1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của ng-ời dân xã Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai pot

7 455 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 273 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo khoa học: Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của ng-ời dân xã Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai... Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của người dân xã Thượng Hà

Trang 1

Báo cáo khoa học:

Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của ng-ời dân xã Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai

Trang 2

Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của người dân xã Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai

Indigenous knowledge for upland farming in Thuong Ha commune - Bao Yen district -

Lao Cai province

Trần Sỹ Hải1, Nguyễn Hữu Thành2

SUMMARY

Recently, indigenous knowledge has adapted local conditions from generation to generation and it’s understanding is highly considered to develop the appropriate farming system Therefore, the purpose of this research is to investigate indigenous knowledge of Thuong Ha people, Bao Yen district, Lao Cai province The methodologies were applied such

as field surveys, interviews farmers, participatory analysis, synthesis and comparison The results show that indigenous knowledge of Thuong Ha people in their traditional shifting cultivation is very diversified, profound and suitable to farming conditions of upland areas For instance, for protecting soils, local people have many experiences in developing farming calendar, soil erosion control, crop rotation, field plot selections, forest plantation The findings reveal that new technology and economic development should be based on indigenous knowledge for livelihood sustainability in the uplands

Key words: indigenous knowledge, uplands, Thuong Ha commune, Lao Cai, Vietnam

1 ĐặT VấN Đề 1

Kiến thức bản địa là sản phẩm lao động

của nhân dân trong hàng thế kỷ Chúng được

tích lũy, hoàn thiện và truyền bá qua nhiều thế

hệ của cả cộng đồng tại các địa phương

(Michael Warren, 1995) Kiến thức bản địa

chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và những hoạt

động cụ thể, vì vậy nó có thể trái ngược với

kiến thức hàn lâm do các trường đại học, viện

nghiên cứu hay các hãng tư nhân phát triển

dựa trên các phương pháp khoa học chính

thống Vì kiến thức bản địa luôn thay đổi theo

thời gian nên đôi khi rất khó xác định được kỹ

thuật hay kinh nghiệm đó là kiến thức bản địa

hay du nhập từ bên ngoài hoặc là sự pha trộn

giữa hai yếu tố đó (Walker et al, 1995) Tuy

nhiên, đối với một dự án phát triển, kỹ thuật

1 Viện Nông hoá thổ nhưỡng

2 Khoa Đất & Môi trường, Đại học Nông nghiệp I

đó có hoàn toàn là kiến thức bản địa hay không hay đã bị pha trộn với những kiến thức

được giới thiệu từ bên ngoài, điều đó cũng không quan trọng Điều quan trọng hơn là thay vì tìm kiếm những công nghệ và giải pháp từ bên ngoài, trước tiên chúng ta hãy thử xem trong cộng đồng có những kiến thức gì Sau đó, chúng ta sẽ sử dụng kiến thức nào hiệu quả hơn hoặc kết hợp chúng một cách tốt nhất

Đất dốc chiếm ba phần tư lãnh thổ nước

ta và có vị trí quan trọng trong phát triển nông nghiệp của cả nước (Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm, 1998) Bảo vệ đất dốc để sản xuất nông lâm nghiệp bền vững, ổn định đời sống định canh định cư cho đồng bào các dân tộc là một giải pháp ưu tiên hàng đầu trong chính sách an toàn lương thực đối với các tỉnh miền núi Xã Thượng Hà huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai có những nét đặc trưng của vùng miền núi phía Bắc Việt Nam Theo thống kê của xã năm

2005, tổng diện tích đất tự nhiên của xã là

Trang 3

7442ha, gồm 1020.84ha đất nông nghiệp;

2559.5ha đất lâm nghiệp Toàn xã có 1006 hộ

gia đình bao gồm 5 dân tộc: Kinh, Tày,

Hmông, Dao, Nùng cùng chung sống Trong

đó dân tộc Hmông và Dao chiếm tới 90% dân

số Người dân Thượng Hà từ lâu đã có tập

quán canh tác nương rẫy Trải qua một thời

gian canh tác lâu dài với các điều kiện tự

nhiên của địa phương, họ đã tích lũy được

nhiều kinh nghiệm quý báu và được truyền

qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau Điều này đã ăn

sâu vào trong tiềm thức và ảnh hưởng rõ nét

trong đời sống của người dân ở đây Do vậy,

mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu vai

trò của loại hình canh tác này trong mối liên

hệ với điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa

đồng thời quản lý những tài nguyên thiên

nhiên bao gồm cả kiến thức bản địa

2 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

Điều tra kiến thức bản địa tại địa bàn xã

Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai theo phương

pháp KIP (Cục Khuyến Nông và Khuyến

Lâm, 1998) Thông qua sự giới thiệu của địa

phương chọn 15 người bao gồm những người

cao tuổi, trưởng bản, nông dân, cán bộ khuyến

nông là những người có am hiểu về kiến thức

bản địa Phỏng vấn họ về những vấn đề liên

quan đến tập quán sản xuất (lịch gieo trồng, quan sát thời tiết ), kinh nghiệm phân loại,

đánh giá đất, sử dụng và cải tạo đất

Thông tin sau khi thu thập sẽ được tổng hợp lại và trình bày trong hội thảo có sự tham gia của người dân Đánh giá lại những kiến thức thu thập được đã đại diện cho kiến thức của người dân chưa? Những thông tin sau khi

đã được kiểm chứng mới được đưa vào báo cáo

Thu thập thông tin từ Trung tâm Nông, Lâm nghiệp Lào Cai, Phòng Nông nghiệp huyện Bảo Yên, kết hợp điều tra, phân tích với kết quả của các mô hình canh tác để đưa ra sự

so sánh về ảnh hưởng của các hình thức và biện pháp canh tác đến sự bền vững của đất

3 KếT QUả NGHIÊN CứU 3.1 Kiến thức bản địa trong việc tính lịch thời vụ

Lịch thời vụ được người dân Thượng Hà tính dựa trên sự thay đổi về thời tiết và khí hậu

địa phương từng ngày, tháng và mùa vụ cây trồng Do đặc điểm của canh tác nương rẫy phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên nên lịch thời vụ đóng vai trò rất quan trọng, nó quyết định kết quả của thu hoạch Sau đây là lịch mùa vụ 12 tháng trong năm

Bảng 1 Lịch mùa vụ theo từng tháng

Tháng Tên địa phương Kinh nghiệm Hoạt động chính

2 Au Ly Bắt đầu có nắng ấm Tìm kiếm, chọn nương làm rẫy, gieo ngô, trồng khoai lang, tổ chức cưới hỏi

3 Pi ly Nắng ấm và có nhiều ong Phát quang rẫy, làm cỏ cho ngô và trồng sắn

4 Plau Ly Nắng ấm và có nhiều ong, lúa ra hoa Đốt rẫy, gieo lúa nương, thu hoạch ngô

5 Tru Ly Thường có mưa bão Gieo lúa nương, làm cỏ sắn

7 Seng Ly Có nhiều kiến Chăm sóc lúa, làm rào ngăn gia súc

8 Gi Ly Có nhiều chim Thu hoạch lúa nương, làm cỏ cho lúa mùa

10 Cau Ly Nhiều mây, có mưa Thu hoạch lúa mùa, măng tre, nứa

Trang 4

12 Cau Au Ly Rét buốt Lễ hội mừng gạo mới

Lịch thời vụ của người dân Thượng Hà đã

cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa công việc

làm và thời tiết trong năm (Bảng 1) Đây là

những đúc rút từ kinh nghiệm thực tế qua một

thời gian lâu dài và được các thế hệ truyền cho

nhau từ đời này qua đời khác Chẳng hạn như

việc đi lấy mật ong thường được tiến hành vào

tháng 4 và tháng 5, bởi vì vào thời gian này có

nhiều hoa rừng, thời tiết khô hanh nên mật

ong thường nhiều và có thời gian bảo quản lâu

hơn Bên cạnh đó, người dân sắp xếp thời vụ

canh tác dựa trên sự thay đổi của các hiện

tượng tự nhiên, đặc biệt là sự thay đổi của ánh

sáng trăng trong tháng Đây là một trong

những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng

Họ chia một năm làm 12 tháng, mỗi tháng có

30 ngày với hai thời kỳ trăng lên và trăng lặn

tương ứng với hai giai đoạn những ngày tốt và

những ngày xấu Theo quan niệm của người

dân ở đây, tuần trăng là biểu tượng của sự phát

triển cây trồng và vật nuôi Dựa vào sự thay

đổi của tuần trăng, họ sắp xếp lịch thời vụ gieo

trồng để có thể thu được năng suất cao nhất

Bảng 2 Ngày gieo trồng phù hợp với từng loại

cây trồng

Cây trồng Ngày thích hợp trong tháng Ghi chú

Sắn Từ mùng 1 đến mùng 3, 4

Từ 27 đến 30 Trăng mờ

Tre, mía 17, 18

Khoai lang 16, 17

Tập trung vào tháng giêng, hai và ba

3.2 Những kinh nghiệm trong dự báo thời

tiết

Canh tác nương rẫy phụ thuộc rất nhiều

vào điều kiện tự nhiên (Trần Đức Viên, 1996),

do đó việc quan sát những sự thay đổi của thời

tiết, khí hậu đóng một vai trò quan trọng trong

kỹ thuật sản xuất của bà con dân tộc thiểu số ở xã Thượng Hà Sau đây là kinh nghiệm của người dân tộc Dao, nếu quan sát thấy các tổ ong được làm ở trên cây cao, đây là dấu hiệu không có bão lớn Ngược lại, nếu tổ ong được làm ở dưới những cây thấp, đó là dấu hiệu sắp

có những trận bão lớn Nếu số măng tre mọc hướng vào trong bụi tre nhiều hơn hướng ra ngoài thì năm đó sẽ có nhiều bão lớn Nếu mặt trời có màu đỏ khi lặn thì thời tiết trong các ngày tới sẽ khô và nóng Nếu giun chui lên khỏi mặt đất thì sắp có mưa Đặc biệt người dân tộc Hmông có rất nhiều kinh nghiệm dự báo thời tiết dựa trên sự quan sát màu sắc của những con ếch Bằng cách quan sát các hiện tượng thiên nhiên gắn liền với những thay đổi

về thời tiết, những nhóm người dân tộc thiểu

số ở xã Thượng Hà đã rút ra được những kinh nghiệm quí báu trong việc dự đoán thời tiết để

bố trí hợp lý công việc canh tác của mình 3.3 Kiến thức bản địa về đánh giá phân loại và sử dụng đất

3.3.1 Những kinh nghiệm trong việc phân loại và chọn đất

Chọn đất là khâu đầu tiên trong quá trình

đốt nương làm rẫy, đây là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng Những người dân tộc thiểu số ở Thượng

Hà đã tiến hành chọn lựa và phân loại đất dựa trên sự quan sát về màu sắc, đặc tính, hệ thảm thực vật và đặc biệt là so sánh sự phát triển của cây trồng trên những loại đất khác nhau

Bảng 3 Các cách nhận biết đất xấu và đất tốt

Chỉ thị Đất tốt (Ang Dong) Đất xấu (Ang Pay) Cây tự nhiên Cây phát triển tốt Chủ yếu là cây bụi và cỏ tranh

Màu sắc Đất màu nâu hoặc đen Đất bạc màu

Đặc tính lý học

Đất xốp, mềm, giữ

nước tốt

Đất cứng, khô, khả năng giữ nước kém Những đặc

tính khác

Có tầng thảm mục dày, nhiều phân giun

Tầng thảm mục hầu như không có, không thấy phân

Trang 5

Các hệ

thống cây

trồng Phát triển nhanh Phát triển chậm

Sự phân biệt đất xấu và đất tốt của người

dân Thượng Hà dựa vào sự quan sát trực tiếp

Tuy nhiên, khi so sánh đối chiếu với kiến thức

khoa học thì giữa chúng có nhiều điểm tương

đồng Ví dụ, khi thực hiện việc phân loại đất

dựa trên những đặc tính lý học (Bảng 4)

Bảng 4 Phân loại đất

Tên địa

phương Đặc tính nổi bật Tên khoa học

Ang Do Đất xốp, màu vàng Đất phù sa

Ang pay Dẻo dính, màu nâu đỏ Đất sét

Ang To Đất khô, có nhiều đá lẫn Đất có nhiều đá lẫn

Để nhận biết, phân biệt các loại đất xấu

và tốt, người dân dựa vào màu sắc đất, lớp phủ

thực vật Đất có màu đen và có nhiều ổ giun

thường thích hợp với mọi loại cây trồng Họ

không chọn những khu vực có nhiều đá lẫn,

cây phát triển còi cọc Một số loại cây cỏ có

khả năng là chỉ thị phản ánh một cách khá

chính xác chất lượng độ phì của đất Ví dụ,

khi độ phì của đất tốt thì có nhiều cây phát

triển xanh tốt, đặc biệt khi có sự xuất hiện của

nhiều cây mây Sự xuất hiện của cỏ tranh

(imperata) cho thấy độ phì của đất đã giảm

Nếu có sự xuất hiện của cây xấu hổ (mimosa)

điều đó có nghĩa là đất đã bị xói mòn và thoái

hóa Ngoài ra, người dân còn có kinh nghiệm

phân loại đất dựa vào điều kiện địa hình Trên

thực tế, địa hình canh tác của họ thường ở

những nơi có độ dốc Theo kinh nghiệm, họ

thường chọn những khu vực có độ dốc khoảng

25 đến 30% Việc phân loại này giúp họ có

thể bố trí những loại cây trồng phù hợp ở

những nơi có độ dốc cao, họ thường trồng

những loại cây lấy gỗ, ở những thung lũng gần

sông và suối là nơi thích hợp để trồng các cây

lương thực như lúa, ngô, khoai

3.3.2 Kinh nghiệm sử dụng đất canh tác Với điều kiện trình độ dân trí còn thấp và canh tác phần lớn dựa vào thiên nhiên, người dân thường ít chú ý đến việc cải thiện kỹ thuật canh tác, thay vào đó, họ chú ý đến thời vụ và tính phù hợp của cây trồng đối với từng loại

đất khác nhau ở những khu vực đất tốt, người nông dân trồng những cây lương thực chính như lúa, ngô và sắn nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về lương thực Cây trồng được ưu tiên hàng đầu là cây lúa Những cây trồng xen là sắn, ngô, đậu đỗ Ngược lại, ở những khu vực

đất xấu, người dân thường trồng sắn, chuối Sự sắp xếp cây trồng dựa trên đặc tính đất và địa hình cùng với kỹ thuật trồng xen đã khai thác hiệu quả tiềm năng của đất, mặt khác còn làm tăng độ che phủ, giảm xói mòn và cải thiện độ phì cho đất

3.3.3 Kinh nghiệm trong việc chống xói mòn

và giữ độ phì cho đất

Do địa hình ở miền núi nên canh tác nương rẫy rất dễ bị xói mòn đất khi có mưa lớn xảy ra, mặt khác người dân tộc thiểu số không có tập quán bón phân hữu cơ trong khi hầu hết cây trồng đều cần chất hữu cơ cho sự phát triển Để giải quyết vấn đề này, người dân không canh tác liên tục trên một mảnh đất

mà tiến hành bỏ hóa để đất khôi phục lại độ phì, thời gian thường từ 3 đến 5 năm Trong thời gian đó, cây rừng phát triển và tạo một lớp mùn hữu cơ mới do các thân, cành, lá rơi rụng và rễ cây chết hàng năm, đến khi canh tác trở lại, người dân phát quang và đốt toàn

bộ cây, lượng tro của các cây này cũng là một nguồn phân bón hiệu quả cho các cây trồng tiếp theo (tất nhiên, việc đốt rẫy chưa phải là biện pháp tối ưu)

Một vụ trồng cây lương thực ngắn ngày theo tập quán của nông dân xã Thượng Hà

được tiến hành theo các bước: đầu tiên phát sạch cỏ bằng các dụng cụ chủ yếu là cuốc và dao (thường vào tháng 4 dương lịch), sau đó thu gọn các tàn dư thực vật, cỏ rác đem phơi

Trang 6

7-10 ngày, gom lại trên bề mặt nương rẫy

thành từng đống và đốt Theo quan niệm của

người dân, càng đốt kỹ càng tốt (đốt cho lửa

cháy to, cháy hoàn toàn thành tro, màu đất

tầng mặt chuyển thành màu gạch non) Bước

tiếp theo, tiến hành chọc lỗ bỏ hạt đối với lúa

nương hoặc đào hốc tra hạt với ngô, lạc, thời

gian thường vào tháng 5 dương lịch Thu

hoạch lúa nương là vào tháng 10 dương lịch,

người dân chỉ lấy từ cổ bông, toàn bộ phần

còn lại của cây lúa được để lại trên nương rẫy

Thu hoạch các loại cây lấy củ như cây sắn,

dong riềng, khoai sọ được thu hoạch từ

tháng 11 đến tháng 12

Dùng phế phụ phẩm: Đây là tập quán sử

dụng các loại cỏ và một số loại cây trồng như

lúa, lạc, đậu để làm phân bón Người dân để

các phần còn lại của cây sau khi đã thu hoạch,

sau đó đốt hoặc vùi vào đất để làm phân bón

Ngoài ra, để giảm mức độ xói mòn, người dân

không chọn canh tác những nơi có độ dốc quá

lớn, họ sử dụng phương pháp trồng trọt đơn

giản là chọc lỗ bỏ hạt, mặc dù rất đơn giản

nhưng biện pháp này rất hiệu quả trong việc

giữ độ phì và chống xói mòn đất

4 KếT LUậN

Kiến thức bản địa của người dân tộc

thiểu số ở Thượng Hà trong canh tác nương

rẫy là rất đa dạng và nhìn chung phù hợp với

điều kiện khu vực đất dốc Những kiến thức

này được tích lũy trong một thời gian dài và

được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

Khi nhận thức của người dân còn thấp, chủ

yếu dựa vào việc quan sát thực tế trong tự

nhiên để rút ra quy luật trong sản xuất thì

kiến thức bản địa đóng một vai trò rất quan

trọng Những kiến thức quí báu đó cần được

bảo tồn và phổ biến Kiến thức bản địa phải

được coi như “một nguồn tài nguyên” quí cần

được thu thập, cải tiến hoặc phối hợp với kỹ thuật hiện đại để áp dụng cho các chương trình phát triển nông thôn, nhằm phát triển hệ thống canh tác mới dựa trên những kinh nghiệm quí báu của người dân như sử dụng lịch thời vụ, ngăn xói mòn đất, chọn lựa đất,

kỹ thuật luân canh cây trồng và trong vấn đề bảo vệ môi trường gắn liền với việc canh tác trên đất dốc Giải quyết những vấn đề này là thúc đẩy phát triển kinh tế trong môi trường bền vững cho người dân Thượng Hà

TàI LIệU THAM KHảO Cục Khuyến nông và Khuyến lâm (1998) Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

có người dân tham gia (PRA) trong hoạt

động khuyến nông, khuyến lâm Nhà xuất bản Nông nghiệp, trang 50- 75

D Michael Warren (1995) Sử dụng kiến thức

địa phương cổ truyền trong phát triển nông nghiệp Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, page 7-25

Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998) Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà nội, page

80-100

Trần Đức Viên (1996) Canh tác nương rẫy với vấn đề môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững trên đất dốc Nhà xuất bản Nông nghiệp

Walker, D H; Thapa, B and Sinclair, F L (1995) Incorporation of indigenous knowledge and perspectives in agroforestry development Part One: Review of methods and their application Agroforestry Systems, 30: 235-248

Ngày đăng: 27/06/2014, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Lịch mùa vụ theo từng tháng  Tháng  Tên địa phương  Kinh nghiệm  Hoạt động chính - Báo cáo khoa học: Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của ng-ời dân xã Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai pot
Bảng 1. Lịch mùa vụ theo từng tháng Tháng Tên địa phương Kinh nghiệm Hoạt động chính (Trang 3)
Bảng 2. Ngày gieo trồng phù hợp với từng loại - Báo cáo khoa học: Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của ng-ời dân xã Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai pot
Bảng 2. Ngày gieo trồng phù hợp với từng loại (Trang 4)
Bảng 3. Các cách nhận biết đất xấu và đất tốt  Chỉ thị  §Êt tèt (Ang Dong)  §Êt xÊu (Ang Pay) - Báo cáo khoa học: Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của ng-ời dân xã Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai pot
Bảng 3. Các cách nhận biết đất xấu và đất tốt Chỉ thị §Êt tèt (Ang Dong) §Êt xÊu (Ang Pay) (Trang 4)
Bảng 4. Phân loại đất - Báo cáo khoa học: Kiến thức bản địa trong canh tác trên đất dốc của ng-ời dân xã Thượng Hà - Bảo Yên - Lào Cai pot
Bảng 4. Phân loại đất (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w