Nếu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ mua bán trên thị trường.. với giá chứng khoán đư
Trang 1để mọi nguồn vốn trong nước, tranh thủ tối đa nguồn vốn từ bên ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư, phát triển nền kinh tế trong nước Tuy nhiên nhu cầu về vốn ngày càng cao đòi hỏi cần có thêm những kênh huy động mới để bổ sung vốn kịp thời cho nền kinh tế
Ra đời từ năm 2000 (đánh dấu bằng việc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đưa Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) vào hoạt động), thị trường chứng khoán có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường Nó là kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư - bao gồm cả Nhà nước và các loại hình doanh nghiệp Thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy động nào có thể làm được.
Nắm bắt được tầm quan trọng của thị trường chứng khoán trong vấn đề huy
động vốn, trong bài viết này nhóm tác giả xin được trình bày về “Điều kiện và
khả năng huy động vốn qua thị trường chứng khoán Việt Nam”.
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Lí luận chung về thị trường chứng khoán và điều kiện huy động vốn qua thị trường chứng khoán
Trang 2- Chương 2: Thực trạng huy động vốn qua thị trường chứng khoán Việt Nam
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn qua thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của giảng viên phụ trách đã giúp nhóm hoàn thành đề tài
Phần 1 : Tóm tắt
I: Những lý luận chung về điều kiện và khản năng huy động vốn qua thị trường chứng khoán
1 Điều kiện chung để huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư
1.1 Tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế 1.2 Đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô:
1.3 Xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn có hiệu quả
2 Huy động vốn qua thị trường chứng khoán
2.1 Bản chất hoạt động huy động vốn qua thị trường chứng khoán
Trang 32.2 Các phương thức phát hành chứng khoán, điều kiện và thủ tục phát hành
chứng khoán 2.3 Điều kiện và thủ tục phát hành chứng khoán
2.4 Cách xác định tổng mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán
II: Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam 2000-2008
1 Thực trạng việc huy động vốn đầu tư của các công ty ở Việt Nam bằng cách phát hành chứng khoán.
1.1 Về hoạt động của các công ty chứng khoán
1.2 Về hoạt động giao dịch chứng khoán
2 Thực trạng huy động vốn qua thị trường chứng khoán Việt Nam
3 Những tồn tại và hạn chế của thị trường chứng khoán ảnh hưởng đến khả
năng huy động vốn
3.1 Về khung pháp lý
3.2 Hàng hoá cho thị trường
3.3.Hoạt động kinh doanh và quản trị các Công ty niêm yết
3.4 Hoạt động công bố thông tin trên thị trường
3.5 Những thách thức đối với các CtyCK
III: Khản năng huy động vốn qua thị trường chứng khoán tại Vn trong giai đoạn 2010 -> 2020
1 Vài nét Sơ bộ chiến lược phát triển thị trường chứng khoán 2011-2020
2 Mục tiêu và Giải pháp của Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2020
Trang 43 Dự báo về điều kiện thực hiện huy động vốn trong tương lai
IV.Phụ lục : Tài liệu tham khảo
Phần 2 : Điều kiện và khản năng huy động vốn qua thị trường chứng khoán
Trang 5I Những lý luận chung về điều kiện và khản năng huy động vốn qua thị trường chứng khoán
1 Điều kiện huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư
1.1 Tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế:
Đặt trong bối cảnh tổng quát và dài hạn, năng lực tăng trưởng của nền kinh tế là yếu tốquan trọng xác định triển vọng huy động các nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả Vấn đềtăng trưởng ở đây được nhìn nhận như một yếu tố tạo sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với vốnđầu tư cả trong nước và nước ngoài Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thuhút nó càng lớn Thứ nhất, với năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích lũy của nềnkinh tế sẽ có khả năng gia tăng Khi đó, quy mô các nguồn vốn trong nước có thể huy động sẽđược cải thiện Thứ hai, triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng sẽ là tín hiệu tốt thuhút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Thực tiễn Việt Nam trong những năm qua, ở chừng mực nhất định đã chứng minh chomối quan hệ này Từ khi thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, bên cạnh việc thoát khỏikhủng hoảng nền kinh tế Việt Nam còn đạt được thành tích tăng trưởng kinh tế cao liên tục(bình quân GDP hàng năm trong giai đoạn 1991-2005 đạt 7,5%, có những giai đoạn cá biệt tăng
2 năm liên tục 9% mỗi năm) Điều đó làm cho khả năng huy động, khai thác và sử dụng cácnguồn vốn đầu tư được mở rộng hơn Tốc độ gia tăng quy mô vốn đầu tư phát triển gia tăngđáng kể (trung bình hơn 20%/năm) Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển gia tăng mạnh mẽ (năm
1991 chỉ khoảng 17,6% GDP thì đến năm 2005 đã đạt xấp xỉ 38,7% GDP) Trong đó, cả nguồnvốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài đều có sự chuyển biến về quy mô và tốc độ tăngtrưởng
Để tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng của nền kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả cácnguồn lực đầu tư cho nền kinh tế, trong thời gian tới Việt Nam cần:
- Tăng cường phát triển sản xuất kinh doanh và thực hành tiết kiệm cả trong sản xuất vàtiêu dùng của toàn xã hội Có các biện pháp hữu hiệu để sử dụng có hiệu quả các nguồnvốn đầu tư Đây vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện để phát triển và là cơ sở để đảm bảogia tăng khả năng huy động các nguồn vốn
- Đối với tất cả các nguồn vốn đầu tư, phải xác định yếu tố hiệu quả là yêu cầu về mặtchất lượng của việc huy động vốn trong lâu dài Với vai trò trung tâm điều chỉnh và địnhhướng quá trình đầu tư phát triển của nền kinh tế, hiệu quả của nguồn vốn đầu tư nhànước phải đặc biệt chú trọng Các dự án sử dụng vốn nhà nước phải được đánh giá trêncác tiêu chuẩn hiệu quả, phải được quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo thời hạn xây dựng,giá cả và chất lượng công trình Cần hoàn thiện hơn nữa cơ chế về quản lý đầu tư Tiếptục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tăng cường tính hiệu quả đầu tư của khu vực kinh
tế này
Trang 6- Các dự án sử dụng vốn vay phải có phương án trả nợ vững chắc, xác định rõ tráchnhiệm trả nợ, không được gây thêm gánh nặng nợ nần không trả được Phải sử dụngnguồn vốn ODA có hiệu quả trên cơ sở kiểm tra, quản lý chặt chẽ, chống lãng phí, tiêucực Cần có nhận thức và hiểu đúng đắn về vốn ODA Không nên coi đó là nguồn viện trợthuần túy, dẫn đến sử dụng kém hiệu quả, lãng phí, không trả được nợ và cuối cùng là bị
lệ thuộc vào bên ngoài Cầm phải quán triệt quan điểm mà đại diện Chính phủ Việt Namphát biểu tại Hội nghị các nhà tư vấn tài trợ lần đầu tiên được tổ chức tại Paris: “Điềuquan trọng là các nguồn vốn bên ngoài được sử dụng hiệu quả, chính phủ chịu tráchnhiệm điều phối và sử dụng nguồn vốn nước ngoài với nhận thức sâu sắc rằng nhân dânViệt Nam sẽ là người chịu cái giá phải trả cho sự thất bại nếu nguồn vốn này không được
sử dụng có hiệu quả.” Lẽ dĩ nhiên, nguồn vốn này sử dụng không hiệu quả thì không chỉ
sẽ chồng chất gánh nặng nợ nần mà còn khó có thể huy động được thêm các nguồn lựcmới
- Để tăng cường tính hiệu quả của nền kinh tế, cần phải tạo môi trường hoạt động bìnhđẳng cho tất cả các nguồn vốn đầu tư: đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, đầu tưcủa nhà nước và đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân Xây dựng một hệ thống luật phápthống nhất và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xóa bở tư tưởng bao cấp về vốnđầu tư, khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân bỏ vốn tham gia đầu tư Phải lấy hiệu quảkinh tế làm thước đo của các hoạt động đầu tư
1.2 Đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Sụ ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô luôn được coi là điều kiện tiên quyết của mọi ý định
và hành vi đầu tư Về nguyên tắc, để thu hút được các nguồn vốn đầu tư nhằm ngày càng đápứng tốt hơn các yếu cầu phát triển của đất nước, phải đảm bảo nền kinh tế đó trước hết là nơi
an toàn cho sự vận động của nó và sau nữa là nơi có năng lực sinh lợi cao
Sự an toàn của vốn đòi hỏi môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, không gặp những rủi ro do cácyếu tố chính trị, xã hội hay môi trường kinh doanh gây ra Đối với vốn đầu tư nước ngoài, nócòn yêu cầu năng lực trả nợ tối thiểu của nước nhận vốn đầu tư Một tốc độ tăng trưởng xuấtkhẩu tối thiểu đủ để chủ nợ thu hồi lại vốn
Tuy nhiên, sự ổn định kinh tế vĩ mô ở đây phải thõa mãn yêu cầu gắn liền với năng lực tăngtrưởng của nền kinh tế, hay ổn định trong tăng trưởng Tức là nền kinh tế có thể chủ động kiểmsoát được quá trình tăng trưởng, chủ động tái lập được trạng thái cân bằng mới và đó cũngđồng thời là việc tạo ra cơ sở cho sự ổn định lâu dài và vững chắc Để thõa mản được yêu cầunày là một việc khó khăn và phức tạp, nó liên quan chặt chẽ đến hoạt động điều tiết kinh tế vĩ
mô của chính phủ
Trang 7Có thể đưa ra một số điều kiện cụ thể có tính nguyên tắc liên quan đến ổn định kinh tế vĩ
mô là yếu tố đảm bảo thu hút có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư
Ổn định giá trị tiền tệ: Đây là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy
động các nguồn vốn cho đầu tư Ổn định giá trị tiền tệ ở đây bao hàm cả việc kiềm chế lạm phát
và khắc phục hậu quả của tình trạng giảm phát nếu xảy ra đối với nền kinh tế Để đạt yêu cầu
ổn định giá trị tiền tệ, cần phải tạo ra sự vận động đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thịtrường bao gồm cả lĩnh vực sản xuất vật chất, hệ thống tài chính và cơ chế phân phối, lưu thôngtương ứng
Bên cạnh đó, hoạt đông của ngân sách nhà nước cũng có ý nghĩa quan trọng Ngân sách nhànước mà thâm hụt triền miên cũng sẽ đi kèm với tình trạng lạm phát cai và mất ổn định Vì vậykiểm soát được mức thâm hụt ngân sách có thể coi là một mục tiêu tài chính trung tâm hướngtới sự ổn định kinh tế vĩ mô Một mặt, thuế và chi ngân sách (bao gồm hai khoản mục chủ yếu
là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển của nhà nước) là những công cụ quan trọng trongviệc ổn định giá trị tiền tệ Mặt khác, thuế và các công cụ tài chính khác cũng là một trongnhững chính sách quan trọng trong việc khuyến khích đầu tư và tái đầu tư từ lợi nhuận Do đó,khi sử dụng các công cụ này trong ổn định giá trị tiền tê, đồng thời phải đảm bảo nguồn thu chongân sách nhà nước để đáp ứng chi tiêu đầu tư của nhà nước Tiếp tục cải cách hành chính để
có thể giảm tương đối chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách Từng bước tăng quy mô và tỷtrọng cũng như hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Lãi suất và tỷ giá hối đoái: Lãi suất và tỷ giá hối đoái không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động
thu hút các nguồn vốn đầu tư thông qua việc tạo lập ổn định kinh tế vĩ mô mà còn tác động đếndòng chảy của các nguồn vốn đầu tư và mức lợi nhuận thu được tại một thị trường xác định Đối với lãi suất, về mặt lý thuyết lãi suất càng cao thì xu hướng tiết kiệm càng lớn và từ đótiềm năng của các nguồn vốn đầu tư càng cao, Bên cạnh đó, nếu mức lãi suất trên thị trườngnội địa mà cao hơn tương đối so với mức lãi suất quốc tế thì còn đồng nghĩa với việc hấp dẫntrong thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong điều kiện toàn cầu hóa và mở cửa của nền kinh tếthế giới, mức lãi suất tương đối cao tại thị trường trong nước còn là công cụ hữu hình để chínhphủ bảo vệ được nguồn vốn của nước mình, ngăn chặn được nạn đào thoát vốn ra nước ngoài Tuy nhiên bản thân yếu tố lãi suất cũng có yếu tố hai mặt, đó là khi tăng lãi suất cũng cónghĩa là chi phí sử dụng vốn trong đầu tư cao hơn Điều này sẽ làm giảm phần lợi nhuận thựccủa nhà đầu tư Tác động kích thích huy động vốn với lãi suất cao xét trên góc độ này có chiềuhướng ngược lại Vì vậy, khi sử dụng công cụ lãi suất phải hết sức cẩn trọng để xác định mức lãisuất phù hợp, có tác động tích cực đến hiệu quả huy động vốn
Đối với tỷ giá hối đoái, thực tế cho thấy rằng giá trị của đồng nội tệ càng giảm thì khản năngthu ngoại tệ càng lớn.Điều này sẽ khuyến khích các nhà đầu tư vào hàng xuất khẩu và khi đó
Trang 8sức hấp dẫn của vốn nước ngoài sẽ càng lớn Một nước có khản năng xuất khẩu cao, khản năngtrả nợ của nó cũng được đảm bảo hơn, mức độ rủi ro trong đầu tư sẽ giảm xuống từ đó khuyếnkhích các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư và kinh doanh Tuy nhiên khi xem xét tỷ giá hối đoáitrong chiến lược huy động vốn của một nền kinh tế mở, giá trị của các đồng tiền trên thế giớikhông chỉ ảnh hưởng đến khản năng vay và trả nợ thông qua thông qua việc làm tích cực hóacán cân thương mại mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng nợ phải trả Việc vay nợ tínhtrên một đồng ngoại tệ đang có xu hướng mạnh lên đồng nghĩa với việc phải trả một khối lượng
nợ Vì vậy một tỷ giá phù hợp sẽ có vai trò quan trọng quyết định việc thu hút vốn đầu tư đặcbiệt là vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên bài toán này chỉ đúng đáp số khi đặt nó trong sự cânnhắc về lợi ích tổng thể và dài hạn của nền kinh tế
Về lâu dài, cần phải thực hiên tốt chức năng hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xãhội của nhà nước trong mối quan hệ mật thiết với lĩnh vực thu hút vốn đầu tư Cần phải nângcao chất lượng quy hoạch tổng thể, có chính sách huy động đồng bộ các nguồn vốn, phù hợpvới quy hoạch ngành lãnh thổ ưu tiên.Nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư, hoàn thiện bộ máy tổchức, đơn giản hóa thủ tục hành chính về đầu tư và xây dựng, thống nhất về các cơ chế chínhsách đầu tư
Nhanh chóng cải thiện và đồng nhất môi trường đầu tư tạo điều kiện cho việc khai thácnguồn vốn đầu tư trong các thành phần kinh tế Coi trọng các hoạt động kế toán, kiểm toán, tưpháp hỗ trợ và đảm bảo việc kinh doanh lành mạnh, chống tham nhũng Tiếp tục xây dựng vàhoàn thiện khung pháp luật phù hợp với kinh tế thị trường, nhằm đảm bảo môi trường kinh tế
vĩ mô ổn định, lành mạnh, nhất quán và phù họp với thông lệ quốc tế
1.3 Xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn có hiệu quả
Bên cạnh tiềm năng tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô, để có thể huy động có hiệu quảcác nguồn vốn cho đầu tư cần có các chính sách và giải pháp hợp lý và đồng bộ.Các chính sách
và giải pháp cần đáp ứng được các yêu cầu có tính nguyên tắc như sau:
- Các chính sách và giải pháp huy động vốn cho đầu tư cần phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn và phải thực hiện được các nhiệm vụ của chính sách tài chính quốc gia Việc thực hiện các chính sách và giải pháp khai thác và huy
động vốn phải có tính toán tổng hợp về khản năng cung ứng vốn và khản năng tăngtrưởng các nguồn vốn trên cơ sở giải quyết hợp lý các mối quan hệ giữa tích lũy và tiêudùng Các chính sách đầu tư phải đảm bảo khuyến khích định hướng các hoạt động thuhút cung ứng vốn nhằm huy động tổng lực của nền kinh tế cho công nghiệp hóa đất nước
- Phải đảm bảo mối tương quan hợp lý giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài Cần quán triệt nguyên tắc: Vốn trong nước là quyết định và vốn ngoài nước là
quan trọng.Ưu thế của vốn trong nước là: ổn định bền vững, giảm thiểu những hậu quả
Trang 9xấu đối với nền kinh tế do tác động của thị trường tài chính tiền tệ và nền kinh tế của cácnước khác trên thế giới tuy nhiên trong giai đoạn đầu của CNH-HDH thì nguồn vốn nướcngoài có tầm quan trọng trong tương quan cơ cấu cụ thể.Còn trong dài hạn việc huyđộng vốn nước ngoài nhằm tận dụng tối đa các lọi thế so sánh của đất nước, nhanhchóng tạo ra năng lực tích lũy nội địa cao để đảm bảo vai trò của vốn đầu tư trong nướcđối với nền tăng trưởng kinh tế
- Cần phải đa dạnh hóa và hiện đại các hình thức và phương tiện huy động vốn Tiếp tục
mở rộng các hình thức huy động tín dụng đầu tư phát triển khu vực nhà nước từ khu vựcdân cư qua việc phát hành trái phiếu với lãi suất và thời hạn hấp dẫn Thành lập và pháttriển hệ thống quỹ đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau Từng bước gia nhập thịtrường vốn trong và ngoài nước nhàm huy động vốn cho đầu tư phát triển
- Các chính sách huy động vốn cần phải tiến hành đông bộ về cả nguồn vốn và biện phápthực hiện Đảm bạo dự bình đẳng gắp bó và tạo điều kiện lẫn nhau cùng phát triển giữacác nguồn vốn Cân tiếp tục đổi mới các chính sách động viên các nguồn tài chính chongân sách nhằm đảm bảo tăng cường uy động vốn một cách vững chắc, ổn định và bềnvững nhưng vẫn khuyến khích các DN và dân cư bỏ vốn ra đầu tư Cần quán triệt quanđiểm là thu nhưng không làm suy yếu các nguồn thu quan trọng mà phải bồi dưỡng pháttriển và mở rộng các nguồn thu một cách vững chắc, lâu bền
2 Thị trường chứng khoán và Huy động vốn qua thị trường chứng khoán
2.1 Chứng khoán
1.1 Khái niệm chứng khoán
Theo khoản 1 điều 6, Luật Chứng khoán 2006 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật chứng khoán số 62/2010/QH12 thì chứng khoán được hiểu là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
1.2 Phân loại chứng khoán
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ
- Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
Trang 10- Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành
- Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng.
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán
- Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định.
- Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định.
- Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước.
- Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai.
1.3 Đặc điển chứng khoán
a) Tính thanh khoản cao
Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng Tuy nhiên tính thanhkhoản của cổ phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Trang 11Thứ nhất, kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành (công ty có cổ phiếu niêm yết) Nếu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ mua bán trên thị trường Ngược lại nếu công ty làm ăn kém hiệu quả không trả cổ tức hoặc cổ tức thấp, cổ phiếu của công ty sẽ giảm giá và khó bán.
Thứ hai, là mối quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán: Thị trường cổ phiếu cũng như các loại thị trường khác đều chịu sự chi phối của qui luật cung cầu Giá cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất lượng công ty mà còn phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tư Tuy một loại cổ phiếu rất tốt nhưng thị trường đang bão hòa nguồn cung (nhiều hàng bán) thì cổ phiếu đó cũng khó tăng giá Ngược lại khi thị trường khan hiếm hàng hóa thì ngay cả những cổ phiếu chất lượng kém hơn cũng có thể bán dễ dàng.
b) Có tính lưu thông
Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sư, nếu như tính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cổ phiếu chuyển cổ phiếu thành tiền mặt khi cần thiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiều hoạt động như thừa kế tặng cho để thục hiện nghĩa vụ tài sản của mình.
c) Tính tư bản giả
Cổ phiếu có tính tư bản giả tức là cổ phiếu có giá trị như tiền Tuy nhiên cổ phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng tiền Mệnh giá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu.
d) Tính rủi ro cao
Khi đã phát hành cổ phiếu không còn đem lại rủi ro cho tổ chức phát hành mà rủi ro lúc này thuộc về chủ sở hữu cổ phiếu Nguyên nhân là do giá trị của cổ phiếu do các nguyên nhân khách quan quyết định: kết quả kinh doanh của tổ chức
Trang 12phát hành cổ phiếu, tình hình chính trị,kinh tế xã hội của quốc gia và toàn thế giới, hơn nữa còn bị ảnh hưởng bởi tâm lý của số đông nhà đầu tư khi nắm bắt các thông tin không chính xác.
2 Thị trường chứng khoán
2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Trong nền kinh tế thị trường, xã hội của sản xuất được phân chia thành hai cực: Một cực có vốn tìm nơi đầu tư và một cực cần vốn để đầu tư vào sản xuất và kinh doanh.
Trong những ngày đầu của sản xuất hàng hóa và lưu thông tiền tệ, hệ thống ngân hàng sớm ra đời để huy động các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi hình thành trong xã hội nhằm tái phân phối cho nền kinh tế quốc dân theo nguyên tắc tín dụng Như vậy, một kênh vốn nối hai cực đó lại với nhau và phải thông qua các trung gian tài chính, trong đó chủ yếu là hệ thống ngân hàng được gọi là kênh dẫn vốn gián tiếp Khi xã hội của sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao, ngày một hoàn thiện thì những người có vốn đã có đủ điều kiện về môi trường pháp lý, môi trường tài chính v.v… để chuyển vốn của mình trực tiếp đầu
tư vào sản xuất không phải thông qua tầng lớp trung gian tài chính mà phải thông qua thị trường chứng khoán – một thị trường dẫn vốn trực tiếp từ cực có vốn này sang cực cần vốn kia theo nguyên tắc đầu tư Kênh dẫn vốn đó được gọi là kênh dẫn vốn trực tiếp.
Qua sự khảo sát giữa hai kênh dẫn vốn gián tiếp và trực tiếp chúng ta có thể thấy rằng, bên cạnh những ưu điểm đem lại từ kênh dẫn vốn trực tiếp mà kênh gián tiếp không thể có được, còn cho thấy thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc điều hòa vốn trong nền kinh tế quốc dân thông qua việc mua bán chuyển nhượng vốn giữa các chủ thể của nền kinh tế.
Trang 13Chính vì lẽ đó, khi nền sản xuất hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao đòi hỏi sự
ra đời thị trường chứng khoán quốc gia và trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế và xã hội nhưng ngày nay thì vấn đề toàn cầu hóa hoạt động thị trường chứng khoán của các nước trở nên cấp thiết và sẽ phát triển.
Vậy thị trường chứng khoán là gì? Có nhiều khái niệm về thị trường chứng khoán khác nhau, nhưng nhìn chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến: Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
Thị trường chứng khoán (securities market) là nơi trao đổi các chứng khoán Thị trường chứng khoán giúp những người thiếu vốn huy động được vốn và người
có để dành chuyển để dành của mình thành vốn đầu tư Vì thế, thị trường chứng khoán còn được gọi là thị trường vốn.
2.2 Phân loại thị trường chứng khoán
a) Căn cứ vào sự luân chuyển của các nguồn vốn, thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
a1 Thị trường sơ cấp (Primary Market)
*/ Đặc điểm
Trang 14- Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà chứng khoán đem lại vốn cho người phát hành.
- Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp (giá phát hành) do tổ chức phát hành quyết định Giá phát hành không phải là mệnh giá của chứng khoán vì giá phát hành chỉ đơn thuần là khoản tiền nhà đầu tư phải bỏ ra khi mua chứng khoán lần đầu tiên.
- Những người bán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là kho bạc, ngân hàng nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành…
- Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc tự do cạnh tranh tự
do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do tình hình cung, cầu quyết định So
Trang 15với giá chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, giá trên thị trường thứ cấp thường gần giá trị thực của chứng khoán hơn nên thị trường thứ cấp được coi là nơi định giá, đánh giá các công ty và các tổ chức phát hành.
- Khác với thị trường sơ cấp, chứng khoán trên thị trường thứ cấp có thể được mua bán nhiều lần Khả năng mua đi bán lại thường xuyên làm giảm rủi ro từ việc nắm giữ và do đó làm tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán.
b) Căn cứ vào hình thức tổ chức, thị trường chứng khoán được phân loại thành thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
b1.
Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán-Stock Exchange)
*/ Khái niệm
Thị trường tập trung hay sở giao dịch chứng khoán là một địa điểm nhất định
để người mua, người bán (hoặc đại lý hoặc người môi giới của họ) tiến hành các giao dịch mua, bán, trao đổi chứng khoán.
Một số sở giao dịch nổi tiếng trên thế giới có thể kể đến là NYSE, LSE, TSE…
Ở Việt Nam hiện nay có hai trung tâm giao dịch chứng khoán là Trung tâm giao dịch chứng khoán ở TPHCM và Hà nội Hai trung tâm giao dịch chứng khoán này, theo định nghĩa trên, có thể coi là sở giao dịch nhưng trên thực tế sở giao dịch ở các nước khác có nhiều chức năng và nghiệp vụ hơn so với các trung tâm giao dịch ở TPHCM và Hà Nội.
Trang 16- Sở giao dịch thường là nơi mua bán các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả (Ví dụ Cổ phiếu REE, SAM, HAP…) Tuy nhiên không phải công ty lớn và kinh doanh hiệu quả nào cũng có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường tập trung Chẳng hạn, cổ phiếu của công ty Microsoft hoặc cổ phiếu của Vina-milk không được giao dịch trên thị trường tập trung mà được giao dịch trên thị trường phi tập trung.
- Sở giao dịch chứng khoán được UBCKNN kiểm soát chặt chẽ Các giao dịch được điều chỉnh theo nghị định 144 của chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
b2 Thị trường phi tập trung (Thị trường OTC-Over the Counter)
*/ Khái niệm
Thị trường phi tập trung là nơi mua bán các chứng khoán chưa hoặc không được niêm yết trên thị trường tập trung Các giao dịch này thường được thực hiện thông qua hệ thống mạng máy tính.
NASDAQ là một ví dụ điển hình của thị trường phi tập trung Giao dịch trên thị trường này được thực hiện thông qua hệ thống mạng máy tính.
*/ Đặc điểm
- Thị trường phi tập trung không có một địa điểm giao dịch chính thức mà diễn
ra ở các quầy, các sàn giao dịch của các công ty chứng khoán thành viên thông qua mạng máy tính diện rộng.
- Giá cả trên thị trường này không do người phát hành ấn định mà được hình thành theo nguyên tắc thỏa thuận.
- So với sở giao dịch, khối lượng giao dịch trên thị trường OTC lớn hơn nhiều lần.
Trang 17- Khác với thị trường tập trung, thị trường phi tập trung là thị trường của những người tạo lập thị trường và những người kinh doanh chứng khoán và các nhà đầu tư.
c) Căn cứ vào loại hàng hóa, thị trường chứng khoán có thể được chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
c1 Thị trường cổ phiếu
Là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán cổ phiếu.
c2 Thị trường trái phiếu
Là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán trái phiếu.
c3.
Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
Là nơi diễn ra hoạt động mua, bán các chứng khoán phái sinh đã được phát hành Hàng hóa trên thị trường này là các sản phẩm tài chính cao cấp và chỉ có ở thị trường chứng khoán ở các nước phát triển Ở Việt Nam chưa có thị trường chứng khoán loại này.
2.3 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các nhóm sau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, chủ thể trung gian chứng khoán, cơ quan quản lý và giám sát hoạt động thị trường chứng khoán và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
Trang 18trái phiếu công ty Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ.
b) Chủ thể đầu tư: Chủ thể đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng
khoán trên thị trường chứng khoán Chủ thể đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức Theo khoản 10, điều 6 Luật Chứng khoán 2006, nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán.
c) Chủ thể trung gian chứng khoán (hay là các tổ chức kinh doanh trên thị
trường chứng khoán) gồm Công ty chứng khoán; Quỹ đầu tư chứng khoán; Các trung gian tài chính.
d) Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động thị trường chứng khoán là Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước
e) Các tổ chức có liên quan khác bao gồm Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng
khoán; Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán; Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán; Các tổ chức tài trợ chứng khoán; Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
2.4 Chức năng, vai trò của thị trường chứng khoán
a) Chức năng
*/ Là kênh huy động vốn cho nền kinh tế
Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ, chính quyền các địa phương và các công ty, tổ chức có thể huy động vốn từ nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng Chính phủ và chính quyền các địa phương huy động vốn bằng cách phát hành các trái phiếu, kỳ phiếu Các công ty, tổ chức có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty Vậy, ngoài kênh huy động vốn truyền thống là thông qua các trung gian tài chính (Ngân hàng, công ty bảo hiểm), Nhà nước và
Trang 19các chủ thể sản xuất kinh doanh có thêm một kênh huy động vốn là thị trường chứng khoán.
*/ Là một kênh đầu tư của công chúng
Thị trường chứng khoán là một kênh đầu tư để các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và chính phủ có thể lựa chọn Với thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư
có thêm một kênh để đa dạng hóa cùng với những hình thức đầu tư truyền thống khác (gửi ngân hàng, mua bất động sản, mở doanh nghiệp sản xuất kinh doanh…).
So với các hình thức đầu tư truyền thống, thị trường chứng khoán mang lại cho nhà đầu tư nhiều sự lựa chọn hơn Các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các chứng khoán phái sinh) thường rất đa dạng cả về mệnh giá, lãi suất, thời hạn và mức độ rủi ro Hơn nữa, việc mua bán chứng khoán trên thị trường đơn giản hơn so với các hình thức đầu tư khác Những đặc điểm này làm thị trường chứng khoán có sức hút với nhiều nhà đầu tư.
b) Vai trò của thị trường chứng khoán trong phát triển kinh tế
Thị trường chứng khoán không tồn tại trong mô hình xã hội chủ nghĩa Ngày nay, thị trường chứng khoán là một phần quan trọng trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường Trong giai đoạn hiện nay, thị trường chứng khoán và các
bộ phận khác của thị trường tài chính phát triển đồng thời và bổ trợ lẫn nhau trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thị trường chứng khoán nói riêng có những đóng góp nhất định trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
*/ Thị trường chứng khoán tạo tính thanh khoản cho chứng khoán.
Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư khả năng chuyển đổi các chứng khoán thành tiền mặt So với các hình thức đầu tư hay tiết kiệm khác, các nhà đầu tư có thể nhanh chóng thu hồi vốn (tháo lui đầu tư) thông qua việc bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Tính linh hoạt của chứng khoán cho
Trang 20phép các tổ chức phát hành chứng khoán có thể sử dụng vốn huy động trong thời gian dài để đầu tư cho các dự án dài hạn
*/ Thị trường chứng khoán làm tăng khả năng phân bổ vốn vào những dự án đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao.
Thông qua thị trường chứng khoán hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh rõ ràng, công khai và nhanh chóng Nhờ hệ thống công bố thông tin công khai trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể so sánh các cơ hội đầu tư dễ dàng hơn và điều này hướng họ tới đầu tư vào các công ty có những dự
án đầu tư mang lại tỷ suất lợi nhuận cao trong tương lai.
2.1 Bản chất hoạt động huy động vốn qua thị trường chứng khoán
Như đã đề cập tại phần I về thị trường chứng khoán, bản chất của việc huy động vốn qua thịtrường chứng khoán nằm ở hoạt động phát hành chứng khoán Đây chính là hoạt động của thịtrường chứng khoán sơ cấp
Thị trường chứng khoán sơ cấp là nơi duy nhất mà chứng khoán đem lại vốn cho người pháthành nó, trong khi các hành vi trên thị trường thứ cấp chỉ đơn thuần làm dịch chuyển quyền sởhữu vốn giữa các chủ thể mà không trực tiếp làm gia tăng vốn cho đơn vị phát hành
Thị trường chứng khoán thứ cấp không có chức năng tạo vốn cho người phát hành Cáckhoản tiền thu được từ việc mua bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp thuộc về các nhàđầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán Nói cách khác, trên thị trường thứ cấp, luồng tiềncủa nhà đầu tư này chảy vào túi nhà đầu tư khác Thị trường thứ cấp không trực tiếp mang lạivốn cho người đầu tư sản xuất kinh doanh như thị trường sơ cấp nhưng lại là nền tảng cho sựtồn tại và phát triển của thị trường sơ cấp
Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ, chính quyền các địa phương và các công ty,
tổ chức có thể huy động vốn từ nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng Chính phủ và chính quyềncác địa phương huy động vốn bằng cách phát hành các trái phiếu, kỳ phiếu Các công ty, tổ chức
có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty
Trang 212.2 Các phương thức phát hành chứng khoán, điều kiện và thủ tục phát hành chứng khoán
2.2.1 Khái niệm về phát hành chứng khoán
Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán Nếu đợt pháthành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi
là phát hành lần đầu ra công chúng
Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loạilưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung Tuy nhiên, không phảimọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới có đượcquyền này
2.2.2 Các phương thức phát hành chứng khoán
Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp Đó là phát hành riêng lẻ
và phát hành ra công chúng.
*/ Phát hành riêng lẻ (Private Placement): Là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán
của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức
có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí vớinhững điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng
Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phânphối để hưởng phí phát hành Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thứcphát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiệndưới hình thức này
*/ Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể
chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định(trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt mộtmức nhất định
*/ Ý nghĩa của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng: Việc phân
biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những người phát hành rộngrãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt,nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết
Trang 22Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và
có hiệu quả
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật Doanhnghiệp Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không phải là đối tượng được niêm yết vàgiao dịch trên thị trường chứng khoán sơ cấp
2.2.3 Điều kiện và thủ tục phát hành chứng khoán
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ không chịu sự điều tiết của pháp luật về chứng khoán
và thị trường chứng khoán Trong bài viết này nhóm tác giả xin đề cập tới điều kiện và thủ tụcđối với phương thức phát hành chứng khoán ra công chúng
a) Điều kiện phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng
Điều 12, Luật Chứng khoán 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật chứng khoán số
62/2010/QH12 quy định:
a1) Điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồngViệt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thờikhông có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
- Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đạihội đồng cổ đông thông qua
a2) Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bao gồm:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồngViệt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thờikhông có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trênmột năm;
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bánđược Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện pháthành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác
Trang 23a3) Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng bao gồm:
- Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu năm mươi tỷ đồng Việt Nam;
- Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào bán chứng chỉquỹ phù hợp với quy định của Luật này
Điều 4, Nghị định 14-2007 quy định điều kiện cụ thể cho một số loại hình doanh nghiệp trong việc phát hành cổ phiếu và các loại chứng khoán khác:
- Có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu
*/ Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển đổi thành công ty cổ phần:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồngViệt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thờikhông có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
- Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đạihội đồng cổ đông thông qua
- Có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu
*/ Đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng:
Trang 24- Là doanh nghiệp làm chủ đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thuộc đề án pháttriển kinh tế - xã hội của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ đông sáng lập đốivới phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán;
- Có tổ chức bảo lãnh phát hành;
- Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán
*/ Đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao:
- Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao được khuyến khích đầu tư theoquy định của pháp luật;
- Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ đông sáng lập đốivới phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán;
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện pháthành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán, kế hoạchphát hành số cổ phiếu cần thiết cho việc chuyển đổi được Đại hội đồng cổ đông thông qua.Phương án chuyển đổi bao gồm điều kiện, thời hạn chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, phương pháptính và các điều kiện khác được xác định ngay trong phương án phát hành
Trang 25*/ Tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu có bảo đảm ra công chúng theo mộttrong hai phương thức bảo đảm bằng bảo lãnh thanh toán hoặc bảo đảm bằng tài sản phải đápứng các điều kiện sau đây:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồngViệt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thờikhông có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trênmột năm;
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bánđược Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện pháthành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác
- Có cam kết bảo lãnh thanh toán kèm theo tài liệu chứng minh năng lực tài chính của tổchức bảo lãnh trong trường hợp bảo đảm bằng bảo lãnh thanh toán hoặc có tài sản đủ giá trịthanh toán trái phiếu trong trường hợp bảo đảm bằng tài sản Giá trị tài sản dùng để bảo đảmtối thiểu bằng tổng giá trị trái phiếu đăng ký chào bán Việc định giá tài sản dùng để bảo đảmphải do cơ quan, tổ chức thẩm định giá có thẩm quyền thực hiện và có giá trị không quá 12tháng kể từ ngày định giá Tài sản dùng để bảo đảm phải được đăng ký với cơ quan có thẩmquyền theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm
Quy định này không áp dụng đối với trường hợp tổ chức bảo lãnh thanh toán là Chính phủhoặc Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ bảo lãnh thanh toán theo thẩm quyền
- Tổ chức phát hành phải chỉ định đại diện người sở hữu trái phiếu để giám sát việc thựchiện các cam kết của tổ chức phát hành Các đối tượng sau đây không được làm đại diện người
sở hữu trái phiếu:
+ Tổ chức bảo lãnh việc thanh toán nợ của tổ chức phát hành;
+ Cổ đông lớn của tổ chức phát hành;
+ Tổ chức có cổ đông lớn là tổ chức phát hành;
+ Tổ chức có chung cổ đông lớn với tổ chức phát hành;
Trang 26+ Tổ chức có chung người điều hành với tổ chức phát hành hoặc cùng chịu sự kiểm soát của
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bánđược Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện pháthành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác
- Có nhu cầu huy động vốn làm nhiều đợt phù hợp với dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuấtkinh doanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Có kế hoạch chào bán trong đó nêu rõ đối tượng, số lượng và thời gian dự kiến chào báncủa từng đợt
b) Thủ tục phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng
b1 Đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
- Tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Uỷban Chứng khoán Nhà nước
- Các trường hợp sau đây không phải đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng:
+ Chào bán trái phiếu của Chính phủ Việt Nam;
+ Chào bán trái phiếu của tổ chức tài chính quốc tế được Chính phủ Việt Nam chấp thuận;+ Chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổphần;
+ Việc bán chứng khoán theo bản án, quyết định của Toà án hoặc việc bán chứng khoán củangười quản lý hoặc người được nhận tài sản trong các trường hợp phá sản hoặc mất khả năngthanh toán
Trang 27b2 Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
*/ Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm có:
- Giấy đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng;
- Bản cáo bạch;
- Điều lệ của tổ chức phát hành;
- Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương án sửdụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng;
- Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có)
*/ Hồ sơ đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng gồm có:
- Giấy đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng;
- Bản cáo bạch;
- Điều lệ của tổ chức phát hành;
- Quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công tythông qua phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bántrái phiếu ra công chúng;
- Cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện pháthành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác;
- Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có)
*/ Hồ sơ đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng gồm có:
- Giấy đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng;
- Bản cáo bạch;
- Dự thảo Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán;
- Hợp đồng giám sát giữa ngân hàng giám sát và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán;
- Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có)
*/ Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng phải kèm theo quyết định củaHội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua hồ sơ Đối vớiviệc chào bán chứng khoán ra công chúng của tổ chức tín dụng, hồ sơ phải có văn bản chấpthuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam