Tội phạm học so sánh vhọc nghiên cứu sự khác biệt của tội phạm hiện thực, nguyên nghĩa là một lĩnh vực khoa nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm trong các hệ thống xã hội khác nhau ho
Trang 1TOI PHAM HỌC SO SANH LY LUẬN VÀ THỰC TIEN
Trang 2SO SANH
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN
Trang 41295-2015/CXBIPHI01-133/TP
Trang 5Chủ biên: PGS.TS LÊ THỊ SƠN
Tập thé tác gia:
PGS.TS LÊ THỊ SƠN Chương I, II, V, VI
TS HOÀNG XUÂN CHÂU Chương II
PGS.TS DƯƠNG TUYET MIEN Chương IV
Trang 6Tội phạm học so sánh v
học nghiên cứu sự khác biệt của tội phạm hiện thực, nguyên
nghĩa là một lĩnh vực khoa
nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm trong các hệ thống
xã hội khác nhau hoặc trong những liên kết khác nhau của các
hệ thống xã hội (các khu vực thé giới) đã được hình thành vàbắt đầu phát triển từ những năm 60 và 70 của thé kỷ XX Sự
phát triển của tội phạm học so sánh xuất phát từ nhu cầu; bắt
nguồn từ quá trình toàn cầu hóa, thống nhất châu Âu và từ sự
gia tăng các tội phạm có tính chất xuyên quốc gia trên thế
giới, như tội khủng bó, tội rửa tiền, tội phạm ma túy, tội buônngười Nhưng cũng chính sự phát triển của tội phạm học sosánh với các kết quả nghiên cứu đã trở lại phục vụ, góp phần
thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, thống nhất châu Âu và hợp tác quốc tế trong phòng ngừa các tội phạm có tính chất xuyên
quốc gia Các kết quả nghiên cứu của tội phạm học so sánh
học hỏi kinh
nghiệm của nước ngoài liên quan đến kiểm soát tội phạm và
phòng ngừa tội phạm để có thể thực hiện cải cách chính sách
cần thiết và tránh được những sai lầm cho chính nước mình Như vậy, đối với mỗi quốc gia, sự phát triển tội phạm học so sánh không chỉ xuất phát từ lợi ích phòng ngừa tội phạm trên
còn mang lại lợi ích cho các nước trong vi
Trang 7Tội phạm học so sánh - Lý luận và thực tiễn
lãnh thổ quốc gia mình mà còn xuất phát từ lợi ích hội nhập
khu vực và quốc tế trong phòng ngừa tội phạm nhằm giữ gìn
an ninh chung trên thế giới.
Tội phạm học so sánh ngày nay dựa trên cơ sở những kếtquả nghiên cứu của các tổ chức quốc gia, quốc tế và các nhà
tội phạm học trên thế giới, thể hiện ở các ấn phẩm sách, giáo trình, tài liệu hội thảo, hội nghị về tội phạm học và tội
phạm học so sánh.
Điều đặc biệt là hiện nay rất nhiều td chức quốc tế không
chỉ thực hiện hay tham gia thực hiện nghiên cứu so sánh vẻ tội
phạm, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm mà
còn cung cấp các dữ liệu thực tiễn cho việc nghiên cứu so sánh và khai thác hiệu quả các kết quả nghiên cứu, phục vụ
cho mục đích hoạt động của tổ chức, góp phản thúc đây hợp tác quốc tế trong phòng ngừa tội phạm và giữ gìn an ninh
quốc tế trên thế giới.
Trong khi đó ở Việt Nam, hầu như chưa khi nào khái niệm tội phạm học so sánh được xuất hiện với ý nghĩa là một
lĩnh vực khoa học nghiên cứu so sánh về tội phạm, nguyênnhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm trong các lãnh thổ quốc
gia và khu vực thế giới khác nhau; chưa có một cơ sở đào tạo
nào đưa nội dung của tội phạm học so sánh vào chương trình
đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học Để đáp ứng được đòihỏi về hội nhập khu vực và thế giới trong phòng ngừa tội phạm,
Trang 8phạm học cũng như khai thác có h
các kết quả nghiên cứu của quốc tế phục vụ cho phòng ngừa tộiphạm và hợp tác quố
dich như vậy, cuốn sách “Tội phạm học so sánh - Lý luận và
ệu quả các kết quả này và
> tế trong phòng ngừa tội phạm Với mục
thực tién” đã được nhóm tác giả biên soạn
Hy vọng cuốn sách sẽ đáp ứng được nhu cầu tim hiểu
¡ phạm học so sánh, làm cơ
những vấn đề lý luận cơ bản của tệ
sở và định hướng cho những nghiên cứu tội phạm học so sánh
phục vụ cho phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam cũng như hợp.
tác quốc tế trong phòng ngừa tội phạm; đồng thời qua đó cũng chuẩn bị điều kiện cho việc đào tạo những chuyên gia có khả
năng làm việc trong lĩnh vực tội phạm học so sánh.
‘Tran trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 4 năm 2015
NHÀ XUAT BAN TƯ PHÁP
Trang 9Chương I
KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TỘI PHẠM HỌC SO SÁNH
1 Khái niệm tội phạm học so sánh
Khái niệm tội phạm học so sánh đã được đề cập trong
nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới.
Trong đó, các tác giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau vềtội phạm học so sánh Diéu này đã phần nào phản ánh cácquan niệm khác nhau về tội phạm học so sánh do thực trangphát triển của lĩnh vực này ở các thời điểm khác nhau
Trước tiên, phải kể đến quan niệm truyền thống về tội phạm học so sánh Trong hau hết các công trình nghiên cứu
dau tiên vẻ tội phạm học so sánh những năm 60 của thé kỷ XX!đều thể hiện quan chung về tội phạm học so sánh với
những nội dung như: “Tên gọi tội phạm học so sánh được dùng
dé mô tả sự nghiên cứa vượt qua những biên giới quốc gia màphân tích: những sự khác biệt trong hoạt động đội phạm”?; ;hoặc
cho rằng tội phạm học so sánh “về cơ bản thể
hiện một cách kỹ lưỡng việc mô tả, thông tin và so sánh với
Glueck, Wanted: A comparative criminology, 1964 và Hermann Mannheim, Comparative criminology: A text book, 1965.
? Mavin D Krobn, Alan J Lizotto, Gina Penly Hall, Handbook on crime and
deviance, Sipringer, 2009, tr 4.
Trang 10nhau kết quả thực nghiệm về tội phạm và hình phạt của nước ngoài"” Một định nghĩa khác về tội phạm học so sánh được
đưa ra vào những năm 80 cũng có quan niệm tương tự: “Tối phạm học so sánh là sự nghiên cứu những hiện tượng xã hội
của tội phạm ngang qua các nên văn hoá dé phân biệt những
sự khác nhau và giống nhau trong các loại tôi phamTM
Các định nghĩa nêu trên có thể được coi là quan niệmban đầu về tội phạm học so sánh, trong đó chủ yếu là mô tảphương pháp và phạm vi nghiên cứu so sánh liên quan đến
tội phạm của tội phạm học so sánh Đó là nghiên cứu so
sánh kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tội phạm của các
quốc gia khác nhau Đây cũng là đặc điểm cốt lõi của tội
phạm học so sánh theo quan niệm truyền thống, nghiên cứucác hiện tượng liên quan đến tội phạm không bó hẹp trongmột quốc gia, một nền văn hoá mà trong nhiều quốc gia,nhiều nền văn hoá khác nhau để rút ra sự khác biệt và tương
đồng về tội phạm giữa các quốc gia cũng như các nền văn
hoá Cũng vì vậy có học giả còn gọi tội phạm học so sánh là
“Tội phạm học ngang - quốc gia” hay tội phạm học vượt
qua biên giới quốc gia
Sau này, do chịu sự tác động và thúc đây mạnh mẽ của
` Gũnther Keiser, Kriminologie: Ein Lehrbuch, C.F Miller Verlag, 1996, tr 156.
* Barak-Glantz, LL., E.H Johson, Comparative Criminology, 1983.
* Mavin D, Krohn, Alan J Lizotto, Gina Penly Hall, sdd, tr 4; Trong tiếng Anh
là “Cross - national criminology”.
Trang 11i niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của.
quá trình toàn cầu hoá, của sự phát triển khoa học côngnghệ và thông tin, sự thống nhất châu Âu và sự gia tăng tội
phạm có tính chất xuyên quốc gia, tội phạm học so sánh dã
phát triển và có diện mạo mới Tiêu biểu cho quan niệm vềtội phạm học so sánh của thế kỷ XXI có thể kể đến là quan
niệm của giáo sư Hans Joachim Schneider - nhà tội phạm
học néi tiếng thé giới va tác giả của rất nhiều công trình về
tội phạm học nói chung và tội phạm học so sánh nói riêng
: khoa học nghiên cứu sự khác biệt của tội phạm, nguyên nhân của tội
phạm và kiểm soát tội phạm trong các hệ thống xã hộikhác nhau hoặc trong các liên kết khác nhau của các hệthống xã hội Ngoài ra, nó còn mô tả và xác định nguyên
nhân của tội phạm vượt qua biên giới - vi phạm luật hình sự
của nhiều quốc gia hoặc gây ra thiệt hại trong nhiều quốc
gia hơn quốc gia mà tội phạm được thực hiện Cũng thuộc
Theo ông, "Tội phạm học so sánh là một lĩnh vụ
về tội phạm học so sánh là sự nhìn nhận tổng quát về họcthuyết tội phạm học, lịch sử của nó và các thành tựu hiệntại trong nghiên cứu lý thuyết về tội phạm học ở các
nước"Š Quan niệm này khái quát được đầy đủ và toàn diện
các đổi tượng nghiên cứu, đồng thời phản ánh được những
nội dung và diểm cơ bản của tội phạm học so sánh
* Hans Joachim Schneider, Kriminologie fir das 21 Jahrhundert: Schwerpunkie
und Fortschritte der internationalen Kriminologie; Uberblick und Diskussion,
Lit Verlag, Minster 20011, tr 262.
Trang 12trong thế kỷ XXI Theo đó, đối tượng nghiên cứu so sánhcủa tội phạm học so sánh cũng là đối tượng nghiên cứu của
tội phạm học nói chung Đó là tội phạm hiện thực, nguyên
nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm.
Tuy nhiên, điểm đặc biệt của tội phạm học so sánh thểhiện ở phạm vi nghiên cứu so sánh có tính quốc tế Tội phạm
học so sánh nghiên cứu các đối tượng nghiên cứu của tội phạm học không giới hạn trong một xã hội, một quốc gia mà
nghiên cứu so sánh các đối tượng này giữa các xã hội, các
quốc gia hoặc giữa các nhóm xã hội, nhóm quốc gia thuộc các
khu vực khác nhau trên thé giới Việc nghiên cứu so sánh cáckết quả nghiên cứu thực nghiệm vé tội phạm, về nguyên nhân
của tội phạm và về kiểm soát tội phạm của các xã hội, các
quốc gia khác nhau được gắn kết với việc nghiên cứu, phântích bối cảnh lịch sử, văn hoá, chính trị và kinh tế của các xã
hội, các quốc gia thuộc phạm vi so sánh Việc mô tả nhóm đối
tượng nghiên cứu này trong định nghĩa nêu trên đã phản ánh
đặc điểm thứ nhất của tội phạm học so sánh là tội phạm họcthực nghiệm nhưng mang tính quốc tế Do vậy, tội phạm học
so sánh cũng được gọi là tội phạm học so sánh quốc tế Dayđược coi là đặc điểm cơ bản của tội phạm học so sánh Cũng
chính giáo sư Hans Joachim Schneider sau này đã đưa ra định
nghĩa cho tội phạm học so sánh quốc tế như sau: “7i phạm
học so sánh quốc tế là khoa học xã hội nghiên cứu một cách
hệ thống hiện tượng tội phạm là những hiện tượng hiện thực,
Trang 13Chương J Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu c
những nguyên nhân của chúng và sự kiểm soát chúng tronghợp tác quốc tế và với hiệu quả quốc tế”
Nhóm đối tượng nghiên cứu thứ hai của tội phạm học
so sánh được nêu trong định nghĩa trên là tội phạm xuyên
quốc gia và nguyên nhân của tội phạm xuyên quốc gia
Chính nhóm đối tượng nghiên cứu này quy định đặc điểm tiếp theo của tội phạm học so sánh là tính xuyên quốc gia và
do đó đã có nhiều học giả gọi tội phạm học so sánh là tội
phạm học so sánh xuyên quốc gia hoặc tội phạm học xuyênquốc gia và so sánhỄ,
Tội phạm học so sánh không chỉ là tội phạm học so sánh thực nghiệm như đã nêu mà còn là tội phạm học so sánh lý
thuyết Đặc điểm này được rút ra từ nhóm đối tượng nghiêncứu so sánh thứ ba được nêu trong định nghĩa trên vẻ tội phạm
học so sánh Đó là các học thuyết tội phạm học và thành tựutrong nghiên cứu lý thuyết về tội phạm học của các xã hội, cácquốc gia hoặc các khu vực khác nhau trên thế giới Như vậy,tội phạm học so sánh không chỉ nghiên cứu so sánh các kết quả
nghiên cứu thực nghiệm tội phạm học mà còn nghiên cứu so
” Hans Joachim Schneider, Die gegenwiirtige Situation der internationalen Kriminologie - ihre Fortschritte im ersten Jahrzehnt des 21 Jahrhunderts, Juristische Rundschau Heft 1/2010, tr 8.
` Ví dụ: “Ti phạm học so sánh và xuyên quốc gia” được đặt cho tên của một
cuốn sách Xem: James Sheptycki and Ali Wardak, Transnational and
Comparative Criminology Glasshouse Press, 2005
° Hans Joachim Schneider, Internationales Handbuch der Kriminologie, Band 1
Grundlagen der Kriminologie, De Gruyter Recht, Berlin, 2007, tr 255.
Trang 14sánh các vấn đề lý thuyết của tội phạm học trong các xã hội,
các quốc gia hoặc trong các khu vực khác nhau trên thé giới.
Tóm lại, tội phạm học so sánh có thể được gọi bằng
nhiều tên khác nhau, phản ánh các đặc điểm khác nhau của tội
phạm học so sánh Đó là tội phạm học so sánh thực nghiệm, phạm học so sánh quốc tế, tội phạm học so sánh xuyên
quốc gia và tội phạm học so sánh lý thuyết
Nền tảng của tội phạm học so sánh ngày nay trước hết làcác công trình nghiên cứu về các nhóm đối tượng nghiên cứu
của tội phạm học so sánh đã được nêu trên Bên cạnh đó, tội
phạm học so sánh còn dựa vào các tổ chức quố:
i phạm học so sánh' Sự tồn tại của các tổ chức quốc tếnày có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng cũng như chấtlượng nghiên cứu của tội phạm học so sánh Sự tiếp tục gia
tăng và phát triển của các tổ chức quốc tế nghiên cứu về tội
phạm học so sánh đã tạo điều kiện cho sự phát triển của tộiphạm học so sánh Hiện nay, có nhiều tổ chức quốc tế không,chỉ thực hiện hay tham gia thực hiện nghiên cứu so sánh về tộiphạm, về nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm màcòn cung cấp dữ liệu thực tiễn cho việc nghiên cứu so sánh vàkhai thác hiệu quả các kết quả nghiên cứu phục vụ cho mục
đích hoạt động của tổ chức, góp phan thúc đây hợp tác quốc tế
trong phòng ngừa tội phạm Đó chủ yếu là các tổ chức của
Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu như Trung tâm qué
'9 Xem: Gũnther Keiser, sdd, tr.164.
Trang 15Chương I Khái niệm, nhiệm vụ va phương pháp nghiên eau của
về phòng ngừa tội phạm đóng tại Montréal - Canada
(International Centre for the Prevention of Crime - ICPC);
Trung tâm về phòng ngừa tội phạm quốc tế của Liên hợp quốc
có trụ sở tại Viên - Áo (UN - Centre for International CrimePrevention - CICP); Viện nghiên cứu quốc tế về tội phạm và
tư pháp của Liên hợp quốc đóng tại Turin - Ý (United Nations
Interregional Crime and Justice Research Institute - UNICRI);
các viện về phòng ngừa tội phạm của Liên hợp quốc ở tất cả
các châu lục, trong đó có những hoạt động đặc biệt tích cực là:
Viện châu Âu về phòng ngừa và kiểm soát tội phạm, liên kếtvới Liên hợp quốc, có trụ sở tại Helsinki - Phần Lan (The
European Institute for Crime Prevention and Control,
affiliated with the United Nations - HEUNI); Viện Viễn đông
và châu A của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm va xử
lý người phạm tội có trụ sở tại Tokyo - Nhật Bản (The United Nations Asia and Far t Institute for the Prevention of
Crime and the Treatment of Offenders - UNAFED.
2 Cơ cấu xã hội và kiểm soát xã hội - Hai khái niệm
trung tâm trong tội phạm học so sánh
Để nhận thức đúng và đầy đủ về khái niệm tội phạm
học so sánh cũng như các vấn để cơ bản khác của tội phạm
học so sánh như nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu hay nội
dung và kết quả nghiên cứu của tội phạm học so sánh, cầnthiết phải làm rõ các khái niệm về cơ cấu xã hội và kiểm
soát xã hội cũng như vị trí của các khái niệm này trong tội
phạm học so sánh Trong tội phạm học so sánh, việc nghiên
Trang 16cứu so sánh các đối tượng nghiên cứu của tội phạm học luôn phải gắn kết với việc nghiên cứu cơ cấu xã hội và kiểm
soát xã hội của một hoặc nhiều quốc gia Những khác biệt
được xác định từ sự nghiên cứu so sánh và nguyên nhân của
sự khác biệt đều phải được tìm hiểu, lý giải từ cơ cầu xã hội
của các quốc gia Mối liên hệ của tội phạm hiện thực với
kiểm soát xã hội và cơ cấu xã hội đã được các nhà tội phạmhọc so sánh thừa nhận khi cho rằng loại và mức độ của tộiphạm hiện thực cũng như hiệu quả của kiểm soát xã hội phụthuộc vào cơ cấu xã hội của quốc gia Vì vậy, có học giả đãcho rằng, cơ cấu xã hội và kiểm soát xã hội là đối tượng
nghiên cứu và là hai khái niệm trung tâm của tội phạm học
so sánh”,
Co cấu xã hội là mạng lưới tổng thé các thiết chế xãhội bao gồm gia đình, dòng họ, tôn giáo, kinh tế, chính trị,giáo dục, văn hoá cũng như hệ thống các chuẩn mực giá trị
và các yếu tố xã hội, bao gồm địa vi, vai trò của con người
trong xã hội”, Hoặc cũng có thé coi cơ cấu xã hội là mối liên hệ vững chắc của các thành tố trong hệ thống xã hội,
bao gồm các cộng đồng xã hội như dân tộc, giai cấp, nhóm
nghề nghiệp mà mỗi cộng đồng xã hội lại có cơ cấu của
'! Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fir das 21 Jahrhundert:
‘Schwerpunkte und Forischritte der intemationalen Kriminologie, sdd, tr 267,
'? Xem: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại hoc quốc gia Hà Nội, Xã hội hoc, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2007, tr 205; Xem: Hans
Joachim Schneider, Kriminologie fr das 21 Jahrhundert: Schuoerpunlue und Forischritte der internationalen Kriminologie, sd, tr 267
Trang 17Chương 1 Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của.
các tầng lớp bên trong và mối liên hệ giữa chúng” Căn cứvào quan hệ xã hội thể hiện từng mặt của cơ cấu xã hội tổng,
thể có thể phân chia thành các loại cơ cấu xã hội khác nhau
và được xem như những lát cắt đa dạng của cơ cấu xã hội tổng thể Có thể kể một số loại cơ cấu cơ bản như dân số,
giai cấp, kinh tế, chính trị, n hoá được coi là
mặt chủ quan của cơ cấu xã hội tổng thể, bao gồm nhữnggiá trị, chuẩn mực, thói quen hành vi có vai trò điều chỉnh
hành vi của con người nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã
hội '' Thuộc mỗi co cấu xã hội tổng thể có một nền văn hoá
riêng Các nhóm, cộng đồng xã hội trong mỗi xã hội đều
xây dựng các giá trị, chuẩn mực đặc trưng riêng và cũng có
thể coi đó là nền văn hoá riêng của nhóm hay cộng đồng xã
văn hoá”,
hội mà theo đặc điểm của nó có thể gọi là “t
“phan văn hoa” hay “văn hoá nhóm”,
Khi nghiên cứu so sánh tội phạm học có thể xem xét tácđộng của loại cơ cấu xã hội nào đó với tội phạm hiện thực như
xác định tác g của cơ cầu kinh tế có làm tăng hay giảm chi
số tội phạm hay không? Thực tiễn nghiên cứu so sánh tộiphạm học đã chỉ ra rằng, cơ cầu kinh tế có tác động nhất định
!* Xem: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà
Nội, sd, tr 205
'* Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fiir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie sdd, tr 267
'* Xem: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, sda tr 245
TRUNG TÂM THONG TIN THỰ VIỆN
Trang 18mà không phải là chủ yếu đối với việc làm tăng hay giảm chỉ
số tội phạm Có quốc gia kinh tế kém phát triển lại có chỉ sốtội phạm thấp như An Độ, trong khi đó có quốc gia giàu thuộcnhà nước phúc lợi lại có chỉ số tội phạm tương đối cao nhưThụy Điển!Š,
Trong nghiên cứu so sánh tội phạm học, việc nghiên cứu
tác động của cơ cầu văn hoá đối với tội phạm, đối với việc trởthành nạn nhân của tội phạm cũng như đối với việc kiểm soát
tội phạm cũng được quan tâm Trong đó,
hội” và sự hình thành “tiểu văn hoá tội phạm” được xem lànhững căn cứ cơ bản làm phát sinh tội phạm, ảnh hưởng đến
việc trở thành nạn nhân của tội phạm cũng như đến sự yếu
sự “vô tổ chức xã
kém của kiểm soát tội phạm”
Khái niệm kiểm soát xã hội theo nghĩa chung là chỉ khảnăng của một xã hội tự điều chỉnh theo các nguyên tắc, giá trị mong muốn và thiết lập trật tự xã hội Nó biểu thị cho các
công cụ, tổ chức và quá trình mà nhờ chúng, những mâuthuẫn, căng thẳng và xung đột được khắc phục và đạt được
sự khuôn chuẩn của hành vi'Š, Kiểm soát xã hội cũng có thé
được diễn đạt một cách khái quát là cơ chế điều chỉnh hành
‘© Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fiir das 2l Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie, sđd, tr 267
'” Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fiir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie sđd, tr 267
'* Xem: Bemd-Dieter Meier, Kriminologie Verlag C.H.Beck, Mũnchen 2003, tr 223.
Trang 19Chương I Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của
vi con người theo các chuẩn mực đã được xã hội xác lập để
thiết lập và duy trì trật tự xã hội Phương tiện điều chỉnh
hành vi con người của kiểm soát xã hội là các biện pháp
kiểm soát chủ động và kiểm soát phản ứng Kiểm soát chủ
động được thực hiện ngay trong quá trình xã hội hoá của
từng cá nhân thông qua các biện pháp tác động đến việc tiếp nhận hoặc “nhập nội” các chuân mực xã hội để góp phan
hình thành sự kiểm soát bên trong của từng cá nhân Trong
khi những biện pháp kiểm soát chủ động tìm cách loại trừ cótính phòng ngừa hành vi lệch chuẩn bằng cách chuẩn bị các
điều kiện cho hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội thì kiểm.
soát phản ứng có tác động điều chỉnh hành vi thông qua sựphản ứng tích cực hoặc tiêu cực đối với hành vi nhất định.Kiểm soát phản ứng được thực hiện hoặc bằng các biện pháp.phản ứng tích cực đối với hành vi phù hợp với chuẩn mực xãhội, tác động khuyến khích loại hành vi này (như phong tặngdanh hiệu hay khuyến khích vật chất ) hoặc bằng các phảnứng tiêu cực đối với hành vi lệch chuẩn Phản ứng tiêu cực
đối với hành vi lệch chuẩn có thé là phản ứng chính thức
thông qua hoạt động của cơ quan, tổ chức có chức năng thực
hiện các chế tài tiêu cực đối với hành vi sai lệch chuẩn mực
có tính chất chính thức là pháp luật; hoặc là phản ứng không
chính thức đối với các sai lệch chuẩn mực xã hội khác như
Đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc phân biệt giữa hai loại
sự phản ứng của gia đình, hàng xóm, đồng nghỉ
Trang 20kiểm soát xã hội tơ bản là kiểm soát chính thức và kiểm soát
không chính thức
Tội phạm học so sánh đặc biệt quan tâm đến sự phân biệt
giữa kiểm soát chính thức và kiểm soát không chính thức Hiệnthân của kiểm soát chính thức là kiểm soát tội phạm khi chorằng thuộc về kiểm soát chính thức là quy định của pháp luậthình sự, sự thể hiện rõ ràng những chuẩn mực hành vi, các chếtài được quy định trong luật hình sự để củng cô các chuẩn mựchành vi này và là quyết định của các cơ quan kiểm soát chính
thức - các cơ quan ban hành, giải thích và áp dụng những chuẩn
mực hành vi được thé hiện trong luật hình sy"?
phạm là hệ thống tổng thể các công cụ, cơ quan, tổ chức và quá
trình mà với hệ thống này việc phản ứng xã hội đối với tộiphạm được thực hiện”, Kiểm soát tội phạm được thực hiện
thông qua việc quy định những hành vi vi phạm pháp luật là tội
phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định và thi hành chế
tài hình sự đối với hành vi phạm tội Khác với kiểm soát chínhthức, kiểm soát không chính thức được thể hiện chủ yếu ở hệthống các phản ứng của xã hội, nhóm xã hội và thành viên củachúng nhằm khuôn hành vi theo chuẩn mực chung được xã hộixác lập Như vậy, chủ thể thực hiện kiểm soát chính thức là các
cơ quan kiểm soát chính thức nhằm khuôn hành vi theo các
'® Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fiir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie, sd, tr 268.
*! Xem: Bemd-Dieter Meier, Kriminologie, sdd, tr 267.
Trang 21Chương I Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của
chuẩn mục được quy định chính thức; chủ thể thực hiện kiểm
soát không chính thức 1a xã hội, qua du luận xã hội, các nhóm
xã hội như gia đình, hàng xóm, nhóm bạn bè hoặc thành viên
của các nhóm này qua khuyên bảo, nhạo báng, phê bình, thuyết
phục nhằm khuôn chuân hành vi theo chuẩn mực chung của
xã hội Kiểm soát không chính thức cũng thể hiện ở hai hình
thức là kiểm soát bên ngoài và kiểm soát bên trong (hay còn gọi là tự kiểm soát) Hệ thống các phản ứng xã hội nêu trên đối
với hành vi lệch chuẩn xã hội của kiểm soát không chính thứcchính là những biểu hiện của hình thức kiểm soát bên ngoài
Hình thức kiểm soát bên trong được hình thành trên cơ sở
” chuẩn mực xã hội trong quá trình xã hội hoá của
thành viên xã hội
Trong tội phạm học so sánh, mối quan hệ giữa kiểm soát
chính thức và kiểm soát không chính thức được đặc biệt quan
tâm Nghiên cứu so sánh kiểm soát chính thức luôn được gắn
kết với việc nghiên cứu so sánh kiểm soát không chính thức.Nguyên nhân của kiểm soát chính thức yếu kém có thé tìm
thấy trong kiểm soát không chính thức Kiểm soát chính thức.
muốn hiệu quả thì phải liên kết với kiểm soát không chính
thức Vì vậy, đã có học giả cho rằng: “Không có kiểm soát
không chính thức mạnh thì kiểm soát chính thức có thể làmcho hệ thông tư pháp hình sự hoạt động không hiệu qua’
** Hans Joachim Schneider, Kriminologie fiir das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte
und Forischriute der internationalen Kriminologie, sad tr 268:
Trang 223 Mục đích và nhiệm vụ của tội phạm học so sánh
Để hiểu rõ nhiệm vụ của tội phạm học so sánh, trước
tiên cần có nhận thức đúng về mục dich của tội phạm học sosánh Các công trình nghiên cứu về tội phạm học so sánh décập đến vấn dé này còn khá ít Nhiều công trình không đểcập trực tiếp mục đích của tội phạm học so sánh mà chỉ xácđịnh cụ thé mục tiêu của nghiên cứu so sánh trong tội phạm
học Đó là: Mở rộng sự ứng dụng các học thuyết của tội
phạm học vượt qua biên giới của văn hoá và của quốc
gia; đánh giá về hoạt động của hệ thống tư pháp quốc gia;đánh giá về chính sách hình sự của quốc gia; hợp tác dautranh chống tội phạm xuyên quốc gia ” Bên cạnh đó cũng
có công trình dé cập rat rõ ràng và khái quát về mục đíchcủa tội phạm học so sánh và khăng định việc nghiên cứu so
sánh các nhóm đối tượng nghiên cứu nêu trên không ngoài
việc đạt được mục đích hiện tượng hoc và mục đích giải
thích nguyên nhân””, Mục đích hiện tượng học của tội phạm
học so sánh thể hiện ở việc xác định được sự khác nhau về
tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soáttội phạm trong các cơ cầu xã hội khác nhau”, Việc xác định
? Xem: Gregory J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory, Method, and Data in Comparative Criminology, in Criminal Justice
Volume 4, 2000, tr 145 - 147,
?* Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fiir das 21 Jahrhundert
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie sd, tr 262.
** Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fiir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Forischriue der internationalen Kriminologie, sđủ, tr 262.
Trang 23Chương I Khái niệm, nhiệm vụ và phuong pháp nghiên cúu của
sự khác nhau này phải dược thực hiện dựa trên cơ sở đánh
giá các hiện tượng liên quan đến tội phạm hiện thực,
nguyên nhân của tội phạm và kiêm soát tội phạm trong sự
phát sinh, phát triển bên trong các cơ cầu xã hội, kinh tế,
chính trị khác nhau Mục dích thứ hai và quan trọng của tội
phạm học so sánh thể hiện ở việc giải thích, so sánh về
nguyên nhân của sự khác biệt này (được xác định trong mục
đích thứ nhất) từ các cơ cầu xã hội khác nhau Mục dich này
chỉ có thé đạt được trên cơ sở so sánh và phân tích tội phạm
hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạmbên trong các cơ cấu xã hội, kinh tế và chính trị khác nhau
của các quốc gia nhằm xác định những nguyên nhân về xã
hội, kinh tế và chính trị làm phát sinh hiện tượng tội phạmphổ biến” Đây cũng có thể gọi là mục đích tìm ra nhữngyếu tố phụ thuộc vào xã hội hay cơ cấu xã hội là nguyên
nhân của sự khác biệt được xác định qua việc so sánh quốc
tế về tội phạm hiện thực, về nguyên nhân của tội phạm và
về kiểm soát tội phạm”" Kết quả đạt được của mục đích này cồn có ý nghĩa đối với việc xây dựng kiểu kiểm soát tội phạm hiệu quả của quốc gia.
Mục dich của tội phạm học so sánh quy định nhiệm vụcủa tội phạm so sánh Nhằm vào hai mục dich nêu trên, tội
“ Xem Hans Joachim Schneider, Kriminologie fiir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschriute der internationalen Kriminologie, sd, tr 262.
" Xem: Sheldon Glick 1964.
Trang 24phạm học so sánh có hai loại nhiệm vụ tương ứng”: Một là,
nhiệm vụ nghiên cứu mô tả nhằm xác định sự khác nhau về
“tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và về kiểm
soát tội pha
nhiệm vụ phân tích nguyên nhân của sự khác biệt về tộiphạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội
phạm từ các cơ cầu xã hội khác nhau của các quốc gia
Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ này, tội phạm học
so sánh đã tạo cơ sở và phục vụ cho việc trao đổi thông tin
và kinh nghiệm mang tính quốc tế giữa các nhà tội phạmhọc trên toàn thé giới”
trong các cơ cấu xã hội khác nhau; Hai là,
Đối với nhiệm vụ nghiên cứu mô tả, trước tiên tập trung
vào việc giải quyết các vấn để thông tin với các nhiệm vụ cụ
- Thông tin về sự khác nhau của tội phạm hiện thực, nạn
nhân của tội phạm nói chung, nguyên nhân của tội phạm và
việc kiểm soát tội phạm trong các cơ cấu xã hội khác nhau,trong các quốc gia, các khu vực trên thể giới và các thời đại
(giai đoạn) lịch sử khác nhau của một xã hội.
? Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie Jir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie, sđỏ, tr 263.
? Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie, sd, tr 263.
?® Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie sđd, tr 263.
Trang 25Chương 1 Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của
~ Mô tả sự khác biệt về diễn biến của tội phạm, nạn nhân
của tội phạm, nguyên nhân của tội phạm và việc kiểm soát tội
phạm do những thay đổi của các cơ cầu xã hội khác nhau
~ Dua ra những chỉ dẫn, thông tin về chính sách hình sựkhác nhau trong các quốc gia khác nhau; về những thực
nghiệm có tính chất phòng ngừa và xử lý hiệu quả nhất, nhiều hứa hẹn nhất trong tắt cả các khu vực của thế giới.
- Nghiên cứu, xác định hình thức biểu hiện và những thiệt hại gây ra bởi tội phạm xuyên quốc gia.
Loại nhiệm vụ thứ hai - nhiệm vụ phân tích nguyên nhân
của sự khác biệt của tội phạm học so sánh, bao gồm các nhiệm vụ cụ thể sau”:
- Nghiên cứu, xác định những nguyên nhân của sự khác
nhau về sự phỏ biến của tội phạm, cơ cấu của tội phạm và nhữngphản ứng đối với tội phạm trong c; cơ câu xã hội khác nhau;
Kiểm nghiệm về sự hợp lý và khái quát của các hoc thuyết về nguyên nhân của tội phạm trong các cơ cấu xã hội khác nhau qua nghiên cứu so sánh quốc tế” Những học
thuyết đã được phát triển trong một quốc gia có thể được cải
biến hoặc làm cho tốt hon trong một quốc gia khác qua nghiên
Trang 26- Nghiên cứu, xác định tác dộng của những thay đổi củamột cơ cầu xã hội, sự phát triển, biến đổi của xã hội đối với sựphổ biến của tội phạm, đối với cơ cấu của tội phạm và kiểm
soát tội phạm (ví dụ, nghiên cứu về những tác động ở các nước
đang phát triển đối với những thay đổi của tội phạm hiện thực);
- Nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm xuyên
quốc gia.
4 Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh
Phương pháp nghiên cứu khái quát có tính đặc trưng của tội phạm học so sánh là phương pháp nghiên cứu so
sánh Thuộc về phương pháp nghiên cứu này là hệ thống
các phương pháp nghiên cứu so sánh cụ thể Các phương
pháp nghiên cứu này được đề cập trong mội các côngtrình nghiên cứu về tội phạm học so sánh Trong đó, các tácgiả chủ yếu bàn về cách phân loại các phương pháp so sánhcủa tội phạm học so sánh Hiện tổn tại ba cách phân loạiphương pháp nghiên cứu so sánh khác nhau, cụ thể như sau
- Thứ nhất là cách phân loại phương pháp nghiên cứu so
sánh thành phương pháp so sánh lịch sử và phương pháp so sánh hiện tại.
Cách phân loại này dựa theo tiêu chí là tính chất của
xã hội mà trong đó tồn tại đối tượng so sánh - là xã hội lịch
sử (các giai đoạn lịch sử của một xã hội) hay là các xã hội hiện tại.
Trang 27Chương I Kadi niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của.
Phưcng pháp so sánh lich sử thé hiện ở việc so sánh vềmức độ, cic hình thức, diễn biến, cơ cau của tội phạm, của
nạn nhân cũng như về kiểm soát tội phạm trong các giai đoạn lịch sử khec nhau của một xã hội” Day là cách thức so sánh
vấn dé tội phạm học giữa các giai đoạn phát triển lịch sử khác
nhau của một quốc gia mà ở các giai đoạn đó có sự biến đôi hay khác tiệt về cơ cấu xã hội, nhất là về cơ cấu kinh tế và co
cấu chính rị
+h thức thực hiện so
Phương pháp so sánh hiện tại là cá
sánh về t6 phạm hiện thực, về nguyên nhân của tội phạm và
về kiểm s»át tội phạm trong hai hoặc nhiều xã hội hiện tại
khác nhau ` Theo phương pháp này có thể có hai cách thức so
sánh - so sinh giữa hai xã hội và so sánh giữa nhiều (hơn hai)
xã hội với nhau
Thử hai là cách phân loại các phương pháp nghiên cứu
so sánh theo đặc điểm của quốc gia mà nghiên cứu so sánh
hướng tới, như quốc gia là đối tượng nghiên cứu so sánh hay
là bối cản: của nghiên cứu so sánh, một nhóm quốc gia thuộc
phạm vi nghiên cứu so sánh hay chỉ thuộc một đơn vị của
nghiên cứu so sánh Theo đó, các phương pháp nghiên cứu so
sánh ở đây bao gồm
'” Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminalogie fiir das 21 Jahrhundert:
Schwerpunkte und Fortschritte der internationalen Kriminologie, sđd, tr 268.
° Xem: Hans Joachim Schneider, Krininologie fiir das 2l Jahrhundert:
Schwerpunkie und Forischrite der internationalen Kriminologie, sđủ, tt 268.
Trang 28+ Nghiên cứu trường hợp;
+ Nghiên cứu văn hóa - bối cảnh;
+ Nghiên cứu ngang - quốc gia và;
+ Nghiên cứu xuyên quốc giaTM
Nghiên cứu trường hợp là nghiên cứu trong một xã hội
hay một nền văn hóa Ở đây, xã hội hay nên văn hóa là “đối
tượng” của nghiên cứu so sánh” Phương pháp nghiên cứu
này cồn được coi là phương pháp nghiên cứu thông thường của tội phạm học so sánh.
Nghiên cứu văn hóa - bối cảnh là phương pháp nghiêncứu theo chủ dé hoặc vấn dé thuộc tội phạm học có liên quanđặc biệt đến các nền văn hóa đề xác định làm rõ những điểm
giống và khác nhau giữa các nền văn hóa được lựa chọn gắn với chủ dé hay vấn dé nghiên cứu Theo đó, các quốc gia có
các nên văn hóa được lựa chọn trở thành “bối cảnh”, mà trong
đó việc nghiên cứu so sánh được thực hiện"
ˆ* Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader
1o research in Comparative Criminology/Criminal Justice, Brockmeyer Verlag,
Bochum, 2009, tr 24.
** Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader
to research in Comparative Criminology/Criminal Justice, sdd, tr 24 Trong.
tiếng Anh phương pháp này được gọi là “Case study”.
* Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader
to research in Comparative Criminology/Criminal Justice, sđủ, tr 24 Trong.
tiếng Anh phương pháp này được gọi là “Cutural-context research”.
Trang 29Chương 1 Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của
Nghiên cứu ngang - quốc gia là phương pháp nghiên cứu
hướng vào một nhóm các quốc gia để nghiên cứu so sánh theomột hoặc nhiều yêu tô nhất định, như theo chỉ số tội phạm haytheo tội phạm xuyên quốc gia `”.
Nghiên cứu xuyên quốc gia là phương pháp nghiên cứu
so sánh được thực hiện giữa các khối quốc gia hay các đơn vị
đa quốc gia với nhau, ví dụ như giữa khối quốc gia đã côngnghiệp hóa với khối quốc gia kém phát triển vé kinh tế Dayđược coi là phương pháp so sánh mới nhất của tội phạm hoc
so sánh”,
- Thứ ba là cách phân loại các phương pháp nghiên cứu
so sánh thành nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô; nghiên cứu song
song và nghiên cứu trường hop”
Cách phân loại này dựa theo phạm vi quốc gia mà trong
` Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader
to research in Comparative Criminology/Criminal Justice, sd, tr 24 Trong, tiếng Anh phương pháp này được gọi là "Cross-national research”
“ Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader
to research in Comparative Criminology/Criminal Justice, sđủ, tt 24 Trong
tiếng Anh phương pháp này được gọi là “Transnational research”
” Xem: Gregory J Howard, Gracme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory, Method, and Data in Comparative Criminology, sad, tr 165 Trong tiếng Anh nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô được gọi là: “Metalevel studies”, nghiên
cửu song song được gọi là "Parallel studies” và nghiên cứu trường hợp được gọi
là "Case studies”
Trang 30đó, việc nghiên cứu so sánh được thực hiện trong phạm vi một
quốc gia, hai quốc gia hay đa quốc gia.
Nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô là phương pháp nghiên cứu
lấy quốc gia là đơn vị của sự phân tích để so sánh định
lượng các vấn dé về tội phạm học trong một số quốc gia”"
Ví dụ như nghiên cứu so sánh chỉ số tội phạm ở các nước
cứu so sánh sự tác động của sự nghèo
đói đối với chỉ số của tội giết người ở một số nước hoặc nghiên cứu so sánh sự tác động của mức độ phát triển của quốc gia đối với chỉ số tội phạm về sở hữu trong nhiều quốc
trên thé giới; nghiê
gia Phương pháp nghiên cứu này còn có thể được gọi với
một tên khác là nghiên cứu ở cấp độ ngang - quốc gia một
phương pháp nghiên cứu đã được nói đến ở cách phân loại thứ hai Sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh ở cấp độ
vĩ mô có ý nghĩa đặc biệt trong việc giúp các nhà tội phạm
học có được sự đánh giá tông quát về tội phạm hiện thực trên thế giới như mô tả, làm rõ cơ cấu trong và diễn biến của các tội phạm về bạo lực hay các tội phạm về sở hữu trên
thế giới hoặc đánh giá chỉ số tội phạm cao hay thấp ở những.
quốc gia nào, thuộc khu vực nào trên thé giới".
“ Xem: Gregory J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory, Method, and Data in Comparative Criminology, sad, tr 165.
* Xem: Gregory J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory, Method, and Data in Comparative Criminology, 88d, tr 161.
Trang 31Chương I Ki niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của
Phương pháp nghiên cứu song song thường hướng vào.
việc phân ich khép kín hệ thống tư pháp hình sự hoặc đặc
điểm của tì phạm hiện thực trong hai quốc gia'? Nói mộtcách khác ni đây là phương pháp so sánh các vấn dé vé tội
phạm học hi trong phạm vi hai quốc gia Phương pháp so
sánh này di hỏi phải có sự tương đương về vấn đề nghiêncứu so sant, về cách thức pl
Nghiên cứt song song thường được thực hiện theo ba dang
nghiên cứusau"”:
tích và tiên hành thực nghiệm.
+ Phâi tích chỉ số tội phạm/hệ thống tư pháp hình sựPhương pháp nghiên cứu phân tích chi số tội phạm/hệthống tư pláp hình sự được sử dụng để nghiên cứu so sánh
cụ thể chỉ 6 tội phạm hoặc các số liệu thống kê chính thứckhác về tộ phạm hoặc về các hệ thống tư pháp hình sựtrong hai qiốc gia" Ví dụ như nghiên cứu so sánh chỉ sốtội phạm gữa quốc gia A với quốc gia B và trong đó có thể
so sánh ch số tội phạm về bạo lực giữa hai thành phố củahai quốc git này
'* Xem: Gregey J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory, Methoi and Data in Comparative Criminology, sad, tr 167
** Xem: Gregry J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory, Methoi and Data in Comparative Criminology, sad tr 167 - 169.
* Xem: Gregey J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory, Methoi and Data in Comparative Criminology, sđủ, tr 167 - 168
Trang 32+ So sánh theo chủ đè
Phương pháp nghiên cứu so sánh theo chủ dé là so sánh các vấn dé về tội phạm học theo chủ dé nhất định được lựa chọn Chủ đề được lựa chọn ở đây thường là vấn đề tội phạm học có liên quan đến lịch sử hoặc xã hội Một số ví dụ điển hình cho loại nghiên cứu bằng phương pháp này là nghiên cứu
so sánh thực trạng của người chưa thành niên phạm tội ở Nhật Bản và ở Hoa Kỳ đã được thực hiện từ năm 1980; hoặc
nghiên cứu so sánh về chủ dé tội phạm và sự phát triển trong
thé ky XIX ở Đức và Pháp đã được thực hiện từ năm 1976''
+ Lặp lại cùng kiểu thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu lặp lại cùng kiểu thựcnghiệm là phương pháp cùng thực hiện một kiểu thựcnghiệm trong hai quốc gia dé lấy kết quả thực nghiệm làm
co sở cho so sánh các van đề về tội phạm học Ví dụ như
việc nghiên cứu thực nghiệm bằng kỹ thuật điều tra qua
bảng hỏi được thực hiện song song ở Nhật Bản và Hoa Kỳ
để khảo sát nhận thức về bạo lực của những người bị kết án
được thực hiện từ năm 1999,
* Xem: Gregory J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory, Method, and Data in Comparative Criminology sd, tt 168.
“ Xem: Gregory J Howard, Graeme Newman, and Wi Alex Pridemore,
Theory, Method, and Data in Comparative Criminology sđd tr 169.
Trang 33Chương I Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của
Phương pháp nghiên cứu trường hợp là phương pháp
nghiên cứu các vẫn dé về tội phạm học được sử dụng trongphạm vi chỉ một quốc gia riêng lẻ Phương pháp này không
thể hiện rõ mục đích h hoặc không phải là cách thức so sánh trực tiếp các vấn đề về tội phạm học giữa quốc gia này
với một hoặc nhiều quốc gia khác Do vậy, nhiều nhà tộiphạm học cho rằng đây không phải phương pháp nghiên cứu
so sánh của tội phạm học so sánh Tuy nhiên, kết quả nghiên
cứu các vấn dé về tội phạm học bằng phương pháp này ở từng quốc gia sẽ tạo cơ sở dữ liệu cho việc so sánh giữa các quốc gia với nhau và qua đó có thể đánh giá các vấn đề này trên
phạm vi toàn thế giới Hơn nữa, với việc thực hiện phương
pháp này các nhà nghiên cứu có thể tập trung phân tích được sâu các vấn đề về tội phạm học của quốc gia riêng lẻ trong bối
cảnh của quốc gia hay của nền văn hóa cụ thể Chính vì những.
ly do này mà nhiều nhà tội phạm hoc đã thừa nhận nghiên cứu
trường hợp là một phương pháp nghiên cứu của tội phạm học
so sánh Chủ để nghiên cứu thông thường cho các nghiên cứubằng phương pháp nghiên cứu trường hợp là các tác động của
sự phát triển đến tội phạm hiện thực Ví dụ điển hình cho loại nghiên cứu về chủ dé này bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp là nghiên cứu được thực hiện từ năm 1986 về sự phát triển và tội phạm ở Iceland.
chỉ số tội phạm trong quốc gia này thấp hơn các quốc gia phát
quả nghiên cứu cho thầy
Trang 34triển khác và nguyên nhân của nó là do văn hóa bình quân chủ
nghĩa và do chỉ số thất nghiệp thấp của Iceland*’.
êm Như vậy, phương pháp nghiên cứu trường hợp có
chung với phương pháp thứ nhất theo cách phân loại thứ nhất(phương pháp so sánh lịch sử) vì đều là phương pháp nghiêncứu trong phạm vi một quốc gia Nhưng phương pháp sosánh lịch sử thể hiện rõ tính chất so sánh - so sánh các vấn đề
về tội phạm học giữa các giai đoạn lịch sử khác nhau củamột quốc gia
Thừa nhận nghiên cứu trường hợp là một phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh theo cách phân loại
thứ ba hoàn toàn thống nhất với cách phân loại thứ hai
Tham chí, cách phân loại thứ hai còn coi nghiên cứu trường
hợp là phương pháp phổ biến trong nghiên cứu tội phạmhọc so sánh vì cho rằng nhiều công trình công bố các kếtquả nghiên cứu bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp
trong phạm vi một quốc gia đã hợp thành công trình nghiên
cứu trong phạm vi của nhiều quốc gia Công trình điển hìnhcho các công trình loại này có thể kể dén là “Crime and
crime control: A global view" của tác giả Gregg Barak là
một tập hợp của 15 công trình nghiên cứu về tội phạm và
' Xem: Gregory J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory Method, and Data in Comparative Criminology, sđả, tr 170.
Trang 35Chương 1 Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu cia
soát tội phạm trong phạm vi từng quốc gia của 15
quốc gia khác nhau trên thé giới”
Tóm lại, ba quan điểm phân loại phương pháp nghiêncứu của tội phạm học so sánh thể hit
khác nhau và tạo ra ba loại cơ cấu khác nhau của các
ba cách phân loại
phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh Tuy
nhiên, điểm chung xuyên suốt của cả ba loại quan điểm
phân loại này là ít nhiều đều căn cứ vào quy mô quốc gia
mà trong đó việc nghiên cứu của tội phạm học so sánh được
thực hiện Dựa vào quy mô quốc gia để xác định và phân
loại các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh
có thể hình thành hệ thống các phương pháp nghiên cứu của
tội phạm học so sánh như sau
1 Phương pháp nghiên cứu trong phạm vi một quốc gia:
- Phương pháp so sánh lịch sử va;
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp.
2 Phương pháp nghiên cứu trong phạm vi hai quốc gia:
- Phương pháp so sánh hiện tai trong hai xã hội và
- Phương pháp nghiên cứu song song Trong đó bao gồm:+ Phân tích chỉ số tội phạm/hệ thống tư pháp hình sự;
“ Xem: Gregg Barak Crime and crime control: A global view, Greenwood
Press, 2000.
Trang 36+ So sánh theo chủ đề và;
+ Lặp lại cùng kiểu thực nghiệm
3 Phương pháp nghiên cứu trong phạm vi đa quốc gia:
- Phương pháp so sánh hiện tại trong nhiều xã hội
- Phương pháp nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô;
- Phương pháp nghiên cứu ngang - quốc gia và;
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa - bối cảnh
4 Phương pháp nghiên cứu trong phạm vi toàn cầu (còn
được gọi là phương pháp nghiên cứu xuyên quốc gia).
Trang 37sự ra đời và phát triển của các nghiên cứu thuộc loại này Có
thể hình thành hai hệ thống tiêu chí sau: (1) Bồi cảnh lịch sử
và tác động của nó đến các nghiên cứu tội phạm học so sánh
và (2) Các dạng nghiên cứu tội phạm học so sánh trong lịch
sử Đây không phải là hai hệ thống tiêu chí độc lập mà giữa
chúng có mối liên hệ mật thiết Chính bản thân các dạng
nghiên cứu tội phạm học so sánh cũng chịu ảnh hưởng bởi bối
cảnh lich sử noi nó ra đời Sự phát triển của tội phạm học so
sánh không chỉ thể hiện ở sự phát triển về lượng các công trình nghiên cứu mà còn thể hiện ở sự phát triển các loại hình
nghiên cứu.
1 Bối cảnh ra đời và phát triển của tội phạm học
so sánh
Tội phạm học so sánh có lịch sử ra đời cùng với sự ra đời
của chính bản thân tội phạm học Các nhà lý thuyết tội phạm
học cổ điển đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc so sánh
Trang 38xuyên quốc gia cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn.Beccaria, Bentham, Voltaire, Helvetius, Quetelet và nhiềungười khác của thời kỳ Khai sáng (thế ky XVIII) đã từng so
sánh và đối chiếu hệ thống tư pháp của quốc gia mình với các quốc gia khác””, Những khuyến nghị và phát hiện của họ đã cóảnh hưởng lớn trong việc mang lại sự thay đổi tại nhiều quốc
gia khác nhau, vượt ra ngoài quốc gia mà họ sinh sóng
Hầu hết các công trình tội phạm học xuất hiện trướcnăm 1920 đều là các nghiên cứu so sánh, theo đó, các nhàtội phạm học có gắng giải thích tội phạm là một hiện tượng
có tính tự nhiên và phổ quát Các tác phẩm của Cesare
Lombroso, Garofalo và Enrico Ferri đều dựa trên nền tảngtính “tự nhiên” và tính “nổi trội" của hành vi phạm pháp.Nền tảng cơ bản của phần lớn các nghiên cứu vào thời kỳ
này đều xuất phát từ thuyết tiến hóa của C Darwin và quy
é - xã hội và văn hóa.
của K Marx, thể hiện rõ nét nhất ở các học thuyết tội
phạm học của những người sáng lập trường phái tội phạm
học cổ điển Ý Tác phẩm của Gabriel Tarde, trong đó ông
đã đánh giá và phê phán sự đóng góp của trường phái Ý,
cũng đã được đặt tên là “tội phạm so sánh” Các nghiên
luật phát triển của nhân loại về kinh
* Xem: Gregory J Howard, Graeme Newman, and William Alex Pridemore,
Theory Method and Data in Comparative Criminology, sdd, tr 141
Trang 39Chương II phát triển của tội phạm học so sánh
cứu của Cesare Lombroso về tội phạm chính trị và cáchmạng, nghiên cứu của David Émile Durkheim về tự tử,hoặc nghiên cứu của Gina Lombroso về tội phạm nữ, đều
hướng tới giải thích này".
Tuy nhiên, trong hầu hết thé ky XIX và một phan của
thế kỷ XX, các nghiên cứu tội phạm học so sánh đã bị quên
lãng khi các quốc gia chỉ quan tâm đến giải pháp cho các vấn
dé tội phạm cụ thé của họ” Rất ít nghiên cứu so sánh đã được công bố vào khoảng giữa những năm 60 của thế kỷ XX, sự
thiếu quan tâm trong nghiên cứu so sánh tiếp tục tổn tại đến
những năm 80 của thế kỷ XX”? Vào năm 1967, Robert Mortimer Marsh ghi nhận rằng một số lượng nhỏ các bài
báo trong các tạp chí khoa học xã hội tại thời điểm đó xử lý
tội phạm trong hai hoặc nhiều nền văn hóa va Piers Beirne’ chỉ ra rằng sự thiếu quan tâm này tiếp tục tồn tại vào những
năm 80 của thé kỷ XX
Mãi cho dén những thập niên giữa và cuối của thé ky XX,
đặc biệt là từ những năm 90, việc so sánh và đối chiếu các vấn
® Xem: D Szabo, Comparative Criminology, Journal of Criminal Law and
Criminology: Vol 66(3) 1976 tr 366.
® Xem: Gregory J Howard, Graeme Newman and William Alex Pridemore,
Theory, Method and Data in Comparative Criminology, sad, tr 141 - 142.
* Xem: Piers Beirne and David Nelken, Issues in Comparative Criminology,
Dartmouth Publishing Company, 1997
** Xem: Piers Beirne and David Nelken, Issues in Comparative Criminology, sad.
Trang 40phạm giữa các quốc gia mới dần được quan tâm trở lại
Có thể nói, các nghiên cứu tội phạm học so sánh đã tăng lên
đáng kể trong vài thập ky qua” R.R Bennett (2004) đã minhhọa sự thay đổi thông qua việc trích dẫn số lượng các phiênthảo luận về tội phạm học so sánh trong các hội nghị hàng
năm ở Viện Khoa học Tư pháp Hình sự (ACIS) và Hiệp hội
các nhà tội phạm học Hoa Kỳ (ASC) Tại hội nghị ACJS
năm 2001, 7,1% các phiên hop là để giải quyết về chủ dé sosánh (18/253 phiên) Con số này tăng lên đến 9,5% (29/306
phiên) tại hội nghị năm 2003 Xu hướng tương tự xây ra tại các hội nghị ASC, từ 2,6% (11/422 phiên) năm 2001 lên 6,7%
(28/415 phiên) trong năm 20035
Năm 1991, Piers Beirne và Joan Hill đã tập hợp các
công trình nghiên cứu tội phạm học so sánh trên thế giớitrong cuốn sách “Tổng quan tài liệu về tội phạm học so
# Xem: E, Adler, G.O Mueller and W.S Laufer, Criminal justice, New York:
McGraw - Hill, 1994; Ebbe, Obi NI.,cd Comparative and international criminal justice systems: Policing, judiciary, and corrections Boston: Butterworth - Heinemann, 1996; R.H.Jr Moore and C.B Fields, Comparative Criminal Justice: Why to study?, 1996, in: C.B Fields and R.H Moore, Jr.P.
Heights (Eds), Comparative Criminal Justice: Traditional and Non-Traditional Systems of Law and Control, Waveland Press, Prospects Height: Ilinois; tr 6;
Reichel, Philip L, Comparative criminal justice systems: A topical approach Englewood Cliffs, New Jersey: Prentice Hall, 1994.
* RR Bennett, Comparative criminology and criminal justice research: The
state of our knowledge, Justice Quarterly, Vol 20(1), 2004, tr 2.