1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tinh huong hon nhan gia dinh pot

40 950 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tinh huong hon nhan gia dinh pot
Trường học Học Viện Tư Pháp
Chuyên ngành Luật đất đai, Hôn nhân và Gia đình
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 509,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vợ chồng đã ly hôn, bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng trong quá trình giải quyết việc ly hôn không yêu cầu giải quyết tài sản chung, sau khi ly hôn lại có tran

Trang 1

Câu hỏi 6 Những vụ án tranh chấp liên quan đến đất đai, khi nào xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp thừa kế, tranh chấp nhà ở… Thẩm quyền giải quyết và thời hiệu?

Trả lời: Xác định đúng quan hệ pháp luật là để áp dụng đúng pháp luật Quan hệ pháp luật khác nhau thì

pháp luật áp dụng để giải quyết khác nhau, trong đó có vấn đề thời hiệu khởi kiện cũng khác nhau Ví dụ: cùng là quan hệ được xác lập năm 1995, nếu chỉ là tranh chấp đất thì chỉ áp dụng Luật Đất đai năm 1993, nếu là tranh chấp nhà thì áp dụng Pháp lệnh Nhà ở, nếu là tranh chấp thừa kế thì áp dụng Pháp lệnh Thừa kế

* Về xác định quan hệ pháp luật: Xác định quan hệ pháp luật là căn cứ vào yêu cầu của đương sự (khởi kiện của nguyên đơn , phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có liên quan), cụ thể như sau:

- Thứ nhất: Xác định đó chỉ là tranh chấp về quyền sử dụng đất nếu như trên đất đó không có tài sản nào khác, hoặc có tài sản nhưng các bên không có tranh chấp về tài sản đó

- Thứ hai: Xác định là tranh chấp về nhà ở nếu gắn liền với đất đó là nhà ở và có tranh chấp về nhà ở

- Thứ ba: Xác định đó là tranh chấp về thừa kế nếu như việc xác định quyền sử dụng đất đó trên cơ sở pháp luật về thừa kế

- Thứ tư: Xác định là quan hệ hôn nhân và gia đình nếu đất tranh chấp có liên quan đên tài sản chung của

* Thời hiệu khởi kiện: Cũng trên cơ sở xác định quan hệ pháp luật cụ thể mà xác định thời hiệu khởi kiện.Nguyên tắc là những quan hệ tranh chấp đã được quy định thời hiệu cụ thể thì áp dụng quy định cụ thể chứ không áp dụng quy định chung Ví dụ: quy định thời hiệu khởi kiện nói chung theo Điều 159 Bộ luật

Tố tụng Dân sự là 2 năm kể từ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nhưng là khởi kiện về thừa kế thì phải áp dụng quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự là 10 năm kể từ ngày mở thừa kế; cũng là thừa kế nhưng là thừa kế về nhà ở có thời điểm mở thừa kế trước 01- 7-1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia thì phải áp dụng quy định tại Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 là thời gian từ 01-7-1996 đến 01-9- 2006 không tính vào thời hiệu khởi kiện

Câu hỏi 7 Xác định tài sản chung hay riêng của vợ chồng trong trường hợp tài sản có trước khi kết hôn nhưng trong thời gian hôn nhân đã đưa tài sản đó vào sử dụng chung nhiều năm?

Trả lời: Không phải cứ là tài sản có trước khi kết hôn thì là tài sản riêng, cũng không phải cứ đưa vào sử

dụng chung nhiều năm thì trở thành tài sản chung Xác định tài sản là tài sản riêng hay tài sản chung còn phụ thuộc vào quy định của pháp luật ở thời điểm tạo lập tài sản, thời điểm kết hôn, vào những sự kiện pháp lý làm thay đổi chế độ sở hữu tài sản Nhà nước ta đã ban hành nhièu luật hôn nhân và gia đình và

có nội dung quy định khác nhau về chế độ tài sản của vợ chồng, cụ thể là: 26 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (có hiệu lực thi hành từ 15-01-1060 đến 02-01-1987- ở miền Bắc, từ 25-3-1977 đến 02-01-1987- ở miền Nam) quy định vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng dụng ngang nhau đối với tài sản có trươc và sau khi cưới Vì vậy, các quan hệ hôn nhân xác lập trong thời kỳ thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 nêu trên thì tài sản có trươc khi cưới trở thành tài sản chung của vợ chồng kể từ thời điểm kết hôn Thực tiễn áp dụng pháp luật xác định những tài sản đã trở thành tài sản chung như trên sẽ vẫn là tài sản chung nếu vợ chồng không làm thủ tục phân chia thành tài sản riêng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 (có hiệu lực từ 03-01-1987 đến 31-12- 2000) và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (có hiệu lực từ 01-01-2001) đều có quy định tài sản có trước khi kết hôn là tài sản riêng Việc chuyển tài sản riêng thành tài sản chung phải theo đúng thủ tục quy định của pháp luật Quy định về việc nhập taì sản riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung tại Khoản 1, Điều 13, Nghị định 70/2001/

Trang 2

NĐ-CP ngày 03-10-2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình là: “Việc lập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợhoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 của luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng” (Khoản 2, Điều 32 quy định “Vợ, chồng

có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”) Thưc tiễn áp dụng pháp luật vẫn xác định nếu quyền sử dụng đất là tài sản riêng, sử dụng đất đó làm nhà của vọ chồng, nếu không có chứng cứ đã thỏa thuận chuyển thành tài sản chung như có văn bản hay đã sang tên chung thì khi chia tài sản khi ly hôn vẫn xác định nhà là của chung nhưng đất vẫn là tài sản riêng

Câu hỏi 8 Thời hiệu để giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn được xác định như thế nào? Vợ chồng đã ly hôn, bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng trong quá trình giải quyết việc ly hôn không yêu cầu giải quyết tài sản chung, sau khi ly hôn lại có tranh chấp về tài sản chung và có yêu cầu tòa án giải quyết bằng vụ án khác , thời hiệu được xác định như thế nào?

Trả lời: Pháp luật không có quy định bắt buộc phải đồng thời giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng

với việc giải quyết ly hôn Thậm chí, việc tự thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn còn được khuyến khích qua việc quy định đương sự chỉ phải chịu án phí chia tài sản đối với phần tài sản có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết Thực tế là vợ chồng có nhiều loại tài sản chung và có những tài sản họ không muốn hoặc không thể yêu cầu giải quyết chia đồng thời với việc ly hôn Ví dụ: vợ chồng yêu cầu chia một ngôi nhà đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng chưa muốn chia một mảnh đất ở nơi khác chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; còn cổ phần tại một công ty thì lại phải chờ đến thời điểm thích hợp theo điều lệ của công ty ấy mới phân chia được Như vậy, đương sự có quyền chỉ yêu cầu

ly hôn mà chưa yêu cầu giải quyết về tài sản hoặc chỉ yêu cầu giải quyết về một phần của tài sản chung; việc chia tài sản chung có thể được giải quyết bằng nhiều vụ án khác Đối với những tài sản chung chưa phân chia thì họ vẫn là đồng chủ sở hữu mặc dù họ không cỏn là vợ chồng Khi có yêu cầu tiếp tục chia tài sản chung sau khi đã ly hôn thì vụ án chia tài sản vẫn là vụ án hôn nhân và gia đình vì vẫn phải chia theo các điều 95, 96, 97, 98, 99 Luật Hôn nhân và gia đình chứ không phải chỉ chia theo các quy định về

sở hữu chung của Bộ luật Dân sự Về thời hiệu khởi kiện: Không có hạn chế về thời hiệu chia tài sản chung Tuy nhiên, những tranh chấp khác liên quan đến tài sản chung vẫn có thời hiệu khởi kiện nếu phápluật có quy định Ví dụ: có người thứ ba xâm phạm tài sản chung thì các đồng chủ sở hữu có quyền khởi kiện trong thời hạn 2 năm kể từ ngày quyền sở hữu bị xâm phạm; một trong hai đồng chủ sở hữu tự ý giaodịch đối với tài sản chung thì chủ sở hữu kia có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu trong thời hạn

cụ thể mà pháp luật quy định Cần lưu ý là chưa giải quyết về tài sản chung khác với việc đã tuyên bố không có tài sản chung Nếu trong bản án, quyết định về ly hôn đã có phần quyết định là vợ chồng không

có tài sản chung thì không thể thụ lý, giải quyết chia taì sản chung nếu phần quyết định không có tài sản chung chưa bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Câu hỏi 9 Trong vụ án ly hôn, đương sự có phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con không?

Trả lời: Luật Hôn nhân và Gia đình quy định tại Khoản 1, Điều 50 là “Nghĩa vụ cấp dưỡng được quy

định giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu, giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này” và tại Điều 54 là “Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm và một lần… Các bên có thể thỏa thuận thay đổi…nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết” Như vậy, việc cấp dưỡng nuôi con có thể là cấp dưỡng định

kỳ, có thể được giải quyết trong vụ án riêng hoặc trong cùng vụ án ly hôn Tại Khoản 10, Điều 27 Pháp lệnh Án phí, Lệ phí Tòa án quy định: “Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch” Nếu không có quy định nào khác thì có thể hiểu quy định ở Khoản 10 là trong mọi trường hợp thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng đều phải nộp án phí Tuy nhiên, tại Khoản 9 Điều 27 lại quy định “Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự

sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh này, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản

có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia”

Trang 3

Như vậy, đã có một quy định về các loại án phí trong vụ án hôn nhân và gia đình và nó chỉ bao gồm án phí ly hôn và án phí chia tài sản (là quy định tại Khoản 9, Điều 27 nêu trên) Do đó, quy định tại Khoản

10, Điều 27 chỉ là quy định về mức án phí đối với việc cấp dưỡng định kỳ, và chỉ trong trường hợp có vụ

án riêng về cấp dưỡng thì đương sự mới chịu án phí về cấp dưỡng

Câu hỏi 11 Tại vụ án ly hôn, vợ chồng đều khai có khoản nợ ngân hành, tổ chức ngân hàng đã tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ly hôn Trong quá trình giải quyết, Tòa án hòa giải các đương sự rút đơn hoặc hòa giải thành về đoàn tụ Nếu tổ chức ngân hàng vẫn yêu cầu giải quyết nợ thì việc giải quyết này thuộc loại án gì? Tòa án nào giải quyết?

Trả lời: Trong vụ án hôn nhân và gia đình, khi các đương sự rút đơn hoặc hòa giải thành về đoàn tụ thì

Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Cũng cần lưu ý là: Trước đây Tòa án vẫn có hình thức ra

“quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành” được hướng dẫn ở Điểm a, Mục 10, Nghị quyết

02/2000/NQ-HĐTP ngày 23- 12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 Điểm a nói trên quy định: “Nếu hòa giảiđoàn tụ thành mà người yêu cầu xin ly hôn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án…ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án Nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ thành Sau 15 ngày…không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện kiểm sát không phản đối thì Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành Quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay và các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền khángnghị theo trình tự phúc thẩm” Tuy nhiên, hướng dẫn ở Điểm a, Mục 10 nêu trên là phần hướng dẫn về tố tụng nên đến thời điểm thi hành Bộ luật Tố tụng Dân sự thì phần hướng dẫn trên khác với quy định của

Bộ luật Tố tụng Dân sự nên không còn giá trị thi hành Khi hòa giải đoàn tụ thì người có đơn xin ly hôn

dù không có đơn rút đơn xin ly hôn thì cũng đã có lời khai rút lại yêu cầu ly hôn nên vẫn thuộc trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự Trong trường hợp ngân hàng tham gia với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan từ yêu cầu của vợ hoặc chồng cần giải quyết

về nợ cùng với việc ly hôn thì khi Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn bao gồm luôn cả việc không tiếp tục giải quyết việc đòi nợ chung Đây là trường hợp Ngân hàng không có yêu cầu độc lập trong vụ án

ly hôn nên nếu Ngân hàng vẫn muốn yêu cầu giải quyết trả nợ ngay thì Ngân hàng phải khởi kiện một vụ

án độc lập về đòi nợ Trong trường hợp Ngân hàng đã tham gia tố tụng với tư cách Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì họ có quyền và nghĩa vụ tố tụng như một nguyên đơn nên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn không bao gồm cả quan hệ đòi nợ, Tòa án phải ra Thông báo thay đổi địa vị tố tụng và tiếp tục giải quyết vụ án đòi nợ (vụ án dân sự) Ví dụ: Anh A xin ly hôn chị B Anh A

có một khoản vay riêng Ngân hàng X và cung không đề cập giải quyết khoản vay này trong vụ án ly hôn Ngân hàng X thấy việc ly hôn của anh A có thể có việc chia tài sản chung của vợ chồng, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ nên có đơn yêu cầu anh A trả nợ ngay và xác định một số tài sản bảo 31 đảm trả nợ Yêu cầu của Ngân hang X là yêu cầu độc lập và Ngân hàng đã phải làm đơn, nộp tạm ứng án phí theo quy địnhcủa pháp luật Nay quan hệ hôn nhân được đình chỉ việc giải quyết nhung Ngân hàng X không rut yêu cầu, vẫn yêu cầu tiếp tục giải quyết thì Tòa án cần phải ra Thông báo thay đổi địa vị tố tụng, xác định Ngân hàng X là nguyên đơn, anh A là bị đơn, chị B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tiếp tục giải quyết quan hệ đòi nợ Vụ án đòi nợ có bản chất là vụ án dân sự nhưng nếu vẫn vẫn tiếp tục giữ nó là

vụ án hôn nhân và gia đình đã bị đình chỉ một phần cũng không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và việc áp dụng pháp luật

Câu hỏi 12 Ông A kết hôn với bà B có 4 con chung Sau khi bà B chết được một thời gian thì ông A chung sống với bà C không đăng ký kết hôn Ông A và bà C có sử dụng chung một khối tài sản gồm: nhà, đất thổ cư, đất nông nghiệp, đất trồng rừng Nay ông A chết, các con riêng của ông A cho rằng những tài sản trên là của ông A, nên đã chiếm nhà đất nêu trên Bà C khởi kiện yêu cầu các con riêng của ông A phải trả lại cho bà toàn bộ tài sản Trường hợp này nên xác định mối quan hệ pháp luật là loại tranh chấp gì?

Trang 4

Trả lời: Vụ án có những quan hệ tranh chấp gì là từ yêu cầu của đương sự Yêu cầu của đương sự bao

gồm yêu cầu của nguyên đơn, phản tố của bị dơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tất cả các yêu cầu đó tạo nên các quan hệ tranh chấp trong vụ án và cũng là phạm vi giải quyết của

vụ án Vụ án có thể chỉ có một quan hệ tranh chấp nhưng cũng có thể có nhiều quan hệ tranh chấp Xác định đúng quan hệ tranh chấp là để xác định phạm vi xét xử, áp dụng đúng pháp luật, mà trước hết là xác định có những đương sự nào trong vụ án Xác định đúng quan hệ tranh chấp là đặt tên đúng các yêu cầu của đương sự chứ không phải là tùy tiện mở rộng phạm vi hay thu hẹp phạm vi yêu cầu của đương sự Từ

ví dụ trên có thể có những tình huống cụ thể như sau:

1 Bà C cho rằng bà là chủ duy nhất của khối tài sản mặc dù ông A đã từng sử dụng chung nên đòi những người đang chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của bà trả lại tài sản (và không có phản tố hay yêu cầu độc lậpnào khác) thì vụ án chỉ có quan hệ 32 tranh chấp là đòi lại tài sản, bị đơn chỉ là những người đang trực tiếp chiếm hữu tài sản (giả sử có 2 trong số 4 con của ông A chiếm giữ tài sản), người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan là những người đang cùng chiếm giữ (như vợ của hai người đang chiếm giữ) Nếu Tòa án xác định yêu cầu của bà C là đúng thì chấp nhận buộc 2 người con của ông A và vợ của 2 người con này trả lại tài sản cho bà C Nếu Tòa án xác định yêu cầu của bà C không hoàn toàn đúng thì bác yêu cầu của

bà C ( bác yêu cầu công nhận là chủ duy nhất)

2 Nếu bà C cho rằng khối tài sản đang bị chiếm là của chung giữa bà với ông A, yêu cầu được trả lại phần của bà thì vụ án đã trở nên có 2 quan hệ tranh chấp là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản và quan hệ tranh chấp chia tài sản chung Trong trường hợp này các thừa kế của ông A phải tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chứ không phải chỉ có những người đang trực tiếp chiếm giữtài sản)

3 Trong trường hợp bà C vừa yêu cầu đòi lại tài sản thuộc phần do bà làm chủ vừa yêu cầu chia di sản thừa kế của ông A (hoặc bà C không yêu cầu chia thừa kế nhưng các con của ông A lại có phản tố chia thừa kế) thì vụ án đã trở nên có 3 quan hệ tranh chấp (thậm chí còn có thể có tranh chấp về việc bà C có quan hệ hôn nhân hợp pháp với ông A hay không ); đối tượng của vụ án có thể còn là những tài sản khác

và có thể có thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác Như vậy, việc xác định quan hệ tranh chấpkhông phải chỉ là việc đặt tên cho vụ án và không phải mỗi vụ án luôn luôn chỉ có một quan hệ tranh chấp

Câu hỏi 13 Di sản thừa kế là tài sản chung của vợ chồng, một người chết trước đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Xác định phần di sản đã hết thời hiệu thừa kế như thế nào?

Trả lời: Trong vụ án chia thừa kế thông thường (không có phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện) thì để

chia thừa kế, bước đầu tiên vẫn phải là xác định di sản Di sản thường không phải là toàn bộ khối tài sản

có tranh chấp Ví du: Ông A và bà B có khối tài sản chung là nhà ở trên diện tích đất là 1200m2 Ông bà

có 2 con chung là anh X và chị Y Năm 2005, ông A chết, bà B vẫn ở nhà đất trên với anh X Năm 2010, chị Y khởi kiện yêu cầu được chia thừa kế của ông A Như vậy, khối tài sản có tranh chấp là nhà ở trên diện tích 1200m2 đất Thực tế, trong 1200m2 đất đang sử dụng có 200m2 thuộc quy hoạch mở đường, chỉ

có 1000m2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng Do đó, chỉ có nhà trên diện tích 1000m2 được định giá là 3 tỷ đồng Chia tài sản chung giữa ông A và bà B, xác định được di sản của ông A là 1,5 tỷ đồng Những người được thừa kế của ông A là bà B, anh X, chị Y nên mỗi kỷ phần thừa kế là 500 triệu đồng Sau khi đã xác định được giá trị của kỷ phần Tòa án mới chia hiện vật Tòa án có thể chia cho chị Y một diện tích hợp lý trong phạm vi 1000m2 tương ứng với giá trị 500 triệu đồng Giả sử ông A đã chết từ năm

1995, bà B chết năm 2005 thì vụ án thuộc loại có phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện Trong trường hợp này, khác với vụ án thừa kế thông thường nêu trên, việc xác định di sản chính là xác định phần di sản còn thời hiệu khởi kiện Xác định phần di sản còn thời hiệu khởi kiện cũng tương tự như việc xác định di sản là bóc tách ra những phần tài sản không thuộc diện chia thừa kế; và cũng chỉ là bóc tách về mặt giá trị,sau khi đã xác định được kỷ phần thừa kế mỗi người được chia thì mới chia hiên vật tương ứng với kỷ phần Như vậy, phần di sản còn thời hiệu khởi kiện chỉ là phần di sản của bà B là 1,5 tỷ đồng (một nửa khối tài sản chung của bà B và ông A), có 2 thừa kế của bà B nên mỗi kỷ phần là 750 triệu đồng Chị Y cóquyền được chia hiện vật tương ứng với 750 triệu đồng Có một câu hỏi đã được đặt ra là phần di sản hết

Trang 5

thời hiệu thuộc về ai? Tòa án có quyết định về phần di sản hết thời hiệu không? Đây là vấn đề pháp luật chưa có quy định cụ thể Thông thường thì phần di sản hết thời hiệu vẫn tiếp tục do bị đơn quản lý Tuy nhiên, về nguyên tắc, đã là phần không còn thời hiệu khởi kiện thì Tòa án không được giải quyết nên không được quyết định về phần này.

Câu hỏi 16 Trường hợp có đăng ký kết hôn , nguyên đơn xin ly hôn và khai rằng bị đơn là người mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi thì xử ly hôn hay hủy hôn nhân trái pháp luật.

Trả lời: Trước hết phải xác định có đúng là bị đơn bị mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực

hành vi dân sự hay không Thực tế, có những trường hợp đương sự nói xấu, vu cáo bên kia là điên, mắc bệnh tâm thần để Tòa án không tin lời trình bày của bên kia hoặc tước quyền tham gia tố tụng trực tiếp của họ Mặt khác, phải xác định nếu là mất năng lực hành vi dân sự thì mất trước hay sau khi kết hôn Nếu là mất năng lực hành vi dân sự trước khi kết hôn thì là hôn nhân trái pháp luật, phải hủy hôn nhân tráipháp luật Nếu việc mất năng lực hành vi dân sự là sau khi kết hôn và không có vi phạm nào khác thì hôn nhân vẫn hợp pháp, phải giải quyết theo trình tự ly hôn; tất nhiên là phải có người giám hộ đại diện theo đúng quy định của pháp luật

Câu 17 Vợ chồng xin ly hôn và khai rằng có đăng ký kết hôn từ trước năm 2000 nhưng đã làm thất lạc giấy đăng ký kết hôn Đến nay, do thay đổi địa giới hành chính không lưu giữ đủ sổ sách nên không thể xác nhận được việc đăng ký kết hôn Có thể coi lời khai thống nhất của các đương sự về thời điểm đăng ký kết hôn là chứng cứ xác định có đăng ký kết hôn hay không?

Trả lời: Trong vụ việc ly hôn, trường hợp vợ chồng đều thừa nhận là có đăng ký kết hôn và việc thay đổi

địa giới hành chính nên không xác định được việc kết hôn là có thật thì có cơ sở xác định họ đã có quan

hệ hôn nhân hợp pháp Hai bên đều thừa nhận có hôn nhân hợp pháp là thừa nhận họ có trách nhiệm với nhau theo quy định của pháp luật về quan hệ hôn nhân hợp pháp, trong đó có quan hệ 37 về tài sản, và cũng chính là trường hợp “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà đương sự bên kia đưa ra” như quy định tại Khoản 2, Điều 80 Bộ luật Tố tụng Dân sự về trường hợp những tình tiết, sự kiên không phải chứng minh Việc khai nhận là vợ chồng nếu không có dấu hiệu mạo nhận để chống lại, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ 3 thì không cần thiết phải xác minh thêm Cũng phải nhấn mạnh lại là đó là trong vụ việc ly hôn và không phát hiện có dấu hiệu ảnhhưởng đến quyền lợi của người thứ ba Trong trường hợp có dấu hiệu mạo nhận là vợ chồng hợp pháp hoặc việc không xuất trình đăng ký kết hôn có dấu hiệu nhằm dấu diếm thời điểm kết hôn, làm ảnh hưởngđến quyền lợi của người thứ ba thì Tòa án phải xem xét, yêu cầu xuất trình chứng cứ khác để chứng minh

Ví dụ: Anh A đã bán cho anh X một ngôi nhà Sau này, anh A và chị B khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch mua bán nhà vô hiệu vì anh A tự ý định đoạt tài sản chung của vợ chồng Anh X khai rằng anh A và chị B không phải là vợ chồng , hoặc khai rằng thời điểm bán nhà thì anh A chưa kết hôn với chị B, họ dựng lên chuyện là vợ chồng nhằm chiếm đoạt tài sản Trong trường hợp này thì anh A và chị B lại phải

có nghĩa vụ chứng minh họ là vợ chồng hợp pháp và thời kỳ hôn nhân cụ thể từ khi nào Câu 18 Theo quy định tại Khoản 2 Điều 62 Bộ luật dân sự thì: “Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không đủ điều kiện làm người giám hộthì người con cả là người giám hộ, nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ” Thực tế có nhiều trường hợp các người con khác đang tranh chấp với cha, mẹ, trong khi đó người con út đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ thì có quyền là người giám hộ đương nhiên của cha, mẹ hay không? Trả lời: Người con út cũng có quyền trở thành người giám

hộ đương nhiên của cha mẹ, bởi lẽ: Mặc dù tại khoản 2 Điều 62 Bộ luật Dân sự quy định thứ tự trước sau bắt đầu từ người con cả là người giám hộ, nếu người con cả không đủ điều kiện giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ nhưng đó là khi tất cả các con cùng ở điều kiện bình thường Trong từng trường hợp cụ thể, nếu điều kiện của các con là khác nhau phải căn cứ vào quy định tại Khoản 2, Điều 60

Bộ luật Dân sự để xem xét lựa chọn người giám hộ có đủ điều kiện để trở thành người giám hộ Nếu người con cả và các người con tiếp theo đang có tranh chấp với cha mẹ thì những người con này không thể trở thành người giám hộ đương nhiên cho cha mẹ vì quyền lợi của họ đang xung đột, mâu thuẫn với

Trang 6

cha mẹ Họ được xem là không đủ điều kiện trở thành người giám hộ, do đó, họ không thể là người giám

hộ đương nhiên của cha mẹ

Câu hỏi 21 Tại lễ hỏi của anh A và chị B, cha mẹ của anh A mang tặng cho chị B 02 chỉ vàng Khi chưa đến ngày cưới thì anh A và chị B mâu thuẫn, hôn lễ không được tiến hành, cha mẹ anh A làm đơn khởi kiện yêu cầu chị B trả lại 02 chỉ vàng Trường hợp này cha mẹ của anh A có được quyền khởi kiện không? Có thể chấp nhận yêu cầu của cha mẹ anh A hay không?

Trả lời: Vấn đề trước tiên cần xác định là có quyền khởi kiện không phải là khái niệm đồng nhất với khái

niệm có quyền lợi hợp pháp và có căn cứ, nói cách khác là quyền khởi kiện không đồng nghĩa với thắng kiện Về nguyên tắc, vụ việc phải được giải quyết theo đúng trình tự của pháp luật mới đi đến phán quyết chấp nhận hay bác yêu cầu của đương sư Vậy thì trường hợp nào là trường hợp Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Tố tụng Dân sự do “người khởi kiện không có quyền khởi kiện”? Đó là trường hợp quyền dân sự mà họ yêu cầu không có căn cứ pháp luật, hay nói cách khác la theo hệ thống pháp luật hiện hành thì họ không có quyền đó Ví dụ: Anh X khởi kiệnyêu cầu được chia di sản của anh trai với lý do có công chăm sóc anh trai khi vợ, con của anh trai đang ở

xa thì đây là trường hợp anh X không có quyền khởi kiện; nhưng nếu anh X khởi kiện yêu cầu được chia

di sản của anh trai với lý do có di chúc của anh trai cho anh được thừa kế thì lại là trường hợp anh A có quyền khởi kiện Trong trường hợp của câu hỏi này thì cha mẹ của anh A được quyền khởi kiện về hợp đồng tặng cho vì họ là một bên trong hợp đồng tặng cho tài sản Việc chấp nhận yêu cầu của cha mẹ anh

A hay không phải tùy trường hợp cụ thể Có thể được hiểu là việc tặng cho người con dâu tương lai ấy vớiđiều kiện người được cho trở thành con dâu của họ Tức là việc tặng cho có điều kiện theo quy định tại điều 470 Bộ luật Dân sự Tùy từng trường hợp lỗi của bên nào làm cho điều kiện không được thực hiện

mà chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu đòi lại tài sản

Trang 7

Câu hỏi

Vợ chồng chúng tôi thỏa thuận ly hôn năm 2009, tại tòa tôi đã trình bày về việc đóng góp nuôi con

là do chồng tôi quyết định, tự nguyện đóng góp bao nhiêu là do anh ấy, tôi không yêu cầu Tòa quyết định Sau khi ly hôn, chồng cũ của tôi không đóng góp một đồng nào nuôi con cả, thỉnh thoảng có đến thăm con khi tôi vắng nhà, khi đến anh ấy ko xin phép ai trong nhà cả, mà chỉ tự ý vào chơi với con rồi về? Hiện nay, do điều kiện kinh tế của tôi khó khăn, tôi muốn yêu cầu chồng cũ của tôi đóng góp nuôi con có được không? Nếu anh ấy cố tình không đóng góp, tôi có quyền cấm anh ấy đến thăm con không?

Trả lời

Tại đoạn 2 khoản 1 Điều 92 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: “Người không trực tiếp nuôi con

có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”

Tại điểm mục 11, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 quy định: “Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92)

a Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý

do nào đó, thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phảicấp dưỡng nuôi con

b Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và

do các bên thoả thuận Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý

c Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.”

Như vậy, theo bạn trình bày ở trên có nghĩa là bạn không có yêu cầu cụ thể số tiền mà bên không trực tiếpnuôi con phải đóng góp, hơn nữa bạn cũng không yêu cầu Tòa án đề cập đến vẫn đề này, đến nay, do hoàn cảnh kinh tế của bạn khó khăn, bạn có thể gửi yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho Tòa án để Tòa xem xét giải quyết

Việc quyết định mức cấp dưỡng thì Tòa án căn cứ vào sự tự nguyện của người có nghĩa vụ cấp dưỡng Tuy nhiên, nếu người có nghĩa vụ cấp dưỡng không tự nguyện, Tòa án sẽ quyết định mức cấp

dưỡng Khi Tòa án quyết định mức tiền cấp dưỡng sẽ cân nhắc tới điều kiện của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, tình hình thực tế của đời sống sinh hoạt của cháu nhỏ; Tòa án cũng sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường không cao hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng.Cuối cùng, bạn muốn hỏi, bạn có thể cấm chồng cũ thăm con có được không?

Theo quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 về Quyền thăm nom con sau khi ly hôn:

“Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởngxấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”

Như vậy, nếu việc thăm nom đó không cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc củabạn thì bạn không thể cấm được

Câu hỏi1

Xin Ban biên tập cho tôi hỏi, hiện tại vợ chồng tôi vẫn đang sống chung với nhau chưa ly hôn Nay

Trang 8

chúng tôi muốn chia tài sản chung của vợ chồng có được không? Trong trường hợp nào việc chia tài sản chung vợ chồng bị coi là vô hiệu?

Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập biên bản và phải

có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật Trong trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết

Tuy nhiên, theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan thì việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ về tài sản sau đây bị tòa án tuyên bố là vô hiệu: Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng người khác theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thanh toán bị tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp, nghĩa vụ nộp thuế và nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước, nghĩa vụ trả nợ người khác

Câu hỏi1

Xin cho tôi hỏi, giải quyết việc đăng ký kết hôn được quy định như thế nào trong Luật Hôn nhân

và gia đình?

Trả lời

Giải quyết việc đăng ký kết hôn

1 Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật về hộ tịch, cơ quan đăng ký kết hôn kiểm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn tổ chức đăng ký kết hôn

2 Trong trường hợp một bên hoặc cả hai bên không đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản; nếu người bị từ chối không đồng ý thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật

Câu hỏi1

Vợ chồng tôi chung sống hợp pháp đã được hơn 9 năm và đã có 2 cháu, cháu trai lớn 8 tuổi, cháu gái bé 5 tuổi, thì tôi phát hiện 2 cháu không phải là con của tôi với vợ (qua kết quả giám định ADN của Trung tâm GĐ công nghệ di truyền Quốc gia do gia đình tôi tự đi làm) Qua đó, chúng tôi thuận tình ly hôn Xin Ban biên tập cho tôi hỏi, tôi có phải cùng 2 cháu đi giám định ADN một lần nữa để xác định tôi không phải là cha của 2 đưa bé theo yêu cầu của tòa án? Sau khi ly hôn thì trách nhiệm của hai chúng tôi đối với 2 cháu không phải là con chung cụ thể là gì? Tôi không biết

đó không phải là con của tôi nên ngần ấy năm trời tôi vẫn đưa tiền để vợ tôi nuôi hai cháu ăn học Vậy tòa án sẽ giải quyết việc này ra sao? Tôi có quyền đề nghị đổi họ cho 2 cháu hay không? Trả lời

Trước hết, khi chưa có quyết định của tòa án về việc xác nhận không phải là cha con thì 2 người con do

Trang 9

vợ anh sinh ra trong thời kỳ hôn nhân vẫn là con của anh Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của

vợ chồng Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng Do vậy, nếu phủ nhận 2 cháu không phải là con mình thì anh phải yêu cầu tòa án tiến hành thủ tục xác nhận không phải cha con

Theo NQ02 - 2000/NQ - HĐTP ngày 23-12-2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 như sau: Khoản 2 điều 63 và điều 64, khi có người yêu cầu tòa án xác định một người nào đó là con của họ hay không phải là con của họ thì phải có chứng cứ; do đó về nguyên tắc người có yêu cầu phải cung cấp chứng cứ Trong trường hợp cần thiết thì phải giám định gien Người cóyêu cầu giám định gien phải nộp lệ phí giám định gien Như vậy tự anh đi giám định ADN là chưa đúng với trình tự thu thập chứng cứ nên chứng cứ không được chấp nhận là hợp pháp Còn số tiền nuôi 2 cháu

ăn học trước đây thì phải có đơn yêu cầu tòa án giải quyết

Quyết định của tòa án về việc xác nhận không phải cha con là cơ sở cho việc giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn Nếu anh không phải là cha của 2 cháu thì anh không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 2 cháu đến lúc trưởng thành và ngược lại Nếu anh không muốn 2cháu tiếp tục lấy họ của mình thì anh có thể làm thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch để đổi họ cho 2 cháu theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch

Việc chia tài sản này do hai bên thỏa thuận, nếu không chia được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Trong trường hợp tài sản của vợ chồng có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của

- Ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

- Tiến hành xác minh điều kiện thi hành án:

+ Thời hạn: 10 ngày kể từ ngày ra quyết định thi hành án hoặc ngày nhận đơn yêu cầu xác minh của người được thi hành án; (trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tiến hành xác minh ngay);+ Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án;

Trang 10

+ Lập biên bản kết quả xác minh điều kiện thi hành án có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã, phường;công an cấp xã; cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh.

Câu hỏi1

Thủ tục, cách thức yêu cầu thi hành án cấp dưỡng nuôi con được thực hiện như thế nào?

Trả lời

Đơn yêu cầu thi hành án

cấp dưỡng

- Theo mẫu

- Ghi rõ ngày, tháng, năm

- Ký tên hoặc điểm chỉ

- Trực tiếp gửi đơn hoặc ủy quyền chongười khác gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cùng cấp Tòa án ra bản án,quyết định cấp dưỡng;

- Gửi qua bưu điện

Trực tiếp trình bày yêu

cầu thi hành án

- Theo nội dung trong mẫu đơn;

- Ghi rõ ngày, tháng, năm

- Ký tên hoặc điểm chỉ của người yêu cầu, người lập biên bản;

- Cán bộ cơ quan thi hành án lập biên bản nội dung yêu cầu;

- Có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu; chữ ký của người lập biên bản;

- Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án

Cung cấp tài liệu liên

quan

- Bản án được yêu cầu thi hành án;

- Quyết định được yêu cầu thi hành án;

- Tài liệu liên quan (nếu có)

Nộp tại cơ quan thi hành án

Yêu cầu áp dụng biện

pháp bảo đảm thi hành

án

- Phong toả tài khoản (cần ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản của người phải thi hành án);

- Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

- Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản (ngăn chặn chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, huỷ hoại, thay đổi hiện trạng tài sản)

- Đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thihành án

Câu hỏi1

Chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng nhưng nay kinh doanh phá sản Vậy, tiền cấp dưỡng nuôi con có được ưu tiên thanh toán khi giải quyết nợ của chồng không?

Trả lời

Pháp luật quy định về thứ tự thanh toán như sau:

- Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sứclao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần;

- Án phí;

- Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định

Do đó, khi chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mà bị lâm vào tình trạng phá sản, nợ nần thì trong quátrình giải quyết, Tòa án sẽ quyết định chi trả tiền cấp dưỡng nuôi con đầu tiên trước khi quyết định chi

Trang 11

trả các khoản nợ khác của chồng theo đúng thứ tự nêu trên.

Căn cứ vào đơn yêu cầu, cơ quan thi hành án sẽ có quyết định thi hành án gửi đến người có nghĩa vụ thi hành án cấp dưỡng (chồng cũ) và ấn định một thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để tự nguyện thi hành án

Trong trường hợp người có nghĩa vụ thi hành án cấp dưỡng có đủ điều kiện thi hành án (có việc làm, thunhập ổn định…) mà vẫn không tự nguyện thi hành thì cơ quan thi hành án sẽ cưỡng chế thi hành bằng biện pháp theo quy định như khấu trừ tài khoản, tiền lương, trừ thu nhập, kê biên tài sản của người phải thi hành án…

- Đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là cán bộ, công chức, bộ đội, công an…có thu nhập từ lương thì theo quyết định của Toà án, cơ quan, tổ chức trả tiền lương, tiền công lao động, các thu nhập thường xuyên khác cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng có trách nhiệm thực hiện việc khấu trừ khoản cấp dưỡng để chuyển trả cho người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó theo đúng mức và phương thức cấp dưỡng do người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó và người có nghĩa

vụ cấp dưỡng thoả thuận hoặc theo mức và phương thức cấp dưỡng do Toà án quyết định

Người yêu cầu thi hành án về tiền cấp dưỡng không phải nộp phí thi hành án

Câu hỏi1

Hai vợ chồng viết chung đơn thuận tình ly hôn nhưng sau đó một người không đến Tòa án để giải quyết thì có coi là thuận tình ly hôn không?

Trả lời

Pháp luật quy định trường hợp cả hai vợ chồng cùng viết chung một đơn thuận tình ly hôn thì được coi

là đồng nguyên đơn Khi thụ lý vụ án tuy chỉ có một bên nộp tiền tạm ứng án phí nhưng được hiểu là giữa hai vợ chồng đã có sự thỏa thuận với nhau

Do đó, trong quá trình giải quyết ly hôn, người nộp tiền án phí lại không đến Tòa án theo giấy mời của Tòa, cố tình lẩn tránh thì Tòa án sẽ hỏi ý kiến của người còn lại về việc tiếp tục xin ly hôn nữa không Nếu vẫn giữ ý kiến xin ly hôn thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung như trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên

Trường hợp không có yêu cầu ly hôn nữa thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án

Câu hỏi1

Vợ tôi có hộ khẩu thường trú tại xã Đô Lương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Chúng tôi đăng

ký kết hôn được hơn 6 năm tại thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (nơi 2 vợ chồng công tác) Sau 3 năm chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ tôi xin chuyển công tác về huyện Đông Hưng và sống ly thân từ đó cho đến nay Tôi muốn ly hôn và vợ tôi cũng đồng ý thuận tình ly hôn Xin cho hỏi, tôi phải nộp đơn ly hôn ở đâu? Thủ tục xin ly hôn như thế nào?

Trang 12

Trả lời

Theo Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thì:

“1 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan,

tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

c) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản

Như vậy, theo Điều luật trên, anh có thể làm đơn xin ly hôn đến Tòa án địa phương nơi vợ anh cư trú (là Tòa án huyện Đông Hưng) hoặc do anh và vợ anh thuận tình ly hôn nên có thể thỏa thuận bằng văn bản Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn là Tòa án địa phương nơi anh cư trú (Tòa án thị xã Tuyên Quang)

Về thủ tục ly hôn gồm: Đơn thuận tình ly hôn có chữ ký của cả hai vợ chồng, và nội dung trong đơn

có ba vấn đề cần đề nghị Tòa án giải quyết là: ly hôn, nuôi con và tài sản Kèm theo đơn thuận tình ly hôn là giấy đăng ký kết hôn (bản chính) Trường hợp giấy đăng ký kết hôn bản chính bị thất lạc thì có thể nộp bản sao có chứng thực sao y bản chính, nhưng trong đơn xin thuận tình ly hôn phải nêu rõ lý do tại sao không có bản chính giấy đăng ký kết hôn Ngoài ra, cần nộp bản sao có chứng thực sao y bản chính của cơ quan có thẩm quyền các loại giấy tờ như: giấy khai sinh của con, sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân của hai vợ chồng, giấy chứng nhận về quyền sở hữu tài sản riêng,chung…

Câu hỏi1

Cách đây 3 năm, tôi quyết định sinh còn ngoài giá thú, tôi làm giấy khai sinh cho cháu mang họ của tôi, nay người cha đẻ của con tôi tha thiết muốn nhận con và đề nghị tôi bổ sung tên cha cho cháu Xin cho tôi hỏi, tôi muốn bổ sung tên cha vào giấy khai sinh của con tôi có được không? Tôi phải đến cơ quan nào để làm việc này?

ký cha, mẹ, con Thủ tục cụ thể như sau:

1 Người nhận cha, mẹ, con phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định) Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó

đó chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự

Kèm theo tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

a) Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;

b).Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có)

2 Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhân cha, mẹ, con là đúng

sự thật và không có tranh chấp, thì UBND cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày

3 Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp cha hoặc mẹ đóchết Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc cha, mẹ,

Trang 13

con UBND cấp xa nơi đó đăng ký khai sinh cho người con sẽ căn cứ vào Quyết định này để ghi bổ sungphần khai về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính khai sinh của người con, nếu phần khai vềcha, mẹ trước đây để trống.

Câu hỏi1

Điều kiện yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cha mẹ không đăng ký kết hôn?

Trả lời

Để có thể yêu cầu cấp dưỡng cho con cần có điều kiện sau:

- Người cha tự nguyện nhận con hoặc thừa nhận đó là con chung của hai người (làm thủ tục nhận con tại

Ủy ban nhân dân xã, phường nơi người cha cư trú: khai tên cha trong Giấy khai sinh của con, đặt tên contheo họ của cha, đăng ký hộ tịch cho con…);

- Có quyết định hoặc bản án xét xử công nhận cha cho con của Tòa án nhân dân (mẹ yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân yêu cầu Tòa án xác định cha cho con chưa thành niên (con dưới

Thủ tục tiến hành như sau:

- Người có yêu cầu thay đổi người nuôi con nộp đơn yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố nơi mình đang cư trú

- Nộp các tài liệu, chứng cứ liên quan: bản sao hợp lệ giấy khai sinh (của con), sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người yêu cầu thay đổi, quyết định hoặc bản án ly hôn;

- Người đang cư trú ở nước ngoài có đơn xin vắng mặt trong đó nói rõ nguyện vọng, yêu cầu về người nuôi con, vấn đề cấp dưỡng nuôi con (nếu có)

Đơn này phải được xác nhận chữ ký của đương sự của cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài (đại sứquán, lãnh sự quán…)

- Tòa án quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu công nhận việc thay đổi người nuôi con sau khi nhận

đủ hồ sơ hợp lệ

Câu hỏi1

Tôi có một người bạn li hôn với chồng được 2 năm rồi Nhưng họ vẫn sống chung với nhau Khi tôi hỏi, bạn ấy trả lời là li hôn giả để chồng đi nước ngoài và bảo lãnh vợ đi Vậy nếu li hôn giả như vậy có bị cho là vi phạm không?

Trả lời

Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn

Trang 14

giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi" Như vậy, việc ly hôn giả tạo của cặp vợ chồng mà bạn hỏi đã vi phạm quy định nói trên của Luật Hôn nhân và gia đình.

Câu hỏi1

Tôi và vợ tôi đã mua một căn hộ chung cư ở khu đô thị mới Linh Đàm, nhưng thời điểm ký kết hợp đồng mua bán tôi không có mặt ở Hà Nội nên trong giấy tờ mua bán chỉ có tên vợ tôi, không có tên tôi Đến nay khi làm thủ tục chuyển tên sổ đỏ thì tôi muốn đứng cả tên tôi và vợ tôi trong sổ đỏ thì pháp luật

có cho phép không, thủ tục như thế nào?

Trả lời

Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000, tại điều 27 quy định: Quyền sử dụng đất mà vợ chồng

có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng

Trong trường hợp của anh, việc đăng ký mua nhà có từ thời kỳ hôn nhân, nếu vợ chồng anh không có tàiliệu nào chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của vợ anh thì tài sản đó mặc nhiên vẫn là tài sản sở hữu chung Trong trường hợp vợ anh muốn bán căn nhà này nhưng nếu không có sự đồng ý của anh thì cũngkhông thể thực hiện được giao dịch hợp pháp

Trường hợp mặc dù đã hiểu những phân tích như trên nhưng anh vẫn muốn đứng tên cùng vợ trong sổ

đỏ thì vẫn có thể thực hiện được Hồ sơ gồm có: đơn xin đăng ký biến động về sử dụng đất; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1,

2 và 5 điều 50 của Luật Đất đai (nếu có); các giấy tờ pháp lý khác có liên quan đến việc đăng ký biến động về sử dụng đất Trong thời hạn không quá 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tàinguyên và môi trường có trách nhiệm chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Giấy cư trú do Sở ngoại kiều cấp (tương đương hộ khẩu thường trú của Việt Nam)

- Giấy chứng nhận cư trú do phòng đăng ký dân sự nhà ở cấp (nội dung của Giấy này thể hiện cá nhân

đó hiện đang độc thân)

- Giấy khám sức khoẻ (nội dung thể hiện không bị mắc bệnh tâm thần)

Lưu ý, những loại giấy từ trên đều phải được hợp pháp hoá lãnh sự; nếu người nước ngoài không về nước thì phải bổ sung thêm 2 loại giấy tờ sau:

- Giấy uỷ quyền: uỷ quyền cho vợ, hoặc chồng là người Việt Nam do Đại sứ quán Việt Nam tại nước sở tại cấp và phải được hợp pháp hoá lãnh sự

- Tờ khai đăng ký kết hôn do Đại sứ quán cấp

Đối với đối tượng là người Việt Nam phải cung cấp CMND và hộ khẩu

(Theo điều 13, Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/ 2002, Điều 103, Luật Hôn nhân gia đình năm 2000)

Trang 15

Câu hỏi1

Vợ tôi đơn phương xin ly hôn và yêu cầu được quyền nuôi con chung 4 tuổi Nhưng tôi thấy vợ tôi không đủ điều kiện để nuôi con, vợ tôi không có công việc và thu nhập ổn định, bỏ con đi khỏi nhà hơn 1 tháng nay không có tin tức gì Hiện con đang ở với tôi rất tốt Tôi có việc làm và thu nhập

ổn định Vậy khi ra tòa tôi muốn được nuôi con, Tòa án có chấp nhận không?

Trả lời

Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau: Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, nếu không thoả thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.Như vậy, trong trường hợp này, nếu cháu đang ở với bạn, bạn có đủ điều kiện chăm sóc giáo dục cháu tốt hơn, thì hai vợ chồng bạn nên thỏa thuận với nhau Trong trường hợp không thỏa thuận được sẽ do tòa quyết định

Thời gian vợ bạn bỏ đi mới hai tháng thực chất chưa chứng minh được ai sẽ nuôi dạy con tốt Tuy nhiên,nếu bạn chứng minh được vợ bạn không có việc làm ổn định, thu nhập không ổn định, không đủ điều kiện nuôi dạy con tốt và bạn có đầy đủ yếu tố để nuôi dưỡng chăm sóc con tốt hơn thì bạn hoàn toàn có

cơ sở để tòa xem xét quyết định cho bạn được nuôi dưỡng cháu

- Tài sản là gia súc, gia cầm bị thất lạc

- Tiền từ tài sản vợ chồng có được do không biết ai là chủ sở hữu (nhặt được, đào được )

- Tài sản là vật nuôi dưới nước

Trang 16

ký của cả vợ và chồng và có thể công chứng, chứng thực theo quy định.

Việc xác định mức cấp dưỡng là do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết

Trang 17

thủ tục đăng ký kết hôn quy định như sau:

- Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân củangười đó Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng,

kể từ ngày xác nhận

- Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong thời hạn công tác, học tập lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ

- Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình giấy chứng minh nhân dân Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của UBND cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó

Câu hỏi1

Chị gái họ của tôi đang hoàn tất thủ tục xin ly hôn, nhưng chồng của chị ấy lại muốn nuôi con, con của anh chị được gần 2 tuổi, do anh không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định, nên chị gái họ của tôi không muốn để con cho anh nuôi mà muốn là người trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh phải cấp dưỡng Xin cho hỏi, Luật hôn nhân và gia đình quy định như thế nào về vấn đề này?

Trả lời

Theo quy định của pháp luật thì chỉ khi có bản án - quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án thì quan

hệ hôn nhân mới chấm dứt Theo đó, các quan hệ khác như quan hệ về tài sản chung vợ chồng, con cái, cấp dưỡng… đều phải được giải quyết

Pháp luật nước ta quy định, sau khi ly hôn vợ chồng vẫn có nghĩa vụ ngang nhau trong việc trong nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Người không nuôi con

có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con (nếu các bên không có thỏa thuận khác)

Tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn: “Vợ chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa

vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con trực tiếp cho một bên nuôi con căn cứ vào mọi mặt quyền lợi của con; nếu con từ đủ từ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét đến nguyện vọng của con Về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên không có thoả thuận khác”

Ngoài ra khi quyết định, Toà án cũng xem xét đến vấn đề tư cách đạo đức, hoàn cảnh công tác, điều kiệnkinh tế, thời gian… của mỗi bên vợ chồng để giao con cho ai nuôi

Câu hỏi1

Ở cạnh gia đình nhà tôi có một cháu bé năm nay cháu khoảng 12-13 tuổi, cháu được nhận về làm con nuôi từ khi còn bé, nhưng tôi biết rõ là cha mẹ nuôi của cháu không yêu thương cháu, thậm chí còn đánhđập và bỏ đói cháu nhiều lần, bắt cháu làm những công việc nặng nhọc, bóc lột sức lao động của cháu Tôi xin hỏi, cơ quan tổ chức hay đoàn thể nào có thể đứng ra yêu cầu Toà án chấm dứt quan hệ với những người cha, mẹ nuôi không đủ tư cách ấy?

Trả lời

Tại điều 67 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

Trang 18

“1 Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội…

Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ vàcon theo quy định của Luật này

Căn cứ điều 76 Luật hôn nhân và gia đình quy định về chấm dứt việc nuôi con nuôi thì Toà án có thể quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong một số trường hợp trong đó có trường hợp cha mẹ nuôi đã

có các hành vi lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em,

bị kết án mà cha được xoá án tích về các tội như cố ý xâm phạm tính mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh

dự người khác, ngược đãi hành hạ cha mẹ, ông bà, vợ chồng, con…, chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp, mua bán đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em…v v

Trong các trường hợp nói trên thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi Các cơ quan tổ chức như Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi Bên cạnh đó các cá nhân, cơ quan tổ chức khác cũng có quyền đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt; Nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc là người đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Toà

án quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng

Câu hỏi1

Ở cạnh gia đình nhà tôi có một cháu bé năm nay cháu khoảng 12-13 tuổi, cháu được nhận về làm con nuôi từ khi còn bé, nhưng tôi biết rõ là cha mẹ nuôi của cháu không yêu thương cháu, thậm chí còn đánhđập và bỏ đói cháu nhiều lần, bắt cháu làm những công việc nặng nhọc, bóc lột sức lao động của cháu Tôi xin hỏi, cơ quan tổ chức hay đoàn thể nào có thể đứng ra yêu cầu Toà án chấm dứt quan hệ với những người cha, mẹ nuôi không đủ tư cách ấy?

Trả lời

Tại điều 67 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“1 Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội…

Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ vàcon theo quy định của Luật này

Trang 19

thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con chung, con riêng…… đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật” Như vậy người con nuôi cũng được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như con đẻ, đồng thời cha mẹ nuôi cũng phải có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con nuôi theo quy định của pháp luật Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng việc nuôi con để bóc lột sức lao động, hành hạ hoặc vì mục đích trục lợi khác.

Căn cứ điều 76 Luật hôn nhân và gia đình quy định về chấm dứt việc nuôi con nuôi thì Toà án có thể quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong một số trường hợp trong đó có trường hợp cha mẹ nuôi đã

có các hành vi lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em,

bị kết án mà cha được xoá án tích về các tội như cố ý xâm phạm tính mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh

dự người khác, ngược đãi hành hạ cha mẹ, ông bà, vợ chồng, con…, chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp, mua bán đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em…v v

Trong các trường hợp nói trên thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi Các cơ quan tổ chức như Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi Bên cạnh đó các cá nhân, cơ quan tổ chức khác cũng có quyền đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt; Nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc là người đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Toà

án quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng

Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình thì

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng

có thoả thuận

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất

2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng

3 Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”

Căn cứ vào quy định trên thì tài sản do vợ chồng tạo ra do thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng Do đó, thổ đất thổ cư mà vợ chồng anh chị mua hợp pháp sau khi kết hôn làtài sản chung của vợ chồng

Các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của vợ, chồng theo quy định tại khoản 2, Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình và Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3-10-2001 của Chính Phủ, bao gồm: Nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật

Trang 20

quy định phải đăng ký quyền sở hữu.

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu trước ngày Nghị định số 70/2001/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 10-2001) mà chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng thì vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản đó để ghi tên của cả vợ chồng; nếu vợ chồng không yêu cầu cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợchồng, nếu có tranh chấp, bên nào cho đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình thì có nghĩa vụ chứng minh

18-Vì vậy, anh có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của cả hai vợ chồng

Câu hỏi1

Ai tham gia hòa giải ly hôn tại Tòa án?

Trả lời

Theo quy định, thành phần phiên hòa giải ly hôn tại Tòa án gồm có:

- Thẩm phán, chủ trì phiên hòa giải

- Thư ký Tòa án, ghi biên bản hòa giải

- Vợ, chồng yêu cầu ly hôn

- Người đại diện hợp pháp của vợ, chồng

- Người phiên dịch (nếu vợ, chồng không biết tiếng Việt)

Câu hỏi1

Khi nộp đơn ly hôn cần những thủ tục nào? Cán bộ Toà án yêu cầu hồ sơ phải có Biên bản hoà giải của

xã như vậy có đúng không?

Trả lời

Nếu vợ chồng đều quyết định Ly hôn thì hai người viết đơn thuận tình ly hôn và nộp cho Toà án nhân dân nơi có hộ khẩu thường trú trong đó nêu rõ lý do dẫn đến việc vợ chồng ly hôn, việc thoả thuận giải quyết tài sản chung và nuôi con

Nộp kèm giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con và giấy chứng nhận các loại tài sản chung của

vợ chồng (nếu có)

Khi có đầy đủ đơn thuận tình Ly hôn và các loại giấy tờ liên quan nêu trên bạn đến nộp tại Toà án nhân dân có thẩm quyền chứ không cần phải có biên bản thoả thuận hoặc thông qua Uỷ ban nhân dân phường.Việc cán bộ Tòa án yêu cầu hồ sơ phải có Biên bản hòa giải của phường là không đúng quy định pháp luật

Câu hỏi1

Ngày đăng: 27/06/2014, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w