Báo cáo khoa học Nghiên cứu thử nghiệm ương nuôi cá chép giống tại trại cá Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội... Nghiên cứu thử nghiệm ương nuôi cá chép giống tại trại cá Trường Đại họ
Trang 1Báo cáo khoa học Nghiên cứu thử nghiệm ương nuôi cá chép giống tại trại cá Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội
Trang 2Nghiên cứu thử nghiệm ương nuôi cá chép giống tại trại cá Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội
Experimental culturing of common carp at the fish farm of Hanoi Agricultural University
Võ Quý Hoan1
, Đặng Thuý Nhung1
SUMMARY Experiments were carried out at the Fish Farm of Hanoi Agricultural University (HAU)
in order to evaluate the potential capacity in culturing common carp for training purposes of the university The crossbred common carp V1 at two stages of age, 1 - 49 and 64 - 109 days old, was cultured in two respective ponds, K1 and K2, with two kinds of mixed feed which contained ME and crude protein of 3,230 kcal/kg and 31.5%; 3,088 kcal/kg and 27.34 %, respectively The followings were observed: weight and length of fish; feed conversion ratio (FCR); percentage of survival; temperature and and pH level
of pond water The results observed after 109 days of culturing showed that average weights of fish were 31.93 ±±± 1.36 and 36.00 ±±± 3.20 g/piece; average lengths of fish were 12.01 ±±± 0.25 and 13.04 ±±± 0.57 cm; percentages of survival were 95 and 97 %; and, FCRs were 1.03 and 1.01, respectively
The growth rates and FCRs were all lower than the reference ones of the Vietnamese fisheries industry This study showed both advantage and disadvantage of the HAU’s Fish Farm Key words: Common carp, culturing, fish pond
1 ĐặT VấN Đề1
Trại Cá của Trường Đại học Nông nghiệp
I sau nhiều năm không hoạt động đã làm cho
hệ thống ao ương nuôi xuống cấp nghiêm
trọng Cùng với việc sửa chữa nâng cấp cơ sở
vật chất, các thực nghiệm ương nuôi thủy sản
nước ngọt cần được tiến hành nhằm khôi phục
Trại Cá Trường Đại học Nông nghiệp I, phục
vụ nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu chuyển giao
kỹ thuật về nuôi trồng thủy sản
Xuất phát từ yêu cầu trên, trong khuôn
khổ của Dự án hợp tác theo Nghị định thư giữa
Việt Nam và Hungari về “Xây dựng điểm
trình diễn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ
nuôi cá nước ngọt Việt - Hung tại Trường Đại
học Nông nghiệp I”, chúng tôi đã tiến hành
thực nghiệm ương nuôi cá chép giống tại Trại
Cá của Trường Kết quả thực nghiệm sẽ là tiền
1 Khoa Chăn nuôi- Thuỷ sản, Đại học Nông nghiệp I
đề cho việc xây dựng và phát triển Trại Cá Trường trong tương lai
2 VậT LIệU Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
2.1 Địa điểm Thí nghiệm được tiến hành tại 2 ao K1 và K2, Trại cá Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội và Phòng Thí nghiệm của Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn - Vi sinh, Khoa Chăn nuôi Thủy sản, Trường Đại học Nông nghiệp I 2.2 Vật liệu
Cá chép giống V1 nhập từ Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, Từ Sơn, Bắc Ninh Công thức thức ăn được tính toán bằng phần mềm chương trình Ultramix với các nguyên liệu: ngô nghiền, cám ngoại, cám mì, khô lạc,
Trang 3bột xương, khô dầu, bột cá và premix, đảm
bảo thành phần dinh dưỡng:
Bảng 1 Thành phần dinh dưỡng thức ăn nuôi
cá trong thời gian thực nghiệm
Thành phần
dinh dưỡng
Giai đoạn
1 - 49 ngày
Giai đoạn
64 - 109 ngày
ME (kcal/kg) 3.230 3.088
Protein thô (%) 31,50 27,34
Hàng ngày cá thí nghiệm được cho ăn 2
lần Lần 1 vào buổi sáng (7h30) và lần 2 vào
buổi chiều (5h30) Thức ăn được rải đều ở 3 vị
trí: đầu ao, giữa ao, và cuối ao Lượng thức ăn
cho ăn ở cả giai đoạn nuôi là 4 - 5% tính theo
khối lượng cơ thể
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Theo dõi sinh trưởng của cá bằng cách 7
ngày thu mẫu 1 lần, từ tháng thứ 2 trở đi thì 14
ngày thu mẫu 1 lần Tại các thời điểm thu
mẫu, dùng lưới đánh quây 1/4 diện tích ao,
dùng vợt bắt ngẫu nhiên 30 con để đo và cân cá
Dùng thước panme kỹ thuật số (Powerfix) có
độ chính xác ± 0,01mm để đo chiều dài tổng
số (L) Cân khối lượng cá trên cân điện tử có
độ chính xác ± 0,01g
Xác định một số yếu tố môi trường trong
ao cá như đo nhiệt độ nước của ao nuôi bằng
nhiệt kế thủy ngân, đo pH bằng giấy đo pH để
đo pH của ao nuôi rồi so với màu tiêu chuẩn
Số liệu thu thập được xử lý theo phương
pháp thống kê sinh học trên phần mềm
Microsoft Excel và Minitab 14
3 KếT QUả Và THảO LUậN
3.1 Kiểm tra sự biến động của nhiệt độ
nước và pH ở ao nuôi
Bảng 2a Sự biến động của nhiệt độ nước và pH
trong ao K1
Nhiệt độ Thời gian thu mẫu
(ngày) Sáng Chiều pH
14
21
28
35
42
49
27,1 29,4 26,8 29,5 27,6 27,5
28,3 30,7 27,4 31,2 28,8 28,7
7,7 7,2 7,0 7,2 7,5 7,3
Bảng 2b Sự biến động của nhiệt độ nước
và pH trong ao K2
Nhiệt độ Thời gian thu mẫu
(ngày) Sáng Chiều pH
7
14
21
28
35
49
18,5 20,5 23,7 21,2 26,5 29,5
19,0 21,5 24,6 22,5 27,0 30,5
7,3 7,5 7,4 7,3 7,4 7,2
Bảng 2a và 2b cho thấy, nhiệt độ nước trong quá trình nuôi thử nghiệm dao động từ 24,2 - 31,50C, nhiệt độ chênh lệch lớn nhất giữa sáng và chiều là 1,70
C, còn pH ao nuôi biến động từ 7,0 - 7,8 Đối với ao K2, nhiệt độ dao động trong khoảng 18,5 tới 30,50C, chệnh lệch cao nhất trong ngày giữa sáng và chiều là10
C, pH dao động trong khoảng 7,2 - 7,5 Nhiệt độ thích hợp cho các sinh vật sống
và phát triển là từ 20- 300C, còn nhiệt độ thích hợp để cá chép sinh trưởng và phát triển tốt là
từ 20 - 270C (Nguyễn Đức Hội, 1999; Đỗ
Đoàn Hiệp và Nguyễn Hữu Thọ, 2004) Nhiệt
độ ao nuôi trên 270C sẽ ảnh hưỏng đến sự sinh trưởng và phát triển của cá ở giai đoạn này Cũng theo Nguyễn Đức Hội (1999), pH thích hợp cho sự phát triển của các sinh vật trong ao nuôi của cá chép trong khoảng pH từ 4 - 9 Như vậy pH của nước trong cả 2 ao nuôi là hoàn toàn thích hợp cho cá chép sinh trưởng
và phát triển bình thường
3.2 Tốc độ sinh trưởng của cá chép Bảng 3a Khối lượng và chiều dài cá chép giai
đoạn 1 - 49 ngày trong ao K1
Thời n Khối lượng (g) Chiều dài (cm)
Trang 414
21
28
30
30
30
2,09 ± 0,16
3,25 ± 0,22
4,49 ± 0,25
42,30 36,27 30,69
4,93 ± 0,11 5,81 0,19 6,58 ± 0,13
12,58 18,04 10,90
49 30 9,40 ± 0,54 31,70 8,54 ± 0,18 11,21
B¶ng 3b Khèi l−îng vµ chiÒu dµi c¸ chÐp giai ®o¹n 1 - 49 ngµy trong ao K2
Trang 5Khối lượng (g) Chiều dài (cm) Thời gian nuôi
x
14
21
28
49
30
30
30
30
2,32 ± 0,20 5,16 ± 0,47 10,14 ± 0,49 14,88 ± 1,24
46,98 48,45 26,63 45,56
4,90 ± 0,11 6,40 ± 0,16 8,25 ± 0,12 9,35 ± 0,26
12,65 13,80 7,76 15,40
Tốc độ sinh trưởng của cá chép nuôi trong
những ngày đầu là tương đối thấp (khối lượng
là 7,3%, chiều dài là 10,8%) Nguyên nhân sinh
trưởng thấp là do ở giai đoạn này, cá mới thả
nên chịu ảnh hưởng của thay đổi môi trường
nuôi Trong các tuần tiếp theo, tốc độ sinh
trưởng tương đối của cá đã đạt được 18,5%
theo khối lượng và 19,46% theo chiều dài, như
vậy tốc độ tăng trưởng ở giai đoạn này tương
đối cao Kết thúc nuôi thử nghiệm, khối lượng
đạt là 9,40 ± 0,54 g, chiều dài là 8,54 ± 0,18cm
(Bảng 3a) Tốc độ sinh trưởng của cá nuôi
trong ao K2 khá hơn một chút Kết thúc giai
đoạn này, khối lượng đạt 14,88 ± 1,24 g, chiều
dài đạt 9,35 ± 0,26 cm (Bảng 3b) So với Tiêu
chuẩn ngành (1998) sau khi nuôi được 45- 60
ngày khối lượng từ 15-20g, chiều dài thân từ
7-10 cm Như vậy kết quả thu được về chiều dài
và khối lượng của thí nghiệm chúng tôi thấp
hơn so với tiêu chuẩn ngành (P<0,05)
Kết quả thử nghiệm ương nuôi cá chép
giai đoạn từ 64 - 109 ngày cho thấy, tốc độ
sinh trưởng tương đối trong 15 ngày đầu của khối lượng là 31,10%, của chiều dài là 9,4 % (Bảng 4a và Bảng 4b) Sau 1 tháng nuôi, tốc
độ sinh trưởng tương đối đã tăng cao hơn, tăng nhanh về khối lượng nhưng không tăng nhanh về chiều dài: tốc độ sinh trưởng tương
đối của khối lượng là 47,20%, của chiều dài
là 8,90% Đến ngày thứ 45, tốc độ sinh trưởng tương đối của khối lượng là 24,9%, của chiều dài là 4,86% Như vậy, trong tháng nuôi đầu tiên tốc độ tăng trưởng của cá là khá cao do thời kỳ này thời tiết ấm áp, phù hợp với điều kiện sinh trưởng của cá chép, đồng thời cá cũng được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết
Trong tháng nuôi thứ hai tốc độ tăng trưởng của cá thấp hơn là do thời kỳ này có gió mùa đông bắc kéo dài (nhiệt độ trung bình 14,7oC) Nhiệt độ hạ thấp làm cá giảm ăn, gây
ảnh hưởng rõ rệt đên tốc độ sinh trưởng và phát triển
Bảng 4a Khối lượng và chiều dài cá chép giai đoạn 64 -109 ngày trong ao K1
Khối lượng (g) Chiều dài (cm) Thời gian nuôi
x
64
79
94
109
30
30
30
30
15,13 ± 1,24 22,21 ± 1,37 27,19 ± 2,95 31,93 ± 1,36
44,40 42,10 58,50 23,60
9,83 ± 0,23 10,72 ± 0,28 11,28 ± 0,49 12,10 ± 0,25
13,80 14,20 23,70 11,26
Bảng 4b Khối lượng và chiều dài cá chép giai đoạn 64 -109 ngày trong ao K2
Trang 6Khối lượng (g) Chiều dài (cm) Thời gian nuôi
64
79
94
109
30
30
30
30
17,43 ± 1,10 23,5 ± 2,41 30,84 ± 2,82 36,00 ± 3,20
34,11 55,39 49,35 50,70
9,48 ± 0,21 10,86 ± 0,34 12,01 ± 0,44 13,04 ± 0,57
11,64 16,90 19,38 24,43
Theo Tiêu chuẩn ngành (1998), cá chép
nuôi được 100 - 120 ngày đạt chiều dài tổng
số khoảng 12 - 15cm, khối lượng đạt 35 - 45g
Với kết quả nuôi thử nghiệm này, cá chép ở
giai đoạn 49 - 109 ngày có chiều dài tổng số là
12,01cm, khối lượng là 31,93g Tuy kết quả
thực nghiệm vẫn thấp hơn so với tiêu chuẩn
ngành, nhưng khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (P>0,05)
3.3 Tỷ lệ nuôi sống và hệ số thức ăn
Tại ao K1, tỷ lệ nuôi sống sau 7 tuần nuôi
là 75%, trong giai đoạn 64 đến 109 ngày nuôi
là 95% Tại ao K2, tỷ lệ nuôi sống trong giai
đoạn 1 - 49 ngày là 82%, giai đoạn 64 đến 109
ngày là 92% Tỷ lệ nuôi sống theo Tiêu chuẩn
ngành (1998) là 80-85% Sở dĩ tỷ lệ nuôi sống
của cá nuôi thử nghiệm tại ao cá của Trại thấp
là do một số nguyên nhân sau: thức ăn trong
quá trình nuôi thử nghiệm cung cấp còn bị
gián đoạn một số ngày, ngoài ra còn do mật
độ nuôi cá tại ao khá cao 19,44 con/m2 (Tiêu
chuẩn ngành, 1998: 10 -15 con/m2) và kích cỡ
cá thả ban đầu nhỏ
Theo Tiêu chuẩn ngành (1998), hệ số
thức ăn của cá chép dao động từ 2,2 - 2,5; kết
quả tính toán thu được trong thực nghiệm chỉ
ở mức 1,03 đối với ao K1 và 1,01 đối với ao
K2 Như vậy có sự khác nhau lớn về hệ số
thức ăn giữa tiêu chuẩn ngành và ương nuôi
thực nghiệm
Nguyên nhân khác nhau là do ở giai đoạn
đầu, ao nuôi có lượng thức ăn tự nhiên khá
nhiều nên lượng thức ăn tinh hầu như không
phải sử dụng mà cá ăn vẫn no Mặt khác, trong
suốt quá trình nuôi, ao được thường xuyên bón phân và lấy nước từ sông vào tạo điều kiện thuận lợi cho sinh vật thủy sinh phát triển làm nguồn thức ăn cho cá trong ao nuôi
4 KếT LUậN Với mật độ thả ban đầu là 19,44 con/m2, khối lượng cá hương sau 49 ngày ở 2 ao K1
và K2 đạt tương ứng là 9,4 ± 0,54 và 14,88 ± 1,24 g/con, sau 109 ngày tương ứng là 31,93 ± 1,36 và 36,00 ± 3,20 g/con; chiều dài tổng số sau 49 ngày đạt tương ứng là 8,54 ± 0,18 và 9,35 ± 0,26 cm, sau 109 ngày đạt tương ứng là 12,01 ± 0,25 và 13,04 ± 0,57 cm Kết quả đạt
được này thấp hơn một chút so với Tiêu chuẩn ngành
Tỷ lệ nuôi sống sau 49 ngày ở 2 ao K1
và K2 đạt tương ứng 75 và 84%, sau 109 ngày đạt tương ứng là 95 và 97 % Hệ số thức
ăn sử dụng thức ăn bổ sung trong toàn bộ thực nghiệm tương ứng là 1,03 và 1,01 Kết quả này thấp hơn rất nhiều so với Tiêu chuẩn ngành
TàI LIệU THAM KHảO Nguyễn Đức Hội (1999) Bài giảng quản lý chất lượng môi trường nước, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I - Bắc Ninh
Đỗ Đoàn Hiệp và Nguyễn Hữu Thọ (2004)
Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt, Nhà xuất bản LĐXH
Tiêu chuẩn ngành (1998) Quy trình nuôi cá chép V1 thương phẩm 28
TCN123-1998