+Cấp tín dụng dưới hình thức bảo lãnh ngân hàng; Ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của ph
GIỚI THIỆU CHUNG
Sacombank được thành lập vào ngày 21/12/1991 với vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng Qua gần 30 năm hoạt động, Sacombank hiện là một trong những ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam có nền tảng phát triển hiệu quả, an toàn và bền vững. Điều đó được minh chứng bởi:
+Tốc độ tăng trưởng ổn định về doanh thu và thị phần;
+Đội ngũ cán bộ nhân viên trẻ trung - năng động;
+7 triệu khách hàng gắn bó thuỷ chung;
+Mạng lưới hoạt động rộng lớn gần 570 điểm giao dịch tại 52 tỉnh thành Việt Nam cùng hai nước Lào, Campuchia;
+Nền tảng công nghệ hiện đại, tiên phong và hệ thống sản phẩm dịch vụ ưu việt dành cho cá nhân và doanh nghiệp;
+Hệ giá trị cốt lõi và văn hoá doanh nghiệp đặc sắc Sacombank luôn nỗ lực vươn mình, phát huy tinh thần sức trẻ để đạt được sự tín nhiệm từ cổ đông và đối tác, sự hài lòng của khách hàng và niềm vui trong nội tại, từ đó hướng đến một ngân hàng hạnh phúc với phương châm “Đồng hành cùng phát triển”. Thông tin tóm vắt về Sacombank
Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Tên giao dịch tiếng Anh: Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank Tên viết tắt: Sacombank
Loại hình: ngân hàng thương mại cổ phần
Ngành nghề: Tài chính tiền tệ
Trụ sở chính: 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh
LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG
1) Huy động vốn, tiếp nhận vốn trong nước, cho vay, hùn vốn và liên doanh, làm dịch vụ thanh toán giữ các khách hàng Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của các tổ chức và dân cư dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đối với các tổ chức và cá nhân chiết khấu cho các thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá hùn vốn và liên doanh theo pháp luật Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế Huy động vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong mối quan hệ với nước ngoài khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép Hoạt động bao thanh toán. +Kinh doanh mua, bán vàng miếng.
+Tư vấn tài chính doanh nghiệp Tư vấn mua bán, hợp nhất, sát nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư.
+Dịch vụ môi giới tiền tệ.
+Cấp tín dụng dưới hình thức bảo lãnh ngân hàng; Ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn Ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; Mua bán, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp; Cung ứng và thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ ngân hàng; Mua nợ; Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường trong nước và thị trường Quốc tế trong phạm vi do Ngân hàng Nhà nước quy định;
+Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác;
+Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:
Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; Phát hành thẻ tín dụng
Bao thanh toán trong nước
+Mở tài khoán thanh toán cho khách hàng
+Cung ứng dịch vụ thanh toán trong nước
Cung ứng phương tiện thanh toán
Thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, dịch vụ thu hộ và chi hộ;
+Tổ chức thanh toán nội bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng Quốc gia
+Tham gia đấu thầu, mua bán tín phiếu kho bạc, công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ khác trên thị trường tiền tệ;
+Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán, quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
+Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
+Vay, cho vay, gửi, nhận gửi vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
+Góp vốn, mua cổ phần theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
+Kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất trên thị trường trong nước theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với phạm vi hoạt động cụ thể sau:
Sản phẩm hoán đổi lãi suất một đồng tiền
Sản phẩm hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền
+Hoạt động mua nợ theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
SƠ ĐỒ CƠ CẤU BỘ MÁY TỔ CHỨC
Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân Hàng Sacombank
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA NGÂN HÀNG SACOMBANK
Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thành lập vào năm 1991 trên cơ sở hợp nhất 4 tổ chức tín dụng là Ngân hàng phát triển kinh tế Gò Vấp, HTX tín dụng Lữ Gia, Tân Bình và Thành Công với các nhiệm vụ chính là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được thành lập theo:
+Giấy phép hoạt động số 0006/NH GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp này 03/12/1991
+Giấy phép số 05/GP-UP do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/01/1992
Trụ sở chính ban đầu của Sacombank nằm trên đường Nguyễn Oanh, nay là chi nhánh Gò Vấp Từ tháng 4/1999, trụ sở chính của Sacombank được điều chuyển về tòa nhà Sacombank đặt tại số 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, Tp Hồ ChíMinh.
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG SACOMBANK TỪ KHI THÀNH LẬP CHO ĐẾN NAY
21/12/1991: Sacombank là một trong những Ngân hàng TMCP đầu tiên được thành lập tại TP.HCM với vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng
1993: Ngân hàng TMCP đầu tiên của TP.HCM khai trương Chi nhánh tại Hà Nội.
1995: Thực hiện cải tổ Ngân hàng theo mô hình quản trị tiên tiến Đây là bước ngoặt mở ra thời kỳ đổi mới quan trọng trong quá trình phát triển của Sacombank.
1996: Là ngân hàng đầu tiên phát hành cổ phiếu đại chúng với mệnh giá 200.000 đồng/ cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên 71 tỷ đồng với gần 9.000 cổ đông tham gia góp vốn
1999: Khánh thành tòa nhà trụ sở tại số 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3,
2001: Tiếp nhận vốn góp từ cổ đông nước ngoài Mở đầu là Tập đoàn tài chính
Dragon Financial Holding (Anh Quốc) tham gia góp 10% vốn điều lệ Việc góp vốn này đã mở đường cho Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) và Ngân hàng ANZ, nâng số vốn cổ phần của các cổ đông nước ngoài lên 30% vốn điều lệ
2002: Thành lập Công ty trực thuộc đầu tiên – Công ty quản lý nợ và Khai thác tài sản Sacombank – SBA, bước đầu thực hiện chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tài chính trọn gói
2003: Thành lập Công ty trực thuộc đầu tiên – Công ty quản lý nợ và Khai thác tài sản Sacombank – SBA, bước đầu thực hiện chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tài chính trọn gói 2004:Ký kết hợp đồng triển khai hệ thống Corebanking T-24 với công ty Temenos (Thụy Sĩ) nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, quản lý và phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử.
2005: Thành lập Chi nhánh 8 Tháng 3, là mô hình ngân hàng dành riêng cho phụ nữ đầu tiên tại Việt Nam hoạt động với sứ mệnh vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam hiện đại.
2006: Là ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam tiên phong niêm yết cổ phiếu tại HOSE với tổng số vốn niêm yết là 1.900 tỷ đồng.
Thành lập các công ty trực thuộc bao gồm: Công ty Kiều hối Sacombank-SBR, Công ty Cho thuê tài chính Sacombank-SBL, Công ty Chứng khoán Sacombank- SBS
2009: Tháng 05, cổ phiếu STB của Sacombank được vinh danh là một trong 19 cổ phiếu vàng của Việt Nam Suốt từ thời điểm chính thức niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM, STB luôn nằm trong nhóm cổ phiếu nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tháng 06, khai trương chi nhánh tại Phnôm Pênh, hoàn thành việc mở rộng mạng lưới tại khu vực Đông Dương, góp phần tích cực trong quá trình giao thương kinh tế của các doanh nghiệp giữa ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia.
Ngày 03/02/2012, cổ phiếu STB của Sacombank nằm trong nhóm cổ phếu VN30 được Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) công bố Các cổ phiếu được lựa chọn vào VN30 dựa vào 3 tiêu chí: vốn hóa, số lượng cổ phiếu lưu hành tự do và tính thanh khoản cao Việc cổ phiếu STB của Sacombank được xếp thứ nhất trong tổng số 30 cổ phiếu tiêu của nhóm VN30 đã khẳng định vị thế và sức hấp dẫn của cổ phiếu STB trên thị trường.
31/7/2015: Sacombank và Tổ chức thẻ quốc tế Visa phối hợp cho ra mắt lần đầu tiên tại Việt Nam thẻ thanh toán quốc tế Sacombank Visa Imperial Signature - dòng thẻ thanh toán cao cấp nhất trên thị trường - dành cho khách hàng tham gia Dịch vụ ngân hàng cao cấp Sacombank Imperial.
2017: Sacombank triển khai hàng loạt sản phẩm dịch vụ, ứng dụng mới có hàm lượng công nghệ và độ an toàn bảo mật cao theo xu hướng thanh toán điện tử đang phát triển (công nghệ thanh toán không tiếp xúc Sacombank Contactless, máy POS NFC, ứng dụng Samsung Pay, ứng dụng mCard để thanh toán nhanh bằng QR )
14/01/2018: Trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt nam triển khai phương thức thanh toán bằng mã QR của UnionPay.
21/12/2018: Chính thức ra mắt ứng dụng quản lý tài chính Sacombank Pay, tích hợp đầy đủ các tính năng, tiện ích hiện đại nhất hiện nay, mang đến cho khách hàng nhiều trải nghiệm thú vị về thanh toán không dùng tiền mặt.
28/5/2019: Sacombank là 1 trong 7 ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hội đủ điều kiện phát hành thẻ nội địa được trang bị chip EMV với ưu điểm giúp bảo mật tối ưu thông tin thẻ và cho phép giao dịch thanh toán không tiếp xúc (contactless)
18/7/2019 26/7/2019, 23/10/2019, 01/11/2019: Chính thức khai trương hoạt động lần lượt các Chi nhánh Lào Cai, Ninh Bình, Nam Định và Thái Bình, mở rộng mạng lưới tại phía Bắc
28/10/2020: Là một trong những ngân hàng đầu tiên áp dụng tính năng xác thực trực tuyến 24/7 (eKYC) và mở tài khoản để giao dịch ngay trên ứng dụng di động Sacombank Pay
27/11/2020: Ngân hàng Việt Nam đầu tiên triển khai công nghệ Tap to phone - chấp nhận thanh toán không tiếp xúc bằng điện thoại di động và tính năng NFC - thanh toán không tiếp xúc bằng điện thoại di động
QUÁ TRÌNH TĂNG VỐN ĐIỀU LỆ
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín được thành lập ngày 21/12/1991 với số vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng Qua 20 năm hoạt động và phát triển, đến nay Sacombank đã đạt số vốn điều lệ khoảng 9.179 tỷ đồng và trở thành ngân hàng TMCP hàng đầu ở Việt Nam với
366 điểm giao dịch, trong đó có 67 Chi nhánh/Sở Giao dịch, 295 Phòng giao dịch và 01 tại Lào và 01 chi nhánh tại Campuchia (tính đến thời điểm 31/12/2010).
Năm 2002, vốn điều lệ của Sacombank tăng cao khi được Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) trực thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank) đầu tư
10% vốn điều lệ và trở thành cổ đông nước ngoài lớn thứ hai của Sacombank sau Quỹ đầu tư Dragon Financial Holdings (Anh Quốc). Ngày 8/8/2005, Ngân hàng ANZ chính thức ký hợp đồng góp vốn cổ phần với tỷ lệ 10% vốn điều lệ vào Sacombank và trở thành cổ đông nước ngoài thứ 3 của Sacombank.
Ngày 31/03/2006, VĐL của NH nâng lên 1.899.472.990.000 đồng. Ngày 31/12/2006, VĐL của NH nâng lên 2.089.412.810.000 đồng. Ngày 16/04/2007, VĐL của NH nâng lên 4.448.814.170.000 đồng. Ngày 20/08/2008, VĐl của NH nâng lên 5.115.830.840.000 đồng. Ngày 23/11/2009, VĐL của NH nâng lên 6.700.353.000.000 đồng. Ngày 16/11/2010, VĐL của NH nâng lên 9.179.230.130.000 đồng. Ngày 24/7/2013, VĐL nâng lên 12.425.115.900.000 đồng.
Năm 2017, VĐL nâng lên 18.852.157.160.000 đồng.
TẦM NHÌN VÀ SỨ MỆNH GIÁ TRỊ CỐT LÕI
TẦM NHÌN
Trở thành Ngân hàng bán lẻ hiện đại - đa năng hàng đầu Việt Nam.
SỨ MỆNH
Tối ưu giải pháp tài chính trọn gói, hiê Œn đại và đa tiện ích cho khách hàng; Tối đa hóa giá trị gia tăng cho đối tác, nhà đầu tư và cổ đông;
Tạo ra giá trị nghề nghiệp và sự thịnh vượng cho CBNV; Đồng hành cùng sự phát triển chung của cộng đồng xã hội.
GIÁ TRỊ CỐT LÕI
Tiên phong mở đường và vượt qua những thách thức để tiếp nối những thành công; Đổi mới và năng động để phát triển vững bền;
Tạo dựng sự khác biệt bằng đột phá sáng tạo trong kinh doanh và quản trị điều hành;
Cam kết chất lượng là nguyên tắc ứng xử của mỗi thành viên trong phục vụ khách hàng và quan hệ đối tác;
Trách nhiệm với cộng đồng và xã hội.
GIỚI THIỆU VỀ MÃ CHỨNG KHOÁN STB
Giá trị giao dịch mua ròng của NĐT NN (triệu)
Room của Nhà đầu tư nước ngoài còn lại
Khối lượng trung bình (10 ngày)
Số cổ phiếu đang lưu hành
Vốn hóa thị trường 43,454.22 ( tỷ )
ROE (%) 0.11 Đòn bẩy tài chính
PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG
NỀN KINH TẾ VĨ MÔ TOÀN CẦU
Các tổ chức quốc tế hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022 so với dự báo đưa ra trước đó
Tính đến thời điểm tháng 9/2022, tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2022 được điều chỉnh giảm so với các dự báo đưa ra trước đó Theo Ngân hàng Thế giới (WB), dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022 và 2023 đã bị hạ thấp đáng kể so với thời điểm đầu năm 2022 Vào tháng 01/2022, WB dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm
2022 và 2023 là 4,1% và 3,3% Đến tháng 8/2022, các dự báo này đã bị hạ xuống còn 2,8% và 2,3% cho năm 2022 và 2023 Theo đó, hơn 90% các nền kinh tế phát triển và 80% các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi đều bị hạ dự báo tăng trưởng đối với năm 2022 và 2023.
Tổng quan biến động thị trường thế giới
Thương mại hàng hóa toàn cầu suy giảm trong nửa cuối năm 2022 Thước đo thương mại hàng hóa của Tổ chức thương mại thế giới tháng 8/2022 cho thấy, thương mại hàng hóa toàn cầu tiếp tục tăng trưởng trong Quý II/2022 nhưng tốc độ tăng chậm hơn so với Quý I và có khả năng tiếp tục yếu đi trong nửa cuối năm
2022 Số liệu dự báo dự kiến sẽ được điều chỉnh giảm do xung đột đang diễn ra ở U-crai-na, áp lực lạm phát gia tăng và chính sách thắt chặt tiền tệ ở các nền kinh tế phát triển.
Giá cả và lạm phát tăng Theo WB, những cú sốc do nguồn cung đã gây ra biến động mạnh trên thị trường năng lượng toàn cầu Xung đột tại U-crai-na đã làm gián đoạn đáng kể hoạt động thương mại và sản xuất các mặt hàng năng lượng
Cú sốc năng lượng hiện nay sẽ gây ra những hậu quả đáng kể cho tăng trưởng toàn cầu. Điều kiện tài chính toàn cầu có xu hướng thắt chặt Theo WB, các điều kiện tài chính toàn cầu ngày càng xấu đi, phản ánh chính sách thắt chặt tiền tệ trên toàn thế giới và sự lo lắng về rủi ro ngày càng tăng Tại các nền kinh tế phát triển, lợi suất trái phiếu chính phủ có nhiều biến động Đồng đô la Mỹ tăng mạnh so với các đồng tiền của các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi. IMF nhận định các điều kiện tài chính thắt chặt hơn gây ra tình trạng khó khăn về nợ ở các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển.
Một số nhân tố rủi ro tác động tới triển vọng kinh tế thế giới
Theo IMF, rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng toàn cầu là lớn và nghiêng về xu hướng làm giảm tăng trưởng Những rủi ro nổi bật nhất bao gồm:
Thứ nhất, cuộc xung đột ở Ukraine làm tăng giá năng lượng Việc ngừng hoàn toàn xuất khẩu khí đốt của Nga sang các nền kinh tế châu Âu vào năm 2022 sẽ làm tăng đáng kể lạm phát trên toàn thế giới do giá năng lượng cao hơn.
Thứ hai, lạm phát vẫn ở mức cao Các cú sốc liên quan đến nguồn cung đối với giá lương thực và năng lượng từ cuộc xung đột ở Ukraine có thể làm tăng mạnh lạm phát và tác động tới lạm phát cơ bản, dẫn đến việc thắt chặt chính sách tiền tệ hơn nữa Giá lương thực và năng lượng tăng gây khó khăn, đói kém và bất ổn trên diện rộng, không chỉ đe dọa đến tăng trưởng kinh tế, mà còn ảnh hưởng tới ổn định xã hội ở nhiều quốc gia.
Thứ ba, điều kiện tài chính thắt chặt hơn gây ra tình trạng khó khăn về nợ ở các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển.
Thứ tư, suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc vẫn tiếp diễn sẽ ảnh hướng đến các nền kinh tế khác.
Thứ năm, trong trung hạn, xung đột ở Ukraine sẽ phân chia nền kinh tế thế giới thành các khối địa chính trị với các tiêu chuẩn công nghệ khác biệt, hệ thống thanh toán xuyên biên giới và tiền tệ dự trữ.
TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Việt Nam là một câu chuyện phát triển thành công Những cải cách kinh tế từ năm 1986 kết hợp với những xu hướng toàn cầu thuận lợi đã nhanh chóng giúp Việt Nam phát triển từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng một thế hệ Từ năm 2002 đến 2020, GDP đầu người tăng 3,6 lần, đạt gần 3.700 USD Tỉ lệ nghèo (theo chuẩn 1,9 USD/ngày) giảm mạnh từ hơn 32% năm 2011 xuống còn dưới 2%.
Nhờ có nền tảng vững chắc, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu đáng kể trong những giai đoạn khủng hoảng, mới đây là đại dịch COVID-19 Tăng trưởng GDP giảm xuống 2,58% vào năm 2021 do sự xuất hiện của biến thể Delta nhưng dự kiến sẽ phục hồi lên 5,5% vào năm 2022.
Y tế đạt nhiều tiến bộ lớn khi mức sống ngày càng cải thiện Tỉ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 năm 1993 xuống còn 16,7 năm 2020 (trên 1.000 trẻ sinh) Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 năm 1990 lên 75,4 năm 2019, cao nhất giữa các quốc gia trong khu vực có mức thu nhập tương đương Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73, cao hơn trung bình khu vực và trung bình thế giới, trong đó 87% dân số có bảo hiểm y tế
Khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện đáng kể Tính đến năm
2019, 99% dân số sử dụng điện chiếu sáng, so với tỉ lệ 14% năm 1993 Tỉ lệ tiếp cận nước sạch nông thôn cũng được cải thiện, từ 17% năm 1993 lên 51% năm 2020.
Việt Nam đã đặt ra những tầm nhìn phát triển tham vọng hơn, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 Để làm được điều này, nền kinh tế cần tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm khoảng 5% trên đầu người trong 25 năm tới Việt Nam cũng hướng tới mục tiêu phát triển theo hướng xanh hơn, bao trùm hơn đồng thời đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 đến năm 2050.
Tương lai của Việt Nam đang được định hình bởi một vài xu thế lớn Dân số đang già đi nhanh chóng, thương mại toàn cầu đang suy giảm, trong khi đó suy thoái môi trường, các vấn đề biến đổi khí hậu và tự động hóa ngày gia tăng Tiến trình của các xu hướng này càng bị đẩy nhanh bởi đại dịch COVID-19.
Theo cập nhật Báo cáo Chẩn đoán Quốc gia mới nhất của Ngân hàng Thế giới, để vượt qua những thách thức này và đáp ứng các mục tiêu phát triển, Việt Nam cần cải thiện đáng kể hiệu quả thực thi chính sách, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, môi trường, chuyển đổi kỹ thuật số, giảm nghèo/anh sinh xã hội và cơ sở hạ tầng.
Khung Đối tác Quốc gia (CPF) ở Việt Nam của Nhóm Ngân hàng Thế giới là tài liệu định hướng cho các hoạt động hợp tác của Nhóm Ngân hàng Thế giới tại quốc gia từ 2018 đến 2022 và tập trung vào bốn lĩnh vực ưu tiên như sau: ã Phỏt triển bao trựm và sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhõn ã Đầu tư vào con người và tri thức ã Bền vững mụi trường và năng lực ứng phú
Thúc đẩy quản trị tốt
Phát huy những hợp tác sâu rộng của Nhóm Ngân hàng Thế giới với Việt Nam, Khung Đối tác Quốc gia (CPF) vạch ra những chuyển đổi chiến lược nhằm định hướng cho hoạt động của Nhóm Ngân hàng Thế giới trong thời gian tới: ã Phỏt triển khu vực kinh tế tư nhõn và sự tham gia của kinh tế tư nhõn vào cỏc ngành kinh tế; ã Đảm bảo bền vững tài chớnh cỏc dịch vụ cụng và cỏc chớnh sỏch xó hội; ã Giảm nghốo nhúm dõn tộc thiểu số; ã Tăng cường mối liờn kết giữa giỏo dục, đào tạo và thị trường lao động; ã Thỳc đẩy và khuyến khớch sản xuất điện với mức phỏt thải cỏc-bon thấp.
Tính đến ngày 14 tháng 4 năm 2022, Ngân hàng Thế giới đã cung cấp nguồn tài chính lên tới 25,27 tỷ USD bao gồm viện trợ không hoàn lại, vốn tín dụng, và vốn vay ưu đãi cho Việt Nam thông qua 214 dự án Danh mục hiện nay của Việt
Nam gồm 31 dự án đang triển khai, với tổng mức cam kết ròng lên đến 6,72 tỷ USD Ngoài ra, Việt Nam còn nhận được một danh sách lớn và đa dạng các hoạt động hỗ trợ phân tích và tư vấn (ASA), với 28 nghiên cứu đang được triển khai hiện nay Nhiều chương trình hỗ trợ phân tích và tư vấn (ASA) đã huy động thêm được sự hỗ trợ từ các đối tác cấp quốc gia và các quỹ tín thác của các đối tác phát triển.
Kể từ khi ca lây nhiễm COVID-19 được ghi nhận tại Việt Nam vào đầu năm
2020, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã đồng hành cùng Việt Nam xây dựng chiến lược ứng phó quốc gia từ quản lý khủng hoảng y tế đến thúc đẩy phục hồi kinh tế bền vững Khoản tài trợ từ Quỹ Tài trợ Khẩn cấp Đại dịch đã giúp tăng cường năng lực xét nghiệm cho 84 phòng thí nghiệm trên toàn quốc, cắt giảm thời gian từ lúc lấy mẫu xét nghiệm đến khi công bố kết quả từ 24-48 giờ xuống còn 4-6 giờ Ngân hàng Thế giới đã đưa ra các chuyên đề tư vấn chính sách đa ngành từ chiến lược bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương khỏi tác động tiêu cực của COVID-
19 đến thúc đẩy phục hồi trên diện rộng
Việt Nam tham gia Dự án Vốn nhân lực năm 2019 với mục tiêu cải thiện dinh dưỡng, tiếp cận giáo dục chất lượng và tăng cường phát triển lực lượng lao động cho nền kinh tế đang chuyển đổi Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ Việt Nam cải cách hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp Dự án Tăng cường Khả năng Sẵn sàng Đi học giúp nâng cao tiếp cận giáo dục mẫu giáo cả ngày cho 84% trẻ em ở độ tuổi lên năm trong năm 2015, từ mức 66% trong năm 2011 Chất lượng giáo dục mẫu giáo đã được cải thiện thông qua áp dụng cách tiếp cận học tập lấy trẻ em làm trung tâm cho 250.000 giáo viên mầm non Ngân hàng cũng tư vấn chiến lược cho Việt Nam về cách thức chuẩn bị lực lượng lao động các kĩ năng cho việc làm trong tương lai.
Ngân hàng Thế giới đồng hành cùng các nỗ lực của Việt Nam đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng, với chi phí hợp lý Tại các tỉnh miền Bắc, 13,7 triệu người dân - nhiều người trong số họ đến từ các vùng sâu vùng xa - được tiếp cận tốt hơn với dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng Dự án Hỗ trợ hệ thống y tế khu vực Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng đã nâng cao năng lực điều trị cho 74 bệnh viện công lập tuyến huyện và tỉnh thông qua việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và đào tạo nâng cao tay nghề cho các y, bác sĩ, tập trung vào 5 chuyên khoa hay gặp tình trạng quá tải bao gồm tim mạch, sản / phụ khoa, nhi khoa, ung bướu và chấn thương (phẫu thuật).
Việt Nam đã có những bước tiến lớn về giảm nghèo và cải thiện chất lượng sống cho hàng triệu người Ngân hàng Thế giới đã song hành với Việt Nam trên những chặng đường cuối cùng về xóa nghèo vì còn khoảng 8 triệu người Việt Nam vẫn sống với dưới mức 3,2 USD mỗi ngày vào năm 2018 Dự án Giảm nghèo Miền núi phía Bắc Giai đoạn Hai được triển khai ở sáu tỉnh miền núi khu vực nghèo nhất của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018 là điển hình cho quan hệ hợp tác hiệu quả trên Dự án đặt mục tiêu nâng cao điều kiện sống của người dân tộc thiểu số thông qua cải thiện khả năng tiếp cận hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh, tăng cường năng lực cho chính quyền địa phương và các cộng đồng, thúc đẩy kết nối với thị trường và đổi mới sáng tạo trong kinh doanh Dự án đem lại lợi ích cho 192.000 hộ gia đình với kết quả thu nhập tăng 16%, đem lại những bài học tốt để Chính phủ điều chỉnh cách tiếp cận công tác giảm nghèo.
Trước đó, Ngân hàng đã thực hiện nghiên cứu tiên phong về vấn đề xung đột lợi ích trong bối cảnh tương tác ngày càng tăng giữa khu vực công và khu vực tư nhân.
PHÂN TÍCH CƠ BẢN VỀ NGÀNH NGÂN HÀNG
Ngân hàng là những tổ chức kinh tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và các hoạt động kinh doanh tiền tệ, thực hiện nghiệp vụ huy động, cho vay vốn và thanh toán.
Ngân hàng xuất hiện đầu tiên trong lịch sử là ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, được sự tín nhiệm của khách hàng mà trở thành trung tâm tín dụng, trung tâm tiền mặt và trung tâm thanh toán trên từng địa bàn. Ở nước ta, trong cơ chế cũ chỉ có môt ngân hàng duy nhất là ngân hàng nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ vừa trực tiếp kinh doanh tiền tệ Chuyển sang cơ chế mới- cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, hệ thống ngân hàng đươc phân thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và kinh doanh tiền tệ và ngân hàng thương mại là những doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh tiền tệ ứng dụng. b) Sự phát triển ngành ngân hàng
Trong thời gian qua, ngành ngân hàng đã có sự tăng trưởng nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô Số lượng ngân hàng tăng thêm tập trung vào 2 khối ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho thấy sức hấp dẫn của ngành Ngân hàng Việt Nam đối với các nhà đầu tư trong nước cũng như các tổ chức tài chính quốc tế.
ẢNH HƯỞNG COVID-19 ĐỐI VỚI NGÀNH NGÂN HÀNG
Trước diễn biến và mức độ tác động của dịch bệnh Covid-19, được đánh giá là nghiêm trọng, phức tạp và khó lường (Chính Phủ 2020), ảnh hưởng của Covid-19 tới hoạt động ngân hàng đã bộc lộ rõ nét.
Mức độ lây lan nhanh chóng theo cấp lũy thừa của dịch bệnh khiến cho các hoạt động tác nghiệp cũng như cơ cấu vận hành của tất cả các ngân hàng từ Hội sở đến các chi nhánh/phòng giao dịch đều bị ảnh hưởng Chỉ cần một thành viên ngân hàng bị nhiễm Covid-19 (F0), hoặc tiếp xúc chủ đích hoặc ngẫu nghiên với người thuộc nhóm F0, có thể khiến cả ngân hàng bị ảnh hưởng Khi ngân hàng có nhân viên nhiễm Covid-19 hoặc bị cách ly, công việc và hoạt động nghiệp vụ của cá nhân bị đình trệ ngay lập tức, từ đó, ảnh hưởng đến chuỗi các công việc khác của ngân hàng, ảnh hưởng đến đến tâm lý và hiệu quả làm việc của những nhân viên khác và cả hệ thống Mặc khác, khi thông tin ngân hàng có nhân viên nhiễm Covid-19 hoặc bị cách ly bị lan truyền ra bên ngoài, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của khách hàng giao dịch tại ngân hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân, họ sẽ e ngại khi phải đến tiếp xúc trực tiếp tại ngân hàng, từ đó, các hoạt động nhận gửi tiền/mở tài khoản/mở thẻ/cho vay vốn/và các dịch vụ ngân hàng khác chắc chắn bị ảnh hưởng Nguồn thu nhập của các ngân hàng không những chỉ chịu ảnh hưởng từ sự giảm sút của hoạt động tín dụng, mà nguồn thu phí cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi mọi giao dịch trong nền kinh tế bị chậm lại. Đại dịch Covid-19 bùng phát làm hàng hóa trở nên ách tắc, sản xuất kinh doanh đình trệ, hàng xuất đi không bán được hoặc nếu có đầu ra thì lại thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào do các thị trường nhập khẩu nguyên vật liệu đều dừng hoạt động Như vậy, có thể thấy, với việc nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn thì doanh nghiệp là những đối tượng sẽ gặp khó khăn đầu tiên, từ đó, ảnh hưởng đến năng lực trả nợ vay cho các ngân hàng Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và chờ giải thể tăng vọt so với cùng kỳ năm ngoái, dẫn đến khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn, và từ đó gia tăng tỷ lệ nợ quá hạn, gia tăng nợ xấu Nhiều ngành như nông, lâm nghiệp & thủy sản, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ lưu trú, ăn uống, thực phẩm, đồ uống, vận tải, dệt may, da giầy, điện tử, điện lạnh, dầu khí, du lịch, giáo dục, cùng các doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu và nguồn nguyên liệu nhập khẩu chính từ Trung Quốc… đều là những nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh Những doanh nghiệp trong các lĩnh vực này chiếm lượng khá lớn trong số các khách hàng của các ngân hàng, do đó, nguy cơ gia tăng nợ xấu là khó tránh khỏi.
THỰC TRẠNG NGÀNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
- Tại Việt Nam, chính sách thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 đã tạo điều kiện khôi phục các hoạt động kinh tế Ngành Ngân hàng, theo đó, tiếp tục giữ vị thế quan trọng cho việc chống đỡ rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn của đại dịch Covid-19.
- Ngành Ngân hàng tích cực hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong bối cảnh dịch bệnh Tháng 7/2021, NHNN và Hiệp hội Ngân hàng đã kêu gọi
16 ngân hàng thương mại (NHTM) (chiếm 75% tổng dư nợ toàn hệ thống) giảm lãi suất cho vay từ 0,5 - 1% đối với khách hàng cá nhân và 1 - 2% đối với khách hàng doanh nghiệp, tập trung vào đối tượng chịu ảnh hưởng tiêu cực do dịch Covid-19 Trong các tháng cuối năm 2021, NHNN cũng đang phối hợp xây dựng Chương trình tín dụng hỗ trợ lãi suất 2 - 3% (20 -
30 nghìn tỷ đồng) giúp doanh nghiệp vượt qua dịch Covid-19, như là một cấu phần trong Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
- Nguy cơ rủi ro lạm phát do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong nước và ngoài nước, tác động của chính sách thương mại, chính sách thắt chặt tiền tệ, sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư của một số nước lớn… Trong khi đó, kinh tế dự kiến phục hồi trong năm 2022 khiến nhu cầu tiêu dùng, đầu tư gia tăng, gây sức ép lên giá cả Điều này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu điều hành CSTT, nhất là trong điều kiện CSTT đã được nới lỏng kéo dài trong mấy năm qua.
- Dịch bệnh kéo dài trong suốt 2 năm và vẫn còn đang diễn biến phức tạp đã, đang và sẽ mang lại nhiều hệ lụy cho nền kinh tế Những khó khăn như vòng quay vốn chậm, dòng tiền đứt gãy, doanh nghiệp bị sụt giảm doanh thu, mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, gia tăng rủi ro về thu hồi nợ đến năm 2022 sẽ tác động mạnh hơn đến hoạt động ngân hàng do có độ trễ (nếu tính cả dư nợ của khách hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi theo Thông tư 01 có nguy cơ chuyển thành nợ xấu thì tỉ lệ nợ xấu sẽ tăng ở mức 7,31%).
- Việc mở rộng quy mô tín dụng và thái quá các chính sách hỗ trợ thông qua các chương trình, các gói tín dụng ưu đãi (cả về vốn và lãi suất) nếu không được nhận diện đầy đủ, kịp thời và sự hỗ trợ từ chính sách tài khóa thì sẽ ảnh hưởng đến an toàn hệ thống trong trung-dài hạn…
- Dù thị trường chứng khoán có bước phát triển nhưng việc cung ứng vốn cho nền kinh tế (đặc biệt vốn trung dài hạn) vẫn chủ yếu từ hệ thống ngân hàng, từ đó làm gia tăng rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản (huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn), kéo theo sức ép và rủi ro lên hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) Ngoài ra, việc kéo dài thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ (thực chất đã biến các khoản cho vay ngắn hạn thành trung dài hạn cũng như tạm thời không ghi nhận mức độ rủi ro thực tế của khách hàng) cũng sẽ tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống ngân hàng trong trung hạn.
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp, kéo dài làm cho năng lực tài chính của doanh nghiệp giảm sút, ảnh hưởng khả năng trả nợ đúng hạn Bên cạnh đó, việc thẩm định, giải ngân tín dụng, thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm, thủ tục xử lý nợ và việc trả nợ ngân hàng của khách hàng cũng gặp khó khăn khi thực hiện phong tỏa, giãn cách xã hội, kể cả giãn cách cục bộ.
- Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động tiền tệ - ngân hàng đã được chú trọng và hoàn thiện nhiều trong thời gian qua Tuy nhiên, nhiều quy định tại các văn bản quy phạm, kể cả luật có nhiều bất cập, chồng chéo, nhất là chưa có một hành lang pháp lý rõ ràng, đủ thẩm quyền trong việc cơ cấu lại các TCTD…
- Nguồn lực cho các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) còn bất cập với vai trò và trách nhiệm thực hiện chính sách, cũng như việc nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn điều lệ Mặt khác, vốn điều lệ các NHTMNN tăng không tương xứng với vai trò, vị thế đã hạn chế năng lực của các ngân hàng này trong việc mở rộng tín dụng, tham gia vào các dự án lớn, các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia…
Lãi suất sủa 4 ngân hàng lớn tại VN:
- Sau khi Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất điều hành và trần lãi suất huy động với các kỳ hạn dưới 6 tháng thì 4 ngân hàng lớn đã đồng loạt tăng lãi suất huy động.
+ Vietcombank với kỳ hạn 1 tháng được ngân hàng áp dụng ở mức 4.6%/năm, kỳ hạn 3 tháng áp sát mức trần cho phép là 4.9%/năm, cao hơn 1.2-1.3 điểm % so với biểu lãi suất cũ, kỳ hạn 6-9 tháng lần lượt là 5.3- 5.4%/năm Đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, áp dụng mức lãi suất lên tới 6.8%/năm, tăng 1 điểm % so với trước đó.Như vậy, lãi suất KH nhận được cao hơn từ 1-1.3% so với năm trước.
+ Vietinbank cũng điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở các kỳ hạn Lãi suất kỳ hạn 1 - 2 tháng tăng thêm 1 điểm % lên 4,1%/năm; lãi suất từ 3 đến dưới 6 tháng tăng lên 4,4%/năm Với kỳ hạn từ 12 đến trên 36 tháng, ngân hàng này nâng lãi suất thêm 0,8%/năm, lên 6,4%/năm.
+ Agribank tăng lãi suất kỳ hạn 1 - 2 tháng lên 4,1%/năm, kỳ hạn 3 - 5 tháng ở mức 4,4%/năm Các mức lãi suất này vẫn thấp hơn trần quy định (5%/năm),song đã tăng khoảng 1%/năm so với trước đó Tiền gửi không kỳ hạn cũng được nâng lên mức 0,3%/năm Tại kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, Agribank cũng nâng mạnh lãi suất lên mức 6,4%/năm, cùng tăng 0,8%/năm.
+ Tại BIDV, ngân hàng cũng đã nâng lãi suất huy động áp dụng cho các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,4%/năm - ngang với mức lãi suất tại các ngân hàng lớn trong nhóm Big 4 Ở các kỳ hạn 6 và 9 tháng, lãi suất ở mức4,7%/năm và 4,8%/năm Còn kỳ hạn 1 tháng, lãi suất ở mức 4,1%/năm, 3 tháng ở mức 4,4%/năm.
PHÂN TÍCH SWOT
+ Quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh
+ Hoạt động chuyển đổi số dần được đẩy mạnh’
+ Ưu thế về dịch vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối và dịch vụ thẻ + Tỷ lệ nợ xấu thấp
+ Quản trị nguồn nhân lực được cải tiến
+ Thị phần thẻ chưa thực sự nổi bật
+ Qui mô vốn, khả năng quản lý còn khá khiêm tốn so với yêu cầu hội nhập + Công nghệ hiện đại chưa được áp dụng đồng bộ trên toàn hệ thống + Công tác marketing về sản phẩm dịch vụ chưa thật sự hiệu quả, chưa tạo được điểm khác biệt
+ Có định hướng đúng đắn đầu tư cho hoạt động dịch vụ nhưng hiệu quả chưa cao
+ Bê bối vụ án Trầm Bê
+ Pháp luật về vay vốn ngày càng được minh bạch
+ Hội nhập làm tăng uy tín và vị thế của các NH Việt Nam trên thị trường thế giới
+ Hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam phát triển tạo cơ hội thu hút nguồn vốn mới
+ Nền kinh tế đang dần hồi phục, hứa hẹn những cơ hội cho sự tăng trưởng ổn định và vững chắc trong ngành ngân hàng tài chính
+ Sự phát triển của chuyển đổi số
+ Nguồn nhân lực số ngành ngân hàng còn nhiều hạn chế
+ Nợ xấu gia tăng, tiềm ẩn rủi ro an toàn hệ thống
+ Tỷ giá hối đoái biến động mạnh
+ Chính sách thắt chặt tiền tệ dự báo sẽ tiếp tục gây khó khăn cho ngành ngân hàng
PHÂN TÍCH CHI TIẾT
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH 2018-2021
Chỉ tiêu 2018 2019 2020 2021 So sánh 2018 với 2019 So sánh 2019 với 2020 So sánh 2020 với 2021
Số tiền Tỷ lệ(%) Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền
+ Ta thấy thu nhập năm 2018 so với 2019 tăng đáng kể, tăng 2.958.403 triệu tương đương với 25.33% Đạt được kết quả này là do phía ngân hàng đã tích cực trong việc thu hồi và xử lí nợ quá hạn phát sinh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, đem lại thu nhập cho ngân hàng Năm 2019 lãi/ lỗ thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư tăng ,lãi/lỗ ròng từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng tăng cũng khá mạnh, nhưng năm 2021 thì lại giảm so với năm 2020.Thu nhập vẫn có xu hướng tăng nhưng tăng không còn mạnh như năm 2019, cụ thể năm 2020 tăng 18% so với 2019, 2021 tăng chỉ còn 2.5% so với 2020.
+ Nguồn vốn huy động tăng lên cụ thể năm 2019 nguồn vốn huy động tăng 11.9% so với 2018, 2020 tăng 8% so với 2019 và 2021 tăng 3.83% so với 2020, làm cho chi phí của năm 2019 tăng 18.2% so với năm 2018, năm 2020 tăng 17.58% so với năm 2019. Tổng chi phí của ngân hàng tăng cao, tăng lên khá nhiều so với năm trước, tuy nhiên, năm 2021 chi phí lại có xu hướng giảm, giảm 1.144.699 tương đương 10.5% so với năm trước
+ Năm 2019 lợi nhuận sau thuế đạt được là 2.454.864 triệu, tăng 664.708 triệu tương đương 37.13% so với 2018
+ Năm 2020 lợi nhuận sau thuế đạt được là 2.681.981 triệu, tăng 227.117 triệu tương đương 9.25% so với 2019
+ Năm 2021 lợi nhuận sau thuế đạt được là 3.411.495 triệu, tăng 729.514 triệu tương đương 27.2% so với 2019
Năm 2019 lợi nhuận tăng 37.13%, tăng đáng kể so với năm 2018 điều đó cho thấy sự phát triển, hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng có hiệu quả, trong hoạt động tín dụng cũng như trong việc kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Năm 2019, chi phí tăng, thu nhập tăng, tuy nhiên thì tốc độ tăng của thu nhập cao hơn tốc độ tăng của chi phí, phần tăng lên của thu nhập đã bù đắp cho phần gia tăng về mặt chi phí, thêm vào đó thì chi phí thuế hoãn lại giảm xuống còn -29.660 triệu so với
2018 từ đó làm cho lợi nhuận ròng tăng lên so với năm trước.
Năm 2020, ta thấy tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận vẫn tăng nhưng chậm lại đáng kể so với năm 2019 Điều này là do tốc độ tăng trưởng của thu nhập và chi phí xấp xỉ nhau, cụ thể thu nhập tăng 18% còn chi phí tăng 17.58% Tuy nhiên, vào năm 2021, tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận tăng trưởng khá mạnh mẽ, tăng 27.2% so với năm
PHÂN TÍCH BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Bảng 2: Bẳng cân đối kế toán 2017-2021
Bảng 3: Tóm tắt bảng cân đối kế toán 2018-2021
-Tổng tài sản được STB công bố vào cuối năm 2021 là 521.117 tỷ đồng Con số này đã tăng 28,601 tỷ đồng so với tổng tài sản mà công ty đã báo cáo vào năm 2020 (tăng 5,8%) và đều tăng so với 2019 là 14,89% , với 2018 là 28,34%.
- Tài sản ngắn hạn cuối năm 2021 là 389,366 tỷ đồng, tăng 36,114 tỷ đồng so với năm trước đó-2020 tức tăng 10.22% Tuy tài sản ngắn hạn tăng nhưng tiền, vàng gửi và cho vay các TCTD giảm 54.6% so với năm 2020
- Tài sản dài hạn năm 2021 là 131,751 tỷ đồng, giảm 7,513 tỷ đồng so với năm
2020 Trong đó tài sản cố định của năm 2021 là 8,195 tỷ đồng và năm 2020 là 8,757 tỷ đồng, từ đó thấy được tài sản cố định năm 2021 giảm 562 tỷ đồng so với năm 2020, do tài sản cố định hữu hình giảm từ 4,764 tỷ đồng vào năm 2020 xuống còn 4,518 tỷ đồng vào năm 2021 và tài sản cố định vô hình năm 2021 giảm 152 tỷ đồng so với năm 2020. -Vốn chủ sở hữu qua các năm từ 2017-2020 tăng đều từ 1,000-2,000 tỷ đồng. Nhưng sang đến năm 2021 vốn chủ sở hữu tăng 5,3051 tỷ đồng so với năm 2020 tức tăng 18,32% so với năm 2020.
- Nợ phải trả hợp nhất đạt 486,855 tỷ đồng, tăng 23,296 tỷ đồng so với năm 2020. Trong đó nợ dài hạn chỉ chiếm 9% trong tổng số nợ của năm 2021 tăng so với năm
2020 (nợ dài hạn chiếm 5,9%), đối với năm 2019 thì nợ dài hạn là 5,2% trên tổng số nợ.
-Nợ ngắn hạn phải trả vào cuối năm 2021 là 442,615 tỷ đồng tỷ đồng, tăng 6,764 tỷ đồng so với năm 2020 và tăng nhiều so với 2019 đạt mức 38,245 tỷ đồng.
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện Tổng doanh thu và doanh thu thuần 2017-2021.
Doanh thu của STB từ năm 2017 đến 2020 đều tăng cụ thể là:
+ Năm 2017 với tổng doanh thu 25.58 nghìn tỷ đồng và doanh thu thuần hơn 1 nghìn tỷ đồng, cho tỷ suất sinh lời (Doanh thu tuần/tổng doanh thu) là 3.91%
+ Đến năm 2018 tổng doanh thu tăng 5.5 nghìn tỷ so với năm 2017 và đạt mức 31.08 nghìn tỷ, trong đó doanh thu thuần đạt 1.41 nghìn tỷ đồng với mức tỷ suất sinh lời bằng 4.53%.
+ Tổng doanh thu của năm 2019 là 37.02 nghìn tỷ đồng vs mức tỷ suất lợi nhuận 5.45% và doanh thu thuần đạt 2.02 nghìn tỷ đồng (tăng 43% doanh thu thuần của năm trước đó).
+ Năm 2020 tổng doanh thu và doanh thu thuần vẫn có xu hướng tăng nhưng chỉ tăng nhẹ so với 2019 vì ảnh hưởng bởi dịch covid-19 tuy nhiên tỷ suất sinh lời vẫn lớn hơn so với năm 2019 (Tổng doanh thu: 40.81 nghìn tỷ đồng, Doang thu thuần::2.25 nghìn tỷ đồng, Tỷ suất sinh lời: 5.52%).
+ Vào năm 2021 theo báo cáo về doanh thu, tổng daonh thu giảm so với năm 2020 và chỉ còn 37.05 nghìn tỷ đồng ~ năm 2019 Tuy nhiên doanh thu thuần của STB lại lớn nhiều so với các năm trước đó và đạt 3 nghìn tỷ đồng, tăng tỷ lệ sinh lời lên 8.01%.
Biểu đồ 2 : Biểu đồ thể hiện Tổng tài sản và Tổng nợ phải trả 2017-2021.
- Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy tổng tài sản của STB đều tăng từ 2017 đến 2021 cụ thể là năm 2017 có tổng tài sản 368.47 nghìn tỷ đồng, các năm tiếp theo cũng tăng lần lượt 2018- 406.04 nghìn tỷ, 2019- 453.58 nghìn tỷ, 2020- 492.51 nghìn tỷ và năm
2021 tổng tài sản được công bố trên báo cáo tài chính là 521.11 nghìn tỷ đồng Nguyên nhân tăng chủ yếu là do tài sản sản ngắn hạn của STB qua từng năm đều được gia tăng.
- Tổng nợ của của năm 2021 cao nhất so với 5 năm trở lại đây với con số 486,855 tỷ đồng, nguyên nhân là do tiền gửi và vay TCTD khác tăng từ 7,880 tỷ đồng lên 15,299 tỷ đồng, các khoản phải trả và công nợ khác tăng từ 9,241 tỷ đồng lên 16,314 tỷ đồng so với năm trước đó.
- Tuy tổng nợ của năm 2021 lớn nhất so với các năm nhưng do tổng tài sản của STB vào năm 2021 tăng nên đã làm giảm tỷ lệ nợ phải trả xuống còn 93.42% thấp hơn so với 2020- 94.12%.
Biểu đồ 3: Biểu đồ về dòng tiền của STb 2017-2021.
- Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có tăng qua các năm và cao nhất vào năm 2021 với con số 18.02 nghìn tỷ cao hơn các năm 2017-2020.
- Dòng tiền về tài chính tuy có giảm từ năm 2020-2021 nhưng vẫn là dòng tiền có lưu lượng lớn nhất (2021- 19.19 nghìn tỷ).
PHÂN TÍCH CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH
3.4.1 CHỈ TIÊU VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI.
3.4.1.1 CÔNG THỨC TÍNH CÁC CHỈ SỐ
ROE: Ý nghĩa: Chỉ tiêu ROE cho biết số lợi nhuận được thu về cho các chủ sở hữu doanh nghiệp sau khi họ đầu tư một đồng vốn vào sản xuất kinh doanh
ROA: Ý nghĩa: Hệ số này phản ánh: 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng LNST? Hay hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ra sao?
DAR: Tỷ số nợ trên tài sản = 100% Ý nghĩa: là một tỷ số tài chính đo lường năng lực sử dụng và quản lý nợ của doanh nghiệp.
Hệ số lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) 7.48 9.56 9.63 10.79
Hệ số lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (DAR) 93.93% 94.10% 94.12% 93.43%
Bảng chỉ số về khả năng sinh lời
Chỉ số ROE này đã phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông , chỉ số ROE của STB qua các năm đều tăng đặc biệt là tăng cao vào năm 2019 tăng 2.08% so với 2018 và 2021 tăng 1.16% so với 2020 , điều này thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư.
Chỉ số ROA tăng qua các năm điều này chứng tỏ công ty đã sử dụng khá ổn tài sản của công ty để kiếm lợi nhuận.
Chỉ số DAR trong năm 2021 đã giảm so với 2020, điều này chứng tỏ công ty đã kiểm soát phần nợ trong năm tốt.
3.4.2CHỈ TIÊU VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU
EPS: Ý nghĩa: Chỉ tiêu phản ánh: 1 cổ phần thường trong năm thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
BVPS: Ý nghĩa: Book value per share là giá trị sổ sách tính trên một cổ phiếu đang lưu hành của doanh nghiệp BVPS được dùng để so sánh thị giá của cổ phiếu trên thị trường.
P/E: Ý nghĩa: Chỉ số P/E (Price to Earning ratio) là chỉ số đánh giá mối quan hệ giữa giá thị trường của cổ phiếu (Price) với thu nhập trên một cổ phiếu (EPS) Chỉ số này thể hiện mức giá mà nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lợi nhuận thu được từ cổ phiếu Hay, nhà đầu tư sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho cổ phiếu của một doanh nghiệp dựa trên lợi nhuận (thu nhập) của doanh nghiệp đó.
Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) Nghìn đồng 781 1,129 1,248 1,630 Giá trị sổ sách trên một cổ phiếu (BVPS) Nghìn đồng 13,657 14,826 16,054 18,174 Chỉ số giá thị trường trên thu nhập (P/E) - 12.04 7.38 11.38 16.79
Bảng chỉ số chỉ tiêu về định giá cổ phiếu
Chỉ số EPS của STB cho thấy:
2018: đạt 993 đồng Có nghĩa là: để có được 1 đồng lợi nhuận từ cổ phiếu, nhà đầu tư đang phải trả cho công ty 781đồng
2019: đạt 1,129 đồng Có nghĩa là: để có được 1 đồng lợi nhuận từ cổ phiếu, nhà đầu tư đang phải trả cho công ty 1,129 đồng.
2020: đạt 1,248 đồng Có nghĩa là: để có được 1 đồng lợi nhuận từ cổ phiếu, nhà đầu tư đang phải trả cho công ty 1,248 đồng.
2021: đạt 1,630 đồng Có nghĩa là: để có được 1 đồng lợi nhuận từ cổ phiếu, nhà đầu tư đang phải trả cho công ty 1,630 đồng.
BVPS tăng qua các năm việc này khiến các nhà đầu tư xuống tiền (theo lý thuyết).
P/E ở các năm 2019-2020 có giảm so với 2018 do dịch covid bùng phát Tuy nhiên vào năm 2021 chỉ số P/E đã tăng và cao hơn so với 2018.
PHÂN TÍCH KĨ THUẬT
KHÁI NIỆM
- Phân tích kỹ thuật (Technical analysis) là phương pháp dựa vào biểu đồ, đồ thị diễn biến giá cả và khối lượng giao dịch của cổ phiếu nhằm phân tích các biến động cung – cầu đối với cổ phiếu để giúp cho nhà đầu tư quyết định thời điểm nên mua vào, bán ra hay giữ cổ phiếu trên thị trường.
- Một số công cụ để phân tích kĩ thuật: Đường kênh giá
Tín hiệu phân kỳ của các chỉ báo kĩ thuật
Hành động giá tại các điểm kháng cự/hỗ trợ
CÁC LOẠI BIỂU ĐỒ PHÂN TÍCH
- Thân nến là thành phần lớn nhất được tô màu biểu trưng cho sự tăng giảm của giá.
- Bóng nến là 2 que nhỏ nằm ở trên và dưới thân nến.
- Đỉnh mỗi bóng nến tương ứng với giá cao nhất (HIGH) và thấp nhất (LOW) trong một phiên giao dịch.
- Giá vào giờ mở cửa (OPEN), giá vào giờ đóng cửa (CLOSE) thể hiện ở 2 đỉnh của thân nến.
- Thân nến tăng (màu xanh) thì giá mở cửa nằm ở dưới, giá đóng cửa nằm ở trên (do giá tăng lên).
- Với thân nến giảm (màu đỏ) thì giá mở cửa nằm ở trên, giá đóng cửa nằm ở dưới (do giá giảm đi).
Phân tích kĩ thuật biểu đồ nến của STB từ 01/2022 đến 07/2022
Biểu đồ nến của STB từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2020
Giá cả và khối lượng của ngày giao dịch ngày 13/07/2022, nhìn vào biểu đồ nến ta thấy giá cao nhất của STB là 23.400đ/CP và giá thấp nhất là 22.600đ/CP và giá mở cửa là 22.600đ/CP, giá đóng cửa là 23.050đ/CP.
Tổng khối lượng giao dịch của STB ngày 13/07/2022 là 17,150,700 cổ phiếu với giá trị 396,008 tỷ đồng.
Nhìn vào biểu đồ có thể thấy, giá trị của cổ phiếu STB đang trong xu hướng tăng nhẹ trở lại sau khi có sự giảm mạnh từ đỉnh tháng 2 với giá trên 36.000đ/CP xuống dưới 20.000đ/CP
- Chỉ số RSI (Relative Strength Indicator) dùng để đo sức mạnh hoặc độ yếu tương đối của chứng khoán khi nó tự so sánh với chính nó trong một khoảng thời gian nhất định (thường dùng là 14 ngày).
- Đường 50 ở giữa, là một dấu hiệu nhận biết chứng khoán sắp tăng giá hay giảm giá.
- Nếu đường RSI tăng vượt qua đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng tăng giá (Bullish).
- Ngược lại, nếu đường RSI giảm xuống dưới đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng giảm giá (Bearish).
- Đường 70 phía trên được coi là ngưỡng lỗ mua (overbought Khi đó, nhà đầu tư sẽ bán
- Đường 30 ở dưới được coi là ngưỡng lỗ bán (oversold) Nhà đàu tư sẽ mua thêm để đẩy giá lên) bớt ra để trở về mức cân bằng làm cho giá giảm xuống.
PHÂN TÍCH CHỈ SỐ RSI CỦA STB
Biểu đồ phân tích RSI của STB
Từ đầu tháng 01/2022, RSI của STB đạt ngưỡng > 70 điều này thể hiện cổ phiếu STB hiện tại đang trong vùng quá mua, lúc này cố phiếu đang ở đỉnh và NĐT nên mua mã chứng khoán.
Trong thời gian từ tháng 02 - 04/2022 , RSI biến động trong tầm 40 - 65, NĐT trong thời điểm này có thể thực hiện giao dịch mua khi RSI nằm trong khoảng 45-55 và vượt ngưỡng 55 thì đây thường là xu hướng tăng điểm.
Từ giữa tháng 4 - giữa tháng 6, RSI biến động < 30, điều này có thể thấy đây được coi là vùng quá bán, tại thời điểm NĐT gom hàng vì đây là lúc mã chứng khoán này đang chạm đáy và có xu hướng tăng điểm trở lại.
Tới tháng 7, RSI có xu hướng tăng đều từ 32 lên 58, NĐT tạm thời không nên thực hiện giao dịch mua mã chứng khoán lúc này.
- MACD được viết đầy đủ là Moving Average Convergence Divergence do Gerald Appel phát triển vào cuối những năm 70 xác định chính xác giá trị mà nó tạo ra thông qua 2 yếu tố chính là hội tụ, phân kỳ.
Biểu đồ minh họa chỉ báo MACD
- Chỉ số này cũng xác định rõ mức độ mạnh – yếu và xu hướng của quá trình thay đổi giá tăng hay giảm
- MACD được xếp vào các loại chỉ báo muộn, dựa trên các dữ liệu đã xảy ra trong quá khứ để định giá
- Chỉ báo MACD có cấu tạo khá phức tạp gồm 4 phần khác nhau:
+ Đường MACD: xác định xu hướng giá của thị trường tăng hay giảm + Đường tín hiệu: Là EMA của MACD
+ Biểu đồ histogram: Thể hiện sự hội tụ và phân kỳ, đây là sự chênh lệch của MACD và đường tín hiệu
+ Đường Zero đóng vai trò là đường tham chiếu để đánh giá độ mạnh của một xu hướng
Biểu đồ cấu tạo MACD
- Công thức tính MACD: MACD = EMA 12 – EMA 26
+ EMA 12, EMA 26 là các đường trung bình động theo lũy thừa của chu kỳ 12 ngày và 16 ngày.
+ Đường tín hiệu của MACD = Đường EMA(9)
+ Histogram = MACD – đường tín hiệu
Biểu đồ các đường tín hiệu MACD
- Khi MACD giao với đường tín hiệu:
+ Theo hướng từ dưới lên sẽ có ý nghĩa cảnh báo giá sẽ theo xu hướng tăng, các nhà đầu tư thực hiện mua vào
+ Theo hướng từ trên xuống dự báo giá sẽ theo xu hướng giảm, các nhà đầu tư có thể vào lệnh bán
- Xác định diễn biến giá nhờ tính phân kỳ/hội tụ của MACD
+ Nếu giá theo xu hướng lên nhưng MACD lại hướng xuống, đây dự báo tín hiệu đảo chiều từ tăng sang giảm nên các nhà đầu tư có thể vào lệnh bán.
+ Nếu giá theo xu hướng xuống nhưng MACD lại hướng lên, đây dự báo tín hiệu đảo chiều từ giảm sang tăng nên các nhà đầu tư có thể vào lệnh mua.
Biểu đồ thể hiện chỉ số MACD của STB
Phân tích chỉ số MACD của STB
Vào giữa tháng 1, đường MACD cắt EMA9 theo chiều đi xuống và báo hiệu sự đi xuống giá của cổ phiếu STB ở những phiên tiếp đó, cổ phiếu STB thời gian này được bán ra liên tục và chỉ còn 30.900 đồng/CP.
Trong khoảng thời gian đầu tháng 3 - đầu tháng 4, MACD cắt EMA9 từ dưới lên, 2 đường này có khoảng cách khá lớn và có chiều hướng đi lên dự báo sự tăng giá của CP STB và NĐT có thể ra quyết định mua tại thời điểm này. Đầu tháng 4 đến giữa tháng 5, đây là những phiên giảm rất mạnh của STB và có thời điểm STB chạm đáy với mức giá 18.700đ vào ngày 17/05/2022.
Từ giữa tháng 5 đến tháng 7, MACD liên tục đi lên trên đường EMA9 cho thấy sự phục hồi từ đáy của cổ phiếu STB.
BÁO VÀ KHUYẾN NGHỊ
Theo báo cáo tài chính bán niên thì chỉ trong 6 tháng đầu năm 2022 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có lợi nhuận sau thuế là 2,078 tỷ đồng, tăng 164,1 tỷ đồng so với cùng kì năm ngoái Cụ thể :
+ Thu nhập từ lãi thuần giảm 814.9 tỷ đồng so cùng kì.
+ Thu nhập từ hoạt động khác tăng 3,177.8 tỷ đồng so với cùng kì
+Chi cho các hoạt động tăng2,198.8 tỷ đồng.
Giá cổ phiếu Sacombank ngày hôm nay là 16.440 đồng (cập nhật ngày 28/10/2022) Khối lượng cổ phiếu Sacombank hôm nay đang được niêm yết và lưu hành là 1,885,215,716 Ngoài ra, vốn hóa thị trường của ngân hàng Sacombank đang giữ ở mức 47,884.48 tỷ đồng Tính đến thời điểm hiện tại, các chỉ số tài chính của cổ phiếu Sacombank đang ở mức khá tốt.
Sacombank có rất nhiều điểm sáng phải nói đến đó là tốc độ xử lý nợ xấu có dấu hiệu tích cực Chỉ trong năm 2021, Sacombank đã thu hồi và xử lý nợ xấu, tài sản tồn đọng lên đến 14,087 tỷ đồng, vượt 7.9% so với tiến độ Cũng chính vì điều này đã làm cho giá cổ phiếu ngân hàng Sacombank có dấu hiệu khởi sắc rõ rệt trên thị trường.
Dự đoán vào cuối năm 2022 doanh thu của STB đạt 22.85 nghìn tỷ đồng và tăng tiếp trong các năm 2023 với ước tính 26.71 nghìn tỷ đồng và năm 2024 là 32.04 tỷ đồng (theo: tradingview)
Kết luận: Nên đầu tư vào cổ phiếu STB và giữ trong 1-2 năm.
1, https://finance.vietstock.vn/STB/tai-chinh.htm
2, https://vn.tradingview.com/symbols/HOSE-STB/financials-overview
3, https://www.ssi.com.vn/
DANH SÁCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN