú Bình tiếp xúc, thâu nhận những biến động về kinh tế, chính trị từ các trung tâm kinh tế - chính trị
- văn hóa Nhờ con sông này mà có mối giao lưu văn hóa giữa hai miền đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền đệm trung du với miền núi cao phía Bắc
Chảy từ miền núi xuôi xuống đồng bằng rồi đổ ra biển Đông nên sông Cầu có ý nghĩa chiến lược quan trọng về nhiều mặt đối với sự phát triển chung của địa phương Trên địa phận Phú Bình nói riêng và Thái Nguyên nói chung, nơi được xem như cửa ngõ lá chắn phía Bắc bảo vệ Thăng Long – Hà Nội, sông Cầu lại đặc biệt có ý nghĩa về quân sự Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều khúc sông là cạm bẫy nhử địch ở đồng bằng tiến lên để bao vây, tiêu diệt
Ngoài sông Cầu, trên địa bàn huyện còn có con sông Đào (còn gọi là sông Máng) bắt nguồn từ đập Thác Huống (xã Đồng Liên) chảy qua địa phận
9 xã và đổ về sông Thương (Bắc Giang) với chiều dài 31km Đây là con sông
Trang 12nằm trong hệ thống đại thủy nông được khởi công xây dựng từ năm 1922 Hàng năm, sông Đào cung cấp nước tưới cho 1800ha ruộng của Phú Bình và hàng ngàn ha ruộng của các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang Bên cạnh đó là hệ thống đại thủy nông Hồ Núi Cốc và 119 hồ trữ nước cung cấp nước tưới cho hơn 1000ha đất canh tác thuộc các xã tây nam, tây bắc của huyện
Hệ thống giao thông trên địa bàn Phú Bình tương đối dày đặc Quốc lộ
37 từ thành phố Thái Nguyên chạy qua suốt chiều dài của huyện đến thành phố Bắc Giang Quốc lộ 38 chạy từ Điềm Thụy qua Hà Châu, Kha Sơn đi Nhã Nam (Bắc Giang) Ngoài hai tuyến quốc lộ nói trên, Phú Bình còn có 120km đường liên xã, 198km đường liên thôn, đảm bảo cho xe ôtô đi lại thuận tiện đến tận các thôn xã trong huyện
Về khí hậu: Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai; vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai; vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công
Nằm trong cùng một tiểu vùng khí hậu nên cũng giống như thành phố Thái Nguyên và một số huyện phụ cận, địa hình là yếu tố chủ yếu chi phối sự phân hóa khí hậu huyện Phú Bình
Địa phận trải ra trên giới hạn tọa độ địa lý từ 21o23’ đến 21o35’ vĩ Bắc, thuộc phần cuối các cánh cung núi của đất nước Do vậy, nhìn chung khí hậu
ở đây nóng ẩm, mưa nhiều, có một mùa đông lạnh giá và thất thường với nhiệt độ trung bình năm ở mức 23o
C Mùa đông đến sớm và kết thúc muộn hơn so với các tỉnh đồng bằng khoảng 10 ngày Vì cách xa biển đến hơn 200km nên nơi đây rất ít chịu ảnh hưởng từ biển Lượng mưa trung bình là dưới 1500mm/năm
Trang 13Nhìn chung, khí hậu này khá thuận lợi cho huyện Phú Bình phát triển sản xuất nông nghiệp
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội – văn hoá
1.2.1 Lịch sử hình thành huyện
Ngược dòng lịch sử, tìm kiếm những tư liệu xưa còn lưu giữ được, ta thấy địa danh, địa giới của huyện Phú Bình nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung có nhiều biến đổi
Theo đó, đất Phú Bình ngày nay là đất huyện Tư Nông thời nhà Lý Sách
“Thiên Nam dư hạ tập” ghi rằng Tư Nông là một trong sáu huyện (Tư Nông,
Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ, Bình Tuyền) thuộc phủ Phú Bình
Sách “Cương mục” và sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi - một trong
những tác phẩm xưa nhất còn lại có giá trị trong nghiên cứu khoa học địa lý của Việt Nam - lại ghi tư nông là một trong 8 huyện của phủ Phú Bình thuộc thừa tuyên Ninh Sóc (tên gọi của tỉnh Thái Nguyên thời Lê Thánh Tông)
“Huyện đặt từ trước thời thuộc Minh, đời Lê vẫn theo như thế, phiên thần họ Ma nối đời quản trị, bảo triều đầu đời Gia Long vẫn theo như thế”
[20,156]
Đến năm 1831, vua Minh Mạng chia cả nước thành 31 tỉnh Tỉnh Thái Nguyên gồm hai phủ là Phú Bình và Tòng Hóa Huyện Tư Nông thuộc phủ
Phú Bình “Đồng Khánh địa dư chí” chép rằng Tư Nông là một trong 5 huyện
(Tư Nông, Phổ Yên, Bình Xuyên, Động Hỷ, Vũ Nhai) của phủ Phú Bình
“Huyện lỵ lúc trước đặt ở địa phận xã La Đình Năm Tự Đức thứ 4 (1851) vâng chỉ giảm bỏ, vẫn do phủ Phú Bình kiêm lí
Huyện hạt cách phía đông phủ lỵ 5 dặm, phía đông giáp xã Giản Ngoại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Ninh, phía tây giáp xã Đắc Hiền huyện Phổ Yên, phía nam giáp các xã Nga My, Yên Châu huyện Hiệp Hòa, phía bắc giáp các
Trang 14xã Lưu Xá, Niệm Quang huyện Đồng Hỷ, phía Đông Bắc giáp xã Lâu Thượng huyện Vũ Nhai
Đông tây cách nhau 68 dặm Nam bắc cách nhau 34 dặm Huyện có 9 tổng, gồm 54 xã, thôn, phường:
- Tổng Nhã Lộng (7 xã, thôn): xã Triều Dương, xã Nhã Lộng, xã Úc Kỳ, xã
Điềm Thụy, xã Ngọc Long, thôn Ngọc Sơn, thôn Cống Thượng
- Tổng Thượng Đình (9 xã, thôn): xã Thượng Đình, xã Quan Tràng, xã Đào
Xá, xã Ninh Sơn, xã Thuần Lương, xã Dưỡng Mông, xã Lục Dương, thôn
Nông Cúng, thôn Đình Kiều
- Tổng Nghĩa Hương (4 xã, thôn): xã Trang Ôn, xã Vân Dương, thôn Cầu
Đông xã Nghĩa Hương, thôn Yên Mễ xã Nghĩa Hương
- Tổng La Đình (9 xã, thôn): xã La Đình, xã Mai Sơn, xã Kha Nhi, xã La Sơn,
xã Úc Sơn, xã Phương Độ, xã Bằng Cầu, thôn Thượng xã Kha Sơn, thôn Hạ
xã Kha Sơn
- Tổng Phao Thanh (6 xã): xã Phao Thanh, xã Lương Tạ, xã Phú Mỹ, xã
Lương Trình, xã Thanh Lương, xã Ngô Xá
- Tổng Đức Lân (6 xã, thôn): xã Đức Lân, xã Nỗ Dương, xã Loa Lâu, xã Lũ
Vân, thôn Nội xã Xuân Nùng, thôn Ngoại xã Xuân Nùng
- Tổng Tiên La (4 xã): xã Tiên La, xã Điều Khê, xã Bạch Thạch, xã Vân Đồn
- Tổng Lý Nhân (6 xã): xã Lý Nhân, xã Đăng Nhân, xã Kim Lĩnh, xã Lũ An,
xã Cô Giạ, xã Chỉ Mê
- Tổng Bảo Nang (3 xã phường): xã Bảo Nang, xã Thanh Huống, phường
Thủy Cơ xã Triêu Dương” [12,67]
Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và tồn tại, huyện Phú Bình đã được ghi lại trong các sách vở có tính chất địa lý của các triều đại phong kiến xưa Tuy đôi chỗ không thống nhất về tên gọi và lãnh vực của huyện nhưng vẫn cho thấy rằng huyện Phú Bình ngày nay đã được lịch sử công nhận từ lâu
Trang 15Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 25/3/1948, chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh 148SL thống nhất trong cả nước bỏ phủ, châu, quận; trên cấp xã là cấp huyện
Ngày 01/7/1956, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 268SL thành lập khu tự trị Việt Bắc Tỉnh Thái Nguyên trong khu tự trị Việt Bắc gồm thị xã Thái Nguyên và các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ và Võ Nhai Huyện Phú Bình tách sang tỉnh Bắc Giang, huyện Phổ Yên về tỉnh Vĩnh Phúc Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai huyện Phú Bình, Phổ Yên, ngày 15/6/1957, chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định trả lại hai huyện nói trên về tỉnh Thái Nguyên
Ngày 21/4/1965, ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra nghị quyết số 103 NQ – TVQH thành lập tỉnh Bắc Thái Huyện Phú Bình là một trong 14 huyện, thành, thị của tỉnh Bắc Thái
Ngày 06/11/1996, trong kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra nghị quyết tách tỉnh Bắc Thái
về tái lập hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Cạn Huyện Phú Bình thuộc tỉnh Thái Nguyên Toàn huyện có 20 xã, 1 thị trấn, bao gồm 311 xóm và 4 tổ dân phố Các xã, thị trấn là: thị trấn Hương Sơn, xã Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Thượng Đình, Điềm Thụy, Nhã Lộng, Bảo Lý, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Tân Hòa, Tân Đức, Lương Phú, Dương Thành, Thanh Ninh, Kha Sơn, Xuân Phương, Úc Kỳ, Nga My, Hà Châu
1.2.2 Dân cư
Dân cư là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế
Thái Nguyên là một tỉnh đông dân, mật độ dân cư trung bình toàn tỉnh là
297 người/km2
(2000) So sánh với nhiều tỉnh thuộc miền núi biên giới phía Bắc, tỉnh Thái Nguyên có mật độ dân cư trung bình cao gấp 2 lần tỉnh Tuyên Quang, gấp 3 lần tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La và gấp tới 7 lần tỉnh Lai Châu
Trang 16Trong đó, theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2007 (Nxb Thống kê, 2008, Tr8) thì huyện Phú Bình có tổng số dân là 142.218 người với mật độ dân số 556 người/km2, đứng hàng thứ hai trong tỉnh sau thành phố Thái Nguyên Sự phân bố dân cư trong huyện không đồng đều Ở các xã miền núi dân cư thưa thớt, trong khi ở các xã phía nam dân cư quần tụ đông đúc hơn nhiều Là một huyện thuần nông nên ở Phú Bình, dân số nông thôn chiếm trên 98%, dân số thị trấn chỉ có trên 1,2% tổng số dân của huyện
Dân cư đông đúc làm cho địa phương có nguồn lao động dồi dào, có thị trường tiêu thụ rộng Nhưng trong điều kiện huyện Phú Bình nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung còn nghèo thì số dân đông tất yếu sẽ dẫn đến mức thu nhập tính trên đầu người thấp
Tuy nhiên, dân số Phú Bình có chiều hướng giảm Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm (1999-2009) dân số huyện giảm 2.100 người do có nhiều người di chuyển đi nơi khác
Về kết cấu dân tộc: Thành phần dân cư huyện Phú Bình gồm 14 dân tộc anh em chung sống xen kẽ với nhau, có thể kể đến các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Hoa, Thái, H’Mông, …
Kết cấu dân tộc trên toàn huyện được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Kết cấu dân tộc của huyện Phú Bình (Thái Nguyên)
(Đơn vị tính: người) Dân tộc Kinh Tày Nùng Dao Sán Dìu Các dân
tộc khác
Số dân 126.965 1.954 4.025 27 2.053 420 Qua bảng trên, ta thấy dân tộc Kinh có 126.965 người trên tổng số 138.760 người của toàn huyện, tương đương với hơn 90%, chiếm số đông nhất Các dân tộc thiểu số còn lại như Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, H’Mông, Hoa, … chiếm số lượng rất ít
Trang 171.2.3 Hoạt động kinh tế
Cơ cấu kinh tế của huyện Phú Bình là nông nghiệp – lâm nghiệp – công nghiệp – xây dựng và dịch vụ Trong đó ngành sản xuất chủ yếu là nông – lâm nghiệp
Sản xuất nông – lâm nghiệp
Có thể nói, người dân Phú Bình sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp là 13.845,93 ha, trong đó có 10.085, 14 ha đất trồng cây hàng năm, 2.296,55 ha đất vườn tạp và 1.060,43 ha đất trồng cây lâu năm Ngoài ra, Phú Bình còn có 400,8 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản Với tiềm năng như vậy, lại cộng thêm người dân cần cù lao động, giàu kinh nghiệm sản xuất là điều kiện thuận lợi cho Phú Bình phát triển nông nghiệp
Sản xuất nông nghệp tuy còn nhiều khó khăn, phụ thuộc vào thiên nhiên nhưng từ xưa đến nay, Phú Bình vẫn được coi là vựa lúa ở Thái Nguyên Cùng với Đại Từ, Phổ Yên, Phú Bình là một trong những trọng điểm lúa của tỉnh, năng suất lúa cao hơn mức trung bình của toàn tỉnh (đạt 34,36 tạ/ha so với mức trung bình 33,74 tạ/ha của toàn tỉnh)
Trong những năm gần đây, sản xuất nông – lâm nghiệp của huyện Phú Bình chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa gắn với thị trường, tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích, phát triển mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm Giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp từ năm 1995 đến năm 2003 bình quân tăng 3,68%/năm Trong đó, ngành chăn nuôi tăng nhanh; năm 2003, toàn ngành tăng 7,85% so với năm 2002, trong
đó đàn bò tăng 28,89%, đàn lợn tăng 7,18%, đàn gia cầm tăng 16,49% (riêng đàn trâu giảm 4,13%)
Ngành lâm nghiệp: Trong 10 năm trở lại đây, huyện tập trung khoanh
nuôi, trồng mới, cải tạo, bảo vệ rừng tái sinh, chưa có doanh thu
Thủ công nghiệp và thương nghiệp
Trang 18Bên cạnh nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, Phú Bình còn
có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng với 14 ngành nghề khác nhau
Trong các nghề thủ công, đáng chú ý là nghề làm đồ gốm ở Lang Tạ, nghề đan lát đồ mây tre rải rác ở các thôn xã,…
Do vị trí địa lý, giao thông thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa, đặc biệt thuận tiện cho việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho thị trường Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội, nên buôn bán ở Phú Bình có vị trí đáng kể
Huyện Phú Bình có một số chợ lớn nằm sát đường giao thông như chợ Đồn, chợ Cầu, chợ Hanh, chợ Tân Đức,… Đó chính là những cầu giao lưu hàng hóa đối với các vùng xung quanh Thị trấn Hương Sơn ngày càng mở rộng, dân cư hội tụ về đây làm ăn buôn bán ngày một sầm uất
Tiềm năng về kinh tế, nhất là tiềm năng về đất đai và sức lao động là đặc điểm đáng chú ý của Phú Bình
Trong gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng đề xướng, Phú Bình đã khai thác các tiềm năng, nguồn lực, phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo của nhân dân, đảm bảo nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định,chuyển dịch
cơ cấu rõ nét Những năm 90 trở về trước, kinh tế của huyện chủ yếu là nông nghiệp (tỷ trọng trên 91%), đến năm 2004 nông – lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 70,54%, công nghiệp – xây dựng 11,38% và dịch vụ 18,07% Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm (2000 - 2005), toàn huyện đạt 6,8%, đời sống nhân dân được cải thiện, góp phần ổn định chính trị và xã hội
1.2.4 Tình hình văn hóa
Lịch triều hiến chương loại chí chép lại từ xưa, “… về văn học, phủ
Phú Bình tuy kém 4 Thừa tuyên và trấn Thanh Hóa, Nghệ An nhưng 7 huyện đều có người đỗ đạt”
Trang 19“Trong huyện, người Kinh có học, thỉnh thoảng có người thi đỗ đạt khoa mục Các tổng Phao Thanh, Đức Lân, Tiên La, Lý Nhân, Bảo Nang nhiều người dũng mãnh, hung hãn Các tổng Nhã Lộng, Thượng Đình nhiều người nóng nảy Dân phần nhiều làm ruộng, buôn bán, đánh cá, đốn củi Mỗi người đều theo nghề của mình nhưng cần kiệm thì giống nhau Các lễ tiết Nguyên Đán, Đoan Dương, Trung Nguyên, Trừ Tịch và tế lế thờ thần, tục cưới xin tang ma thì giống miền xuôi
Cũng có người Mán ngụ cư là Mán Sơn Miêu, Mán Quần Cộc, Mán Cao Lang, tập tục khác với người Kinh Dân theo đạo Thiên chúa thì chỉ có
xã Nhã Lộng giản tòng mà thôi” [12,89]
Ngày nay, sự nghiệp văn hóa – giáo dục của Phú Bình đã có nhiều thay đổi
Về giáo dục – đào tạo: Năm mươi năm qua, giáo dục – đào tạo của Phú Bình được quan tâm phát triển toàn diện ở các cấp học Đến năm học 2003 –
2004, cả huyện có 66 trường, trong đó có 22 trường mẫu giáo, 21 trường tiểu học, 21 trường THCS, 2 trường THPT; có 1055 lớp, trong đó có 179 lớp mẫu giáo, 476 lớp tiểu học, 334 lớp THCS và 66 lớp THPT Toàn huyện có 1584 giáo viên, trong đó có 216 giáo viên mẫu giáo, còn lại là giáo viên 3 cấp học phông Số học sinh phổ thông toàn huyện là 28 953 Năm 2003, có 19 trong tổng số 21 xã, thị trấn của huyện đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục THCS, 70% số trường đạt chuẩn quốc gia
Về văn hóa: Nhiều di tích lịch sử còn lại trên mảnh đất Phú Bình ngày nay như đình Phương Độ, đình Hộ Lệnh, đình Xuân La, chùa Mai Sơn,…
Những làn điệu dân ca như hát ví, hát chèo, hát trống quân,… biểu diễn trong các dịp lễ hội được nhân dân rất ưa thích Đặc biệt, kho tàng ca dao, tục ngữ ở đây rất phong phú, đa dạng, phản ánh kinh nghiệm sản xuất, chế diễu thói hư tật xấu trong xã hội
Trang 20Ngày nay, các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được phát triển mạnh mẽ từ huyện đến các cơ sở, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân các dân tộc trong huyện, tạo môi trường văn hóa lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc cho thế hệ trẻ
Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư trong huyện Năm 2003 có 267 trong tổng số 315 xóm đăng kí xây dựng xóm văn hóa (tăng 23% so với năm 2002), 199 xóm có quy ước văn hóa, 70%
số hộ đạt gia đình văn hóa
Tiểu kết chương 1
Phú Bình là huyện trung du, miền núi, địa đầu phía đông nam của tỉnh Thái Nguyên Đây là vùng đất có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội Trên địa bàn huyện, nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống
Được ví như chiếc cầu nối liền vùng đồng bằng châu thổ với miền núi non hiểm trở phía bắc, bản sắc văn hóa của Phú Bình là kết quả của sự giao thoa văn hóa giữa văn hóa miền xuôi và miền ngược Điều này được thể hiện qua ngôi chùa làng và tín ngưỡng thờ Phật của người dân địa phương
Trang 21CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG CHÙA HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 Số lượng, sự phân bố và niên đại chùa ở Phú Bình
Các nhà khoa học xã hội đưa ra rất nhiều khái niệm về ngôi chùa Theo
Từ điển tiếng Việt “Chùa là công trình kiến trúc làm nơi thờ Phật” [8,175]
Theo tác giả Phan Ngọc Liên trong Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông
“Chùa là ngôi nhà thờ Phật để các tín đồ Phật giáo đến làm lễ” [19,105] Để
chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt còn có từ "chiền" (chữ Nôm: 廛 hoặc 纏)
Các nhà nghiên cứu cho rằng từ "chiền" có thể có gốc từ cetiya của tiếng Pali hay caitya của tiếng Phạn, cả hai dùng để chỉ điện thờ Phật
Tỉnh Thái Nguyên có trên 2 vạn người theo đạo Phật, 338 tổ, hội quy Phật Có 3 nhà sư chính thức được bổ nhiệm trụ trì Về cơ sở thờ tự tín ngưỡng, tôn giáo, Thái Nguyên có gần 400 cơ sở gồm có 113 chùa, 172 đình,
55 đền, 31 nghè, 11 miếu… trong đó, 24 điểm được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia và cấp tỉnh Các cơ sở thờ tự Phật giáo và số người theo đạo Phật phân bố không đều trong tỉnh, chủ yếu tập trung tại thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ Việc thờ tự ở nhiều địa phương còn mang tính tự phát, có nhiều chùa hiện nay không có sư trụ trì, mà do nhân dân địa phương tự quản
lý, sinh hoạt tôn giáo theo văn hóa truyền thống
Là một huyện trung du, miền núi, Phú Bình có các dân tộc cùng sinh sống xen kẽ Về giao thông có ưu thế cả đường bộ lẫn đường sông, Phú Bình được ví như chiếc cầu nối liền vùng đồng bằng châu thổ với miền núi non hiểm trở phía bắc Vì thế, nơi đây là vùng đất hội tụ nhiều sắc màu văn hóa Qua quá trình phát triển của lịch sử, những nét văn hóa miền xuôi, miền ngược đã pha
Trang 22trộn, hòa quyện tạo nên một sắc thái văn hóa thống nhất của Phú Bình Điều này được thể hiện qua tín ngưỡng thờ Phật và hệ thống chùa nơi đây
Tín ngưỡng thờ Phật chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Phú Bình Trong tỉnh Thái Nguyên, Phú Bình là huyện có nhiều chùa nhất Các ngôi chùa được xây dựng phổ biến ở các xã thôn trong toàn huyện Sự xuất hiện của hàng chục ngôi chùa nơi đây là minh chứng rõ nét về ảnh hưởng của văn hóa chùa làng từ vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng lên vùng trung du miền núi
Theo số liệu khảo sát thực tế, trên địa bàn huyện Phú Bình có 79 ngôi chùa lớn nhỏ, phân bố rải rác ở các xã, với tổng diện tích thờ tự là 181.656,20 m2
Sự phân bố các ngôi chùa ở đây cụ thể như sau:
Bảng 2: Thống kê các ngôi chùa trên địa bàn huyện Phú Bình STT Địa bàn phân bố Số lƣợng chùa Tên chùa
Trang 232 Chùa Kha Thượng
3 Chùa Tân Thành
4 Chùa Hồ Hòa Bình
5 Chùa Ca
6 Chùa Pheo
2 Chùa Thanh Lương
Trang 25tạo dựng ngày một hoàn chỉnh như ngày nay
Trên địa bàn huyện Phú Bình hiện nay tồn tại hai hệ thống chùa: hệ thống chùa cổ và hệ thống chùa mới tạo dựng lại
Hệ thống chùa cổ được xây dựng khá sớm, phát triển qua nhiều thế kỷ tồn tại cho đến tận ngày nay Ngoài chùa Pheo và chùa An Mỹ có từ thế kỷ XII, thời nhà Lý; các chùa cổ trên địa bàn huyện Phú Bình chủ yếu được khởi dựng ở thế kỷ XVIII dưới thời Lê trung hưng Từ lời kể của các cụ cao niên, niên đại của các ngôi chùa được xác định phần lớn thông qua các hiện vật còn lưu giữ trong chùa như chuông chùa, các cột đá, bia đá có khắc chữ Hán ghi niên hiệu năm xây chùa, các đồ thờ như bát hương cổ thời Lê (chùa Úc Sơn),
Trang 2623 pho tượng cổ niên đại cuối Lê đầu Nguyễn ở chùa Phú Mỹ… Cũng có chùa như chùa An Mỹ, chùa Pheo thì niên đại được ghi trong thần tích thần sắc của làng Một số ngôi chùa do những dấu tích cổ còn lại không nhiều hoặc không rõ ràng nên niên đại chưa được xác định chính xác Bảng dưới đây chỉ thống kê những ngôi chùa đã được xác định chính xác về niên đại
Bảng 3: Niên đại một số chùa cổ ở Phú Bình STT Tên chùa Niên đại
5 - Chùa Triều Dương Cuối thời Lê (thế kỷ XVIII)
Trải qua quá trình sử dụng, do tác động của môi trường thiên nhiên và
sự tàn phá của chiến tranh, các ngôi chùa cổ ở Phú Bình đã có nhiều biến đổi, được sửa chữa, trùng tu, tôn tạo lại nhiều lần song vẫn giữ được những dáng
vẻ kiến trúc xây dựng từ thời xưa
Hệ thống chùa mới là những ngôi chùa được người dân địa phương phát tâm xây dựng lại trên nền đất cũ khoảng từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây như chùa Quyên, chùa Hóa, chùa Lũa Những ngôi chùa mới tạo dựng lại làm nơi thờ Phật và sinh hoạt văn hóa chung của làng xã, hiện vật cổ không còn lưu giữ được
Trang 272.2 Cảnh quan địa lý và khuôn viên chùa
Đi chùa, lễ Phật, chưa biết lời cầu nguyện của mình cho mình và cho mọi người đến được tai Phật hay không, cũng chưa biết ngày nào mới thấu được triết lý của Phật nhưng chí ít thì cái được và được ngay chính là vẻ đẹp của chùa chiền làm lòng người đến chùa dịu lại
Tôn giáo của người Việt Nam yêu thiên nhiên, yêu đất nước Đến với các chùa ở Phú Bình, không chỉ là đến với một nét văn hóa truyền thống đã được chọn lọc qua thăng trầm của lịch sử mà còn đến để chiêm ngưỡng những cảnh đẹp của mỗi ngôi chùa Tất cả chùa Phú Bình, dù toạ lạc ở đâu vẫn luôn
giữ vẻ trầm mặc gắn liền quá khứ với hiện tại và tương lai “tất cả đều mang
trong lòng một sức sống thanh tịnh, vị tha, liên tục và hoàn toàn không cách
ly với những thăng trầm của dân tộc”
Theo câu tục ngữ Việt Nam "đất vua, chùa làng", các ngôi chùa đa số là thuộc về cộng đồng làng xã Ở Phú Bình cũng vậy, nơi đây phần lớn là những ngôi chùa hàng xã, nhiều ngôi chùa mang tên làng và xây chùa bao giờ cũng
là một việc trọng đại đối với làng quê Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy Người Việt Nam tin vào phong thủy (địa lý) nên việc chọn địa điểm xây chùa bao giờ cũng cẩn trọng, vì họ tin rằng sự yên
ổn của ngôi chùa có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân trong làng
"Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc Núi hổ (hay tay hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái Đó là đất dương cơ ái hổ (nền dương có tay hổ) vậy Nước thì nên chảy quanh sang trái Nếu đảo ky, thì mạch nước lại vào ở phía trước Trước mặt có minh đường hay không có đều được cả Phía sau không nên có núi áp kề, thế là đất tốt ".[23, 121]
Trang 28Từ quan niệm đó, các chùa trên địa bàn huyện Phú Bình phần lớn thường tọa lạc trên một đồi cao, đỉnh khá bằng phẳng, trong khung cảnh thiên nhiên đẹp, xung quanh có đồng ruộng, đồi cây tươi tốt, thoáng mát Với khuôn viên sân chùa rộng rãi, ngay khi vừa bước qua cổng chùa là một không gian xanh mát, trồng rất nhiều loại cây Trước mặt các ngôi chùa đều quang quẻ Một số ngôi chùa trước mặt có các gò đống chầu về Trong tâm thức của đạo Phật đó là biểu hiện quy phụ Phật pháp của mọi lượng thế gian
Do gắn với tư duy nông nghiệp nên hầu hết các ngôi chùa nói chung và
chùa ở Phú Bình nói riêng thường có mối liên quan tới yếu tố nước Con sông
Cầu uốn mình chảy qua phía trước chùa Bàn Đạt, chùa Đại Lễ, phía đông chùa An Châu; chùa Lũ Yên nhìn ra con sông Đào, chùa Lũa nhìn ra cánh đồng rộng có con sông Máng chảy quanh, chùa Nghè Hản nằm trên dải đất dọc theo ven tuyến sông Đào, cảnh quan đắc địa phía trước có một hồ nước rộng hòa quyện với đồi rừng ao hồ như một bức tranh quê, chùa Hóa có giếng chùa cách chùa 100m… Người ta tin rằng, nước là khởi đầu của mọi nguồn hạnh phúc nông nghiệp, và do nước ở thấp nên thường được coi như mang yếu tố âm, các ngôi chùa nổi cao được coi như yếu tố dương Cả hợp thể trở thành một cặp âm dương đối đãi Đó là ước vọng của người dân nơi đây về sự sinh sôi phát triển của muôn loài
Từ địa thế của chùa Phú Bình, trong lịch sử, một số ngôi chùa ở đây đã trở thành nơi đứng chân của phong trào cách mạng Có thể kể đến như chùa Phú Mỹ nằm trong khu vực có nhiều ao sâu, ruộng trũng, rừng cây rậm rạp cho nên được lựa chọn làm địa điểm liên lạc bí mật, nơi tuyên truyền cách mạng của các cán bộ địa phương và Trung ương hoạt động trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc (trước tháng 8/1945)
Chùa Phú Bình phần lớn quay về hướng Nam, như người Việt đã có
câu “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” Hướng Nam đón gió nồm mát,
Trang 29tránh gió tây nóng, vừa là hướng thuận với triết lý âm dương ngũ hành vừa có nghĩa các Đức Phật và Bồ tát ngồi quay hướng Nam để nghe lời kêu cứu của chúng sinh trong kiếp đời mà cứu vớt Ngoài ra, cũng có chùa quay mặt về hướng Tây như chùa Triều Dương, … vì người ta tin rằng hướng Tây là một hướng ổn định nhất, hợp với sự vận hành của âm dương, khiến cho thần linh không rời bỏ nghĩa vụ vì chúng sinh đau khổ; hay quay hướng Đông Nam như chùa Quyên, chùa Hóa, chùa An Mỹ
Cùng với thế đất, nhiều ngôi chùa ở Phú Bình còn có cây cổ thụ tạo nên phong cảnh yên tĩnh, mát mẻ Chùa Cầu Muối có cây Trâm Trai trên 300 năm tuổi rủ bóng trong khuôn viên, sân chùa An Châu mát rượi tán cây đa, cây si, trước cửa chùa Phú Mỹ có cây Xanh cổ thụ, cành rễ xum xuê, tuổi trên 200 năm tạo cảnh quan thâm nghiêm cổ kính, chùa Lũ Yên có cây đa cao 30m đã vài trăm năm tuổi… Cây xanh và cây cổ thụ tạo nên sự hài hòa của thiên nhiên với công trình kiến trúc, vừa tôn nhau lên mà không lấn át nhau
Các ngôi chùa ở Phú Bình vừa hòa đồng trong cảnh quan của làng quê bình dị êm ả; vừa kết tinh, khẳng định bản sắc riêng độc đáo như biểu hiện một sức mạnh thiên nhiên vùng “địa linh hội tụ long mạch” với sự huyền diệu
mà con người hoài niệm, khát vọng, như câu đối ở đầu hồi tòa Thượng điện chùa Ha:
“Phong nhược lai thìn, mộ cổ thần trung lung thụ để,
Vũ lâm tế hậu vân khinh, nguyệt bạch chiếu thiền quan”
(Dịch nghĩa:
Làn gió nhẹ thổi tới, tiếng trống tiếng chuông làm rung động tận đáy nước,
Sau mưa có mây nhẹ nhàng, trăng sáng chiếu tới tận cửa chùa)
Có thể nói, tất cả mọi cảnh vật trong chùa đều gợi lên nét thanh tịnh, xưa cũ tự bao đời Chùa Phú Bình được phối trí hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên Hình ảnh và môi trường của các ngôi chùa nơi đây gợi lên trong lòng
Trang 30người những cảm xúc thăng hoa, thanh thoát Tuy mỗi chùa có một vẻ khác nhau không chùa nào giống chùa nào nhưng có một điểm chung là đều có một khung cảnh thiên nhiên tĩnh lặng như muốn đưa con người vào cõi thiền để tu nhân tích đức, làm điều thiện, tránh cái ác
Nhìn chung, các ngôi chùa đều được địa phương quan tâm mở mang đường xá, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và khách thập phương đến lễ
và vãn cảnh chùa vào các dịp trong năm như: rằm Tháng Giêng, rằm tháng Bảy và tháng Chạp
Phía trước các ngôi chùa thường là đình làng, chùa cách đình một khoảng sân Qua điền dã thấy rằng 20/31 (chiếm 64,5%) chùa ở Phú Bình
được bố trí theo lối “Tiền Thánh hậu Phật”, như nội dung câu đối ở nghi môn
đình – chùa Phi Long (xã Tân Đức):
“Tiền thần giang thủy ngư văn kệ Hậu phật tùng lâm điểu thánh kinh”
Ngoài chùa Phi Long, có thể kể đến các chùa khác cũng được xếp đặt theo lối này như: chùa Úc Sơn, chùa Cầu Muối, chùa Ca, chùa Xuân La, chùa Phương Độ, chùa Thuần Pháp… Đình trước chùa sau - chùa và đình gắn kết thành trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương
Có thể nói, những ngôi chùa hòa vào phong cảnh làng quê, cùng mái đình, cây đa, cánh đồng, giếng nước với con người và những lề thói đậm tính
địa phương là bức tranh quê tiêu biểu cho văn hóa vùng đồng bằng - trung du
Bắc Bộ đậm đà của huyện Phú Bình nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung
2.3 Kiến trúc và điêu khắc của chùa
Bản thân các ngôi chùa là cơ sở thờ tự Phật giáo ở địa phương, nhưng xét ở các góc độ khác, ngôi chùa còn là cơ sở văn hoá trên nhiều phương diện, trong đó có lĩnh vực kiến trúc và điêu khắc
2.3.1 Kiến trúc
Trang 31Mô hình kiến trúc tổng thể:
Khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, cố nhiên đã đem theo các kiểu kiến trúc chùa tháp, lầu chuông, gác trống theo mô hình kiến trúc của Ấn Độ, Miến Điện và Trung Hoa Tuy nhiên theo thời gian, tinh thần khai phóng của Phật giáo phối hợp cùng với lối tư duy tổng hợp của dân tộc Việt đã tạo ra một mô hình kiến trúc rất riêng cho Phật giáo ở Việt Nam chùa tháp ở Việt nam thường được xây dựng với lối kiến trúc đặc biệt, mái chùa bao giờ cũng ẩn dấu sau lũy tre làng, dưới gốc cây đa hay ở một nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp hoặc thanh vắng Theo Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thương thì kiến trúc
chùa tháp ở Việt Nam là "một quần thể kiến trúc có quy mô không lớn, tương
xứng với tầm vóc con người, phân bố lớp kiến trúc theo một trục dọc kéo dài gây cảm giác đi sâu không cùng, đưa tự nhiên xen kẽ trong các thành phần, chú trọng cảnh quan sông nước, vườn chùa, làm cho công trình có tính chất cởi mở luôn lớn hơn khối thực thể của nó"
Phật giáo để lại nhiều quần thể kiến trúc độc đáo và danh lam thắng cảnh cho huyện Phú Bình
Các chùa Việt Nam nói chung và chùa Phú Bình nói riêng thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói Nhưng người ta thường dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được Vật liệu cũng như tiền bạc dùng cho việc xây dựng chùa được quyên góp trong mọi tầng lớp cư dân địa phương, gọi là của "công đức" Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đem cúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa Trên những cột gỗ lim không bị mối mọt, một số chùa khắc rõ tên người đóng góp Ngoài ra các tên này cũng được ghi ở các bàn thờ bằng đá hoặc trên các đồ sành, sứ như bát hương, bình hoa, chân đèn, hay dựng riêng một bia đá ở sân chùa
Trang 32Nguyên liệu xây dựng cơ bản của các ngôi chùa Phú Bình là gỗ kết hợp với xu hướng gạch xây là yếu tố mới có từ những lần tôn tạo Phần lớn các ngôi chùa có khung gỗ, xung quanh xây kín bằng gạch nung theo kiểu tường hồi bít đốc chắc khỏe, mái lợp ngói vảy rồng hoặc ngói mũi hài Về mặt kỹ thuật, chất liệu gỗ không cho phép sự vươn cao của kiến trúc Các chùa trên địa bàn Phú Bình hầu hết làm theo kiểu đao cong mái lượn, mái thấp trùm nền mang phong cách kiến trúc thời Lê Trung hưng Kết cấu bộ vì kèo phần lớn được làm theo lối “chồng giường, quá giang, kẻ chuyền”, “kẻ chuyền giá chiêng” Các bẩy, xà xuống khá thấp như khẳng định ngôi chùa không phải để vào ra mà chỉ là nơi đặt tượng Phật và bàn thờ Phật
Chùa Phú Bình thường không phải là một công trình mà là một quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau Tùy theo cách bố trí những ngôi nhà này mà người ta chia thành những kiểu chùa khác nhau Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Hán
có dạng gần với mặt bằng kiến trúc chùa Các ngôi chùa ở Phú Bình được xây
dựng theo nhiều mô hình kiến trúc khác nhau: theo kiểu chữ "Công", kiểu chữ
"Đinh", hay kiểu "Nội công ngoại Quốc" Cụ thể:
Mô hình kiến trúc theo kiểu chữ "Đinh" (丁) (nhân dân địa phương
thường gọi là hình chuôi vồ): có nhà chính điện hay còn gọi là thượng điện, là nhà đặt các bàn thờ Phật, được nối thẳng góc với nhà bái đường hay nhà tiền
đường ở phía trước Một số chùa tiêu biểu cho kiểu kiến trúc này là chùa Phi
Long, chùa Lềnh, chùa Hản (xã Tân Đức), chùa Quyên, chùa Hóa (xã Bảo Lý), chùa Bàn Đạt (xã Bàn Đạt), chùa Phú Mỹ (xã Lương Phú), chùa Lũ Yên (xã Đào Xá), chùa Pheo (xã Kha Sơn)…
Trang 33Sơ đồ 1: Mặt bằng chữ Đinh của chùa Hản (xã Tân Đức)
(Nguồn tư liệu điền dã)
Mô hình kiến trúc theo kiểu chữ "công" (工): chùa có nhà chính điện
và nhà bái đường song song với nhau, được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà thiêu hương, nơi sư làm lễ Có nơi gọi gian nhà nối nhà bái đường với Phật điện này là ống muống Tiêu biểu cho kiểu kiến trúc này là chùa Ha
(xã Nhã Lộng), chùa Nga My (xã Nga My)…
Sơ đồ 2: Mặt bằng chữ Công của chùa Ha (xã Nhã Lộng)
(Nguồn tư liệu điền dã)
Mô hình kiến trúc theo kiểu "Nội công ngoại Quốc" là kiểu chùa có hai
hành lang dài nối liền nhà tiền đường ở phía trước với nhà hậu đường (có thể
là nhà tổ hay nhà tăng) ở phía sau làm thành một khung hình chữ nhật bao quanh lấy nhà thiêu hương, nhà thượng điện hay các công trình kiến trúc khác
Nhà bái đường
Chính điện
CHÍNH ĐIỆN
NHÀ TĂNG ĐƯỜNG
NHÀ HÀNH LANG
NHÀ HÀNH LANG
NHÀ BÁI ĐƯỜNG
Trang 34ở giữa Bố cục mặt bằng chùa có dạng phía trong hình chữ Công (工), còn phía ngoài có khung bao quanh như chữ khẩu (囗) hay như ở chữ Quốc (国) Tiêu biểu cho kiểu kiến trúc này có chùa Úc Sơn (TT Hương Sơn)
Sơ đồ 3: Mặt bằng Nội công ngoại quốc của chùa Úc Sơn (TT Hương Sơn)
(Nguồn tư liệu điền dã)
Ngoài ra có một số chùa được xây dựng nhỏ và đơn giản không xếp vào các mô hình kiến trúc trên như chùa Cầu Muối (xã Tân Thành) chỉ gồm 2 gian, chùa Đại Lễ 3 gian 2 trái, chùa có tiền tế và hậu cung như chùa Xuân
La, chùa Hộ Lệnh, … Ở Phú Bình, không có ngôi chùa nào được xây dựng theo mô hình kiến trúc kiểu chữ "Tam" (三) tức là có ba nếp nhà song song với nhau, thường được gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng
Đó là các công trình kiến trúc chính Ngoài ra, trong một số chùa Phú
Bình còn có những ngôi nhà khác như nhà (điện) thờ mẫu (chùa Lũ Yên, chùa
Úc Sơn, chùa Lềnh) nhà tổ là nơi thờ các vị sư từng trụ trì ở chùa nay đã tịch (chùa Ha), nhà khánh tiết là nơi chuẩn bị hành lễ (chùa Phú Mỹ, chùa Ha,
TĂNG
PHÒNG
NHÀ HÀNH LANG TĂNG
PHÒNG
Trang 35chùa Lềnh) và một số kiến trúc khác như gác chuông và tam quan (chùa Úc Sơn, chùa Ha, chùa Úc Kỳ)
Một số kiến trúc chi tiết:
Tam quan:
Tam quan là cổng vào chùa - một bộ phận quan trọng, thậm chí không thể thiếu của ngôi chùa Việt ở đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên, ở Phú Bình, do điều kiện và tính chất của một địa phương vùng trung du miền núi, chỉ những chùa lớn mới có tam quan Tam quan ở đây là một ngôi nhà với ba cửa vào Điều đáng chú ý là những ngôi chùa có tam quan ở Phú Bình như chùa Úc Sơn, chùa Ha, chùa Úc Kỳ thì tầng trên của Tam quan đều dùng làm gác chuông Đó là những kiến trúc tam quan theo kiểu chồng diêm hai tầng độc đáo; tầng trên nhỏ hơn, tám mái lợp ngói mũi, các góc mái bằng gỗ với các đầu đao mái nhọn cong vút Gian giữa tam quan đột khởi gác chuông Toàn khối như bông sen kiến trúc, nhìn từ xã trông bề thế uy nghi Như nội dung
câu đối trên cột đồng trụ đầu đốc tòa Thượng điện chùa Ha:
“Viễn chi hữu vọng, sinh lai thứ lĩnh sơn đầu Cao bất khả cấp, đĩnh xuất liên hoa tòa ngoại”
(Dịch nghĩa: Nhìn từ xa trông lại, ngôi chùa ở trên núi cao
Cao ngất gác chuông chùa như tòa hoa sen vượt ra ngoài)
Do điều kiện và đặc điểm của địa phương, ở Phú Bình, nhiều ngôi chùa đắp hai cột đồng trụ ở hai bên cửa chùa với ý nghĩa như một cổng ra vào Ở chùa Phú Mỹ, tương truyền trên hai cột đó có những câu đối và hai chữ Hán
lớn Phúc – Lộc nay không còn Chùa Đại Lễ trên hai cột đắp nổi đuôi
phượng, đắp mặt hổ phù
Sân chùa:
Qua Tam quan (nếu có) là đến sân chùa Với những ngôi chùa Phú
Bình được xây dựng liền kề đình làng theo lối “Tiền thánh hậu Phật” thì
Trang 36vườn cây xanh hay khoảng sân lát gạch kẻ chỉ chính là không gian nối đình và chùa Sân của các ngôi chùa ở Phú Bình thường mát rượi tán cây cổ thụ, cũng
có khi được bày đặt các chậu hoa cây cảnh trang nhã, hài hòa với mục đích làm tăng thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi chùa Diện tích của sân chùa phụ thuộc vào điều kiện và đặc điểm riêng của từng chùa Trong sân chùa, đôi khi
có các cây hương đá được xây dựng ở đây (chùa Phú Mỹ, chùa Mai Sơn, chùa
An Châu, chùa Bàn Đạt, chùa Úc Sơn, chùa Triều Dương), trên đỉnh đặt bát hương, trên thân khắc tên chùa, năm xây dựng hoàn chỉnh chùa hay những người hưng công xây dựng chùa bằng chữ Hán Trong tiềm thức của người dân địa phương, cây hương đá ở trước sân chùa như vậy là tượng trưng cho cột trụ trời
Bái đường:
Từ dưới sân chùa, lớp kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa ở Phú Bình là nhà bái đường (hay còn gọi là tiền đường, tiền tế) Để đi được đến đây thường phải đi lên một số bậc thềm Ở nhà bái đường có thể đặt một số tượng, bia đá ghi công đức hay kể sự tích của ngôi chùa; chùa An Châu, Đại Lễ đặt cả chuông, khánh vì ngoài cửa Tam quan không xây gác chuông Giữa bái đường là hương án, nơi thắp hương chính Thông thường người đến lễ chùa thắp hương ở đây
Số gian của bái đường tùy thuộc vào qui mô của chùa Nếu như với các chùa ở đồng bằng Bắc Bộ, bái đường thông thường có 5 gian, thì ở chùa Phú Bình, phổ biến hơn cả là kiểu bái đường nhỏ 3 gian (chùa Lũ Yên, chùa Bàn Đạt, chùa Phú Mỹ, chùa Lũa, chùa Úc Sơn, Đại Lễ, chùa Pheo, chùa Quyên, chùa Hóa), những chùa có bái đường 5 gian (chùa An Mỹ), hay 7 gian với diện tích rộng đến 88m2 như chùa Ha là rất ít Bái đường chùa Phú Bình cơ bản đều chia làm ba cửa vuông rộng, xây bằng gạch
Chính điện:
Trang 37Qua nhà bái đường là chính điện (hay thượng điện) Giữa bái đường và chính điện có một khoảng trống không rộng lắm, để cho ánh sáng tự nhiên chiếu sáng Nhà chính điện là phần quan trọng nhất của ngôi chùa, là trung tâm của sự thờ cúng trong chùa vì nơi đây bày những pho tượng Phật chủ yếu của điện thờ Phật
Ở Phú Bình, nền nhà chính điện thường cao hơn so với xung quanh, nếu so với cốt sân trước chùa thì cao hơn hẳn Điều đó khiến cho cả nội và ngoại thất đều tôn tòa Chính điện lên về chiều cao và sự trang trọng Chính điện ở đây có các lớp bệ thờ xây bằng gạch làm thành bậc từ cao xuống thấp suốt chiều rộng gian nhà, bài trí thờ Phật như một nhang án Sự bài trí tượng thờ như thu lại toàn bộ Tam bảo, được bài trí theo giáo lý của đạo Phật Các lớp tượng bày từ ngoài vào trong, bố trí từ thấp lên cao, gợi không khí tĩnh lặng thiêng liêng
Hành lang:
Chạy song song với chính điện, nối chính điện với hậu đường là hai gian hành lang, tạo thành một nhà ba gian Chùa An Châu, hành lang hai bên thượng điện được thiết kế hình vuông, tức là 4 bên nhìn lên đều có mái
Hậu đường:
Qua nhà chính điện, theo đường hành lang ta đến nhà tăng đường (còn gọi
là nhà hậu đường hay hậu cung), cũng còn gọi là nhà tổ Hậu đường chùa Phú Bình có kiến trúc hình chữ nhật, một gian hoặc hai gian tùy quy mô từng chùa
Bộ vì được làm bằng gỗ hoặc tre, liên kết với nhau bằng các xà ngang, xà dọc và các cột; xung quanh xây gạch, mái và nền cũng làm như nhà bái đường Chùa Phú Mỹ, hậu cung nối thẳng với nhà bái đường bởi ba cửa cuốn vòm được thiết
kế rất thấp Chùa An Mỹ hậu cung cũng chia làm ba cửa, nhưng chỉ hai cửa ngách xây cuốn vòm, còn cửa chính giữa được xây vuông Đáng chú ý, với quy
mô lớn hơn, chùa Ha có đến 7 gian nhà thờ Tổ, thờ Mẫu với diện tích lên đến
Trang 3890m2 làm hậu đường Nhà được xây dàn ngang, phía trước dường như không có cửa, là không gian mở để gần đời nên bên trong chan hòa ánh sáng
Ngoài công trình chính, chùa Phú Bình thường có vườn cây, vườn hoa được trồng và chăm chút cẩn thận Nhiều chùa có cả giếng, ao, hồ nước Như chùa Hóa (xã Bảo Lý) có giếng chùa, nhân dân trong vùng quen gọi là giếng Hóa, giếng không sâu nhưng chưa bao giờ cạn nước Cạnh giếng có miếu thờ
Nhị vị nhà bà, tương truyền là công chúa Diên Bình và công chúa Thiều Dung
– hai vị phu nhân của thủ lĩnh phủ Phú Lương Dương Tự Minh Hay chùa Pheo (xã Kha Sơn) trước cửa chùa có ao nước trong xanh thường dùng để tắm cho Phật trong các ngày lễ lớn, bên trái cửa chùa là giếng nước và vườn chè ông
Sư, bên phải chùa là cánh đồng Điều, tương truyền xưa kia là nơi luyện tập và điều binh khiển tướng, có ao đếm quân (gọi tắt là ao Quân)…
Các ngôi chùa ở Phú Bình cơ bản không phức tạp, đồ sộ, nhưng giữ lại được nhiều nét kiến trúc cổ, tao nhã thích hợp với phong cảnh thiên nhiên, tạo nên một vẻ đẹp sơn thủy hữu tình
Có thể nói, về mặt kiến trúc, kết cấu của ngôi chùa làng ở Phú Bình cũng không khác gì nhiều kết cấu của ngôi đền, miếu, hoặc đình – đều là kiểu nhà Việt truyền thống Duy chỉ có tháp là một kiến trúc riêng của Phật giáo thì nơi đây không có
Trang 39quốc giáo dưới triều Lý và đầu triều Trần (thế kỷ XIII), đạo Phật đã ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng, ý thức người đương thời và đến cả một thời kỳ dài trên 600 năm về sau Cùng với đạo Lão, đạo Khổng và những tín ngưỡng vật
tổ, những phong tục tập quán lưu truyền xưa, đạo Phật đã có tác động lớn trong việc hình thành một nền nghệ thuật Phật giáo dân tộc Nói đến nền nghệ thuật Phật giáo ấy, trước hết phải kể đến những điêu khắc đá
Là nét gạch nối vùng Đông Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ, văn hóa thờ Phật ở Phú Bình chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa truyền thống vùng đồng bằng châu thổ Mặc dù vậy, ở góc độ nghệ thuật điêu khắc, do điều kiện kinh tế - xã hội nơi đây còn khó khăn nên những chi tiết điêu khắc trang trí trong các ngôi chùa Phú Bình đơn giản và mộc mạc hơn nhiều so với các ngôi chùa vùng đồng bằng châu thổ
Trong hệ thống chùa ở Phú Bình, rất nhiều chùa còn lưu giữ lại được các hiện vật đá có niên đại thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX Các hiện vật này đều được bào trơn, mài nhẵn và đánh bóng các mặt
Bảng 4: Khảo sát các điêu khắc đá trong một số chùa Phú Bình STT Tên chùa Số
lƣợng
Loại hình, Nội dung
1 Chùa Hộ Lệnh 26 Bia đá thời Nguyễn ghi công đức
2 Chùa Mai Sơn 13 - 01 cây hương đá trước sân chùa tượng
trưng cho cột trụ trời Chữ Hán khắc ở cột
ghi: “Hoàng Triều chính hòa nhị thập tứ
niên …” (Triều vua Lê Chính Hòa thứ 24
- 1704)
- 12 cột đá có chung một niên đại 1737 trong nội thất chùa được đẽo gọt, chau
Trang 40chuốt cầu kỳ, trên một số cột ghi bài ký, khắc tên những người cùng bà con họ mạc công đức Tương truyền các cột đá này được đưa từ Thanh Hóa ra, chủ yếu do dòng họ Dương, Nguyễn, Ngô của ba làng bạn chạ: Mai Sơn, Ngô Xá, Kha Nhi
3 Chùa Kha Sơn
Thượng
14 Cột đá niên đại 1706
4 Chùa Pheo 2 01 bia đá, 01 cây hương
6 Chùa Ha 28 Cột đá cao 1,60m, chu vi 0,90m, khoảng
cách giữa các chân cột là 2,2m, cột cái với cột quân là 2,40m Tiêu biểu là hai cột đá hình lục lăng có niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 12 – triều Lê (1716), kỹ thuật đẽo gọt công phu đạt tới trình độ điêu khắc đá tinh vi
7 Chùa Triều
Dương
17 Gồm 01 bia đá dựng thời Bảo Đại 1935,
01 cây hương đá thời Lê, 15 cột đá
8 Chùa Úc Sơn 18 - 16 cột đá làm bằng loại đá xanh granit
quý và được đục đẽo, gọt công phu Mỗi cột cao 1,6m, có chu vi 90 cm Trong đó
có 2 cột ở gian tiền đường, nối với thượng điện được khắc chìm chữ Hán ghi tên những người công đức tu tạo chùa và
ghi niên hiệu “Hoàng triều Bảo Thái cửu
niên thập nhị nguyệt cốc nhật” (1728)