1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: Ảnh hưởng của thực tập sư phạm 1 đến lòng yêu nghề của các giáo sinh sư phạm kỹ thuật nông nghiệp pot

6 669 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 520,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Bộ môn Tâm lý, Khoa Sư phạm Kỹ thuật Các đợt thực tập sư phạm là thời gian người giáo sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới sinh động của hoạt động nghề nghiệp nhằm giúp giáo sin

Trang 1

Báo cáo khoa học:

Ảnh hưởng của thực tập sư phạm 1 đến lòng yêu nghề của các giáo sinh sư phạm kỹ thuật nông nghiệp

Trang 2

ảnh hưởng của thực tập sư phạm 1 đến lòng yêu nghề

của các giáo sinh sư phạm kỹ thuật nông nghiệp

Influence of practical pedagogical training exercise on attitudes of future

agicultural teachers Nguyễn Thị Ngọc Thuý1 & Đặng Thị Vân1

Summary

To investigate the effects of the practical training by attending classes at high schools

on professional attitudes, two quick surveys using semi-structured questionnaires were

carried out with 40 students in the Faculty of Agricultural Teachers' Training, Ha noi

Agricultural University before and after the field trip to high schools The results

indicated that not only students' teaching skills were improved but also their professional

feeeling were increased After the field trip at high schools, 44% of the students said

their self- confidence strongly increased and 74% of them affirmed that they really love

their job With the profound awareness about difficulties of teaching-learning

agriculture at high schools nowadays, the students understood that the prerequisite

requirement to be come an excellent agriculture-teacher is the love to the job

Keywords: Pedagogical training exercise, professional attitudes

I Giới thiệu chung1

Giáo dục tình cảm nghề nghiệp cho

giáo sinh là một nhiệm vụ quan trọng của

các khoa, trường sư phạm Tình cảm nghề

nghiệp là động lực mạnh mẽ giúp con

người vượt qua được những khó khăn, trở

ngại để chiếm lĩnh những giá trị nghề, thôi

thúc họ vươn tới những hoạt động sáng tạo

nghề nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất

cho xN hội và nâng cao đời sống tinh thần

cho cá nhân (Nguyễn Quang Uẩn, 1981)

Hiện nay trong chương trình đào tạo chưa

có một môn học riêng để giáo dục tình

cảm nghề nghiệp cho giáo sinh song các

nhà giáo dục hoạt động trong lĩnh vực đào

tạo giáo viên phải tìm mọi cơ hội để làm

tốt nhiệm vụ này

Thực tập sư phạm 1 (TTSP1) là một

công đoạn quan trọng trong quá trình đào

tạo người giáo viên, được thực hiện vào

năm thứ ba trong chương trình đào tạo

1

Bộ môn Tâm lý, Khoa Sư phạm Kỹ thuật

Các đợt thực tập sư phạm là thời gian người giáo sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới sinh động của hoạt động nghề nghiệp nhằm giúp giáo sinh củng cố, mở rộng và nâng cao những kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, khả năng ứng xử (Nguyễn Thạc, 1992) TTSP1 tạo cơ

hội cho giáo sinh kiểm nghịêm những tri thức lý luận đN tiếp thu được trong thực tiễn giáo dục ở nhà trường TTSP1 cũng là một cơ hội để các giáo sinh trải nghiệm với những khó khăn bức xúc của người giáo viên ở bậc trung học phổ thông (THPT), đặc biệt là của giáo viên dạy môn

kỹ thuật nông nghiệp (KTNN), môn học vẫn bị đa số học sinh coi là môn phụ và thường không thích học (nội dung thực tập sư phạm 1) Việc đối mặt với thực trạng đó

ảnh hưởng như thế nào đến lòng yêu nghề của các giáo sinh kỹ thuật nông nghiệp?

Nhìn lại thực tế những năm qua, công tác đào tạo nghiệp vụ sư phạm, giáo dục

Trang 3

ảnh hưởng của thực tập sư phạm 1 đến lòng yêu nghề của giáo sinh

lòng yêu nghề ở các trường sư phạm còn

có phần chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn,

nhiều giáo sinh sau khi tốt nghiệp các

trường sư phạm đN bỏ nghề (Nguyễn Tiến

Cường,1994) Đối với các giáo sinh khoa

Sư phạm kỹ thuật (SPKT) Trường Đại học

Nông nghiệp I Hà nội (ĐH NNI), tuy đN

qua TTSP1 đạt kết quả khả quan nhưng

chúng tôi vẫn chưa thể mạnh dạn khẳng

định các giáo sinh hoàn toàn có đầy đủ

năng lực sư phạm, nghiệp vụ nghề cũng

như tình cảm gắn bó với nghề Mục đích

của nghiên cứu này là đánh giá xem xét

TTSP1 có ảnh hưởng như thế nào đến lòng

yêu nghề của giáo sinh Khoa SPKT để từ

đó xây dựng nội dung, chương trình

TTSP1 và TTSP2 có hiệu quả nhất nhằm

nâng cao lý tưởng nghề nghiệp và nghiệp

vụ sư phạm cho giáo sinh

2 Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành điều tra 40 giáo

sinh khoa SPKT khoá 42 về thực trạng

nhận thức, thái độ và tình cảm nghề

nghiệp của giáo sinh trước và sau TTSP1

qua những tiêu chí cụ thể sau: tình cảm

nghề nghiệp; tự chuẩn bị kiến thức chuyên

môn và khoa học giáo dục trước TTSP1;

nhận thức về điều kiện trở thành giáo viên

dạy giỏi KTNN; nhận thức về thực trạng

dạy- học môn KTNN ở các trường trung

học phổ thông

Việc điều tra được tiến hành theo

cách các giáo sinh tự điền phiếu điều tra 2

lần: trước và ngay sau khi kết thúc đợt

TTSP1 kết hợp phỏng vấn trực tiếp một số

giáo sinh Phiếu điều tra được thiết kế

dạng bán cấu trúc (Semi-structured), các

câu hỏi phỏng vấn là các câu hỏi mở

Các số liệu từ phiếu điều tra được phân

tích bằng phương pháp thống kê mô tả,

các kết quả phỏng vấn được tiến hành

phân tích định tính

3 Kết quả

Tình cảm nghề nghiệp của các giáo sinh Khi thi vào đại học, có 52,5%% các giáo sinh được điều tra đN chọn khoa SPKT với nhận thức rõ ràng về nghề nghiệp Trong đó có 50% nhận định rằng

“giảng dạy KTNN là một việc quan trọng

đối với một nước nông nghiệp như Việt nam” nên họ chọn và theo học khoa SPKT; 30% số giáo sinh chọn khoa SPKT vì lý do “các trường THPT đang thiếu giáo viên dạy KTNN”; chỉ 25% thật sự

“thích trở thành giáo viên dạy KTNN” Tuy số lượng giáo sinh xuất phát từ nguyện vọng muốn trở thành giáo viên dạy KTNN chưa nhiều nhưng các giáo sinh đó đN có một sự nhận thức rõ ràng khi chọn nghề dạy học KTNN Số còn lại vào học khoa SPKT do “không đủ điểm vào khoa khác” chiếm đến 45%; còn lý do

“không phải đóng học phí” hay “tốt nghiệp khoa SPKT dễ xin việc làm”, chỉ có 2,5% số giáo sinh lựa chọn Kết quả điều tra còn cho thấy sau một thời gian học tập và rèn luyện tại khoa SPKT, đến năm thứ ba đN có 95% số giáo sinh được điều tra khẳng định sẽ không chuyển khỏi khoa SPKT ngay cả khi có cơ hội Có nhiều giáo sinh muốn tự khẳng

định mình, muốn sau này sẽ truyền đạt những kiến thức khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho học sinh, áp dụng vào thực tế sản xuất tại gia đình

Sau TTSP1 gần một nửa số giáo sinh cảm thấy tự tin vào khả năng của mình (43,6%), trong khi trước KTSP chỉ có 5%

số giáo sinh có tâm trạng này Đa phần các giáo sinh cho rằng họ “Yêu nghề hơn” (74,4%), một số giáo sinh bộc lộ lòng nhiệt huyết với nghề Những lý do được nêu

ra là: kết quả TTSP1 cao (100% giáo sinh đạt loại khá giỏi); được đánh giá cao về năng lực

và thái độ trách nhiệm trong công việc,

Trang 4

chiếm lĩnh được tình cảm học sinh, giáo viên

trường thực tập

Qua điều tra tất cả các giáo sinh đều

nhận định rằng TTSP1 rất quan trọng

trong quá trình học tập, rèn luyện để trở

thành giáo viên Hầu hết (trên 76%) các

giáo sinh nhận thấy qua TTSP1 đN hình

thành cho họ niềm tin vào nghề nghiệp

trong tương lai, xây dựng ý thức trách

nhiệm đối với công việc; mở rộng, nâng

cao kiến thức chuyên môn, vận dụng lý

luận vào thực tiễn giảng dạy, học hỏi được

kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên dạy

KTNN ở trường PTTH

Sau khi KTSP giáo sinh còn thấy rõ

TTSP1 đN giúp họ nhìn nhận ra nhiều hạn

chế, chưa hoàn chỉnh về kiến thức chuyên

môn và nghiệp vụ sư phạm

Việc ôn luyện kiến thức, kỹ năng trước

khi đi TTSP1 của giáo sinh

Đa số các giáo sinh thể hiện tinh thần

trách nhiệm cao trước khi đi TTSP1, họ

đọc lại các giáo trình đN học Cụ thể: 85%

số giáo sinh đọc giáo trình “Phương pháp

dạy học KTNN”; 57,5% đọc lại giáo trình

“Hoạt động giáo dục trong trường

PHTH”; 52,5% số giáo sinh đọc lại các

môn chuyên ngành nông nghiệp; 50% đọc

lại giáo trình “Tâm lý học lứa tuổi và tâm

lý học sư phạm”; 37,5% đọc lại giáo trình

“Giáo dục học đại cương”

Để chuẩn bị đi TTSP1, các giáo sinh rất

nỗ lực tự rèn luyện các kỹ năng sư phạm

Kỹ năng viết và trình bày bảng của giáo

sinh nhìn chung khá yếu, nhận thức rõ

điều này 100% các giáo sinh đều chú

trọng tập luyện, trong đó 75% tìm mọi cơ

hội tự tập viết bảng một mình, 32,5% tập

theo nhóm với bạn bè Trong nội dung

TTSP1 yêu cầu các giáo sinh phải thực tập

dạy học KTNN trên lớp nên họ rất lo lắng

và tập giảng rất tích cực Do thời gian thực

hành chính khoá hạn chế, chỉ có 37,5% số

giáo sinh có cơ hội tập giảng trong giờ

thực hành với giáo viên, 50% giáo sinh đN

tự tập giảng một mình, 25% đN tập giảng trước nhóm bạn để nhận được các nhận xét góp ý của bạn bè về kỹ năng dạy học của mình Kỹ năng viết biên bản dự giờ

được họ rèn luyện khá nhiều (80%), ngoài các giờ thực hành chính khoá 25% số giáo sinh còn tự luyện tập theo nhóm nhỏ với các bạn của mình

Trách nhiệm với nghề nghiệp còn thể hiện qua nhận định về những tri thức chuyên môn KTNN người giáo viên dạy môn KTNN cần có và tự đánh giá về các kiến thức mỗi giáo sinh đN tích luỹ được Chính vì vậy chúng tôi đN tiến hành điều tra nhận thức của giáo sinh về các kiến thức đN được trang bị tại khoa SPKT Số liệu được thu thập qua 2 lần điều tra trước

và sau TTSP1 (bảng 1)

Sự khác biệt qua hai lần điều tra mà giáo sinh đN nhận định có cơ sở thực tế qua kiểm nghiệm TTSP1 Cụ thể thông qua dự giờ giáo viên giảng dạy KTNN ở trường phổ thông, qua thực tập giảng dạy

và dự giờ của các giáo sinh So với yêu cầu dạy học ở bậc PTTH, hầu hết các giáo sinh năm thứ ba nhận thấy rõ những kiến thức thu được là chưa đầy đủ Các kiến thức họ học được phần lớn chưa đáp ứng

được yêu cầu về tính hiện đại, tính hệ

Bảng 1 Giáo sinh tự đánh giá về kiến thức KTNN đB được trang bị trước và sau KTSP

Tự đánh giá của giáo

sinh

Trước KTSP

Sau KTSP

Đầy đủ 22,5% 10,3% Chưa đầy đủ 50,6% 84,6%

Đảm bảo tính hiện đại 10% 12,5%

Đảm bảo tính hệ thống

12,5% 10,3%

Đảm bảo tính khoa học

20% 15,4%

Trang 5

ảnh hưởng của thực tập sư phạm 1 đến lòng yêu nghề của giáo sinh

thống và tính khoa học là những yêu cầu

về tri thức KTNN rất được chú trọng ở bậc

PTTH Nhận thức được điều này sẽ giúp

các giáo sinh có định hướng được việc học

tập tiếp theo của bản thân

Vấn đề trang bị kiến thức chuyên

ngành, kiến thức khoa học giáo dục và các

kỹ năng nghiệp vụ sư phạm được các giáo

sinh đánh giá là hữu ích cho họ trong đợt

TTSP1 Phần lớn (trên 80%) giáo sinh cho

rằng các kiến thức chuyên ngành đN đảm

bảo tính khoa học, hệ thống, đầy đủ

Trong các môn học thuộc khối kiến thức

sư phạm, các giáo sinh đánh giá cao nhất

là môn tâm lý học lứa tuổi và sư phạm với

điểm trung bình (ĐTB = 4,6; theo thang

điểm 5); tiếp đến là giao tiếp sư phạm

(ĐTB = 4,4); môn thứ ba là đại cương về

phương pháp dạy học KTNN ( ĐTB =

3,9), và tiếp đén là hoạt động giáo dục

trong trường phổ thông, giáo dục học đại

cương, tâm lý học đại cương

Nhận thức của giáo sinh về những điều

kiện trở thành giáo viên dạy giỏi

Sau thời gian TTSP1 tiếp xúc và tìm

hiểu kinh nghiệm dạy học của các giáo

viên PTTH, phần lớn giáo sinh khẳng định

để trở thành giáo viên dạy giỏi môn

KTNN thì điều kiện cần nhất là phải có

“Lòng yêu nghề” (ĐTB = 7,6; thang điểm

8); tiếp đến là “Có kiến thức chuyên môn

KTNN sâu rộng” (ĐTB = 6,1); “Phương

pháp giảng dạy tốt” (ĐTB = 5,7); tiếp đó

là “Hiểu biết tâm lý học sinh”, “Kỹ năng

thí nghiệm, thực hành tốt về KTNN”, có

“Tư cách đạo đức”, “Khả năng sáng tạo”

và “Kiến thức về giáo dục học” Nhìn

chung, giáo sinh đánh giá về sự cần thiết

của các điều kiện trên khá hợp lý để từ đó

tiếp tục trau dồi, phấn đấu để trở thành

một giáo viên giỏi

Nhận thức về thực trạng dạy học KTNN

trong trường THPT

Theo nhận xét của các giáo sinh, đa phần học sinh THPT cho rằng KTNN là môn phụ, không quan trọng nên còn học lơ là, đối phó Chỉ có một số học sinh tích cực, có ý thức học tập tốt (khoảng 30%) vì

họ cho rằng kiến thức KTNN sát thực tế,

có thể ứng dụng vào thực tiễn sản xuất trong gia đình của mình

Trong thực tế, vẫn còn nhiều giáo viên PTTH quan niệm KTNN là môn phụ Tuy nhiên phần lớn đều có thái độ nhiệt tình,

có trách nhiệm trong giảng dạy Một số giáo viên giỏi đN thực sự trở thành tấm gương để các giáo sinh học hỏi phấn đấu noi theo Đó là những giáo viên được đào tạo chuyên ngành KTNN tại Đại học Sư phạm I Hà nội trước đây Họ thực sự tâm huyết với nghề và luôn tìm cách cải tiến nội dung và phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giờ lên lớp

"Giảng dạy KTNN trong nhà trường THPT là cần thiết, là không thể thiếu" - đó

là nhận định của 97% số giáo sinh được

điều tra Theo nhận thức của họ, môn KTNN có mục đích trang bị kiến thức cơ bản và khoa học về KTNN cho học sinh, hình thành một số kỹ năng thực hành, tri thức cần cho sản xuất tại gia đình

Giáo sinh tự đánh giá về kết quả TTSP1

Về công tác chuyên môn, các giáo sinh khẳng định họ đN thành thục trong việc soạn một giáo án hoàn chỉnh, thực hiện

đúng qui trình lên lớp, thực thi một bài giảng đảm bảo tính khoa học về nội dung; sắp xếp kiến thức hệ thống, logic theo thời gian qui định Giáo sinh đN bước đầu biết vận dụng phương pháp dạy học phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh và nội dung tri thức của bài dạy, bước đầu biết cách kết hợp các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức và hứng thú học tập của học sinh

Về công tác chủ nhiệm, các giáo sinh cho rằng họ đN biết lập kế hoạch chủ

Trang 6

nhiệm, cách quản lý lớp học phù hợp với

yêu cầu của nhà trường THPT và công tác

chủ nhiệm lớp thực sự có hiệu quả cao

4 Kết luận

TTSP1 đN thực sự tạo điều kiện cho

giáo sinh quan sát, học hỏi thực tế, tập

dượt xoay quanh vấn đề giảng dạy, công

tác chủ nhiệm Đồng thời cũng tạo điều

kiện cho giáo sinh tìm hiểu thực tiễn dạy

học và giáo dục ở nhà trường PTTH

TTSP1 ảnh hưởng sâu sắc đến lòng yêu

nghề của các giáo sinh, qua đó mà các em

tự tin hơn và củng cố quyết tâm gắn bó với

nghề sư phạm Qua TTSP1 giáo sinh nhận

thức rõ hơn về tầm quan trọng của môn

KTNN trong nhà trường THPT, vị trí, vai

trò, nhiệm vụ của người giáo viên Có ý

thức trách nhiệm cao hơn về những ưu và

nhược điểm của bản thân để phấn đấu rèn

luyện, tu dưỡng

Để giáo sinh khắc phục sự bỡ ngỡ, lúng

túng khi đi TTSP1, Khoa SPKT cần tổ

chức cho giáo sinh thực hành nhiều hơn để

giúp giáo sinh tập dượt, kiểm nghiệm tri thức lý luận về giáo dục, phương pháp dạy học Trong quá trình rèn luyện và học tập

ở trường đại học, bên cạnh việc trau dồi kiến thức chuyên môn giáo sinh cần rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ sư phạm Do

đó nhà trường, khoa nên tổ chức thi nghiệp

vụ sư phạm theo định kỳ để giáo sinh có cơ hội rèn luyện, nâng cao khả năng giảng dạy, xử lý tình huống sư phạm đồng thời cũng giúp các giáo sinh nâng cao lòng yêu nghề

tài liệu tham khảo

Nguyễn Tiến Cường (1994), Thực trạng nghề nghiệp của sinh viên khoa Tâm lý giáo dục Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội Nguyễn Thạc (1992), Tâm lý học sư phạm đại học, Nxb Giáo dục

Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Công Hoàn (1981), Mô hình nhân cách sinh viên lúc tốt nghiệp, Thông báo khoa học số 3, Đại học Sư phạm I Hà Nội

Nội dung Thực tập sư phạm 1 (2001), Tài liệu nội bộ, khoa Sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

Ngày đăng: 27/06/2014, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Giáo sinh tự đánh giá về kiến thức        KTNN  đB đ−ợc trang bị tr−ớc và sau KTSP - Báo cáo khoa học: Ảnh hưởng của thực tập sư phạm 1 đến lòng yêu nghề của các giáo sinh sư phạm kỹ thuật nông nghiệp pot
Bảng 1. Giáo sinh tự đánh giá về kiến thức KTNN đB đ−ợc trang bị tr−ớc và sau KTSP (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm