Như đã phân tích ở trên, các điểm thể hiện sự mất công bằng trong Luật thuế thu nhập cá nhân cần phải được điều chỉnh: Qui định thu thuế ngay từ đồng đầu tiên với mức thuế suất 0%, điều
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
HỌ VÀ TÊN : PHAN THỊ TỐ NHƯ
XÂY DỰNG MỨC KHẤU TRỪ GIA CẢNH
TRONG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
MÃ SỐ : 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
HỌ VÀ TÊN : PHAN THỊ TỐ NHƯ
XÂY DỰNG MỨC KHẤU TRỪ GIA CẢNH
TRONG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
MÃ SỐ : 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỒNG THẮNG
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011
Trang 3- MỤC LỤC
- MỤC LỤC HÌNH
- MỤC LỤC BẢNG
- PHẦN MỞ ĐẦU 1
- CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHẤU TRỪ TRONG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 5
1.1 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 5
1.1.1 Sự bất bình đẳng thu nhập và thuế thu nhập cá nhân 5
1.1.1.1 Sự bất bình đẳng thu nhập 5
1.1.1.2 Thuế thu nhập cá nhân 8
1.1.1.3 Các nguyên tắc xây dựng thuế thu nhập cá nhân 9
1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 13
1.1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân thường mang tính lũy tiến 13
1.1.2.2 Thuế thu nhập cá nhân đánh theo nơi cư trú và nguồn thu nhập 19
1.1.2.3 Thuế thu nhập cá nhân mang tính thứ bậc 20
1.1.2.4 Thuế thu nhập cá nhân là công cụ trực tiếp làm giảm sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 22
1.2 Thu nhập và thu nhập tính thuế 24
1.2.1 Thu nhập 24
1.2.2 Thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế 26
1.3 Khấu trừ thuế 28
1.3.1 Miễn thuế và khấu trừ thuế 28
Trang 41.4 Khấu trừ thuế ở các nước 35
Kết luận 40
CHƯƠNG 2: KHẤU TRỪ THUẾ TRONG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1991 – 2011 41
2.1 Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 41
2.1.1 Giai đoạn thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 41
2.1.1.1 Mức khấu trừ gia cảnh qua các thời kỳ 41
2.1.1.2 Bậc thuế (khung thuế) và thuế suất 43
2.1.2 Giai đoạn thuế thu nhập cá nhân 45
2.1.2.1 Khấu trừ gia cảnh 45
2.1.2.2 Bậc thuế ( khung thuế) và thuế suất 49
2.1.3 Đóng góp của thuế thu nhập cá nhân 50
2.2 Khấu trừ gia cảnh 51
2.2.1 Tính hợp lý về khấu trừ gia cảnh hiện nay ở Việt Nam 51
2.2.2 Các nhân tố tác động đến sự hình thành mức khấu trừ gia cảnh 52-53-54 2.2.2.1 Phương án 1 - dựa vào mức lương tối thiểu 55
2.2.2.2 Phương án 2 - dựa vào mức chi tiêu bình quân đầu người 58
2.3 Những thành công 60
2.4 Những khuyết điểm cần khắc phục 61
Kết luận 62
Trang 5CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÁC ĐỊNH KHẤU TRỪ THUẾ TRONG THUẾ THU
NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 63
3.1 Định hướng phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 63
3.1.1 Đảm bảo tương đồng giữa hệ thống thuế thu nhập cá nhân của Việt nam với giữa hệ thống thuế thu nhập cá nhân của các quốc gia mà Việt nam ký kết tham gia 64
3.1.2 Phát huy tính hiệu quả của Luật thuế thu nhập cá nhân 65
3.1.3 Tầm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân trong tương lai 66
3.2 Giải pháp chính 66
3.2.1 Phân nhóm đối tượng nộp thuế 66
3.2.2 Xây dựng quy trình xác định thuế theo tiêu chuẩn quốc tế 67
3.2.3 Xây dựng cơ chế điều chỉnh mức thuế và miễn giảm thuế theo thời gian 68
3.2.4 Hình thành khoản khấu trừ thuế 69
3.3 Giải pháp phụ trợ 74
3.3.1 Phát triển hạ tầng vật chất của ngành thuế 74
3.3.1.1 Hệ thống thông tin nội bộ 74
3.3.1.2 Phần mềm khai báo thuế thu nhập cá nhân 74
3.3.2 Kiểm tra thuế 75
3.3.2.1 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức tuân thủ của đối tượng nộp thuế 75
3.3.2.2 Kiểm tra thuế dựa theo rủi ro 76
Trang 6Kết luận 77 PHẦN KẾT LUẬN 78
Trang 7CHƯƠNG 1
1.1 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và mức độ bất bình đẳng về thu nhập 5
1.2 Thuế lũy tiến và chặn trên 14
1.3 Đánh thuế lũy tiến bằng cách lấy lượng tuyệt đối về độ hữu dụng bằng nhau 15
1.4 Đánh thuế lũy tiến bằng cách lấy lượng tương đối về độ hữu dụng bằng nhau 16
1.5 Đánh thuế lũy tiến để độ hữu dụng sau thuế bằng nhau 16
1.6 Thước đo thuế thu nhập tuyến tính 18
1.7 Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập 23
1.8 Thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế 26
Trang 8MỤC LỤC BẢNG
CHƯƠNG 1
1.1 So sánh mức khởi điểm chịu thuế của một số quốc gia trên thế giới 36
1.2 Bảng so sánh giữa khấu trừ thuế và miễn thuế theo Bruce và Rosen 38
1.3 Khấu trừ thuế tại Mỹ 39
CHƯƠNG 2 2.1 So sánh Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao giai đoạn 1991 – 2004 41-42 2.2 Biểu thuế suất đối với công dân Việt Nam và cá nhân là đối tượng cư trú tại Việt Nam 43
2.3 Biểu thuế suất đối với người nước ngoài, cư trú và lao động ở Việt Nam và công dân Việt Nam cư trú và lao động ở nước ngoài 44
2.4 Biểu thuế luỹ tiến từng phần 49
2.5 Các nhân tố tác động đến sự hình thành mức khấu trừ gia cảnh 52-53-54 2.6 Theo phương pháp forward 55
2.7 Theo phương pháp stepwise 56
2.8 Tóm tắt mô hình theo biến độc lập là mức lương tối thiểu 57
2.9 Kết quả tổng hợp 58
Trang 93.1 So sánh mức khởi điểm chịu thuế trước đây và thu nhập chịu thuế hiện
nay 69 3.2 Mức lương tối thiểu vùng 70 3.3 Mức khấu trừ gia cảnh theo phương án 1 dựa vào mức lương tối thiểu 71
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 2007 đến năm 2010, bội chi ngân sách nhà nước đã tăng từ 56.500
tỷ đồng lên đến 119.700 tỷ đồng, tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với tổng sản phẩm quốc nội GDP từ 5% tăng lên 6,2%; chi trả nợ và viện trợ từ 49.160 tỷ đồng tăng lên 70.250 tỷ đồng, tỷ lệ nợ công xấp xỉ 50% tổng sản phẩm quốc nội GDP 1 Thêm vào đó, giá vàng và giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tăng cao đã tác động tiêu cực đến đời sống vật chất và tâm lý của các tầng lớp dân cư gồm cả người thu nhập thấp lẫn người thu nhập cao Do đó, nếu chính sách thuế thu nhập
cá nhân không có những điều chỉnh hợp lý và kịp thời, đặc biệt là mức khấu trừ gia cảnh, thì trạng thái bất ổn của kinh tế vĩ mô cộng hưởng với khó khăn của các
hộ gia đình có thể sẽ tạo nên những sóng ngầm tiêu cực cho nền kinh tế
Tháng 3/2011 khi trình Chính phủ một số đề xuất đối với vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết mức khấu trừ gia cảnh 4 triệu đồng/tháng/người được căn cứ vào chính sách lương đang áp dụng, GDP bình quân trên đầu người, và mức chi tiêu bình quân hằng năm Tại thời điểm xây dựng Luật Thuế thu nhập cá nhân năm
2006 mức lương tối thiểu Nhà nước quy định là 450.000 đồng/tháng, thu nhập bình quân đầu người một năm lấy làm căn cứ xây dựng là 720USD của năm 2006
và mức 1.000USD giai đoạn (2009-2010) Đến năm 2011 cả tiền lương tối thiếu lẫn GDP bình quân đầu người đều thay đổi Mức lương cơ bản của công chức từ năm 2011 đạt 830.000 đồng/tháng Thu nhập bình quân đầu người cả nước năm
2010 là 1.168USD2, riêng Hà Nội con số này là 1.900USD3 Những dẫn chứng bằng số liệu cho thấy mức khấu trừ 4 triệu đồng/tháng/người đã không còn phù hợp cho giai đoạn mới
1 Tổng cục thống kê (2011), số liệu về bội chi Ngân sách Nhà nước
2 Tổng Cục Thống kê (2010), số liệu thống kê về Thu nhập bình quân đầu người
3 Ban Chấp hành Đảng bộ TP.Hà Nội (2010), bài phát biểu tại Hội Nghị khóa 15
Trang 11
Như vậy, cần thiết phải xây dựng một chính sách khấu trừ thuế hợp lý phù hợp từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đây cũng là lý do
chính khiến Tác giả tập trung nghiên cứu đề tài “Xây dựng mức khấu trừ trong
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam ”
2 Tình hình nghiên cứu
Về thuế thu nhập cá nhân nói chung đã có nhiều tác giả đã nghiên cứu Tiêu biểu là công trình nghiên cứu năm 2009 của TS Diệp Gia Luật với đề tài nghiên
cứu khoa học cấp cơ sở “Đẩy mạnh triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam” mã số: CS 2008, và công trình dự thi giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh
viên năm 2009 của Võ Nguyễn Ái Mi với đề tài “ Luật thuế thu nhập cá nhân:
Thực thi và hoàn thiện” Hai công trình này nghiên cứu hoàn thiện thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam trên góc độ tổng thể, từ bậc thuế, thuế suất đến chính sách quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân mà chưa nghiên cứu chuyên sâu vào một cấu phần của thuế thu nhập cá nhân
Luận văn này không nghiên cứu thuế thu nhập cá nhân trên diện rộng mà tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào một cấu phần của thuế, đó là miễn thuế, giảm thuế và khấu trừ thuế nhằm xác định mức thuế một cách hợp lý vừa hướng theo thông lệ quốc tế vừa phù hợp bối cảnh hiện tại của Việt Nam
3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào những mục tiêu cơ bản như sau:
- Làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về vấn đề miễn thuế và khấu trừ thuế nhằm xác định thu nhập tính thuế trong thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam
- Đề xuất được những giải pháp xác định hợp lý các khoản giảm trừ trong thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam
Trang 12Về phạm vi nghiên cứu, Luận văn chỉ tập trung vào phân tích các khoản khấu trừ thuế nhằm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương và kinh doanh trong thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Luận văn không bàn đến những khoản thu nhập chịu thuế khác như: thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền,…
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng đồng thời phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định tính nhằm xác định các nhân tố tác động đến miễn thuế và khấu trừ thuế Nghiên cứu định lượng nhằm xác định mức tác động của các nhân
tố đến miễn thuế và giảm thuế ở Việt Nam thời gian qua nhằm đưa ra những giải pháp có tính trọng số chứ không chung chung
Nguồn số liệu
Luận văn sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ Tổng Cục Thống kê và Bộ Tài chính từ năm 1995 đến nay
5 Đóng góp của đề tài
- Tổng hợp lý luận về miễn thuế, giảm thuế và khấu trừ thuế trong xác định
số thuế thu nhập cá nhân
- Một số gợi ý về mặt chính sách về việc xác định các khoản miễn thuế, giảm thuế và khấu trừ thuế vừa hướng theo thông lệ quốc tế vừa phù hợp bối cảnh hiện tại của Việt Nam theo thời gian
6 Hướng phát triển của đề tài
Trong thuế thu nhập cá nhân còn nhiều vấn đề khác rất quan trọng, đó là: thuế suất, bậc thuế và quản lý thuế Một trong những hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 13có liên quan đến đề tài là mối quan hệ giữa miễn thuế, khấu trừ thuế với độ giãn cách giữa các bậc thuế và thuế suất
Ngoài ra, còn một hướng phát triển nữa là nghiên cứu quan hệ giữa chính sách thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sản
7 Nội dung của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về khấu trừ trong thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Khấu trừ thuế trong thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam giai
đoạn 1991 – 2011
Chương 3: Giải pháp xác định khấu trừ thuế trong thuế thu nhập cá nhân
ở Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHẤU TRỪ TRONG
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
1.1.1 Sự bất bình đẳng thu nhập và thuế thu nhập cá nhân
1.1.1.1 Sự bất bình đẳng thu nhập
Trong xã hội mà nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường thì sự bất bình đẳng về thu nhập là một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến cần được nghiên cứu
để nhà nước với chức năng tác động và điều chỉnh cần can thiệp ở mức độ hợp lý
nhằm thiết lập công bằng xã hội
Sự bất bình đẳng về thu nhập là hiện tượng phổ biến và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Một trong những cách tiếp cận mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế và sự bất bình đẳng về thu nhập được thể hiện trong hình 1.1 như sau
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và mức độ bất bình đẳng về thu nhập
(Nguồn: Joeseph E Stiglitz(1995), Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học kỹ thuật)
Hình 1.1 cho thấy trong giai đoạn đầu, nền kinh tế đang phát triển, đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, nền kinh tế bắt đầu có tăng trưởng, mục tiêu của nền kinh tế là gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, huy động mọi
Phát triển kinh tế Mức độ bất
bình đẳng
Trang 15nguồn lực cho mục tiêu này Trong thời gian này, các quốc gia có thể chấp nhận
sự bất bình đẳng và chưa thể phân phối lại, người nào sở hữu nhiều nguồn lực hơn
sẽ có thu nhập cao hơn Vì vậy, sự bất bình đẳng về thu nhập có thể ngày càng gia tăng do mục tiêu tăng trưởng kinh tế thường được ưu tiên đặt lên hàng đầu Nhưng khi nền kinh tế đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định thì nền kinh tế càng phát triển, cơ hội gia tăng thu nhập cao hơn cho mọi người dân và nhà nước có điều kiện phân phối lại nhiều hơn nên mức độ bất bình đẳng về thu nhập sẽ giảm xuống
Sự bất bình đẳng về thu nhập trong nền kinh tế thị trường do nhiều nguyên nhân:
Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường thì mọi hoạt động phân phối đều thông
qua cơ chế tự điều tiết theo các quy luật kinh tế của thị trường Nói một cách cụ thể, trong điều kiện cơ chế thị trường, các yếu tố sản xuất thông qua thị trường (thuê, mua) để tham gia vào quá trình sản xuất, và rồi sau đó, các kết quả của quá trình sản xuất lại được phân phối cho các yếu tố sản xuất theo mức độ mà chúng tham gia (năng suất biên hay sản phẩm biên của mỗi yếu tố sản xuất) trong kết quả
đó Điều này nghĩa là tổng sản phẩm xã hội sẽ được phân phối theo mỗi loại yếu tố sản xuất như vốn, lao động, đất đai… tùy theo năng lực tham gia của chúng vào kết quả cuối cùng Phương thức phân phối này là động lực thúc đẩy người sở hữu cũng như sử dụng phải lựa chọn và phát huy hiệu quả tối ưu của mỗi yếu tố sản xuất - điều kiện bắt buộc để nền kinh tế thị trường có thể phát triển hiệu quả Song
do nhiều điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử khác nhau mà các thành viên trong xã hội không phải ai cũng có tình trạng như nhau về các yếu tố sản xuất Chẳng hạn, đối với yếu tố lao động, bản thân từng cá nhân có sự khác nhau đáng kể về khả năng nhận thức, thể lực, trình độ giáo dục, đào tạo, hoàn cảnh, năng lực, vị trí công tác… Thêm vào đó, mỗi cá nhân trong xã hội cũng rất khác nhau trong việc sở hữu những của cải và tài sản sinh lợi Những khác nhau này cùng với nguyên tắc bình đẳng trong các giao dịch thị trường và phân phối kết quả
Trang 16hoạt động kinh tế đã đưa đến hệ quả là sự khác biệt trong thu nhập và sự bất bình đẳng giữa người này và người khác, tầng lớp xã hội này với tầng lớp xã hội khác
Thứ hai, những nhân tố có tính chất xã hội, khách quan tác động đến tất cả
người lao động và tài sản của họ cũng gây ra hiện tượng bất bình đẳng về thu nhập Trình độ phát triển chung của quốc gia, các biện pháp hành chính mà nhà nước sử dụng để can thiệp vào việc phân phối thu nhập: chính sách trợ cấp xã hội, quy định mức lương tối thiểu… cũng ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của từng cá nhân trong xã hội
Nền kinh tế thị trường càng phát triển, nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn và khoảng cách giàu nghèo trong xã hội càng sâu sắc, tác động tiêu cực đến sự phát triển của mỗi quốc gia Hình 1.1 cho thấy, đối với các quốc gia đang phát triển, hiện tượng bất bình đẳng về thu nhập sẽ ngày càng gia tăng cùng với tốc độ phát triển kinh tế Hiện tượng này chỉ giảm dần khi nền kinh tế đạt đến một trình độ phát triển cao nhất định trên hình 1.1 Khi đó, của cải vật chất được sản xuất ra đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người và những nhược điểm của thị trường cũng dần được giải quyết
Bất bình đẳng về thu nhập gây ra hiện tượng mất công bằng trong xã hội Theo quy luật độ thỏa dụng giảm dần, bất bình đẳng về thu nhập sẽ làm giảm lợi ích chung của toàn xã hội Mặt khác, bất bình đẳng về thu nhập vừa là hậu quả song cũng là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng về giáo dục và đào tạo, duy trì
"chu kỳ nghèo khổ", cản trở sự phát triển của đất nước và gây mất ổn định xã hội Phân phối lại và giải quyết bất công sẽ góp phần nâng cao độ thỏa dụng toàn xã hội
Tình hình nói trên khiến mỗi nhà nước cần thiết phải can thiệp vào nền kinh
tế để giảm thiểu sự bình đẳng về thu nhập Một công cụ rất quan trọng và mang lại hiệu quả cao để giải quyết vấn đề này là thuế thu nhập cá nhân Các chính phủ sử dụng thuế thu nhập cá nhân để phân bổ gánh nặng thuế giữa các tầng lớp, nhóm
Trang 17dân cư khác nhau trong xã hội theo khả năng chi trả của họ để thiết lập sự bình đẳng về thu nhập và tạo nguồn để chính phủ thực hiện các chương trình công cộng khác
1.1.1.2 Thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định.Thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế không thể thiếu và là công cụ để nhà nước quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế -xã hội Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế
Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ rất lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới Cho đến nay, trên thế giới đã có khoảng trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ
áp dụng thuế thu nhập cá nhân Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và góp phần điều tiết nền kinh tế
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của thuế thu nhập cá nhân do 2 nguyên nhân
cơ bản:
Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công
bằng trong phân phối thu nhập Điều này là thật sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường bởi sự tồn tại phổ biến của sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế Mặt khác, việc áp dụng thuế gián thu mới chỉ đảm bảo sự công bằng theo chiều ngang Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế và điều tiết thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của họ Vì thế, thuế thu nhập cá nhân còn đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc Hơn thế nữa, một trong những lý thuyết của Keynes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân sẽ giúp
Trang 18làm tăng phúc lợi xã hội bằng cách điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao và phân phối lại cho những người có thu nhập thấp hơn
Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân ra đời còn bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu ngày
càng tăng của nhà nước cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng của mỗi quốc gia Trước xu thế toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, sự giảm dần hàng rào thuế quan do yêu cầu của tự do hóa thương mại là một tất yếu, ảnh hưởng và làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu tích lũy từ trong nước tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước.Vì vậy, nguồn thu chủ yếu cho ngân sách quốc gia là từ thuế hàng hóa, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Trong đó, thuế thu nhập cá nhân là nguồn tài chính lớn, góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để
ổn định thu ngân sách nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1.3 Các nguyên tắc xây dựng Luật thuế Thu nhập cá nhân
Những nguyên tắc này được xem là nguyên tắc cơ bản được thừa nhận phổ biến trên thế giới trong việc xem xét, đánh giá tác động của thuế, tuân thủ nguyên tắc chung trong xây dựng, ban hành và thực hiện Luật thuế
a) Nguyên tắc khấu trừ tại nguồn
Nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc quốc tịch phát biểu rằng mỗi công dân phải
có nghĩa vụ đóng thuế cho đất nước Benjamin Franklin (17/1/1706-17/4/1790) có một câu nói nổi tiếng: “Trên cỏi đời này không có gì chắc chắn ngoài cái chết và thuế”4
Câu nói này toát lên một sự thật hiển nhiên và đơn giản: đã là dân thì phải nộp thuế Nguyên tắc này làm cơ sở cho quy định đánh thuế lên khoản thu nhập phát sinh ngoài nước của doanh nghiệp Việt Nam và của công dân Việt Nam Nguyên tắc quốc tịch không chỉ nêu rõ nghĩa vụ công dân mà còn bảo vệ công dân
4
Nguyễn Hồng Thắng ( 2009), Benjamin Franklin nghĩ về thuế,Tạp chí phát triển kinh tế số 02
Trang 19của một nước khỏi nghĩa vụ thuế của quốc gia khác, tức là “dân xứ nào phải và chỉ nộp thuế cho xứ đó”, nếu như họ không có thu nhập phát sinh ở một xứ nào khác Nguyên tắc nguồn gốc (nguyên tắc lãnh thổ), bất luận thu nhập được tạo ra bởi công dân mang quốc tịch nào, hễ phát sinh trong khuôn khổ lãnh thổ quốc gia nào thì phải nộp thuế cho chính phủ nuớc chủ nhà bởi những bảo hộ, bảo đảm và tiện ích công cộng mà nước chủ nhà đã cung cấp
Trường hợp xuất hiện xung đột giữa nguyên tắc quốc tịch và nguyên tắc nguồn gốc thì các quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ thỏa thuận tránh đánh thuế hai lần bằng một hiệp định Hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác hoặc nặng hơn so với luật thuế trong nước
Tiêu chuẩn cho một thuế thu nhập tốt, hiệu quả chi phí của những phản ứng hành vi trước thuế, tối thiểu hóa tổn thất xã hội (đánh đổi giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội trong việc ban hành thuế thu nhập cá nhân), sử dụng thuế để nội bộ hóa ngoại tác, cụ thể là các tác động ngược chiều nay như đã phân tích Công bằng trong việc phân bổ gánh nặng thuế, công bằng ngang: những người có khả năng chi trả bằng nhau thì đóng thuế bằng nhau, công bằng dọc, những người có khả năng chi trả nhiều hơn thì đóng thuế nhiều hơn (thuế suất lũy tiến: thuế suất trung bình tăng khi thu nhập tăng)
Về quản lý thuế, đối với người nộp thuế thì giảm chi phí của những người đóng thuế về thời gian, tiền, những bất tiện, về cơ quan quản lý, giảm chi phí hành chính Thực tế, chi phí hành thu của thuế Thu nhập cá nhân thường rất cao, điều này làm cơ sở để áp dụng biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn chi trả, đó cũng là một biện pháp để giảm chi phí hành thu
b) Nguyên tắc thu khi phát sinh thu nhập
Đảm bảo nguyên tắc công bằng, giải quyết yêu cầu này, những vấn đề phát
sinh trong công tác hành thu như khai man tiền thuế, trốn lậu thuế sẽ được giảm thiểu; hệ thống pháp luật thuế dễ được người dân chấp nhận, tự giác tuân thủ, đảm
bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trang 20Như đã phân tích ở trên, các điểm thể hiện sự mất công bằng trong Luật thuế thu nhập cá nhân cần phải được điều chỉnh: Qui định thu thuế ngay từ đồng đầu tiên với mức thuế suất 0%, điều này đảm bảo vai trò đúng của Luật thuế thu nhập
cá nhân chứ không phải thuế thu nhập cao đã thực hiện vừa qua
c) Nguyên tắc khả năng nộp thuế
Thuế nên trích xuất nhiều hơn vào thu nhập cao và giảm xuống cho thu nhập thấp sao cho mức hy sinh thỏa dụng là như nhau khi đồng thuế cuối cùng được nộp Từ đó, trên thực tế nguyên tắc công bằng theo khả năng tài chính làm cơ sở của thuế lũy tiến trên những đồng thu nhập vượt qua các ngưỡng nhất định
Nguyên tắc bình đẳng, đòi hỏi địa vị thế của mỗi chủ thể phải ngang nhau hoặc mỗi đối tượng nộp thuế phải được đối xử không thiên vị Đóng thuế là trách nhiệm công dân, là nghĩa vụ của mọi người bất kể giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp
và địa vị xã hội
Thực hiện tốt nguyên tắc công khai, minh bạch, minh bạch của hệ thống pháp luật thuế yêu cầu các qui phạm pháp luật thuế thu nhập cá nhân phải rõ ràng, giảm thiểu những qui định dẫn chiếu từ văn bản pháp luật này sang văn bản pháp luật khác hoặc hạn chế dẫn chiếu những qui định chung
Để đảm bảo sự minh bạch, các qui định trong đạo luật thuế liên quan đến phạm vi áp dụng, đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, cách xác định mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế, cách thức nộp thuế, các cơ quan thu, hành vi nào bị coi là vi phạm, thẩm quyền phạt và mức phạt cần phải được qui định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu để đa số dân chúng đều có thể hiểu được quyền và nghĩa vụ về thuế của mình Đây cũng chính là phương án phòng ngừa tốt đối với những hành vi vi phạm pháp luật thuế
Ngoài ra, cần áp dụng những biện pháp có hiệu quả cả về tổ chức bộ máy hành chính để đảm bảo sự độc lập ngày càng cao giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
Trang 21Trong quá trình ban hành luật thuế, tính công khai được thể hiện ở việc công
bố văn bản pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian luật định, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình quản lý, thu và nộp thuế
Đảm bảo tính ổn định, tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế thực chất cũng thể hiện sự công bằng, minh bạch của pháp luật Tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế yêu cầu nhà hoạch định chính sách cũng như cơ quan lập pháp- ở đây là Quốc Hội cần có dự báo về xu hướng phát triển và những vấn đề phát sinh, cần điều chỉnh bằng pháp luật đối với những nội dung gắn với phạm vi điều chỉnh của Luật thuế thu nhập cá nhân, điển hình như thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn phải có xu hướng giảm để tăng tính cạnh tranh quốc gia trong thu hút vốn đầu tư gián tiếp quốc tế; Thuế suất đánh trên lợi tức và trên thu nhập chuyển nhượng vốn có khuynh hướng xích lại gần nhau để thúc đẩy quá trình tái
đầu tư trong doanh nghiệp;
Đảm bảo tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế thu nhập cá nhân sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện, ổn định và thu hút nhân lực có trình độ cao và tăng trưởng kinh tế Tuy vậy, cũng cần phải hiểu rõ rằng, Việt Nam vừa là quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, vừa là nước có nền kinh tế đang phát triển nhưng ở mức
độ thấp, tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế bị hạn chế
Trong quá trình áp dụng có thể có những điều chỉnh chính sách pháp luật thuế cũng như từng luật thuế cụ thể nhưng sự điều chỉnh đó phải tuân thủ đúng lộ trình đã dự liệu, hoạch định nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của chúng
Nguyên tắc minh bạch, thuế làm thu nhập chuyển dịch bắt buộc và không ngang giá từ khu vực tư vào ngân sách nhà nước Vậy nên, thuế phải minh bạch và được giải thích cũng như hướng dẫn thống nhất cả nước Nguyên tắc này cũng đòi hỏi chính phủ phải công bố cho dân chúng biết thuế đã được sử dụng như thế nào Những khoản thuế ngầm (như lạm phát) và thuế tương lai (như nợ công) cũng phải minh bạch Sự không minh bạch trong thuế khóa là nguyên nhân dẫn đến những căn bệnh như: bất bình đẳng, tham nhũng, lạm thu,….đồng thời làm suy yếu tính pháp định của thuế Nguyên tắc này thể hiện tại Khoản 3 Điều 4 của Luật Quản lý
Trang 22thuế Việt Nam:“ Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng;
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế”
Nguyên tắc trọng pháp (Nguyên tắc pháp định), thuế phải do Quốc hội thông qua do đó nó đương nhiên là một đạo luật, kể cả cơ quan quản lý thuế lẫn đối tượng nộp thuế và những bên có liên quan đều bị chi phối và buộc phải chấp hành Nguyên tắc này thể hiện trong một cụm từ nổi tiếng “Không đánh thuế mà không
có đại diện” do giáo sỹ Jonathan Mayhew đưa ra trong một buổi thuyết pháp tại
Boston năm 1750 Đến năm 1765 cụm từ này được sử dụng phổ biến tại Boston và
được chính trị gia James Otis phát triển thành câu: " Thuế mà không có đại diện là
chuyên chế" Gọi là nguyên tắc hành chính vì không chứa đựng yếu tố kinh tế, Chính phủ thường có nhiều lý lẽ và đủ sức mạnh hành thu, nên nguyên tắc này nhằm ngăn chặn chính phủ và chính quyền địa phương tự đặt ra các khoản thu đối với người dân và bảo vệ dân chúng trước những nguy cơ lạm thu của cơ quan hành pháp Điều đó có nghĩa là, về mặt nguyên tắc, mọi sắc thuế không được ban hành dưới hình thức một đạo luật thì không có giá trị và không có khả năng ràng buộc đối với người đóng thuế - cử tri Và, ngay cả cơ quan quản lý thuế cũng có khả năng bị kiện nếu làm trái luật
Nguyên tắc mang tính kinh tế, khi một khoản thuế được ban hành nó không chỉ điều chỉnh nghĩa vụ và hành vi công dân mà sẽ tác động đến phân phối và hoặc tái phân phối thu nhập giữa chính phủ và khu vực tư, giữa các nhóm dân cư với nhau
1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
1.1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân thường mang tính lũy tiến
Đặc điểm đầu tiên của thuế thu nhập cá nhân là mang tính lũy tiến: thu nhiều phần trăm hơn vào thu nhập của người có thu nhập cao và ít phần trăm vào thu nhập của người có thu nhập thấp
Tính lũy tiến của thuế thu nhập cá nhân dựa trên hai cơ sở:
- Cơ sở lý thuyết: độ hữu dụng biên của thu nhập giảm dần
Trang 23- Cơ sở thực tiễn: người thu nhập cao có nhiều khả năng trả thuế hơn người thu nhập thấp
Ý tưởng chính của lý thuyết nằm ở chỗ xây dựng mức thu thuế dựa trên nên tảng mức hy sinh độ hữu dụng biên (MUY) sinh ra từ thu nhập của cá nhân Sử dụng
nguyên tắc này trong thực tiễn, chính phủ buộc người có thu nhập càng cao càng
phải hy sinh mức hữu dụng từ thu nhập theo một tỷ lệ nhiều hơn
Có ba loại hy sinh hữu dụng:
- Loại thứ nhất là hy sinh mức hữu dụng tuyệt đối bằng nhau, mức giảm tuyệt đối về độ hữu dụng của mọi cá nhân là như nhau nghĩa là chính phủ đánh thuế sao cho mỗi cá nhân mất đi một hữu dụng tuyệt đối bằng nhau
- Loại thứ hai là hy sinh tỷ lệ hữu dụng bằng nhau, mức giảm tương đối về
độ hữu dụng của mọi cá nhân là như nhau nghĩa là chính phủ đánh thuế sao cho mỗi cá nhân mất đi một tỷ lệ hữu dụng bằng nhau
- Loại thứ ba là hy sinh hữu dụng biên bằng nhau, nộp thuế sao cho cân bằng MUY sau thuế
Từ đó, trên thực tế nguyên tắc công bằng theo khả năng tài chính làm cơ sở của thuế lũy tiến trên những đồng thu nhập vượt qua các ngưỡng nhất định
Trang 24Gọi:
UA1 là tổng thỏa dụng của người A với thu nhập trước thuế
UA2 là tổng thỏa dụng của người A với thu nhập sau thuế
UB1 là tổng thỏa dụng của người B với thu nhập trước thuế
UB2 là tổng thỏa dụng của người B với thu nhập sau thuế
Hình 1.3 Đánh thuế lũy tiến bằng cách lấy lượng tuyệt đối về độ hữu dụng bằng nhau
(Nguồn : Nguyễn Hồng Thắng)
Đánh thuế lũy tiến bằng cách lấy lượng tuyệt đối về độ hữu dụng bằng nhau, người A có thu nhập cao hơn người B thì người A phải chịu thuế nhiều hơn
Trang 25Hình 1.4 Đánh thuế lũy tiến bằng cách lấy lượng tương đối về độ hữu dụng bằng nhau
(Nguồn : Nguyễn Hồng Thắng)
Trang 26Tại điểm X:
- Thu nhập sau thuế của người A và người B bằng nhau
- Tổng thỏa dụng của người A và người B bằng nhau
- MUY của người A bằng MUY của người B
Lý thuyết Edgeworth về tính lũy tiến
Vào cuối thế kỷ 19, nghiên cứu Edgeworth (1859/1897) về thuế thu nhập tối
ưu khuyến khích thu nhập sau thuế bằng nhau đã nghiên cứu vấn đề đánh thuế thu nhập tối ưu bằng cách sử dụng một mô hình đơn giản dựa trên những giả định sau: Tùy theo số thu cần thiết, mục đích là làm cho tổng hữu dụng của các cá nhân càng cao càng tốt Về mặt đại số, nếu gọi nếu Ui là hữu dụng của người thứ i và W
là phúc lợi xã hội, hệ thống thuế này sẽ tối đa hóa:
W= U1+ U2 +U3+… + Un
Với n là số lượng người trong xã hội
- Các cá nhân có hàm hữu dụng tương tự nhau chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập của họ Những hàm hữu dụng này thể hiện hữu dụng biên của thu nhập giảm dần; khi thu nhập tăng thì cá nhân có hữu dụng tăng nhưng tỉ lệ tăng sẽ giảm dần
- Tổng thu nhập cố định
- Để tối đa hóa phúc lợi xã hội thì hữu dụng biên thu nhập của mọi người phải như nhau Khi hữu dụng tương tự nhau thì hữu dụng biên thu nhập bằng nhau chỉ xảy ra ở những mức thu nhập bằng nhau Những hàm ý của chính sách thuế rõ ràng là thuế nên được thiết kế sao cho phân phối thu nhập sau thuế càng công bằng càng tốt Cụ thể là , nên lấy đi thu nhập của người giàu trước bởi vì sự mất mát hữu dụng biên của họ nhỏ hơn so với sự mất mát của người nghèo Nếu chính phủ cần thu nhiều hơn ngay cả sau khi sự bình đẳng hoàn toàn đã đạt được thì gánh nặng thuế tăng thêm nên được phân phối đều đặn
Mô hình của Edgeworth ám chỉ cấu trúc thuế lũy tiến triệt để - tức là thu nhập được san bằng ở tốp trên cho đến khi gần đạt đến sự bình đẳng hoàn toàn Ảnh hưởng là thuế suất biên đối với những cá nhân có thu nhập cao là 100%, ở
Mỹ thuế suất biên đối với nhóm có thu nhập thấp nhất là 0, và đối với nhóm cao
Trang 27nhất là 39,6%, thực chất là bằng cách giảm thuế suất biên đối với những người có thu nhập cao sẽ khiến người ta cung ứng lao động nhiều hơn, khi đó số thu thuế tăng lên có thể được sử dụng để làm giảm gánh nặng thuế đối với những người có thu nhập thấp Điều quan trọng là, mặc dù thuế suất biên giảm nhưng thuế suất trung bình thì tăng cùng với thu nhập, nên hệ thống thuế vẫn lũy tiến
Lý thuyết Stern về tính lũy tiến
Hình 1.6 Thước đo thuế thu nhập tuyến tính
(Nguồn: Harvey S.Rosen (2004), Public finance , khoa Tài chính Nhà nước Trường Đại học Kinh Tế biên dịch, trang 351)
Số thuế thu được từ một cá nhân được xác định qua công thức:
α > 0 , t > 0, α = 3.000 đô la, t= 0.25 thì một cá nhân có thu nhập 20.000 đô la sẽ phải nộp thuế :
2.000 đô la = - 3.000 đô la + 0.25 x 20.000 đô la
Một cá nhân với thu nhập 6.000 đô la phải nộp một khoản thuế âm, tức nhận trợ cấp của chính phủ :
(-) 1.500 đô la = - 3.000 đô la + 0.25 x 6.000 đô la
Khi thu nhập bằng 0, số thuế phải nộp là một số âm tức là cá nhân nhận một khoản trợ cấp của chính phủ là α đô la Như thế với mỗi đô la thu nhập thì cá
t = thuế suất biên
Thu nhập
Số thu thuế
= khoản
thuế
khoán
Trang 28nhân phải trả t đô la cho chính phủ Do đó t là thuế suất biên là tỷ lệ thuế phải trả cho chính phủ trên một đô la thu nhập tăng thêm Do đó phương trình (1) được giải thích bằng đồ thị là một đường thẳng nên nó được coi như là thước đo thuế thu nhập tuyến tính, thước đo thuế thu nhập tuyến tính thường cũng được xem là thuế trần , là thuế có thuế suất biên không đổi đối với toàn bộ thu nhập, thuế suất biên của thuế trên không đổi nhưng nó là thuế lũy tiến, những cá nhân có thu nhập càng cao thì phải trả thuế với một tỉ lệ thu nhập càng cao Sự lũy tiến phụ thuộc vào giá trị chính xác của α và t Giá trị của t càng lớn tương ứng với hệ thống thuế càng lũy tiến Tuy nhiên, cùng một thời điểm với những giá trị cao của t làm cho hệ thống thuế càng lũy tiến thì hệ thống thuế cũng tạo nên gánh nặng phụ trội càng lớn Vấn đề của thuế thu nhập tối ưu là tìm ra sự kết hợp tốt nhất của α và t, những giá trị làm tối đa hóa phúc lợi xã hội với một khoản thu đã được xác định trước Theo thuế thu nhập cá nhân của Mỹ, thuế suất biên cao nhất được ấn định là 39,6%
1.1.2.2 Thuế thu nhập cá nhân đánh theo nơi cư trú và nguồn thu nhập
Theo thông lệ quốc tế , thuế thu nhập cá nhân thuộc loại thuế trực thu nên người chịu thuế cũng đồng thời là đối tượng nộp thuế Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế thu nhập cá nhân, từ đó mới
có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”
Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó
Trang 29Rõ ràng, sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan trọng để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào Như vậy, có thể thấy tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà mỗi nước sẽ đưa ra các định nghĩa sao cho phù hợp với tình hình của mình
Việc xác định đối tượng nộp thuế căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được hầu hết các nước áp dụng để tính thuế các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của những cá nhân không cư trú Có rất ít nước áp dụng duy nhất tiêu thức này khi xác định đối tượng nộp thuế Cách tính thuế theo nguồn phát sinh thu nhập chỉ thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công dân nước đó ít đi làm hay đầu tư ở nước ngoài
Điển hình, Hàn Quốc quy định đối tượng nộp thuế là toàn bộ các cá nhân là người cư trú hoặc không ở Hàn Quốc Trong đó, người không cư trú ở Hàn Quốc
là người có thời hạn ở Hàn Quốc dưới 1 năm và chỉ phải nộp thuế thu nhập với thu nhập phát sinh ở Hàn Quốc
Ở Hồng Kông, mọi cá nhân không phân biệt “ cư trú” hay “không cư trú” chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Hông Kông đối với các khoản thu nhập phát sinh tại nước này
1.1.2.3 Thuế thu nhập cá nhân mang tính thứ bậc
Về lý thuyết, tồn tại 3 mô hình đánh thuế thu nhập cá nhân
Thứ nhất, đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập Đây là phương
pháp áp dụng một thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh Tương ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từng loại thu nhập và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt
Số thuế phải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từng nguồn Các nhà kinh tế học cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế vì nó thu "theo sát từng nguồn thu nhập" Tuy nhiên, trên thực tế, đánh thuế thu nhập theo phương pháp này gặp rất nhiều hạn chế
Trang 30Một là, việc chia thu nhập cá nhân thành từng phần thu nhập để chịu các
mức thuế suất khác nhau là một công việc phức tạp, không đảm bảo nguyên
nguyên tắc công bằng theo chiều ngang Hai là, việc áp dụng thuế suất cho từng
loại thu nhập đòi hỏi phải phân loại thu nhập, gây khó khăn cho công tác quản lý
và là cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế Nếu ranh giới giữa các loại thu nhập không rõ ràng thì sẽ mất ý nghĩa công bằng của thuế thu nhập cá nhân Trong một chừng mực nào đó, cách đánh thuế này cũng không hiệu quả đối với xã hội vì người nộp thuế có thể lựa chọn các hoạt động phi hiệu quả để chịu mức thuế thấp nhất
Thứ hai, đánh thuế trên tổng thu nhập Phương pháp này tiến hành đánh thuế
trên tổng thu nhập, bao gồm tất các các khoản thu nhập nhận được mà không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét một cách tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí Phương pháp này đã khắc phục được những hạn chế của phương pháp đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập Do ưu điểm đơn giản và dễ dàng áp dụng biểu thuế suất lũy tiến khi đánh thuế nên phương pháp này đang được áp rụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, nhất là ở các nước phát triển
Thứ ba, đánh thuế hỗn hợp, thuế thu nhập cá nhân có thể đánh theo cách kết
hợp cả hai phương pháp kể trên Ban đầu đánh thuế theo từng nguồn phát sinh thu nhập, sau đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và đánh trùm lại tất cả lên tổng thu nhập một mức thuế nữa Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất lũy tiến ngoài thuế suất thông thường đánh trên từng loại thu nhập Cách đánh thuế này đảm bảo
sự chính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán nên chỉ có ý nghĩa trên phương diện
Trang 31hơn Mỹ là quốc gia giảm số bậc thuế mạnh mẽ nhất, từ 25 xuống còn 5 bậc, Hàn Quốc giảm từ 9 xuống còn 5 bậc, Pháp giảm từ 17 xuống còn 7 bậc…
Dạng thuế suất quy định theo mức khởi điểm (ngưỡng chịu thuế)
Cách này được các quốc gia đang phát triển ưa chuộng hơn và do vậy được
áp dụng rộng rãi hơn trong khối này Khi thu theo ngưỡng chịu thuế, người nộp thuế được cho phép khấu trừ khống một khoản thu nhập, phần thu nhập còn lại chịu thuế suất luỹ tiến từng phần Mỗi cách thức thu thuế (tính trên thu nhập từ đồng đầu tiên hay ngưỡng chịu thuế) đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, song đa số các nước trên thế giới thường áp dụng cách thu từ đồng thu nhập đầu tiên Ví dụ như thuế thu nhập cá nhân của Thái Lan và Malaysia có thuế suất bậc
1 là 0% Cách làm này có ưu điểm là dễ quản lý nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu về tính công bằng của thuế thu nhập cá nhân : Không công bằng do không xét đến gia cảnh của người chịu thuế Nếu thuế suất được quy định thu theo mức thu nhập khởi điểm thì những người có gia cảnh khác nhau nhưng cùng một mức thu nhập lại phải đóng thuế thu nhập cá nhân như nhau
1.1.2.4 Thuế thu nhập cá nhân là công cụ trực tiếp làm giảm sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Một trong những nhược điểm của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi cùng với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng
về thu nhập trong xã hội Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập nhận được của các cá nhân Thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập của cá nhân sau khi đã trừ đi khoản thu nhập để bù đắp chi phí cần thiết để đủ nuôi sống bản thân và gia đình Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân theo biểu thuế lũy tiến đảm bảo yếu tố công bằng, khi thu nhập càng cao thì
tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm Thông qua thuế thu nhập cá nhân, nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, san bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội
Trang 32Để thấy rõ vai trò của thuế thu nhập cá nhân tác động đến sự phân phối công
bằng trong xã hội, có thể xem xét đường cong Lorenz
Hình 1.7 Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập
(Nguồn: Joeseph E Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học kỹ thuật )
Trên đồ thị, đường cong Lorenz càng gần đường phân giác thì càng phản ánh
sự công bằng trong phân phối thu nhập Thuế thu nhập cá nhân với phương pháp đánh thuế lũy tiến sẽ có vai trò điều tiết thu nhập của các cá nhân trong xã hội, đẩy đường cong phân phối thu nhập vào phía trong như hình 1.7, và do đó sẽ góp phần đảm bảo giảm bớt sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội
Hơn thế nữa, thông qua khoản thu từ thuế thu nhập cá nhân cho ngân sách nhà nước, các chính phủ còn thể hiện được chức năng đảm bảo công bằng trong xã hội bằng việc thực hiện chi ngân sách cho các công trình công cộng, bảo đảm an sinh xã hội, trợ cấp cho người có thu nhập thấp Hay nói cách khác, các chính phủ dùng nguồn thu từ thuế thu nhập của các cá nhân có thu nhập cao trong xã hội để thực hiện công bằng xã hội
GDP (%)
Dân cư (%)
Thu nhập được phân phối công bằng
Thu nhập trước thuế
Thu nhập sau thuế
Trang 331.2 Thu nhập và thu nhập tính thuế
1.2.1 Thu nhập
Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa thu nhập trong
các công trình nghiên cứu Mặc dù Joseph E Stiglitz cho rằng "quan niệm thu
nhập về lý thuyết dường như là khá đơn giản" 5
nhưng đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất, đầy đủ và tổng quát về khái niệm thu nhập Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế học và các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về thu nhập
Hai nhà kinh tế học người Anh là R M Haig và H.C Simons vào đầu thế kỷ
XX đã đưa ra khái niệm về thu nhập: "Thu nhập là biểu hiện bằng tiền của mức gia tăng khả năng tiêu dùng ròng trong một thời kỳ và là giá trị tiềm tăng thực tế trong khả năng từng cá nhân để tiêu dùng trong suốt một khoảng thời gian nào đó"6 Đây được coi là một cách tính thu nhập lý tưởng và hoàn thiện Việc cộng thêm vào thu nhập được tính đến bởi vì chúng thể hiện sự tăng lên của khoản thu nhập tiềm tàng nhưng khó thực hiện được trong thực tế vì giá trị tăng thêm mới chỉ dừng lại dưới dạng tiềm năng và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
Nhà kinh tế học người Mỹ Samuelson cũng đưa ra định nghĩa về thu nhập:
"Thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định, (thường là 1 năm)"7 Trong các định nghĩa này, mặc dù chưa phản ánh đầy đủ các khía cạnh của thu nhập nhưng tổng hợp lại cho thấy thu nhập có một số đặc điểm chung: thu nhập thuộc về một chủ thể trong xã hội - tính sở hữu của thu nhập, được xác định trong một khoảng thời gian nhất định, được biểu hiện
Trang 34dưới hình thức tiền tệ và được hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại do thị trường và nhà nước thực hiện
Qua phân tích những đặc điểm trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thu nhập: "Thu nhập là tổng các giá trị nhận được, thu được trong một khoảng thời gian nhất định" Các giá trị ở đây được biểu hiện bằng tiền tệ, giá trị các hình thức vật chất, phi vật chất, không phân biệt nguồn hình thành thu nhập là từ lao động hay từ tài sản Từ khái niệm này có thể rút ra "thu nhập cá nhân là tổng các giá trị nhận được, thu được trong một khoảng thời gian (thường là 1 năm) của một cá nhân nào đó, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập“
Thu nhập cá nhân là một bộ phận rất quan trọng trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia vì đại bộ phận thu nhập quốc dân sau quá trình phân phối và phân phối lại sẽ được phân chia cho các thành viên trong xã hội dưới hình thức bằng tiền, bằng hiện vật hay các phúc lợi xã hội
Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và mục đích nghiên cứu mà thu nhập được chia thành nhiều loại khác nhau Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập có thể phân chia thành: thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương, tiền thưởng…) và thu nhập không từ lao động (thu nhập từ tài sản, thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ đầu tư, thu nhập từ thừa kế, chuyển nhượng, thu nhập từ quyền sở hữu vốn, quà biếu, quà tặng…)
Căn cứ vào tính chất phát sinh thu nhập đều đặn hay không mà người ta phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ phát sinh thu nhập có thu nhập phát sinh trong nước và thu nhập phát sinh ở nước ngoài
Căn cứ vào tính pháp lý của thu nhập mà chúng ta có thể chia thành thu nhập hợp pháp và thu nhập không hợp pháp Thu nhập hợp pháp là thu nhập được tạo ra
từ hoạt động hợp pháp và được nhà nước bảo vệ Thu nhập bất hợp pháp là thu
Trang 35nhập được tạo ra từ hoạt động bất hợp pháp nên nhà nước không thể kiểm soát được và do đó không được pháp luật bảo vệ
1.2.2 Thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế
Mặc dù có nhiều loại thu nhập nhưng không phải thu nhập nào cũng là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân Phần thu nhập chịu thuế phụ thuộc vào chính sách thuế của mỗi quốc gia quy định
Hình 1.8: Thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế
Nói chung thu nhập chịu thuế giá trị kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo ra thu nhập đó Xác
định đối tượng tính thuế là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được đề cập đến trong chính sách thuế thu nhập cá nhân của các nước Căn cứ vào đó, người ta có thể thấy rằng loại thuế thu nhập cá nhân mà từng nước cụ thể áp dụng
có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho ngân sách nước
Thu nhập tính thuế
trừ (–)
bằng (=) trừ (–)
bằng (=)
Trang 36Thứ nhất, thu nhập phát sinh từ những giao dịch trên thị trường dưới hình thức tiền tệ sau khi trừ đi các khoản chi phí khách quan gắn liền với quá trình tạo
ra thu nhập (cả chi phí sản xuất và chi phí khách quan khác) Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của từng nước mà các khoản chi phí miễn trừ này được quy định khác
nhau
Thứ hai, quy ước thời gian để xác định thu nhập chịu thuế, việc tạo ra thu nhập có tính chất tương đối về mặt thời gian Những khoản thu nhập nhận được ở thời điểm hiện tại có thể là kết quả của các hoạt động lao động hoặc đầu tư trong quá khứ, nhưng cũng có thể là thu nhập ứng trước của các hoạt động hứa hẹn trong tương lai Mặt khác, thu nhập phát sinh tại những khoảng thời gian khác nhau có thể rất khác nhau Do vậy, để đảm bảo tính khả thi và sự công bằng trong đánh thuế, một sự phân đoạn có tính quy ước về mặt thời gian cần phải được xác định thu nhập chịu thuế phát sinh trong khoảng thời gian đó Thông thường, thời gian tính thu nhập chịu thuế trùng hợp với năm ngân sách hoặc năm kế toán và được quy định là một năm làm cơ sở tính thuế Những khoản thu nhập phát sinh trong khoảng thời gian đó được coi là đối tượng chịu thuế thu nhập Việc tính thuế thu nhập phát sinh theo năm thực chất chỉ được coi là hình thức tạm tính Số thuế chính thức phải nộp sẽ được xác định trên cơ sở số thu nhập phát sinh "bù trừ" trong khoảng thời gian quy ước đó (thường là một số năm nhất định)
Không phải nước nào cũng đưa tất cả các nguồn thu nhập của 1 cá nhân vào diện thu nhập tính thuế Việc quy định khoản thu nhập nào phải tính thuế , khoản nào không phải tính thuế, mức độ cao hay thấp phụ thuộc vào quan điểm của mỗi chính phủ, vào mục tiêu điều tiết thu nhập cũng như các mục tiêu kinh tế, chính trị
xã hội khác của mỗi quốc gia trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Ngày nay, hầu hết các nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân đều tính thuế trên thu nhập từ lao động
Kinh nghiệm thế giới về xác định thu nhập chịu thuế cho thấy cần phải xác định một diện thu nhập chịu thuế thật rộng, tất cả các khoản thu nhập về mặt pháp
Trang 37lý thuộc sở hữu cá nhân phải đưa hết vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân Việc phân loại thu nhập chịu thuế cần dựa trên tiêu thức nguồn phát sinh thu nhập chứ không nên dựa vào tính chất ổn định và đều đặn của thu nhập phát sinh, nghĩa là không nên phân chia thu nhập thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Thu nhập chịu thuế được xác định phải bao quát một cách tương đối toàn diện các khoản thu nhập có khả năng điều chỉnh, các nguồn thu nhập mà khi xác định mức thuế phải nộp có thể đem lại hiệu quả về mặt thực thi Đồng thời, phải hạn chế bớt những khoản miễn trừ Việc ban hành các khoản miễn trừ phải gắn liền với các chủ trương, chính sách của nhà nước
1.3 Khấu trừ thuế
1.3.1 Miễn thuế, giảm thuế và khấu trừ thuế
Những kỹ thuật cơ bản được sử dụng trong thuế thu nhập cá nhân nhằm giảm
sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập bao gồm: miễn thuế, giảm thuế và khấu trừ thuế
Nguyên tắc thực hiện miễn, giảm thuế, các ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân này chỉ áp dụng đối với một số đối tượng có thu nhập có đủ điều kiện được ưu đãi thuế, thực hiện đầy đủ chế độ theo qui định như đơn đề nghị miễn thuế, giảm thuế
có xác nhận của chính quyền địa phương gửi cơ quan thuế Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục kể từ thời gian có hiệu lực bắt đầu và chấm dứt theo
Trang 38qui định của Luật thuế
c) Khấu trừ thuế
- Cơ sở xác định, một nguyên tắc phổ biến và cơ bản trên thế giới khi tính thuế thu nhập cá nhân là đối tượng tính thuế phải là thu nhập do người đóng thuế toàn quyền sử dụng theo quy định của pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng tính thuế là thu nhập đã khấu trừ đi các khoản chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập đó với một số giới hạn nhất định, bao gồm khấu trừ chi phí và khấu trừ gia cảnh
- Nội dung của khấu trừ thuế, tùy theo đặc điểm kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia mà người ta quy định những khoản khấu trừ phù hợp Tuy nhiên, về cơ bản có một nguyên tắc chung : Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra thu nhập cá nhân đều được khấu trừ để xác định thu nhập thực nhận được, sau đó trừ tiếp một số khoản khấu trừ gia cảnh cho người nộp thuế và các khoản mang tính chất xã hội trước khi tính thuế
- Điều chỉnh mức khấu trừ , tùy theo đặc điểm tình hình của riêng từng đất nước, mức khấu trừ chi phí và khấu trừ gia cảnh có sự thay đổi cho phù hợp hơn d) So sánh miễn thuế, giảm thuế, khấu trừ thuế
Sự giống nhau, cả ba đều là cơ sở để xác định thu nhập tính thuế và thuế thu nhập cá nhân, khi có sự thay đổi về chính sách thì có thể thay đổi việc miễn thuế và khấu trừ thuế Thời gian miễn thuế, giảm thuế và khấu trừ thuế được tính liên tục
kể từ thời gian có hiệu lực bắt đầu và chấm dứt theo qui định của Luật thuế
Sự khác nhau, được áp dụng cho một số đối tượng theo các tiêu chí phù hợp qui định riêng về miễn thuế, giảm thuế, khấu trừ thuế; Tuy nhiên nhìn ở góc độ khác nhau, miễn thuế và khấu trừ thuế có thể thực hiện và áp dụng cho nhiều đối tượng và thực hiện trong thời gian dài có thể kéo dài nhiều năm, khi có thay đổi luật hay chính sách thuế thì mới thay đổi theo, còn giảm thuế áp dụng cho một số ít đối tượng phù hợp với qui định và thực hiện theo từng giai đoạn, thời gian ngắn
Trang 39hơn thường là 1 năm, khi thời gian qui định đã hết thì việc giảm thuế này cũng chấm dứt theo Qui định về miễn thuế và khấu trừ thuế trước bước xác định thu nhập tính thuế, qui định về giảm thuế sau bước xác định thu nhập tính thuế
1.3.2 Ý nghĩa của miễn thuế và khấu trừ thuế
a) Miễn thuế : Tùy theo đặc thù phát triển nền kinh tế của mỗi nước mà có chính sách miễn thuế khác nhau Miễn thuế có ý nghĩa xác định hợp lý những khoản thu nhập không nên đánh thuế vì mục đích nhân đạo, ví dụ như những khoản thu nhập từ trợ cấp, bồi thường tại nạn…
b) Khấu trừ
+ Khấu trừ chi phí
Theo thông lệ quốc tế, tùy theo đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
mà người ta quy định những khoản khấu trừ phù hợp Tuy nhiên, về cơ bản có một
nguyên tắc chung: “Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra thu nhập
cá nhân đều được khấu trừ để xác định thu nhập thực nhận được, sau đó trừ tiếp một số khoản mang tính chất xã hội trước khi tính thuế”
Các khoản khấu trừ có tính chất kinh tế để xác định thu nhập
Cá nhân có các khoản thu sẽ phải trả những khoản chi phí này Do vậy, sẽ có một khoản tiền trong các khoản thu của cá nhân mà người ta chỉ tạm thời sở hữu chứ không được toàn quyền sử dụng tương ứng với chi phí này Khoản tiền này sẽ nhanh chóng được chuyển quyền sở hữu cho người khác khi người đó chi trả các chi phí trên Thật vậy, các chi phí để tạo ra thu nhập cần được khấu trừ để xác định thu nhập của mỗi cá nhân
Đối với thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ của các
hộ kinh doanh cá thể không thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Nguyên tắc khấu trừ là tất cả các chi phí cần thiết và liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo ra thu nhập mà người nộp thuế đã
Trang 40thực hiện bao gồm: lương công nhân, chi phí thuê mướn, tiền trợ cấp, chi phí mua vật tư, nguyên liệu, chi phí bảo hiểm, các chi phí về dịch vụ được cung cấp từ bên ngoài, khấu hao máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vật kiến trúc và một vài chi phí phân bổ chung…
Quy định chung để khấu trừ các phí tổn này là chi phí đã thực sự chi trả và cần thiết liên quan trực tiếp đến quá trình tạo ra thu nhập Trong thực tế, rất khó xác định ranh giới được khấu trừ hay không được khấu trừ nên thông thường phải
có những khống chế hoặc giới hạn tối đa rất tỉ mỉ, chặt chẽ thì mới có thể quản lý được
Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, hưu trí, trợ cấp xã hội và các khoản tương tự Cho phép trừ ra khỏi thu nhập một mức nào đó gọi là chi phí nghề nghiệp Chúng có thể được tính chung theo một tỷ lệ khoán (ví dụ khoảng 10% hoặc 15%) hoặc theo chi tiêu thực tế nếu có các chứng từ hợp lệ chứng minh Một số nghề đặc biệt do tính chất nghề nghiệp sẽ được khấu trừ một mức phù hợp, cao hơn mức bình thường trước khi tập hợp vào tổng thu nhập tính thuế như :
ca sĩ, nhà báo, nhạc công…
Đánh giá chính sách khấu trừ các khoản mang tính kinh tế:
Việc xử lý các chi phí tạo ra thu nhập là không dễ, chẳng hạn, chi phí đi lại từ nhà đến nơi làm việc hoặc chi phí mặc đồng phục tại nơi làm việc Chi phí thu thuế và đảm bảo việc tuân thủ đóng thuế phụ thuộc vào mức thuế trung bình của người đóng thuế, số người đóng thuế và tình hình sổ sách
Các khoản chi tiêu mang tính chất xã hội, khoa học
Những chi phí đặc biệt bao gồm: chi phí có tính chất tiêu dùng như bảo hiểm
y tế, các khoản đóng góp bắt buộc theo luật định như tiền đóng góp bảo hiểm xã hội…