MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài Bậc tiểu học là bậc học nền móng cho việc hình thành nhân cách cho học sinh, bậc học coi là nền tảng của hệ thống giáo dục phổ thông. Đây là bậc học được cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội, trang bị những phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhân cách và hoạt động thực tiễn. Trong giáo dục tiểu học các môn học đều có quan hệ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Vì vậy các môn học ở bậc tiểu học đều góp phần trong quá trình giáo dục học sinh trở thành con người phát triển toàn diện Trong chương trình tiểu học mới, môn Tiếng Việt được chia thành nhiều phân môn: Tập đọc, tập làm văn, luyện từ và câu, kể chuyện. Mỗi phân môn đều có chức năng riêng rèn cho học một sinh kĩ năng nhất định nhưng đều hỗ trợ, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ khi dạy Tiếng việt ở nhà trường. Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường được xuất hiện như một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường. Cả thế giới đang mở ra trước mắt các em. Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ đẳng nhất.Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học hiện nay là nâng cao chất lượng toàn diện nên môn Tiếng Việt đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trong các phân môn của môn Tiếng Việt thì phân môn Kể chuyện có liên quan đến nhu cầu nghe kể chuyện của trẻ, góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh cho tâm hồn học sinh. Kể chuyện góp phần tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em. Kể chuyện góp phần rèn luyện và phát triển kỹ năng nói và kể trước đám đông một cách tự nhiên, có nghệ thuật, góp phần khêu gợi tư duy hình tượng của trẻ. Trong giảng dạy cũng như trong thực tế, phân môn Kể chuyện vẫn là một môn học mà học sinh rất yêu thích. Bởi các em thích được nghe cô giáo kể chuyện. Nhưng đến phần luyện kỹ năng kể của học sinh thì nhiều em còn e dè, sợ sệt chưa dám mạnh dạn kể trước lớp. Một số em khác khi kể vẫn mang tính chất đọc lại truyện trong sách giáo khoa chưa có sự sáng tạo trong cử chỉ, lời nói, hành động. Nguyên nhân chính là do phần lớn giáo viên vẫn coi nhẹ môn học này, thậm chí chỉ đọc lại truyện cho học sinh nghe mà chưa thực hiện đầy đủ các bước của một giờ kể chuyện. Chính điều này đã làm hạn chế khả năng kể chuyện của học sinh, không phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Xác định được tầm quan trọng của môn học đồng thời cũng thấy được lòng yêu thích, ham mê của trẻ đối với môn học này, tôi thiết nghĩ là người giáo viên Tiểu học cần phải làm tốt trách nhiệm của mình trong công tác giảng dạy. Vậy làm thế nào để học sinh được học tốt phân môn Kể chuyện? Làm thế nào để mọi học sinh đều biết kể chuyện bằng ngôn ngữ của mình? Đó là điều mà tôi luôn trăn trở, suy nghĩ. Chính vì những lí do trên tôi mà tôi mạnh dạn chọn đề tài : “ Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Púng Tra, xã Púng Tra, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn góp một phần nhỏ công sức của bản thân trong việc nâng cao chất lượng dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 5. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đọc và kể chuyện văn học là một loại hình nghệ thuật có từ rất lâu đời. Nó xuất hiện cả trước khi con người tìm ra chữ viết. Điều này được chứng minh bằng một kho tàng văn học dân gian khổng lồ mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta. Kể chuyện đã sớm được đưa vào chương trình giảng dạy trong trường tiểu học. Và nó đã được các em học sinh đón nhận rất hào hứng vì đây là một môn học lí thú và hấp dẫn. Tuy nhiên để giảng dạy tốt môn học, người giáo viên cần có những hiểu biết về một số điểm lí luận cơ bản về phương pháp và kĩ thuật dạy học phân môn này. Xuất phát từ yêu cầu trên, một số nhà khoa học đã lao vào nghiên cứu vấn đề này nhưng số lượng các công trình hãy còn khá khiêm tốn. Đầu tiên trong số đó, chúng ta phải nhắc đến là quyển Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ của M.K. Bogliuxkaia. V.V. Septsenkô do Lê Đức Mẫn dịch. Đây là một quyển sách thật sự bổ ích đối với những giáo viên mầm non. Trong quyển sách này, tác giả đã đề cập đến ba vấn đề lớn đó là: nghệ thuật đọc văn học và những thủ thuật cơ bản khi đọc, kể chuyện văn học và phương pháp đọc, kể chuyện văn học cho trẻ. Bàn về nghệ thuật đọc văn học, tác giả chủ yếu nói đến tầm quan trọng của nghệ thuật đọc văn học: “Nhiệm vụ của người đọc là giúp cho người nghe nhìn thấy cái đã nghe được, làm cho những bức tranh và những 3 hình ảnh tương ứng nổi lên chân thực và đập vào mắt, gợi lên những tình cảm và cảm xúc nhất định ”. Bàn về thủ thuật đọc, ông đã phân tích một số thủ thuật cơ bản sau: thanh điệu cơ bản, ngữ điệu, tính lô gích trong đọc truyện, cách ngắt giọng, nhịp điệu, cường độ của giọng và tư thế, nét mặt, cử chỉ. Trong phần những vấn đề về phương pháp tổ chức giờ đọc và kể chuyện cho trẻ em, tác giả đã viết rất cụ thể và có nhiều bài soạn mẫu để dẫn chứng minh hoạ rất rõ ràng. Một tài liệu viết về đề tài kể chuyện mà không thể không nhắc đến đó là quyển Kể chuyện 1 của đồng tác giả Đỗ Lê Chẩn và Nguyễn Thị Ngọc Bảo. Trong phần lí luận chung, các tác giả đã nêu đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ cũng như phương pháp của dạy học kể chuyện ở lớp 1 cũng như đối với tiểu học. Phần hướng dẫn cụ thể, các tác giả đã tóm tắt nội dung truyện, hướng dẫn tìm hiểu truyện và hướng dẫn các bước lên lớp cho từng bài cụ thể. Một tác giả đã có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này, đó chính là Chu Huy với Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học. Theo tác giả, nhu cầu kể chuyện đối với học sinh tiểu học là rất lớn. Ngoài việc xác định vị trí, nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kể chuyện, ông còn đề ra phương pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài soạn mẫu rất cụ thể.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
5.1 Đối tượng nghiên cứu 5
5.2 Khách thể nghiên cứu 6
6 Giả thuyết khoa học 6
7 Phạm vi nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 6
9 Đóng góp mới của đề tài 7
10 Cấu trúc của đề tài 7
NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC KỂ CHUYỆN Ở TIỂU HỌC 1.1.Căn cứ vào Mục tiêu giáo dục Tiểu học 7
1.2.Vị trí, nhiệm vụ của dạy – học Kể chuyện 7
1.3.Nội dung chương trình và yêu cầu cần đạt khi dạy - học phân môn Kể chuyện lớp 5 8
1.4.Đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học 10
1.5.Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 12
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 5 TRONG NHÀ TRƯỜNG 2.1.Thực trạng nhà trường 12
2.1.1 Thuận lợi 12
2.1.2 Khó khăn 13
Trang 22.1.3 Điều tra thực trạng 13
2.2 Nguyên nhân 14
2.2.1 Nguyên nhân khách qua 14
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 14
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 5 3.1 Rèn kĩ năng nghe và ghi nhớ truyện cho học sinh 15
3.2 Hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tìm được câu chuyện để kể (với bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc; đã chứng kiến hoặc tham gia) 16
3.3 Thực hiện các bước rèn luyện kĩ năng kể chuyện cho học sinh 17
3.4 Đánh giá kĩ năng kể chuyện vì sự tiến bộ của học sinh 20
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Bậc tiểu học là bậc học nền móng cho việc hình thành nhân cách cho học sinh, bậc học coi là nền tảng của hệ thống giáo dục phổ thông Đây là bậc học được cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội, trang bị những phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhân cách và hoạt động thực tiễn.Trong giáo dục tiểu học các môn học đều có quan hệ với nhau, hỗ trợ cho nhau
Vì vậy các môn học ở bậc tiểu học đều góp phần trong quá trình giáo dục học sinh trở thành con người phát triển toàn diện
Trong chương trình tiểu học mới, môn Tiếng Việt được chia thành nhiều phân môn: Tập đọc, tập làm văn, luyện từ và câu, kể chuyện Mỗi phân môn đều có chức năng riêng rèn cho học một sinh kĩ năng nhất định nhưng đều hỗ trợ, giúp
đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ khi dạy Tiếng việt ở nhà trường
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường được xuất hiện như một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường Cả thế giới đang mở ra trước mắt các em Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều
sơ đẳng nhất.Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học hiện nay là nâng cao chất lượng toàn diện nên môn Tiếng Việt đóng vai trò vô cùng quan trọng Trong các phân môn của môn Tiếng Việt thì phân môn Kể chuyện có liên quan đến nhu cầu nghe kể chuyện của trẻ, góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh cho tâm hồn học sinh Kể chuyện góp phần tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em Kể chuyện góp phần rèn luyện và phát triển kỹ năng nói và
kể trước đám đông một cách tự nhiên, có nghệ thuật, góp phần khêu gợi tư duy hình tượng của trẻ
Trong giảng dạy cũng như trong thực tế, phân môn Kể chuyện vẫn là một môn học mà học sinh rất yêu thích Bởi các em thích được nghe cô giáo kể chuyện Nhưng đến phần luyện kỹ năng kể của học sinh thì nhiều em còn e dè, sợ sệt chưa dám mạnh dạn kể trước lớp Một số em khác khi kể vẫn mang tính chất đọc lại truyện trong sách giáo khoa chưa có sự sáng tạo trong cử chỉ, lời nói, hành động Nguyên nhân chính là do phần lớn giáo viên vẫn coi nhẹ môn học này, thậm chí chỉ đọc lại truyện cho học sinh nghe mà chưa thực hiện đầy đủ cácbước của một giờ kể chuyện Chính điều này đã làm hạn chế khả năng kể
chuyện của học sinh, không phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của
Trang 4học sinh Xác định được tầm quan trọng của môn học đồng thời cũng thấy được lòng yêu thích, ham mê của trẻ đối với môn học này, tôi thiết nghĩ là người giáo viên Tiểu học cần phải làm tốt trách nhiệm của mình trong công tác giảng dạy Vậy làm thế nào để học sinh được học tốt phân môn Kể chuyện? Làm thế nào đểmọi học sinh đều biết kể chuyện bằng ngôn ngữ của mình? Đó là điều mà tôi luôn trăn trở, suy nghĩ Chính vì những lí do trên tôi mà tôi mạnh dạn chọn đề
tài : “ Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Púng Tra, xã Púng Tra, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn góp một phần nhỏ
công sức của bản thân trong việc nâng cao chất lượng dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đọc và kể chuyện văn học là một loại hình nghệ thuật có từ rất lâu đời Nó xuất hiện cả trước khi con người tìm ra chữ viết Điều này được chứng minh bằng một kho tàng văn học dân gian khổng lồ mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta Kể chuyện đã sớm được đưa vào chương trình giảng dạy trong trường tiểu học Và nó đã được các em học sinh đón nhận rất hào hứng vì đây là một môn học lí thú và hấp dẫn Tuy nhiên để giảng dạy tốt môn học, người giáo viêncần có những hiểu biết về một số điểm lí luận cơ bản về phương pháp và kĩ thuậtdạy học phân môn này Xuất phát từ yêu cầu trên, một số nhà khoa học đã lao vào nghiên cứu vấn đề này nhưng số lượng các công trình hãy còn khá khiêm tốn
Đầu tiên trong số đó, chúng ta phải nhắc đến là quyển Đọc và kể chuyện văn học
ở vườn trẻ của M.K Bogliuxkaia V.V Septsenkô do Lê Đức Mẫn dịch Đây là một quyển sách thật sự bổ ích đối với những giáo viên mầm non Trong quyển sách này, tác giả đã đề cập đến ba vấn đề lớn đó là: nghệ thuật đọc văn học và những thủ thuật cơ bản khi đọc, kể chuyện văn học và phương pháp đọc, kể chuyện văn học cho trẻ
Bàn về nghệ thuật đọc văn học, tác giả chủ yếu nói đến tầm quan trọng của nghệ thuật đọc văn học: “Nhiệm vụ của người đọc là giúp cho người nghe nhìn thấy cái đã nghe được, làm cho những bức tranh và những 3 hình ảnh tương ứngnổi lên chân thực và đập vào mắt, gợi lên những tình cảm và cảm xúc nhất định
”
Bàn về thủ thuật đọc, ông đã phân tích một số thủ thuật cơ bản sau: thanh điệu
cơ bản, ngữ điệu, tính lô gích trong đọc truyện, cách ngắt giọng, nhịp điệu, cường độ của giọng và tư thế, nét mặt, cử chỉ
Trang 5Trong phần những vấn đề về phương pháp tổ chức giờ đọc và kể chuyện cho trẻ
em, tác giả đã viết rất cụ thể và có nhiều bài soạn mẫu để dẫn chứng minh hoạ rất rõ ràng
Một tài liệu viết về đề tài kể chuyện mà không thể không nhắc đến đó là quyển
Kể chuyện 1 của đồng tác giả Đỗ Lê Chẩn và Nguyễn Thị Ngọc Bảo Trong phần lí luận chung, các tác giả đã nêu đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ cũng như
phương pháp của dạy học kể chuyện ở lớp 1 cũng như đối với tiểu học Phần hướng dẫn cụ thể, các tác giả đã tóm tắt nội dung truyện, hướng dẫn tìm hiểu truyện và hướng dẫn các bước lên lớp cho từng bài cụ thể
Một tác giả đã có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này, đó chính là Chu Huy với Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học Theo tác giả, nhu cầu kể chuyện đối với học sinh tiểu học là rất lớn Ngoài việc xác định vị trí, nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kể chuyện, ông còn đề ra phương pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài soạn mẫu rất cụ thể
Xuất phát từ quan điểm: Tiếng Việt - là công cụ, là phương tiện lĩnh hội tiếp thu nền văn hoá của dân tộc, nền văn minh của nhân loại – phải được coi trọng từ thời thơ ấu, cần được tổ chức hướng dẫn dạy dỗ thật khoa học, Nguyễn Xuân Khoa đã cho ra mắt bạn đọc quyển Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Dạy học kể chuyện là một trong những phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mà tác giả đã đề cập tới Trong đó, tác giả đã chỉ ra phương pháp cũng như nghệ thuật đọc và kể chuyện thật cụ thể
3.Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nhằm giúp cho giáo viên nhận thức một cách đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng của phân môn Kể chuyện, từ đó họ thấy rằng dạy học tốt Kể chuyện là hết sức cần thiết Đồng thời khi nghiên cứu đề tài chúng tôi cũng cố gắng tìm ra một số biện pháp để cùng giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong dạy học Kể chuyện thời gian qua Những việc làm trên không ngoài mục đích là nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Kể chuyện ở lớp 5 nói riêng và ở tiểu học nói chung
4.Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc dạy học Kể chuyện ở Tiểu học Tìm hiểu thực trạng dạy học Kể chuyện ở trường Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Kể chuyện lớp 5 Tiếnhành dạy học thực nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 6Các biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Kể chuyện lớp 5
5.2 Khách thể nghiên cứu
Dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, dạy học Kể chuyện ở lớp 5
6 Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học Kể chuyện ở Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng sẽ được nâng cao nếu: Giáo viên nhận thức đúng mục đích, vai trò của phân môn
Kể chuyện, đồng thời họ có cách tổ chức giờ học sao cho hấp dẫn học sinh và cócác biện pháp hữu hiệu giúp học sinh biết cách kể chuyện Học sinh biết kể chuyện, hứng thú với giờ học, mạnh dạn, tự tin trong khi kể chuyện cũng như trong giao tiếp
* Điều tra tình hình thực tiễn những vấn đề có liên quan đến đề tài:
+ Trao đổi với thầy cô và bạn bè để đánh giá khả năng kể chuyện của học sinh
để từ đó rút ra phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả
+ Dự giờ giáo viên để nắm phương pháp giảng dạy hướng dẫn học sinh kể chuyện để rút ra bài học kinh nghiệm quý báu
+ Đề xuất một số giải pháp về hướng dẫn học sinh kể chuyện trong phân môn
Kể chuyện Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cùng với kết quả nghiên cứu của
đề tài
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phân tích tài liệu: Đọc, nghiên cứu và sử dụng các tài liệu có liên quan đến
đề tài
8.2 Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu quan niệm của giáo viên về Kể chuyện, ý thức học tập của học sinh và thực trạng việc dạy học
Kể chuyện hiện nay
8.3 Quan sát: Dự một số giờ dạy thực tế để nắm được cách thức dạy học của giáo viên và kĩ năng kể chuyện của học sinh ở lớp 5 đồng thời cũng nhằm bổ sung, tăng độ chính xác, khách quan cho việc điều tra
8.4 Thực nghiệm sư phạm: Nhằm kiểm tra tính khoa học và tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất
Trang 78.5 Tổng hợp và thống kê các kết quả thu được từ điều tra, quan sát và thực nghiệm sư phạm.
9 Đóng góp mới của đề tài
Góp phần giúp giáo viên nhận thức đầy đủ và đúng đắn hơn về mục đích, vai tròcủa phân môn Kể chuyện trong dạy học Tiếng Việt Thông qua các biện pháp đã
đề xuất, đề tài có thể giúp giáo viên thực hiện tốt hơn giờ dạy học Kể chuyện lớp5
10 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương I Cơ sở lí luận của việc dạy học Kể chuyện ở Tiểu học.
Chương II Thực trạng dạy học Kể chuyện lớp 5.
Chương III Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Kể chuyện lớp 5.
1.2 Vị trí, nhiệm vụ của dạy – học Kể chuyện
1.2.1 Vị trí
Cũng như các phân môn khác của môn Tiếng Việt, phân môn Kể chuyện có vị trí đặc biệt trong dạy học tiếng mẹ đẻ, vì hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng Tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động giao tiếp
Khi nghe giáo viên kể chuyện, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học ở dạng lời nói có âm thanh Khi học sinh kể chuyện là các em đang tái sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói
Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sức mạnh của văn học Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Sự hiểu biết về cuộc sống,
về con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo đi biết bao nhiều nếu không có phân môn Kể chuyện trong trường học
Trang 81.2.2 Nhiệm vụ
Phân môn Kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe, được kể chuyện
ở trẻ em, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe – nói, đồng thời phát triển
tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho học sinh
- Phân môn Kể chuyện phát triển các kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh
Trước hết, phân môn Kể chuyện phát triển kĩ năng nói cho học sinh Giờ kể chuyện rèn cho học sinh kĩ năng nói trước đám đông dưới dạng độc thoại thành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật Đồng thời với nói, các kĩ năng nghe, đọc,
kĩ năng ghi chép cũng được phát triển trong quá trình kể lại chuyện đã nghe, kể lại truyện đã đọc
- Phân môn Kể chuyện góp phần phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy hình tượng
và cảm xúc thẩm mĩ ở học sinh
Cùng với sự rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ, tư duy của học sinh cũng được phát triển Đặc biệt, sống trong thế giới các nhân vật, thâm nhập vào các tình tiếtcủa truyện, tiếp xúc với nghệ thuật ngôn từ kể chuyện, tư duy hình tượng và cảmxúc thẩm mĩ của học sinh cũng được phát triển
- Phân môn Kể chuyện góp phần tích lũy vốn sống, vốn văn học cho học sinh Giờ kể chuyện giúp học sinh tiếp xúc với tác phẩm văn học Suốt 5 năm ở bậc tiểu học, học sinh được nghe và tham gia kể rất nhiều câu chuyện với đủ thể loại Đó là những tác phẩm có giá trị văn học cổ, văn học đương đại Việt Nam
và thế giới Những câu chuyện này sẽ làm giàu vốn văn học của các em Đó cũng là hành trang quý báu sẽ theo các em trong suốt cả cuộc đời
Giờ Kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khơi gợi trí tưởng tượng cho học sinh Thế giới muôn sắc màu mở rộng trước các em Theo từng câu chuyện, các
em sẽ tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từnhững thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người trong muôn vàn trường hợp khác nhau Truyện kể làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài người từ xưa đến nay cho học sinh.Truyện kể còn chắp cánh cho trí tưởng tượng và ước mơ của học sinh, thức đẩy sự sáng tạo ở các em
1.3 Nội dung chương trình và yêu cầu cần đạt khi dạy - học phân môn Kể chuyện lớp 5
Nội dung chương trình: 1 tiết/tuần, cả năm gồm 35 tiết, trong đó có 31 tiết kể chuyện và 4 tiết ôn tập
Như vậy chương trình kể chuyện lớp 5 có 31 tiết kể chuyện và được chia ra thành 3 dạng bài:
a) Bài tập nghe – kể : gồm 10 câu chuyện Đó là các truyện:
Trang 9+ Ông Nguyễn Khoa Đăng
+ Người đi săn và con nai + Vì muôn dân
+ Lớp trưởng lớp tôi
+ Nhà vô địch
- Nội dung cần đạt: Giáo viên kể - Học sinh nghe – học sinh kể lại
- Mục đích: Rèn kĩ năng nói và kĩ năng nghe
b) Bài tập kể chuyện đã nghe, đã đọc: gồm 11 tiết kể chuyện Đó là các đề bài: + Kể về các anh hùng, danh nhân của nước ta
+ Kể một câu chuyện ca ngợi hòa bình, chống chiến tranh
+ Kể một câu chuyện nói về quan hệ giữa con người với thiên nhiên
+ Kể một câu chuyện có nội dung bảo vệ môi trường
+ Kể một câu chuyện nói về những người đã góp sức mình chống lại đói nghèo, lạc hậu, vì hạnh phúc của nhân dân
+ Kể về những người biết sống đẹp, biết mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc chonhững người xung quanh
+ Kể về những tấm gương sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống
văn minh
+ Kể về những tấm gương sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống
văn minh
+ Kể về những người đã góp sức mình bảo vệ trật tự, an ninh
+ Kể về truyền thống hiếu học hoặc truyền thống đoàn kết của dân tộc
Việt Nam
+ Kể về một nữ anh hùng hoặc một phụ nữ có tài
Trang 10+ Kể về gia đình, nhà trường và xã hội chăm sóc, giáo dục trẻ em hoặc trẻ em thực hiện bổn phận với gia đình, nhà trường và xã hội
c) Bài tập kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia : gồm 10 tiết kể chuyện
Đó là các đề bài :
+ Kể việc làm tốt góp phần xây dựng quê hương đất nước
+ Kể một câu chuyện em đã chứng kiến hoặc một việc em đã làm thể hiện tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước
+ Kể một về một lần em được đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở
nơi khác
+ Kể một việc làm tốt của em hoặc của những người xung quanh để bảo vệ môi trường
+ Kể về một buổi sinh hoạt đầm ấm trong gia đình
1.4 Đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học
1.4.1 Tri giác
Các em thường tri giác những gì phù hợp với nhu cầu, những gì thường được gặp, được hướng dẫn Trị giác của các em còn gắn liền với cảm xúc Điều này cho thấy sự cần thiết hướng dẫn học sinh nghe và kể chuyện thường xuyên Những câu chuyện hay, lời kể hấp dẫn, sinh động được các em tri giác tốt hơn, học sinh sẽ hứng thú, yêu thích học Kể chuyện
1.4.2 Khả năng chú ý
Học sinh ở tiểu học chú ý có chủ định bắt đầu ổn định Các phẩm chất ý chí (độclập, kiên trì, tự chủ) bắt đầu hình thành Học sinh có kĩ năng phân phối chú ý và hướng chú ý vào nội dung cơ bản của bài học Chính đặc điểm này cho phép giáo viên rèn luyện học sinh thực hiện thành thục các thao tác, các kĩ năng nói,
kĩ năng nghe trong dạy học kể chuyện Vì vậy, giáo viên có thể phức tạp hóa dần dần nhiệm vụ nhận thức cho học sinh
1.4.3 Trí nhớ
Ở giai đoạn này, trí nhớ của các em là trí nhớ không chủ định Nó vẫn hình thành và phát triển mạnh Nhưng ghi nhớ ý nghĩa đang bắt đầu chiếm ưu thế Vì vậy, trong dạy học kể chuyện, giáo viên cần chủ động hình thành cho học sinh phương pháp ghi nhớ nội dung câu chuyện theo điểm tựa, nối liền điểm tựa tạo
ra dàn ý ghi nhớ nội dung câu chuyện hoặc phân chia nội dung câu chuyện thànhcác đoạn, đặt tên cho các đoạn hoặc đặt ra các câu hỏi về nhân vật, tình huống, cốt truyện để học sinh trả lời và ghi nhớ Ở tuổi này, trí nhớ từ ngữ logic phát
Trang 11triển hơn trí nhớ trực quan Cho nên, các em có thể ghi nhớ được nhiều câu chuyện tự tìm được bằng nhiều hình thức trong đó có hình thức nói thầm để ghi nhớ câu chuyện là chủ yếu
1.4.4 Tưởng tượng
Tưởng tượng của HS cuối bậc Tiểu học hoàn chỉnh hơn về kết cấu logic Sự tạo
ra các hình ảnh mới trong tưởng tượng bằng cách cụ thể hóa nhân vật, nhập vai vào nhân vật sẽ giúp các em khắc sâu nhân vật và nội dung câu
chuyện từ đó bộc lộ tình cảm tự nhiên với nhân vật trong truyện, giúp cho việc
kê sinh động hơn
1.4.5 Tư duy
Tư duy trừu tượng, khái quát hóa đang dần chiếm ưu thế Học sinh biết dựa vào các dấu hiệu bản chất của đối tượng để rút ra nội dung, ý nghĩa của câu chuyện 1.4.6 Ngôn ngữ
Lên tiểu học, hầu hết các em có ngôn ngữ nói thành thạo, ngôn ngữ viết đang hoàn thiện và bắt đầu hướng tới hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ
âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và
lí tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được thể hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ, ta có thể đánh giá sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngôn ngữ của học sinh tiểu học đã dần ổn định giúp học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ tham gia vào các hoạt động, các nhiệm vụ học tập mà ít gặp khó khăn trong việc bày tỏ quan điểm, trình bày ý kiến của mình Đặc biệt, việc sử dụng hình thức đóng vai trong dạy học phân môn kể chuyện kiểu bài đã nghe đã đọc
là cơ hội để các em phát triển ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ giao tiếp của HS Tóm lại, với những đặc điểm về tâm lí của học sinh tiểu học, thì việc rèn kĩ năng
kể chuyện cho các em là phù hợp, có thể thực hiện để mang lại hiệu quả tốt, giúp các em hình thành được các kĩ năng tương ứng và có khả năng vận dụng vào trong chính cuộc sống của các em
1.5 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.5.1 Kĩ năng