Dạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp họcDạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp học
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
================
Đỗ Đức Bình
DẠY HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ
SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH
Ở CẤP ĐỘ LỚP HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội – 2024
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS BÙI VĂN NGHỊ
Hà Nội–2024
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này do tôi làm, các kết quả được trình bày trong luận án là trung thực, mọi trích dẫn đều có nguồn đúng đắn
Hà Nội, tháng 2 năm 2024
Đỗ Đức Bình
Trang 5DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông
CTTT Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
CTĐP Chương trình địa phương
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC HÌNH
HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG
1.3.1 Một số cách tiếp cận trong phát triển chươngt r ì n h 281.3.1.1 Phát triển chương trình
281.3.1.2 Nhu cầu phát triển chương trình
301.3.1.3 Cách tiếp cận trong phát triển chương trình
311.3.1.4 Quy trình phát triển chương trình
351.3.2 Phát triển chương trình ở cấp độ lớp học 351.3.2.1 Quan niệm về phát triển chương trình nhà trường và
Trang 81.3.2.2 Phân tích kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam về phát
triển chương trình ở cấp độ lớp học 43
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO
2.1.2 Nhận định về một số thực tế của việc phát triển chương
trình ở cấp độ lớp học hiện nay ở Việt Nam 59
2.2 Cơ hội dạy học Hình học ở trường Trung học cơ sở theo
2.2.1 Cơ hội phát triển chương trình lớp học trong dạy học
Hình học từ việc nhìn lại nội dung mạch kiến thức Hình học
Trung học cơ sở ở Việt Nam và một số nước trên thế giới trước
năm2018
61
2.2.2 Cơ hội phát triển chương trình lớp học trong dạy học
Hình học từ những vấn đề trong xây dựng nội dung Hình học
Trung học cơ sởnăm2018 của Việt Nam
63
2.2.3 Cơ hội phát triển chương trình lớp học trong dạy học
Hình học từ những cách tiếp cận khi xây dựng nội dung Hình học
trong chương trình môn Toán Trung học cơsở
65
Trang 92.2.4 Cơ hội phát triển chương trình lớp học trong dạy học
Hình học từ những thay đổi nội dung Hình học trong chương trình
môn Toán Trung học cơ sở sau và trước năm 2018 của ViệtN a m
792.3.3 Kết quả khảo sát
81
2.4 Khảo sát tình hình dạy học Hình học theo hướng phát
triển chương trình của giáo viên Toán Trung học cơsở 85
2.4.1 Bảng tổng hợp kết quả
852.4.2 Phân tích kết quả khảo sát
86
2.5 Kết luận chương 2
88
Chương 3 ĐỀ XUẤT NHỮNG HOẠT ĐỘNG TRONG DẠY
HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA
NGƯỜI GIÁO VIÊN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
CHƯƠNG TRÌNH Ở CẤP ĐỘ LỚP HỌC
90
3.1 Hoạt động cá nhân của giáo viên: Phát triển chương trình
lớp học ngay trong quá trình chuẩn bị kế hoạch bài dạy
Trang 10lớp học thông qua chia sẻ, nghiên cứu bài học, dạy học dự án.
3.3 Hoạt động hợp tác nhiều nhóm giáo viên tạo ra những bài
dạy tíchhợp,các chủ đề hay giáo dục STEM, qua đó phát triển
4.2.1 Nội dung thứ nhất: Trao đổi, thảo luận về các Dự án học
tập và Giáo dục STEM theo hướng phát triển CTLH tại một
trườngTHCS
136
4.2.2 Nội dung thứ hai: Dạy thực nghiệm sư phạm 144
Trang 11KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 158DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
160
Trang 12k h á ổ n đ ị n h t r o n g n h i ề u n ă m q u a
Về xây dựng và quản lí chương trình: CTGDPT ở nước ta có tính pháp lí, được
sử dụng thống nhất trong cả nước do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành vàchỉ đạo thực hiện Theo đó, chúng ta chỉ cómộtCT duy nhất vàmộtbộ sách giáo khoa(SGK) duy nhất được sử dụng trong cả nước SGK là tài liệu học tập chủyếucủa họcsinh (HS), sách giáo viên (SGV) là tài liệu tham khảo quan trọng Mô hình quản lítrên tỏ ra không còn phù hợp với xu thế của thế giới nói chung cũng như thực tiễngiáo dục của nước ta nóir i ê n g
1.2 Trong nhiều thậpkỷqua, việc phát triển CTGDPT trên thế giới và ở ViệtNam đã có nhiều thay đổi đángkể
Trên thế giới, sự quan tâm đến phát triển CTGDPT có thể thấy rõ nét từnhững năm 50 của thế kỷ XX.Cóthể kể đếnmộtsố công trình đã công bố về
phát triển CTGDPT, ví dụ: Giáo trình “Chương trình: các phương pháp tiếpcận, các vấn đề đang tiếp diễn”(2002)củaColinJ.Marsh&George Willis,ĐạihọcCurtin,HoaKì;giáo trình “Developing the Curriculum -Xây dựng
Trang 13Chương trình học” (2005) của Peter F Oliva; chuyên khảo của Floyd G Robinson, John A Ross, Floyd White, năm 1985, với tựa đề “Phát triểnchương trình để giảng dạy hiệu quả”, Viện Nghiên cứu Giáo dục Ontario, Canada; công trình nghiên cứu “Basic Principles of Curriculum andInstruction”, năm 1949 của tác giả Ralph W Tyler.
Theo xu hướng hiện nay, CT được xây dựng theo định hướng phát triển
NL HS,tăng quyền chủ động cho các địa phương, các cơ sở giáo dục và cácnhà trường.
Ở Việt Nam, sự thay đổi CT nhà trường (CTNT) được thể hiện ngay từ nhữngnăm 1960 theo hướng đáp ứng thực tiễn và nhu cầu của địa phương Trong đó ngọn
cờ đầu cho sự thay đổi này có thể kể đến là trường THCS Bắc Lí (huyện Lý Nhân,tỉnh Hà Nam)
Năm 2006, Bộ Giáo dụcvàĐào tạo (Bộ GD&ĐT) đã triển khai thực hiện
CT, theo hướng tăng cường sự chủ động, sáng tạo của các địa phương, nhà
trường Năm học 2013 - 2014, Bộ GD&ĐT đã có chỉ đạo: “Thí điểm pháttriển chương trình giáo dục nhà trường theo định hướng phát triển năng lực học sinh.” Chỉ đạo này nhằm góp phần chuẩn bị cho “Đổi mới chương trình,sách giáo khoa giáo dục phổ thông”,theo tinh thần Nghị quyết 88/2014/QH13
(Công văn số 791/HD-BGDĐT, ngày25/6/2013)
Với cấp Trung học, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế
hoạch triển khai thí điểm “Chương trình giáo dục nhà trường gắn với sảnxuất, kinh doanh và dịch vụ tại địaphương.”
Tiếp đó, ngày 03/10/2017, Bộ GD&ĐT đã có công văn số
4612/BGDĐT-GDTrH “Hướng dẫn thực hiện Chương trình giáo dục phổthông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh”, trong đó yêu cầu:
“Triển khai thực hiện có hiệu quả việc xây dựng kế hoạchgiáo dục nhà trường, xây dựng kế hoạch giáo dục cho từng môn học/hoạt
Trang 14động giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh phùhợp với điều kiện thực tế của nhà trường.”
Phù hợp với xu thế chung, CTGDPT năm 2018 củaBộGD&ĐT
đượcxâydựng theo hướngmở,với tinh thần: “Bảo đảm định hướng thống nhất vànhững nội dung giáo dục cốtlõi,bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ suịg một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục.” Để bảo đảm xây dựngmột“chương trình giáo dục mở”, Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập đếnmộtsố giải pháp sau: “Thiết kế ba cấp chươngtrình (Chương trình quốc gia, Chương trình địa phương, Chương trình nhà trường); Trao quyền chủ động cho giáo viên (căn cứ vào Chương trình giáo dục, trong
đó có Chương trình nhà trường; giáo viên tự chọn sách giáo khoa, phối hợp nhiều sách giáo khoa hoặc tự biên soạn tài liệu dạy học và triển khai kế hoạch dạy học phù hợp với yêu cầu giáo dục cụ thể đối với học sinh do giáo viên phụ trách); Vừa bảo đảm tính ổn định của Chương trình, vừa cập nhật thường xuyên.”[71]
Mặt khác chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (CTTT) năm 2018
cũng nêu rõ: “Dựa trên nội dung và yêu cầu cần đạt của chương trình giáodục phổ thông, các trường xây dựng kế hoạch giáo dục riêng cho trường mình một cách linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của địa phương, bảo đảm mục tiêu và chất lượng giáo dục.”[9]
1.3 Thực tiễn cho thấy có không ít GV chưa quan tâm đúng mức đến sự pháttriển CTmônToán nói chung, CT Hình học nóiriêng
Một CT hiệu quả cần phản ánh triết lí, mục tiêu giáo dục; đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội và kì vọng của các đối tượng người học Tuy nhiên,một CT có hay đến mấy nếu không có sự tham gia tíchcực
Trang 15của GV, HS, các cán bộ quản lí, chỉ đạo, của tất cả các bên liên quan, thì sẽ khó bảođảm chất lượng Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí, chỉ đạo … những người trực tiếptạo nên chất lượng GD, đóng vai trò quyết định cho thành công của công cuộcđổimớigiáo dục Kinh nghiệm cho thấy, mọi sáng kiến cải tiến, đổimớiCT chỉ có thểđạt được mức độ thực hiện cực kì khiêm tốn, hoặc thất bại nếu như CT được xây
dựng không “bắt đầu từGV”.
Để một CT thực sự đạt được kết quả đầu ra mong đợi (kết quả thấy được củangười học) phần lớn phụ thuộc vào NL và kinh nghiệm của GV trong công việcgiảng dạy hàng ngày của họ Nói cách khác, người GV chỉ có thể thực hiện hiệu quả
CT dự định (của quốc gia, của địa phương hay của nhà trường), nếu họ có ý tưởng và
kinh nghiệm trong việc thiết kế, “chuyển dịch”CT dự địnhthànhCT thực hiệncủa cá
nhân GV và coi đó như là bản thiết kế mong đợi, thực sự đáp ứng nhu cầu của chính
họ và họ có khả năng thực hiện trên thực tế
Trong thực tế hiện nay có không ít GV chỉ quan tâm đến nội dung SGK mà ítquan tâm đến CT Nếu như vậy, việc làm của người GV tựa như việc làmcủamộtngười thợ thủ công hơn là việc làm của một kiến trúcs ư
1.4 Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển CT ở trườngphổ thông, tuy nhiên theo nghiên cứu của chúng tôi, có khá ít những côngtrình về CT ở cấp độ lớp học (CTLH) và phát triển CTLH, đặc biệt là chưa có
công trình nào về “Dạy học Hình học ở trường Trung học cơ sở theo hướngphát triển chương trình ở cấp độ lớphọc.”
Mặc dù, phát triển CTLH làmộtHĐ thường xuyên, gắn bó với việc dạy học của
GV, nhưng thực tiễn cho thấy những công trình nghiên cứu và các sản phẩm cụ thể
về việc phát triển CTLH trongmônToán THCS vẫn còn ở mức độ khiêm tốn Vì vậy,chúng tôi cho rằng việc phát triển CTLH (với đốitượngl à n g ư ờ i G V đ ứ n g l ớ p ) c ầ n đ ư ợ c s ự q u a n t â m n h i ề u h ơ n , t h e o c ác
Trang 16phương diện: Quan niệm về CTLH; Cách thức phát triển CTLH; Những HĐ của GVtham gia phát triển CTLH, với các ví dụ minh họa phù hợp (đặt trong bối cảnh thực
tế trên lớp) trong quá trình dạy học HH ở trường THCS
Với mong muốn tìm ra cách thức giúp GV phát triển CTLH, đề tài được
chọn là: “Dạy học Hình học ở trường THCS theo hướng phát triển chươngtrình ở cấp độ lớp học.”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề phát triển CTLH, đề xuất được những
HĐ trong dạy học (DH) Hình học (HH) THCS của người GV theo hướng phát triểnCTLH, góp phần nâng cao chất lượng DH môn Toán
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiêncứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình DH HH ở trường THCS.
Đối tượng nghiên cứu:Những HĐ trong DH HH THCS của người GV
theo hướng phát triển CTLH
Phạm vi nghiên cứu:Tập trung vào các HĐ dạy học HH ở trường THCS.
4 Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển CT môn Toán ở cấp độ lớp học, nếungười GV hiểu biết và thực hiện được những HĐ phát triển CTLH ngay trong quátrình chuẩn bị KHBD, nghiên cứu bài học (NCBH) cùng nhóm GV hay hợp tácnhiều nhóm GV, trong quá trình DH HH ở trường THCS thì kết quả DH sẽ đượcnâng lên, đồng thời thiết thực góp phần phát triểnCTLH
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi khoa học sau đây:
(1) Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như thế nào? (Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứuđến đâu,
Trang 17luận án có thể đóng góp được gì về phát triển CTLH trong DH HH ở trường THCS)
(2) Cơ sở lí luận của việc phát triển CTLH trong DH HH ở trường THCS
là gì? (Quan niệm thế nào là phát triển CT nói chung và phát triển CTLH nóiriêng? Biểu hiện của việc phát triển CTLH như thếnào?)
(3) Thực trạng DHHHởtrườngTHCStheohướngpháttriểnCTLHhiệnnaynhưthếnào?
(4) Những HĐ nào của người GV góp phần phát triển CTLH trong DHHHTHCS?
(5) Những HĐ đã đề xuất trả lời cho câu hỏi (4) có tính khả thi và hiệuquả haykhông?
6 Phương pháp nghiêncứu
6.1 Nghiên cứu líluận
Nghiên cứu các công trình về phát triển CTLH ở trong và ngoài nước, nhằm cócái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lí luận của vấn đề pháttriển CTLH
6.2 Điều tra, khảo sát thựctiễn
Sử dụng phiếu hỏi, trao đổi với GV Toán ở trường THCS về thực trạng DH HHtheo hướng phát triển CTLH, để có cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất được những HĐcủa GV trong DH HH theo hướng phát triển CTLH
6.3 Phương pháp thống kê toánhọc
Xử lí các số liệu điều tra, các dữ liệu thu được trong TNSP
Trang 18- Làm sáng tỏ thêm lí luận về phát triểnCTLH.
- Đề xuất được những HĐ trong DH HH ở trường THCS của người GVtheo hướng phát triểnCTLH
7.2 Vềmặt thựctiễn
- Phản ánh một phần thực trạng phát triển CTLH trong nhà trường THCS
ở Việt Nam hiệnnay
- Những HĐ đã đề xuất trong luận án góp phần phát triển CTLH thôngqua DH HH ở trường THCS phù hợp với điều kiện thực tế của lớp học, đápứngyêucầu đổimớigiáo dục và nâng cao chất lượng DH bộ môn Toán Các ví
dụ và tài liệu TNSP trong luận án có thể xem là tài liệu tham khảo cho GV khi
DH HH ở trường THCS theo hướng phát triểnCTLH
8 Những vấn đề đưa ra bảovệ
8.1 Việc phát triển CTLH ở trường THCS có cơ sở lí luận và thựctiễn
8.2 Những HĐ của GV trong DH HH ở trường THCS theo hướng phát triển CTLH như đã đề xuất trong luận án có tính khả thi và hiệuquả
9 Cấu trúc của luậnán
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc dạy học Hình học ở trường Trung học cơ sởtheo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớphọc
Chương 2 Cơ sởthựctiễn của việc dạy họcHìnhhọc ởtrườngTrung học cơ sởtheo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớphọc
Chương 3 Đề xuất những hoạt động trong dạy học Hình học ở trường Trunghọc cơ sở của người giáo viên theo hướng phát triển chương trình ở cấp độ lớp học
Chương 4 Thực nghiệm sư phạm
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
CHƯƠNG TRÌNH Ở CẤP ĐỘ LỚP HỌC 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đềtài
1.1.1 Trên thếgiới
Những công trình nghiên cứu quốc tế về phát triển CT có thể phân chia thành bamảng từ chung chung đến cụ thể: Mảng nghiên cứu những vấn đề chung về phát triểnCT; mảng nghiên cứu về các cấp độ khác nhau của CT; mảng nghiên cứu về pháttriển CTLH
a) Về những vấn đềchung
Nghiên cứu những vấn đề chung về phát triển CT có thểkểđến công trình củaRalph W Tyler (1949) [141], của Kieran Egan (1979) [112] và đặc biệt là công trìnhcủa Peter F Oliva (2005) [131] Trong công trình [141], tác giả Ralph W Tyler đãtrình bày những điều cần thiết để triển khai CT và đưa ra bốn câu hỏi cơ bản của CTvề:mụcđích, cách chọn lựa, tổ chức các HĐ học tập và đánh giá Trong công trình[131], PeterF.Oliva bàn khá kĩ về các khái niệm liên quan đến CT (chương 1), cácnguyên tắc của việc xây dựng CT (chương 2); hoạch định CT – một quá trình đa cấp,
đa lĩnh vực (bao gồm cấp độ lớp học, cấp độ tổ và bộ môn, cấp độ nhà trường, cấp độđịa phương, cấp độ quốc gia, quốc tế - chương 3), vai trò của GV, HS, người quản lí,PHHS … trong việc phát triển CT (chương 4) Trong tác phẩmnày,tác giả có nói đếncácmôhình xây dựng CT, cácmụcđích và mục tiêu của CT, tổ chức và thực hiện CT,đánh giá CT
Trong công trình [92], Colin J Marsh và George Willis (2002) đã đưa ra cácphương pháp tiếp cận, cơ sở lí luận và thực tiễn để giải quyết các vấn đề cơ bản củaCT: Lí thuyết về CT; Mô hình CT; Phương pháp xây dựng CT; Phát
Trang 20triển và thay đổi CT; Lập kế hoạch về CT: các cấp độ và đối tượng tham gia; Thựchiện CT; Đánh giá CT; Chính sách và quá trình ra quyết định về CT Trong côngtrình [91], Colin J Marsh (2004) đưa ra các khái niệm về CT, nêu lên các xu hướng,vấn đề mới ảnh hưởng đến CT, giúp GV xây dựng KHDH.
Chuyên khảo [96] của Floyd G Robinson, John A Ross, Floyd White (1985)trình bày đại cương về phát triển CT giảng dạy (Generer about curriculumdevelopment), quy trình phát triển CT giảng dạy (About curriculum developmentprocedures),mộtkhuôn khổ và thủ tụcmởrộng để phát triển một mục tiêu DH chính(An expanded framework and procedure for developing a majorgoal)
Trong công trình [107], tác giả Jon Wiles – Joseph Bondi (1979) đã nêu một sốvấn đề về phát triển CT và đưa ra nhiều ví dụ thực tế
Trong công trình [97], M Fullan (1991) đã nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn vềđổi mới giáo dục ở một số quốc gia, giới thiệu nhiều ý tưởng mạnh mẽ nhằm đổi mới
hệ thống giáo dục quốc gia, địa phương và nhà trường
Các tác giả Ornstein A C và Hunkins F P (1988) đã có công trình
[130] nghiên cứu tổng quan về cơ sở (các lĩnh vực nghiên cứu tác động đến CT),nguyên lí (các phương tiện và phương pháp được sử dụng để phản ánh tính tổng thểcủa CT và trong việc thiết kế, phát triển, thực hiện và đánh giá CT) và các vấn đề (sựảnh hưởng từ giáo dục, chính trị và xã hội) của CT giáo dục
Tác giả Tim Wentling (1993) có công trình [150] nghiên cứu về cách thức xâydựng CT giáo dục, lập kế hoạch và thiết kế các HĐ giáo dục, các phương pháp và kĩthuật thực tiễn để nâng cao kết quả giáodục
Trong công trình [132] của International Bureau of Education thuộc UNESCO,tác giả Philip Stabback (2016) nghiên cứu nhữngyếutố củamộtCT chất lượng trongcác điều kiện DH khácnhau
Trang 21b) Về các cấp độ khác nhau của Chương trình và phát triển Chương trình ởcấp độ lớp học, có thể kể đến một số công trìnhsau:
Các bài báo của Reid (1998) [94],ColinJ.Marsh(1990) [90], Michael Bezzina(1991) [119] bàn đến các cấp độ phát triển CT (cấp độ quốc gia, cấp độ địa phương
và cấp độ nhà trường) trong những năm 90 của thế kỉ XX ở châu Âu, châu Mĩ vàchâuÚc
Tại Hà Lan, công trình [124] của Viện phát triển Chương trình (NetherlandsInstitute for Curriculum Development – SLO) (2009) đã tóm tắt cơ sở lí luận về pháttriển CT, trình bày các khung chiến lược và tư duy phát triển CT từ cấp quốc gia đếnlớp học, giới thiệu về các kĩ thuật áp dụng kinh nghiệm quốc tế
Trong công trình [109], tác giả Kelley A.V (1997) đã nghiên cứu về hình thức
CT giáo dục, các khía cạnh chính của lí thuyết CT giáo dục, thực hành thiết kếCTNT Tác giả cũng chỉ ra sự can thiệp của chính quyền trong quá trình xây dựngCTNT dẫn đến thất bại của việc thực hiện CT
Trong công trình [126], Norman Evans (2005) đã nghiên cứu về sự thay đổi CT
ở trường THCS, phân tích chất lượng giáo dục nhà trường đã bị ảnh hưởng như thếnào khi có sự can thiệp ngày càng nhiều của cơ quan quản lí giáo dục, nghiên cứunhững gì xảy ra trong trường học và lớp học
Các tác giả Georgina M Barton, Susanne Garvis, Mary E Ryan (2014) đã cócông trình [100] điều tra thực tiễn về triển khai CTLH ở bang Queensland, nướcÚc
Ở châu Á, có thể kể đến những công trình nghiên cứu của Chenzhi Li,FeifeiS h u a i ( 2 0 1 0 ) [ 8 7 ] , C h i - C h u n g L a m , S h i r l e y S Y Y e u n ( 2 0 1 0 )[ 8 8 ] ,
Chia-Yu Chang; Jenq-Jye Hwang (2010) [89], Young-Keun Jeong( 2 0 1 0 )[152] bàn đến vấn đề phát triển CTNT ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan
Trang 22c) Về phát triển Chương trình Hình học Trung học cơsở
Theo những công trình nghiên cứu đã biết, chưa có công trình nào nghiên cứuriêng về phát triển CT HH ở THCS, chỉ cómộtsố công trình liên quan đến việc học
Trong bài báo [81], tác giả Alan Hoffer (1981) đề xuất những kĩ năng học tập
HH cần được hình thành cho HS Những kĩ năng này có giá trị tồn tại lâu dài vượt rangoàiHH
Như vậy, theo những kết quả nghiên cứu, trên thế giới chưa có nhiều công trình
nghiên cứu về “phát triển CTLH” nói chung hay “phát triển CTmôn Toán ở cấp độ lớp học” nói riêng Đúng như kết luận của Son Taekwon và Lee Kwangho (2020)
[137], sau khi phân loại các bài báo nghiên cứu của Korea về CTmônToán từ năm
1997 đến năm 2019 theo 8 chủ đề, thì chủ đề “Thực hiện và đánh giá CT” có số bài
“Bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình lớp học của giáoviênt i ể u h ọ c t r o n g d ạ y h ọ c m ô n T o á n ”T i ế p đ ó l à m ộ t s ố d ự á
n c ủ a B ộ
Trang 23GD&ĐT về “Chương trình phát triển Giáo dục” ở cấp Tiểu học (2004) [6], ở cấp
trung học (2009) [7] Kết quả của những công trình này có liên quan đến vấn đề pháttriển CT ở Việt Nam
Một nghiên cứu sâu hơn về lí thuyết phát triển CT, có thể kể đến những côngtrình sau:
Công trình của Nguyễn Hữu Châu (2006) [14] về “Những vấn đề cơ bảnvề CT và quá trình DH” Công trình nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình DH trong thực hiện CT Theo tác giả: “Một CT dạy học thànhcông hay thất bại tùy thuộc vào quá trình dạyhọc.”
Công trình của tác giả Trần Hữu Hoan (2011) nghiên cứu giới thiệu lí
thuyết phát triển CT giáo dục: “Một số nguyên tắc, cách tiếp cận và phươngpháp thường sử dụng trong phát triển chương trình Công trình cũng đưa ra những khái niệm cơ bản về chương trình giáo dục đại học, chương trình môn học, phát triển chương trình, cách thức tổ chức phát triển chương trình, đánh giá chương trình cũng như đánh giá chương trình môn học, đánh giá giáo trình, sách giáo khoa môn học ở bậc đại học.” [41]
Tiếp đó, công trình của Nguyễn Đức Chính (2015) hệ thống lại những
quan điểm về CT giáo dục: “Các thành tố của CT giáo dục, cách tiếp cậntrong phát triển CT giáo dục, các mô hình phát triển CT giáo dục, các yếu tố tác động trực tiếp đến phát triển CT giáo dục.”[16]
Đã cómộtsố hội thảokhoahọc về vấn đề đổimớiCTGDPT, SGK,phát triển
CTNT doBộGD&ĐTtổ chức,như: Hộithảo “Đánh giá một nămtriểnkhai thíđiểm phát triển chươngtrìnhgiáodục nhà trường”(2014);Hội thảo “Một sốvấnđềchungvề xây dựngchương trìnhgiáo dục phổ thôngsau2015.” Trong hội
thảo này có nhiều báo cáocủacác nhà khoa học như Đỗ N T.,Đinh
Q.B.,ĐàoT.L.,NguyễnA.D.,LươngV.T.,NguyễnC.K.,ĐỗT.Đ., Các
Trang 24báo cáo đề cập đến các vấn đề đổi mới CTGDPT, SGK của Việt Nam sau 2015.
Đã cómộtsố đề tài nghiên cứu khoa học cấpBộliên quan đến CT của các tác giảNguyễn ThịLanPhương (2014); của Trịnh Thị Anh Hoa và nhóm nghiên cứu (2009)
Trong công trình “Xây dựng phương thức, tiêu chí đánhgiá chương trình giáo dục phổ thông” [55], nhóm nghiên cứu về khâu đánh giá trong quy trình phát triển CT
giáo dục, đưa ra cơ sở lí luận về đánh giá CT giáo dục, tổng hợp kinh nghiệm đánhgiá CT trong nước và quốctế
Công trình nghiên cứu “Tổng quan kinh nghiệm quốc tế và phát triểnchương trình nhà trường trong giáo dục phổ thông” [39] đưa ra một số
khái niệm liên quan đến CTNT, phát triển CTGDPT, tổng quan kinh nghiệmphát triển CTNT, khẳng định phát triển CTNT là xu thế của nhiều nước pháttriển trên thế giới
Ngoài ra, có thể kể đếnmộtsố vấn đề về phát triển CT trong các bài giảng
chuyên đề “Phát triển chương trình môn Toán ở trường phổ thông” [33], tác giả Cao
T H., Nguyễn D N., ĐH Sư phạm Thái Nguyên (2015) Trongchuyênđề này nhómtác giả đã đưa ra khái niệm về phát triển CTNT, quy trình phát triển CTNT, cáchđánh giá CTNT, CTmônhọc và phân tích đánh giá sâu sắc vềCTmôn Toán 2006 vàCTmônToán2 0 1 8
Như vậy, những nghiên cứu về phát triển CT đã có từ những năm50của thế kỷ
XX Hầu hết những nghiên cứu này đi sâu vào lí luận chung: quan niệm, quy trình,nguyên tắc về phát triển CT; rất ít thấy những công trình hướng dẫn hoặc chỉ ra giảipháp cụ thể cho việc phát triển CT đối với một cấp học cụ thể
Trong khi đó yêu cầu cấp thiết trước mắt và lâu dài cần có những nghiên cứu cụthể giúp người GV có thể thực hành triển khai phát triển CT trong quá
Trang 25trình DH ở các cấp học phổ thông Đây cũng chính là mục tiêu và nội dung mà luận án này hướngtới.
1.2 Chương trình giáo dục phổ thông
1.2.1 Một số vấn đề về chương trình giáo dục phổthông
1.2.1.1 Về thuật ngữCurriculum
Có nhiều cách dịch khác nhau cho thuật ngữ Curriculum (tiếng Anh) sangtiếngViệt:
Trong [131], Nguyễn Kim Dung dịch CurriculumlàChương trình học:
“Curriculum có nghĩa gốc từ thời La mã cổ đại – trước công nguyên, là conđường mòn, là đường đua Curriculum là một ngành khoa học, có một tập hợp hệ thống các khái niệm, nguyên tắc lí thuyết làm nền tảng, có đối tượng
và nội dung nghiên cứu xác định, có các phương pháp nghiên cứu đặc thù Ngành học này có các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển CT, được trang bị những kiến thức tổng hợp trong các lĩnh vực như triết học, giáo dục học, tâm
lí học, xã hội học, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực mônhọc….”
Trong Hội thảo “Phát triển chương trình nhà trường: Những kinh nghiệmthực tiễn”, 2014, sơ kếtmộtnăm thực hiện đề án: “Xây dựng trường phổthông thực hành Nguyễn Tất Thành theo mô hình phát triển năng lực học sinh” hay trong Đề cương môn học của ĐHSP – ĐH Thái nguyên) các tác giả
sử dụng thuật ngữ Curriculum là Chương trình nhàtrường
Trong Tài liệu tập huấn giảng viên đại học và GV của Bộ GD&ĐT, năm
2015: “Những vấn đề chung về phát triển chương trình đào tạo giáo viên”,
Phạm Hồng Quang dịch Curriculum là Chương trình đào tạo/ Chương trìnhgiáo dục
Curriculum là Chương trình giảng dạy (Ornstein A C và Hunkins F P (1988),Chương trình giảng dạy: Nền tảng, nguyên lí và vấn đề phát sinh, NXB Allin vàBacon)…
Trang 26Trong luận án này, Curriculum được hiểu với nghĩa là Chương trình giáo dụcphổ thông.
1.2.1.2 Quan niệm về chươngtrình
Theo Oliva (2005), có những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ CT:
“Chương trình là những gì được giảng dạy trong nhà trường, là một tập hợpcác môn học;
Chương trình là nội dung giảng dạy trong một khóa học;
Chương trình là tất cả những gì xảy ra trong nhà trường bao gồm cáchoạt động giảng dạy, ngoại khoá, kế hoạch…” [131]
Theo Nguyễn Văn Khôi (2011): “Trong giáo dục chính quy, chươngtrình (curriculum/ curricula) là một tập hợp các khoá học (courses) với nhiều nội dung nhằm cung cấp cho các nhà trường Chương trình là căn cứ và cơ sở của nhiều vấn đề chung với những chỉ dẫn về nội dung cần tìm hiểu, các mức
độ cần đạt được cho một lớp cụ thể hoặc một trình độ nào đó.”[ 2 8 ]
Theo Colin J Marsh & George Willis (2002, trang 22): CT làmộttập hợp các kếhoạch và kiến thức thực tếmàmột người học tiếp thu được dưới sự hướng dẫn củanhà trường Theo đó,CTcó thể có những kế hoạch và kiến thức ngoài những gì đã dựkiến trước,màngười học tiếp thu được (có thể chưa hoàn thành) trong một khoảngthời gian, dưới sự hướng dẫn của nhà trường và có thể có cả những người liên quanđến nhàtrường
CT là tất cả những kiến thức dự kiếnmànhà trường có trách nhiệm giảng dạy,bao gồm những môn học hữu ích nhất cho cuộc sống trong xã hội hiệntại;
CT là toàn bộ những kiến thức thực tế cung cấp cho HS để họ có thể đạt đượccác kiến thức và kĩ năng ở nhiều nơi
CT (curriculum) có thể bao gồm Syllabus (CT của từng khóa học) và Course ofstudies (CT của nhiều khóa học)
Trang 27Elizabeth Vallance (1983) nhận xét: Lĩnh vực curriculum không có gì là rõ ràng
cả, nó vừa có vẻ như mộtmônhọc, vừa có vẻ như một ngành thực hành, curriculumthiếu ranh giới rõràng
Theo Oliva (2005): Việc tìm kiếm bằng chứng cho sự sáng tạo bí ẩn được gọi
là curriculum cũng chẳng khác gì những nỗ lực tìm kiếm những sinh vật hưcấu
Theo Tim Wentling (1993): “Chương trình là một bản thiết kế tổng thểcho một hoạt động đào tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm) Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết toàn thể nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gìtacó thể trông đợi ở người học sau khóa học;Nóphác họa
ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo; Nó cũng cho ta biết phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ.”[ 1 5 0 ] Thuật ngữ về “Chương trình giáo dục phổ thông” được dùng thông dụng
trong các văn bản CT các quốc gia là Curriculum/ Curricula
Tuy nhiên,mộtsố nước như Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp sử dụng thuậtngữ Programmes Chẳng hạn, để nói về CT cấp THCS, ở Pháp người ta sử
dụng thuật ngữ “Programmes du collège” [158]; ở Nga sử dụng thuật ngữ
“Oсновная образовательная программасновная образовательная программа”[154].
Ở Pháp, văn bản CT môn Toán THCS bao gồm các nội dung chủyếunhư: Lờinói đầu (giải thích CT), Mục tiêu, Khung nền tảng NL và kiến thức(SOCCOM),Tổchức nội dung, Tổ chức quá trình DH, Đánhg i á
Ở Nga, văn bản CT môn Toán THCS bao gồm các nội dung chủyếunhư: Lờinói đầu (giải thích CT); Yêu cầu cần đạt; Nội dung DH; Kế hoạch dự kiến (Thờilượng thực hiện CT) Ngoài ra, trong văn bản Chuẩn CTGDPT người ta còn đề cậpđến Quy trình thẩm định và triển khaiChuẩn
Trang 28Theo Ralph W Tyler (1949): “Nguyên tắc cơ bản của chương trình nhấnmạnh bốn câu hỏi lớn để giáo viên sử dụng: Cần đạt được những mục tiêu giáo dục nào? Có thể lựa chọn hoạt động học tập như thế nào để có thể đạt được những mục tiêu này? Hoạt động học tập có thể được tổ chức như thế nào để giảng dạy hiệu quả? Hiệu quả hoạt động học tập có thể được đánh giá như thế nào?”[141]
Theo N V Savin (1978) [60]: “CT học được xây dựng phù hợp với kếhoạch học tập CT là văn bản của Nhà nước trong đó xác định nội dung của môn học, hệ thống và khối lượng tri thức, kĩ năng và kĩ xảo cho mỗi môn học, thể lệ, trật tự và tính liên tục trong việc nghiên cứu môn học đó.”
Ở Việt Nam, theo Hà ThếNgữvà Đặng Vũ Hoạt (1987), CT được cấu tạo
bởi hai thành tố cơ bản là mục tiêu và nội dung DH: “Chương trình giáodục là văn kiện do nhà nước ban hành, trong đó quy định một cách cụ thể mục đích, các nhiệm vụ của môn học, phạm vi hệ thống nội dungmônhọc, số tiết dành cho môn học nói chung cũng như cho từng chương, từng phần, từng bài nói riêng.”[51]
Cùng với quá trình đổimớigiáo dục, quan niệm về CT đã trở nên phổ biến
Theo Nguyễn Hữu Châu (2006): “Chương trình giáo dục là sự trình bàyhệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định CT nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được; xác định rõ phạm vi, mức độ, nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức
tổ chức học tập, các cách thức đánh giá kết quả học tập… nhằm đạt được mục tiêu học tập đề ra.”[14]
Trong Luật Giáo dục Việt Nam (2019) đã nêu: “Chương trình giáo dụcthể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục,phươngphápvàhìnhthứctổchứchoạtđộnggiáodục,cáchthứcđán h
Trang 29giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặccác môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo.”[ 5 8 ]
Bộ GD&ĐT nêu quan niệm: “Chương trình giáo dục phổ thông là vănbản của Nhà nước thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định yêu cầu cần đạt đối với học sinh, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, phương pháp và hình thức đánh giá kết quả giáo dục ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông, làm căn cứ quản lí chất lượng giáo dục phổ thông Chương trình giáo dục phổ thông bao gồm Chương trình tổng thể và các Chương trình môn học.” [9]
Trong luận án này, Chương trình giáo dục phổ thông được viết gọn là Chươngtrình
1.2.1.3 Hoạch định chương trình Xây dựng, thay đổi chươngtrình
i) Hoạch định chương trình – một quá trình đa cấp, đa lĩnhvực
Theo nghĩa từ điển: “Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động, côngviệc được sắp xếp theo trình tự nhất định để đạt được mục tiêu đã đề ra.” (Hoàng
Phê,1996)
Hoạch định là quá trình tổ chức xác định, soạn thảo và định hướng thực hiệnmột kế hoạch Hoạch định có vai trò định hướng các chức năng quản trị: tổ chức,lãnh đạo và kiểm tra; giúp đề ra mục tiêu, biện pháp, nguồn lực, cách thức và đảmbảo tổ chức HĐ một cách có hiệu quả trong môi trường luôn thay đổi
Hoạch định CT đào tạo là quá trình xác định mục tiêu, nội dung, kế hoạch dàotạo, định hướng cho việc thực hiện và đánh giá CTđó
Hoạch định CT được thực hiện ở nhiều cấp độ: Cấp độ lớp học, trường học, quận/ huyện, sở, vùng/ miền, quốc gia, quốc tế Những người làm CT
Trang 30(chuyên gia, quản lí, GV và những người khác) có thể tham gia ởmộtsố cấp độ trongcùngmộtthờigian.
Về cơ cấu cấp bậc: Thông thường cơ cấu cấp bậc theo hướng đi lên, mỗi bậc cóquyền phê chuẩn hoặc từ chối các đề nghị về CT ở bậc thấp hơn Tuy nhiên nên có sựhài hòa giữa thuyết phục và quyền lực
Sự đa lĩnh vực của CT được thể hiện qua các môn học, các chủ đề, các mạchkiến thức khác nhau
ii) Những đối tượng có thể tham gia xây dựng/ thay đổi chươngtrình
ChamẹHS và nhiều cá nhân khác đều có thểbàytỏ quan điểm về CTcủa mìnhvới hiệu trưởng và GV; Hội chamẹH S , c ộ n g đ ồ n g k i n h d o a n h , công đoàn,các đảng phái chính trị, các nhóm tôn giáo và nhiều tổ chức khácđều có quan điểm
về việc trẻ em cần học những kiến thức gì trong nhà trường.Các đối tượng tham gia
tham gia xây dựng/ thay đổi CT theo các cấp độ
CT từ thấp đến cao có thể như sau:
Cấp độ Tên gọi Người thực hiện/ quản lí
1.2.1.4 Một số loại hình chươngtrình
i) CT dự định (mong muốn) (intended curriculum), CT thực
hiện(implemented curriculum) và CT thực sự đạt được
Trang 31CT thực hiện (chính là CT dự định khi được thực hiện ở nhà trường phổ thông)thường được nhìn từ góc độ của nhà trường và của người GV.
CT thực sự đạt được, thường được nhìn từ góc độ kết quả của người học Đó lànhững kết quả nhìn thấy được về việc thực hiệnmụctiêu, nội dung, phương thức giáodục (hình thức tổ chức dạy - học, phương pháp, phương tiện, công cụ dạy - học…);hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả giáodục
Hình 1.1 Cách tiếp cận đi từ trên xuống (nguồn Internet)
Cũng theo Kilpatrick, trong phát triển CT người ta có thể có hai cách tiếp cận:Tiếp cận truyền thống là cách tiếp cận đi từ trên xuống, từ CT dự địnhCTthực hiệnCT đạt được; Tiếp cận hiện đại là cách tiếp cận kết hợp cả đi từ trênxuống và từ dưới lên, từ CT dự định sang CT thực hiện đến CT đạt được và theochiều ngượclại
ii) CT tổng thể và CT mônhọc
Theo Nguyễn Minh Thuyết (2016): “Một văn bản chương trình bao gồmhai phần chủ yếu: phần khái quát (chương trình tổng thể) và phần chi tiết (chương trình các môn học).
Chương trình tổng thể nêu định dạng về chương trình quốc gia, gồm:Quan điểm phát triển chương trình; Các nguyên tắc xây dựng thiết kế chương trình; Mục tiêu giáo dục phổ thông (Mục tiêu chung và Mục tiêu các cấp học), chuẩn kết quả đầu ra, hệ thống môn học/ hoạt động giáo dục;Thời
Trang 32lượng cho mỗi môn học và các hoạt động giáo dục, Phương pháp dạy học,Kiểm tra - đánh giá; Hướng dẫn thực hiện chương trình quốc gia, phát triển chương trình địa phương, nhà trường;
Chương trình môn học/ hoạt động giáo dục được xây dựng trên cơ sởchương trình tổng thể, bao gồm một số nội dung cụ thể: Vị trí và đặc điểm môn học/ hoạt động; Mục tiêu giáo dục môn học; Nội dung và chuẩn đầu ra môn học cho mỗi lớp/ cấp học; Phương pháp dạy học; Kiểm tra, đánh giá; Hướng dẫn thực hiện…”[70]
Theo CTTT (2018), có thể hiểu:
“CT tổng thể là văn bản quy định những vấn đề chung nhất, có tính chấtđịnh hướng của chương trình giáo dục phổ thông, bao gồm: quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông và mục tiêu chương trình từng cấp học, yêu cầucầnđạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của học sinh cuối mỗi cấp học, hệ thống môn học và hoạt động giáo dục, thời lượng của từng môn học và hoạt động giáo dục, định hướng nội dung giáo dục bắt buộc ở từng cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc, định hướng về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục, điều kiện thực hiện chương trình giáo dục phổthông.”
“Chương trình môn học và hoạt động giáo dục: là văn bản xác định vịtrí, vai trò môn học và hoạt động giáo dục trong thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, mục tiêu và yêu cầu cần đạt, nội dung giáo dục cốt lõi của môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp học hoặc cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc, định hướng kế hoạch dạy học môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và mỗi cấp học, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả giáo dục của môn học và hoạt động giáo dục.”[ 9 ]
Trang 33iii) CT đóng, CTmở
+) CT đóng:Theo Nguyễn Văn Khôi (xem [28], trang 24): CT đóng là loại CT
pháp lệnh được thiết kế chi tiết, cụ thể, được chấp hành thực hiện triệt để, được quản
lí chặt chẽ theo các quy định cụ thể từ trung ương CTnàyđược thiết kế cho mộtkhoảng thời gian nhất định, chung cho hàng triệu HS, chung cho mọi điều kiện vùngmiền, chung cho mọi trình độ GV và mọi kiểu hình nhà trường CT này phù hợp vớikiểu DH truyền thụ, với nền hành chính tập trung, do đó có nhiều hạn chế trongMTDH phát triển NL cán h â n
+) CT mở:làmôhình quản lí CT phù hợp, hiệu quả Đó là: “Mộtchương trình giáo dục phổ thông thống nhất nhưng mềm dẻo, linh hoạt.” (Nghị quyết
88,[57])
Theo Nguyễn Minh Thuyết (2016):
“Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáodục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và
xã hội.”
“Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêucầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chươngtrình.”
“Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quátrình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học - công nghệ và yêu cầu của thực tế.” [71]
Trang 34iv) CTquốc gia, CT địa phương và CT nhàtrường
Như đã trình bày tại bài báo số 2 trong các công trình khoa học liên quan
đến luận án: “Chương trình quốc gia được Nhà nước(BộGD&ĐT) tổ chứcxây dựng và ban hành Chương trình địa phương và chương trình nhà trường là sự
cụ thể hóa từ chương trình giáo dục quốc gia để phù hợp với đặc điểm địa phương, vùng miền và điều kiện của từng nhà trường, trên cơ sở những quy định cụ thể về thời lượng và những nội dung được phép điều chỉnh hoặc bổ sung.”
Quá trình xây dựng và triển khai chương trình địa phương (CTĐP) và chươngtrình nhà trường (CTNT) là quá trình được chỉ đạo đồng bộ, thống nhất Cácyếutốđược tiến hành trong mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời là quá trình liên tục (baogồm đánh giá, điềuchỉnh)
CTNT do tập thể cán bộ quản lí nhà trường, GV thực hiện với sự tham gia tưvấn, góp ý, của các bên liên quan (PH, HS, cộng đồng địa phương, tư vấn, ),dưới sự hướng dẫn của cơ quan quản lí giáo dục địap h ư ơ n g
1.2.2 Chương trình ở cấp độ lớphọc
1.2.2.1 Quan niệm về Chương trình ở cấp độ lớphọc
Có thể nói, GV là người trực tiếp tiếp xúc với nội dung CTGDPT, là người gắn
bó hàng ngày với CT và HĐ của người GV chủyếudiễn ra trong phạm vi lớp học, ítliên quan đến CT quốc gia (CTQG), CTĐP, CTNT Hơn nữa, tiêu chuẩn quan trọngnhất đối với một chương trình làCTcần phù hợp và có ý nghĩa hơn đối với việc họctập của HS, với NL của GV và điều kiện trong lớp học Bởi vậy, vấn đề vừa có tínhcấp thiết, vừa có tính thiết thực là cần quan tâm hơn nữa đếnCTLH
“CT lớp học (gọi đầy đủ là Chương trình ở cấp độ lớp học) có thể hiểulà một bản kế hoạch giáo dục (kế hoạch dạy học) của cá nhân GV được xây dựngcăncứvàoquyđịnhcủaCTquốcgia,CTđịaphương,CTnhàtrường,
Trang 35căn cứ vào thực tiễn giáo dục của nhà trường, của lớp học, năng lực dạy vàhọc của GV và HS Đây là bản kế hoạch với một cấu trúc xác định dành cho toàn bộ CT học, cho một năm học, một giai đoạn học tập (một chủ đề, một học kì, một chương, một số bài học hoặc chỉ một bài học…), có thể dùng để định hướng hoạt động giáo dục (dạy học) trên lớp, trong nhà trường hay ngoài phạm vi nhà trường.” (Trích trong bài báo của tác giả luận án ở Tạp chí
Khoa học Giáo dục Việt Nam, tháng 1/2019, Số 13, tr.76-81)
Cũng trong bài báo trên: “Bản kế hoạch này xác định một hệ thống cáchoạt động giáo dục, dạy học trong một thời gian xác định Trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được; xác định rõ phạm vi, mức độ, nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức học tập, các cách thức đánh giá kết quả học tập … nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đềra.”
Theo Colin J Marsh, George Willis (2002): “Khi thiết kế CT lớp học,mỗi
GV có thể đưa ra các quyết định khác nhau về CT học, về dạy cái gì cũng như dạy như thế nào Đây chính là giai đoạn mà CT đào tạo dự kiến trong kế hoạch chuyển thành CT đào tạo được thực hiện và được kiểm nghiệm Mặc
dù CT quốc gia và CT địa phương quy định về dạy cái gì và không được dạy cái gì, hầu hết GV vẫn có thể đưa ra quyết định đủ để tạo nên một cấu trúc giảng dạy của riêng họ.” [92, trang170]
Quan niệm về CTLH ở trên phù hợp với tính “mở” và tính “tự chủ” của CT.
Người GV có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện và phát triểnCT
CT ở cấp độ quốc gia, địa phương và nhà trường được soạn ra bởi nhóm chuyêngia về CT, dựa trên đối tượng HS (giả định) còn CTLH được soạn bởi người GV trựctiếp đứng lớp, dựa trên đối tượng HS cụ thể (đa dạng, phong
Trang 36phú) Đây cũng là một trong những lí do dẫn đến sự cần thiết của việc phát
Nhóm chuyêngia do SởGD&ĐT chọnlựa
Tổ chuyên môn Nhóm GV và
từng GVtrong nhóm
Các công trình ở nước ngoài nghiên cứu tập trung vào ba cấp độ quốc gia,địa phương và nhà trường, luận án này tập trung nghiên cứu vào cấp độ thứ tư làcấp độ lớphọc
Trang 371.2.2.2 Tiến trình hình thành khái niệm Chương trình lớphọc
Theo Fullan [97], trong hai thập niên 1970 và 1980, ở các nước Úc, Anh và Mỹ,
đã có những nghiên cứu chỉ ra vai trò GV trong việc phát triển CT và khẳng định GV
không chỉ là “người thợ” hay “kĩ thuật viên” thực hiện CT từ các văn bản quy định
của trung ương hay địa phương Tuy nhiên, theo Kerry
J Kennedy (2010) [110], vào thời điểm đó vẫn còn rất nhiều tranh luận xung quanhviệc trao quyền tự chủ cho nhà trường và GV để phát triển CT cho phù hợp với tìnhhình thực tiễn của nhà trường
Từ năm 2000, bắt đầu có những nghiên cứu về CTLH Theo Mario Sánchez(2011) [117],mộttrong những xu hướng nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực giáo dục
toán học là nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của DH trong lớp học (“teaching practice within the classroom”) Chẳng hạn, GV có thể lựa chọn nội dung, xác định
thời lượng, thay đổi cấu trúc bài học Tác giả cũng lưu ý rằng các nhà nghiên cứubắt đầu tập trung vào các cách thức, tài liệu giúp GV xây dựng kế hoạch DH củariêng GV Trên thế giới, người ta có nhiều cách gọi khác nhau cho khái niệm CTLH:
“classroom curriculum”, “curriculum in classroom”, “curriculum for classrooms teaching”, … Ở nước Úc, từ năm 2012, Bộ Giáo dục tiểu bang Queensland đã phát
tiển bộ tài liệu DH giúp GV tự xây dựng kế hoạch DH chomộtlớp hoặcmộtnhóm lớp,
HS đại trà, HS đặc biệt hoặc HS theo học các lớp đào tạo từ xa Bộ tài liệu này được
gọi là “Curriculum into Classroom” hay “C2C” (xem [100]) ỞMỹ,GV tự xây dựng
kế hoạch DH, gọi là “field guides”, dùng như SGK và sách bài tập cho HS Xây
dựng kế hoạch DH của cá nhân GV ởMỹđã trở thành nhiệm vụ thườngxuyên
Tại Hà Lan, Viện phát triển Chương trình đã đề cập đến bốn cấp độ phát
triển CT, đó là: “SUPRA – Chương trình có tính chất quốc tế (ví dụ: Khungtham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của châu Âu - CommonE u r o p e a n
Trang 38Framework of References for Languages); MACROсновная образовательная программа – Chương trình quốc gia;MESOсновная образовательная программа – Chương trình nhà trường; MICROсновная образовательная программа – Chương trình cấp độ lớp học (ví dụ: Bài soạn, Kế hoạch dạy học, Tài liệu dạy học; Module các bài giảng ).”[124]
Tại bang Queensland (Úc), để hỗ trợ GV thực hiện CTQG, người ta đã pháttriển CTQG thành tài liệu lớp học (C2C) [133] C2C là bộ tài liệu toàn diện về lậpCTNT và CTLH Các tài liệu này đáp ứng nhu cầu đa dạng của HS Queensland kể
cả HS ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, các trường nhỏ, HS học theo hình thứchọc từ xa, HS có nhu cầu và khả năng học tập đa dạng
C2C được thiết kế nhưmộtđiểm khởi đầu cho việc lập CT nhà trường và có thểđược điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu học tập của từng HS và phù hợp với bối cảnhtrường học địaphương
Các trường công lập ở Queensland có thể tìm thông tin bằng cách truy cập vàotrang 'Chương trình giảng dạy trong lớp học (Curriculum into the Classroom)' trêncổng thông tin OnePortal Họ cũng có thể truy cập tài liệu thông qua cổng OneSchool
Các tài liệu C2C (sửa đổi) cũng được cung cấp cho các trường ngoài công lập(các trường Công giáo và các trường độc lập) thông qua địa chỉ Scootle external link.Đây là kho lưu trữ học liệu kỹ thuật số quốc gia do cơ quan Dịch vụ Giáo dục Úc(Education Services Australia) thay mặt cho tất cả các Bộ trưởng Giáo dục các bangquảnlý
Chúng tôi cũng xin nêu một ví dụ thực tế tại một trường học (trườngJohnsonville) ở New Zealand Trường Johnsonville nêu lên quan niệm rằng:
“Chương trình lớp học là chương trình sử dụng cho việc dạy học diễn ra khi ởtrong nhà trường, trong lớp học và khi ở trong cộng đồng” [108] GV của
trường Johnsonville sử dụng CT giảng dạy của Trường kết hợp với CTQG
Trang 39New Zealand để thiết kế các CT học tập đáp ứng nhu cầu, sở thích, tài năng của từng HS cũng như của từng nhóm HS trong lớp củahọ.
Ở Việt Nam, Vũ Quốc Chung (2015) [19] đã đề cập đến bốn cấp độ của CT làCTQG, CTĐP, CTNT, CTLH
Ở một công trình khác, N T Hồng Nhung (2016) đã quan niệm về
CTLH như sau: “Chương trình lớp học là một bản kế hoạch dạy học của GVđược xây dựng căn cứ vào quy định của chương trình quốc gia, chương trình nhà trường Chương trình lớp học, do đó có thể bao gồm một bài học (chẳng hạn như kế hoạch dạy học một nội dung, một tiết học, một số tiết trong phân phối chương trình), một số bài học (chẳng hạn như kế hoạch dạy học một chương), một kì học, hay toàn bộ chương trình học của nhà trường, có thể dùng để định hướng hoạt động giáo dục trên lớp hay không trên lớp, trong nhà trường hay ngoài phạm vi nhà trường.”[53]
vực, mọi sự vật, hiện tượng, mọi quá trình và giai đoạn của chúng và kết quả làcái mới xuất hiện), tính phong phú, đa dạng và có tính kế thừa Trong đó tínhphổ biến diễn ra ở trong mọi lĩnh vực, mọi sự vật, hiện tượng,mọiquá trình vàgiai đoạn của chúng và kết quả là cáimớixuất hiện; tính hoàn thiện được hiểu làtrọn vẹn,đầyđủ và tốt lành, chưa hoàn thiện là còn lỗi lầm, sai sót, thiếu sót);tính phù hợp được hiểu là hợp với nhau, ăn khớp với nhau, có sự kết lại vớinhau
Trang 40Theo nghĩa từ điển: “Phát triển là biến đổi, làm cho biến đổi từ ít đếnnhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.” (Hoàng
GV sử dụng CT để nắm được những gì cần dạy cho HS và dạy khi nào,nhất lànhững đề mục, những loại công việc cần phải làm và những viêc khác.Trên thực tếbản thân người GV cần phải biết làm thế nào để thực hiệnnhững công việc đó Tuykhông chỉ ra cách thức cụ thể như thế nào là đúng,nhưng nó cũng thật sự là conđường dạymộtc h ủ đ ề n à o đ ó đ ã đ ư ợ c t r ả i nghiệm Đó là lí do, sự cần
thiết tạo nên sự khác biệt giữa CT chính thức theo
kế hoạch với CT thực tế được dạy trong các trường học
Theo Nguyễn Văn Khôi (2011): “Phát triển chương trình là xemx é t chương trình như một quá trình phát triển và hoàn thiện nó hơn là một trạngthái hay một giai đoạn cô lập, tách rời Phát triển chương trình là một quátrình thường xuyên, liên tục làm cho CT ngày càng hoàn thiện.” [28, trang 16]Theo Taba (1962): “Việc phát triển CT là một chu trình bao gồm 7 giaiđoạnchính: Đánh giá nhu cầu; Xây dựng các mục tiêu; Chọn
lựa nội dung; Sắp xếp nội dung; Chọn lựa các yêu cầu học tập; Tổ chức các hoạt động họctập; Xác định đối tượng và phương pháp đánh giá.” [139, trang 3]
Theo Nguyễn Minh Thuyết (2017): “Các công đoạn chính trong pháttriển chương trình bao gồm: Đánh giá chính sách (đánh giá nhu cầu); Đề xuấtchínhsáchmới(ThiếtkếchươngtrìnhvàDựkiếncácbướcđểthựchiện