Giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước
Trang 1MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác huy động vốn qua 3
Kho bạc Nhà nước 3
1.1 Tổng quan về hệ thống Kho bạc Nhà nước 3
1.1.1 Vị trí và chức năng của Kho bạc Nhà nước 4
1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Kho bạc Nhà nước 4
1.1.3 Cơ cấu tổ chức 8
1.2 Hoạt động huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 9
1.2.1 Các công cụ huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 9
1.2.2 Các phương thức huy động vốn 14
1.2.3 Sự cần thiết của công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 18
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 21
1.3.1 Các nhân tố khách quan 21
1.3.2 Các nhân tố chủ quan 23
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước Việt Nam 24
2.1 Quá trình phát triển của thị trường trái phiếu 24
2.2.1 Giai đoạn 1991 - 1994 24
2.1.2 Giai đoạn 1995 - 1999 25
2.1.3 Giai đoạn 2000 đến nay 25
2.2 Thực trạng công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước thời gian vừa qua 26
2.2.1 Huy động vốn thông qua phát hành tín phiếu Kho bạc 26
2.2.2 Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Kho bạc 30
Trang 22.2.3 Phát hành trái phiếu công trình Trung ương 36
2.2.4 Phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ 38
2.2.5 Phát hành công trái xây dựng Tổ quốc 40
2.3 Đánh giá công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước thời gian qua 42 2.3.1 Những kết quả đạt được trong công tác huy động vốn 42
2.3.2 Những hạn chế trong công tác huy động vốn 45
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 48
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 52
3.1 Định hướng hoàn thiện công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước trong thời gian tới 52
3.1.1 Gắn chặt công tác huy động vốn với việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động 52
3.1.2 Huy động vốn phải gắn với hoạt động của thị trường tài chính 53
3.1.3 Đẩy mạnh phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước, coi đây là công cụ huy động vốn quan trọng hiện nay 54
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 54
3.2.1 Các giải pháp về cơ chế chính sách huy đông vốn 54
3.2.2 Các giải pháp về kĩ thuật nghiệp vụ huy động vốn 59
3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ hoàn thiện công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 62
3.3 Kiến nghị 66
3.3.1 Đối với Quốc hội và Chính phủ 66
3.3.2 Đối với Bộ Tài chính 66
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách huy động vốn là một bộ phận của chính sách tài chính quốc gia,gắn bó mật thiết với chính sách đầu tư phát triển kinh tế, chính sách tiền tệ tín dụng,đồng thời tác động trực tiếp đến các quan hệ phân phối thu nhập, tích lũy - tiêudùng trên phạm vi toàn xã hội Đây là chính sách được ưu tiền hàng đầu của cácquốc gia đang phát triển
Trong những năm gần đây, để thực hiện chủ trương khai thác tối đa các nguồnvốn trong nền kinh tế cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển, Chính phủ
đã rất chú trọng đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, trong đó có việc pháthành trái phiếu Chính phủ Giai đoạn đầu chỉ có hình thức bán lẻ trái phiếu Chínhphủ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước Cùng sự phát triển của thị trường tài chính -tiền tệ các phương thức phát hành trái phiếu tiên tiến hơn đã được áp dụng, như bảolãnh và đấu thầu trái phiếu… Tuy nhiên công tác huy động vốn vẫn phụ thuộc nhiềuvào kế hoạch ngắn hạn của ngân sách nhà nước, chưa khai thác được hết tiềm lựctrong dân Điều này đã làm giảm hiệu quả của công cụ TPCP đối với hoạt động huyđộng vốn cho mục tiêu phát triển dài hạn của Chính phủ
Với mục tiêu thực hiện chiến lược từ nay đến năm 2020 đưa nước ta cơ bảntrở thành nước công nghiệp phát triển, nhu cầu chi tiêu hàng năm của Nhà nước rấtlớn Để huy động được nguồn vốn này chúng ta phải tập trung tháo gỡ mọi vướngmắc nhằm khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân cư để phát triển đất nước, trong đó,việc phát triển nhanh và bền vững thị trường vốn, nhất là thị trường vốn dài hạnchính là điều kiện tiên quyết
Vì thế, việc nghiên cứu cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm tìm ra cácgiải pháp hiệu quả để thực hiện tốt công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước ởViệt Nam trong thời gian tới, tạo nguồn lực tài chính cần thiết để bảo đảm thực hiệnthắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế là một yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết
Trang 6Từ tình hình thực tế trên, em đã lựa chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công
tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà
nước
Trang 7Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác huy động vốn qua
Kho bạc Nhà nước1.1 Tổng quan về hệ thống Kho bạc Nhà nước
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chuẩn bị cho sự ra đời
và hoạt động của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 28 tháng 8năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cách mạng lâm thời quyết địnhthành lập ngành Tài chính của nước Việt Nam độc lập Để có một cơ quan chuyênmôn, đặc trách nghiên cứu và giải quyết các vấn đề tài chính – tiền tệ ngày 29 tháng
5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 75/SL thành lập Nha ngânkhố trực thuộc Bộ Tài chính
Với mục đích thực hiện chính sách động viên các nguồn lực tài chính trongnước, từng bước ổn định nghĩa vụ đóng góp của nhân dân, phấn đấu thăng bằng thuchi ngân sách; đồng thời đẩy mạnh tăng giá sản xuất, mở rộng giao lưu hàng hóa,tiếp tục củng cố và ổn định tiền tệ, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã kí Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đồng thời giải thểNha Ngân Khố và Nha Tín dụng sản xuất trực thuộc Bộ Tài chính Để thực hiện cácchủ trương và yêu cầu hiện tại, đồng thời nhằm cụ thể hóa chức năng và nhiệm vụcủa cơ quan quản lý quỹ ngân sách nhà nước ngày 20 tháng 7 năm 1951, Thủ tướngChính phủ đã ký Nghị định số 107/TTg (ngày nay gọi là Quyết định) thành lập Khobạc Nhà nước đặt trong Ngân hàng Quốc gia Việt nam và thuộc quyền quản trị của
Bộ Tài chính Theo Nghị định Số 107/TTg, nhiệm vụ chủ yếu của Kho bạc Nhànước là quản lý thu chi Quỹ ngân sách Nhà nước
Ngày 4 tháng 1 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số07/HÐBT tái thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính vớichức năng và nhiệm vụ chủ yếu là Quản lý quỹ ngân sách Nhà nước và các quỹ dựtrữ tài chính Nhà nước; tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu
tư phát triển Theo Quyết định Số 07/HÐBT, hệ thống Kho bạc Nhà nước được tổchức thành 3 cấp: ở Trung ương có Cục Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính;
Trang 8ở tỉnh, thành phố (trực thuộc Trung ương) có Chi cục Kho bạc Nhà nước; ở huyện,quận và cấp tương đương có Chi nhánh Kho bạc Nhà nước
Để tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của hệ thống Kho bạc Nhà nước trongnền kinh tế, đồng thời tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho KBNN hoạt động, ngày
26 tháng 8 năm 2009, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg quyđịnh chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trựcthuộc Bộ Tài chính
1.1.1 Vị trí và chức năng của Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năngtham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhànước, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý;quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngânsách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếuChính phủ theo quy định của pháp luật
Kho bạc Nhà nước có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, được
mở tài khoản tại ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại theo quy địnhcủa pháp luật, có trụ sở tại thành phố Hà Nội
1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Kho bạc Nhà nước
1 Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét,quyết định:
- Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảonghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ; dựthảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhànước;
- Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hànhđộng, đề án, dự án quan trọng về quản lý quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chínhnhà nước và các quỹ khác của Nhà nước
Trang 92.Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định:
- Dự thảo thông tư và các văn bản khác về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhànước
- Kế hoạch hoạt động hàng năm của Kho bạc Nhà nước
3 Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội bộ,văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước
4.Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kếhoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc lĩnh vực quản lý quỹ ngân sách nhà nước,các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước sau khi được cấp có thẩmquyền ban hành hoặc phê duyệt
5 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhànước
6 Quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác đượcgiao theo quy định của pháp luật:
- Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổchức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổchức và cá nhân nộp tại hệ thống Kho bạc Nhà nước; thực hiện hạch toán số thungân sách nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhànước và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của ngân sách nhà nước và cácnguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật;
- Quản lý quỹ ngoại tệ tập trung của ngân sách nhà nước, định kỳ công bố tỷgiá hạch toán phục vụ cho việc hạch toán các khoản thu chi ngân sách nhà nướcbằng ngoại tệ;
- Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính nhà nước và cácquỹ khác do Kho bạc Nhà nước quản lý; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch
Trang 10thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩmquyền;
- Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơ quannhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhànước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước
7 Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại Kho bạc Nhà nước để nộp ngânsách nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân sáchnhà nước theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản chikhông đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
8 Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước, các quỹ và tài sản của Nhà nướcđược giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyềnđịa phương theo quy định của pháp luật; báo cáo tình hình thực hiện thu, chi ngânsách nhà nước cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước liên quan theoquy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
9 Tổ chức thực hiện công tác thống kê kho bạc nhà nước và chế độ báo cáo tàichính theo quy định của pháp luật
10 Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ kho bạc nhà nước tập trung, thống nhấttrong toàn hệ thống:
- Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán bằng tiềnmặt, chuyển khoản đối với tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với Kho bạc Nhànước;
- Mở tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản thanh toán tại ngân hàng nhà nước vàcác ngân hàng thương mại để thực hiện các nghiệp vụ thu, chi, thanh toán của Khobạc Nhà nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
- Được sử dụng ngân quỹ kho bạc nhà nước để tạm ứng cho ngân sách nhànước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
Trang 11- Xây dựng và phát triển hệ thống các công cụ, nghiệp vụ quản lý hiện đại theonguyên tắc đảm bảo an toàn và hiệu quả ngân quỹ kho bạc nhà nước.
11 Tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển thông qua
việc phát hành trái phiếu Chính phủ
12 Tổ chức quản trị và vận hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc.13.Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặckiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi viphạm pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước của Kho bạc Nhà nước; phòng,chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sửdụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật
14 Hiện đại hoá hoạt động Kho bạc Nhà nước:
- Xây dựng cơ chế, chính sách và quy trình nghiệp vụ phù hợp với thông lệ
quốc tế và thực tiễn của Việt Nam;
- Tổ chức quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại
hoá cơ sở vật chất của hệ thống Kho bạc Nhà nước
15 Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước theophân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật
Trang 1217 Quản lý kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và tài sản được giao theo quy địnhcủa pháp luật; được sử dụng các khoản thu phát sinh trong hoạt động nghiệp vụ theochế độ quản lý tài chính của Nhà nước.
18 Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cáchhành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt
19 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao vàtheo quy định của pháp luật
1.1.3 Cơ cấu tổ chức
Kho bạc Nhà nước được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địaphương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất
1.1.3.1 Cơ quan Kho bạc ở Trung ương
KBNN Trung ương trực thuộc bộ Tài chính KBNN có Tổng giám đốc và các PhóTổng giám đốc Tổng giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệmtheo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính Các Phó Tổng giám đốc, Vụ trưởng do
Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm và miễn nhiệm Các Phó Vụ trưởng và trưởng,phó phòng ban do Tổng giám đốc KBNN bổ nhiệm và miễn nhiệm
Bộ máy KBNN Trung ương gốm có
Trang 13- Văn phòng;
- Thanh tra;
- Sở Giao dịch Kho bạc Nhà nước;
- Cục Công nghệ thông tin;
- Trường Nghiệp vụ Kho bạc;
- Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia
1.1.3.2 Cơ quan Kho bạc ở địa phương
- Kho bạc Nhà nước ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung làKho bạc Nhà nước cấp tỉnh) trực thuộc Kho bạc Nhà nước;
- Kho bạc Nhà nước ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làKho bạc Nhà nước cấp huyện) trực thuộc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh
Kho bạc Nhà nước được tổ chức điểm giao dịch tại các địa bàn có khối lượnggiao dịch lớn theo quy định của Bộ Tài chính
1.2 Hoạt động huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước
1.2.1 Các công cụ huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước
1.2.1.1 Đặc điểm của các công cụ huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư pháttriển thông qua việc phát hành các loại trái phiếu Chính phủ Đây là các loại chứngkhoán nợ, có thời hạn, có mệnh giá, có lãi, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của Chính phủvới người sở hữu trái phiếu, tín phiếu
Trái phiếu Chính phủ có 11 đặc điểm sau đây:
- Trái phiếu Chính phủ được phát hành dưới dạng chứng chỉ tiền gửi hoặcbút toán ghi sổ, có ghi tên hoặc không ghi tên
- Trái phiếu Chính phủ được phát hành nhằm phục vụ cho những mục tiêu cụthể của Chính phủ Ví dụ như: Trái phiếu đầu tư được phát hành để huy động vốn
Trang 14cho đầu tư theo chính sách của Nhà nước; tín phiếu Kho bạc được phát hành để huyđộng vốn nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước; Đầu tư xâydựng những công trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụsản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước theo quy định của Pháplệnh phát hành công trái xây dựng tổ quốc…
- Mệnh giá: là giá trị ghi trên trái phiếu mà Chính phủ cam kết trả cho người
sở hữu trái phiếu vào ngày đáo hạn Mệnh giá của trái phiếu phát hành và thanhtoán bằng đồng Việt Nam được quy định hiện nay tối thiểu là 100.000 đồng Mệnhgiác cụ thể do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định Mệnh giá của trái phiếu phát hành
và thanh toán bằng ngoại tệ được quy định cụ thể
- Ngày đáo hạn: là ngày mà trái phiếu đến hạn và được Chính phủ thanh toáncho người chủ sở hữu trái phiếu thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
- Lãi suất: trên trái phiếu có lãi suất mà Chính phủ cam kết sẽ thanh toán chochủ sở hữu trái phiếu vào một ngày xác định hoặc là định kỳ Thông qua lãi suất,nhà đầu tư có thể xác định được khoản lợi tức từ việc mua trái phiếu Trái phiếuđược phát hành với một tỷ lệ lãi suất danh nghĩa được xác định bởi các điều kiện thịtrường tại thời điểm chào bán trái phiếu Lãi suất thường được công bố theo tỷ lệphần trăm so với mệnh giá trái phiếu Lãi suất có thể được trả định kỳ hoặc trả mộtlần khi đến hạn
- Tính rủi ro: rủi ro của trái phiếu Chính phủ gần như bằng không vì tráiphiếu Chính phủ được đảm bảo bằng uy tín của Chính phủ và được thanh toán bằngNSNN Trong trường hợp NSNN không đảm bảo được nguồn để thanh toán gốc, lãitrái phiếu khi đến hạn thị Chính phủ có thể phát hành nợ mới để đảo nợ cũ
Mặc dù được coi là độ an toàn cao nhất trong các loại chứng khoán nợnhưng trái phiếu của chính phủ vẫn tiềm ẩn những rủi ro như rủi ro về biến động lãisuất, tỷ giá, rủi ro về khả năng thanh toán bằng tiền mặt
- Tính thanh khoản: Tính thanh khoản là khả năng chuyển trái phiếu thànhtiền mặt Trong các loại trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc có tính thanhkhoản cao nhất bới kì hạn ngắn Trái phiếu kho bạc có kỳ hạn dài hơn nhưng được
Trang 15tham gia thị trường tiền tệ với tư cách là công cụ vay chiết khấu, cầm cố, mua bánngắn hạn nên trái phiếu kho bạc cũng có tính thanh khoản cao.
- Giá mua: giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà người ta bỏ ra để cóđược quyền sở hữu trái phiếu Giá mua có thể bằng mệnh giá; giá mua cũng có thểcáo hơn mệnh giá tức là giá gia tăng; hoặc giá mua cũng có thể là giá chiết khấu,tức là thấp hơn mệnh giá
- Kỳ hạn: kỳ hạn của trái phiếu Chính phủ có thể được chia thành ba loại:ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Trái phiếu ngắn hạn thường có kỳ hạn dưới 1 năm,trái phiếu trung hạn có kỳ hạn từ 1 năm đến 10 năm, trái phiếu dài hạn có kỳ hạn từ
10 năm trở lên Kỳ hạn trái phiếu được ghi rõ trên tờ trái phiếu Kỳ hạn trái phiếucho biết khoảng thời gian mà người nắm giữ trái phiếu nhận được lãi đình kỳ hoặc
là thời gian mà Chính phủ phải thanh toán cho người nắm giữ trái phiếu tiền gốctheo mệnh giá trái phiếu
- Trái phiếu Chính phủ được phát hành và thanh toán bằng đồng Việt Nam.Đối với Trái phiếu ngoại tệ thì được phát hành và thanh toán bằng ngoại tệ tự dochuyển đổi, đồng tiền sử dụng để thanh toán là cùng loại với đồng tiền khi pháthành
- Đối tượng mua trái phiếu là các tổ chức, cá nhân Việt Nam, người ViệtNam định cư ở nước ngoài, các tổ chức, cá nhân người nước ngoài làm việc và sinhsống hợp pháp tại Việt Nam Đối với các tổ chức của Việt Nam không được dùngnguồn kinh phí do NSNN cấp để mua trái phiếu
1.2.1.2 Phân loại các công cụ huy động vốn qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
Huy động vốn qua hệ thống Kho bạc Nhà nước là một hoạt động quan trọng của nền kinh tế Hoạt động này được thực hiện bằng các công cụ huy động vốn Tùytheo mục đích phát hành hay yêu cầu quản lý, ta có thể phân loại công cụ huy động vốn theo các tiêu thức sau:
a Phân loại theo hình thức phát hành
Trang 16Theo hình thức phát hành, trái phiếu Chính phủ được chia thành trái phiếughi danh và trái phiếu vô danh:
- Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu ghi rõ họ tên và địa chỉ người chủ sởhữu trái phiếu trên bề mặt trái phiếu và trong sổ theo dõi của KBNN Đặc điểm củatrái phiếu ghi danh là khó chuyển nhượng, trường hợp bị mất có thể xin cấp lại
- Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên chủ sở hữu trên bề mặttrái phiếu hoặc trong sổ theo dõi của KBNN Đặc điểm của loại trái phiếu này là dễchuyển nhượng, bất kỳ người nào năm giữ trái phiếu trong tay đều có quyển hưởnglãi và quyền được thanh toán trái phiếu Chủ sở hữu trái phiếu có thể nắm giữ tráiphiếu đến ngày đáo hạn hoặc có thể bán nó trên thị trường thứ cấp trước ngày đáohạn
b Phân loại theo mục đích phát hành
Theo mục đích phát hành thì trái phiếu Chính phủ được chia thành các loạisau:
- Tín phiếu Kho bạc: Tín phiếu Kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳhạn dưới 1 năm do Kho bạc Nhà nước phát hành nhằm phát triển thị trường tiền tệ
và huy động vốn để bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN trong năm tài chính Tínphiếu Kho bạc được phát hành theo phương thức đấu thầu Bộ Tài chính có thể uỷthác cho Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại Nhà nước phát hành, thanhtoán tín phiếu Kho bạc Các tổ chức nhận uỷ thác này sẽ được hưởng một khoản phítheo quy định của Bộ Tài chính Tín phiếu Kho bạc được mua bán trên thị trườngtiền tệ và được chiết khấu tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước
- Trái phiếu Kho bạc: trái phiếu Kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳhạn từ 1 năm trở lên, do KBNN phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt NSNNtheo dự toán NSNN hàng năm đã được Quốc hội quyết định Trái phiếu Kho bạcđược phát hành theo các phương thức như: bán lẻ qua hệ thống Kho bạc, đấu thầuqua thị trường giao dịch chứng khoán, bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành Lãisuất trái phiếu Kho bạc do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định trên cơ sở tình hìnhthực tế của thị trường tài chính thời điểm phát hành Trường hợp đấu thầu thì lãi
Trang 17suất hình thành theo kết quả đấu thầu Việc thanh toán lãi, gốc cho trái phiếu và phícho tổ chức phát hành được Ngân hàng Nhà nước đảm bảo.
- Trái phiếu công trình trung ương: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ
1 năm trở lên do Kho bạc Nhà nước phát hành, nhằm huy động vốn theo quyết địnhcủa Thủ tướng Chính phủ, cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sáchtrung ương, đã ghi trong kế hoạch nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm
c Phân loại theo thời hạn phát hành
Thời hạn trái phiếu có liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng nguồn vốn vay
Bộ Tài chính căn cứ vào mục đích và đối tượng sử dụng vốn để quyết định thời hạntrái phiếu cho từng đợt phát hành
Thông thường trái phiếu Chính phủ được phân thành 3 loại:
- Trái phiếu ngắn hạn: (thường được gọi là tín phiếu) là loại trái phiếu cóthời hạn dưới 1 năm Loại trái phiếu này thường được phát hành theo phương thứcđấu thầu
- Trái phiếu trung hạn: thường có thời hạn từ 1 năm đến 10 năm
- Trái phiếu dài hạn: có thời hạn từ 10 năm trở lên
Cả hai loại trái phiếu trung và dài hạn được sử đụng để đáp ứng nhu cầu chiđầu tư phát triển theo kế hoạch đầu tư của Nhà nước
1.2.1.3 Lãi suất của các công cụ huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước
Lãi suất của trái phiếu Chỉnh phủ là yếu tố quan trọng nhất thể hiện chínhsách huy động vốn của Nhà nước Đồng thời lãi suất là yếu tố thể hiện mối quan hệlợi ích giữa người cho vay và người đi vay; lãi suất có ảnh hưởng đến khả năng huyđộng và sử dụng vốn vay của Nhà nước
a Căn cứ để xác định lãi suất trái phiếu Chính phủ
- Lãi suất cơ bản: được xác định trên cơ sở tham gia lãi suất trái phiếu khobạc của các nước kinh tế phát triển và lãi suất của thị trường liên ngân hàng
- Tỷ lệ lạm phát và chỉ số giá cả theo từng thời kỳ do Tổng cục thống kêcông bố Dựa vào các chỉ số này để tính bù vào phần lãi suất cơ bản với mục đích
Trang 18đảm bảo quyền lợi của người cho vay, tạo điều kiện thuận lợi trong huy động vốncủa Nhà nước.
- Căn cứ vào thời hạn của trái phiếu: thông thường trái phiếu có thời hạncàng dài thì lãi suất càng cao so với trái phiếu có thời hạn ngắn Dựa vào căn cứ này
sẽ giúp tránh được rủi ro với khoản cho vay Mặt khác, tạo điều kiện để Nhà nước
sử dụng các khoản nợ cho đầu tư phát triển với các dự án cho vay có thời gian thuhồi vốn dài
- Căn cứ vào nhu cầu huy động vốn của Nhà nước: thông thường nhu cầuhuy động vốn có tính cấp bách và khối lượng lớn thì lãi suất phải cao
b Các loại lãi suất trái phiếu Chính phủ
- Lãi suất cố định áp dụng cho cả kỳ hạn phát hành: là loại lãi suất được xácđịnh theo một tỷ lệ phần trăm theo mệnh giá
- Lãi suất thay đổi: Lãi suất thay đổi theo sự thay đổi của lãi suất thamchiếu
- Lãi suất bằng không: lãi suất không được quy định trên tờ trái phiếu.Người mua trái phiếu không nhận được lãi từ tờ trái phiếu nhưng đổi lại người mua
sẽ được mua tờ trái phiếu đó với giá thấp hơn mệnh giá và được hoàn trả bằng mệnhgiá khi trái phiếu đó đáo hạn
1.2.2 Các phương thức huy động vốn
1.2.2.1 Bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
Bán lẻ qua hệ thống KBNN là phương thức KBNN trực tiếp thực hiện việcbán trái phiếu cho các tổ chức, cá nhân mua trái phiếu, tổ chức thanh toán tiền gốc,lãi trái phiếu và thực hiện lưu giữ, bảo quản trái phiếu khi chủ sở hữu có nhu cầu
Trái phiếu Chính phủ phát hành theo phương thức này thường là trái phiếuKho bạc; trái phiếu công trình Trung ương; trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng
tổ quốc
Trang 19Căn cứ vào kế hoạch huy động vốn hàng năm, nhu cầu sử dụng vốn củaNSNN và tiến độ triển khai các dự an, công trình; Bộ trưởng Bộ Tài chính quyếtđịnh nội dung cụ thể của từng đợt phát hành.
Hình thức trái phiếu có thể là chứng chỉ hoặc ghi sổ, có ghi danh hoặc khôngghi danh Lãi suất từng đợt phát hành do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định
Tuy nhiên phương thức phát hành này đã tạm dừng từ cuối năm 2006 đểchuyển sang đấu thầu và bảo lãnh
1.2.2.2 Đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Căn cứ vào nhiệm vụ huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tưphát triển, Bộ Tài chính quyết định khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành hàngnăm Kho bạc Nhà nước sẽ chủ động quyết định khối lượng và thời điểm phát hànhtừng đợt cho phù hợp với tình hình hiện tại
Phương thức phát hành này chủ yếu áp dụng với hai loại trái phiếu Chínhphủ là tín phiếu Kho bạc và trái phiếu ngoại tệ Hình thức phát hành là chứng chỉhoặc bút toán ghi sổ; có danh hoặc không ghi danh
Mọi thông tin đấu thầu của đơn vị đặt thầu và các thông tin có liên quan đếnlãi suất tổ chức đấu thầu được giữ tuyệt đối bí mật
Đối tượng tham gia đấu thầu có thể là các tổ chức tín dụng, công ty bảohiểm, quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, các công ty chứng khoán, các doanh nghiệp và các
tổ chức kinh tế khác
Việc đấu thầu có thể được thực hiện theo một trong hai hình thức là đấu thầucạnh tranh lãi suất hoặc có sự kết hợp giữa đấu thầu cạnh tranh lãi suất với đấu thầukhông cạnh tranh lãi suất
- Đấu thầu cạnh tranh lãi suất là việc các thành viên tham gia đấu thầu đưa
ra các mức lãi suất thầu của mình để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lựa chọn lãisuất trúng thầu
- Đấu thầu không cạnh tranh lãi suất là việc các tổ chức tham gia đấu thầukhông đưa ra mức lãi suất dự thầu mà đăng kí mua trái phiếu theo mức lãi suấttrúng thầu được xác định theo kết quả của đấu thầu cạnh trang lãi suất
Trang 20Nếu có sự kết hợp giữa đấu thầu cạnh tranh lãi suất và đấu thầu không cạnhtranh lãi suất thì khối lượng trái phiếu Chính phủ không vượt quá 30% tổng khốilượng trái phiếu thông báo phát hành của đợt đấu thầu đó.
Trái phiếu Chính phủ đấu thầu được bán theo hai hình thức là ngang mệnhgiá và chiết khấu
- Bán trái phiếu Chính phủ theo hình thức ngang mệnh giá là việc tổ chứcphát hành thực hiện bán trái phiếu bằng mệnh giá của trái phiếu Tiền lãi được thanhtoán định kỳ, hoặc một lần cùng với tiền gốc khi đến hạn
- Bán trái phiếu Chính phủ theo hình thức chiết khấu là việc tổ chức pháthành thực hiện bán trái phiếu thấp hơn mệnh giá và thanh toán bằng mệnh giá củatrái phiếu khi đến hạn
1.2.2.3 Đấu thầu trái phiếu Chính phủ qua Sở Giao dịch Chứng khoán
Đấu thầu trái phiếu Chính phủ qua Sở Giao dịch Chứng khoán là phươngthức huy động mới được thực hiện từ khi Thị trường chứng khoán thành lập năm2000
Căn cứ vào kế hoạch huy động vốn hàng năm của Ngân sách Nhà nước,KBNN sẽ xây dựng kế hoạch đấu thầu trái phiếu hàng tháng, hàng quý
Trái phiếu được phát hành theo phương thức này được niêm yết và giao dịchtại SGDCK Các loại trái phiếu Chính phủ được đấu thầu trên thị trường chứngkhoán là các loại trái phiếu có kì hạn ngắn dưới 1 năm như: trái phiếu Kho bạc, tráiphiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu chính quyền địa phương.Trái phiếu được phát hành theo hình thức bút toán ghi sổ hoặc chứng chỉ có ghidanh hoặc không ghi danh
Đối tượng tham gia đấu thầu cũng giống các đối tượng tham gia của phươngthức đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước
Lãi suất trái phiếu phát hành được xác định trên cơ sở kết quả của từng phiênđấu thầu Tuỳ từng điều kiện cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể quy định hoặckhông quy định mức lãi suất trần để tổ chức đấu thầu
Trang 21Lãi suất trái phiếu có thể được áp dụng cố định cho cả kỳ hạn trái phiếu hoặcthả nổi hàng năm theo sự biến động của lãi suất thị trường tài chính,tiền tệ Trườnghợp áp dụng lãi suất thả nổi, căn cứ ý kiến thoả thuận của Bộ Tài chính, Chủ tịch uỷban nhân dân tỉnh Tổng giám đốc KBNN công bố mức lãi suất tham chiếu trướckhi đấu thầu Lãi suất chính thức sẽ được công bố trước theo từng thời gian hoặcvào các thời điểm thanh toán lãi trái phiếu trên cơ sở lãi suất tham chiếu tại thờiđiểm công bố.
Đấu thầu trái phiếu Chính phủ qua thị trường chứng khoán tập trung đượcthực hiện theo hai hình thức: đấu thầu cạnh tranh lãi suất hoặc kết hợp giữa đấu thầucạnh tranh lãi suất với đấu thầu không cạnh tranh lãi suất
Trái phiếu Chính phủ đấu thầu qua SGDCK được bán theo các hình thức:
- Bán chiết khấu (giống phương thức đấu thầu qua NHNN)
- Bán ngang mệnh giá: giá bán trái phiếu trong trường hợp này bằng 100%mệnh giá
- Bán cao hơn mệnh giá hoặc thấp hơn mệnh giá: là việc tổ chức phát hành
ấn định trước mức lãi suất thanh toán định kỳ và thông qua kết quả đấu thầu để xácđịnh giá bán trái phiếu cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá
1.2.2.4 Bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiệncác thủ tục trước khi phát hành trái phiếu ra thị trường chứng khoán, phân phối tráiphiếu cho các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái phiếu cònlại chưa phân phối hết
Trái phiếu Chính phủ được phát hành theo phương thức bảo lãnh bao gồm:trái phiếu Kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư và trái phiếuchính quyền địa phương
Các tổ chức muốn được công nhận là thành viên tham gia bảo lãnh phải đápứng đầy đủ các điều kiện:
Trang 22- Là các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty tài chính, các ngânhàng và các định chế tài chính khác được Bộ Tài chính chấp thuận để trở thànhthành viên tham gia bảo lãnh.
- Có tư cách pháp nhân và được thành lập hoặc hoạt động hợp pháp theopháp luật hiện hành của Việt Nam
- Có vốn pháp định tối thiểu là 22 tỷ đồng Việt Nam
- Hoạt động kinh doanh năm trước năm xin công nhận thành viên bảo lãnh,đại lý phát hành phải có lãi
- Có tài khoản tiền đồng Việt Nam mở tại Ngân hàng
1.2.3 Sự cần thiết của công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước.
1.2.3.1 Huy động vốn góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đảng ta đã đề ra chiến lược xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp Để thực hiện được chiến lược của Đảng, công tác huy độngvốn trở nên rất quan trọng bởi vì chỉ thông qua công tác huy động vốn mới có thểtạo ra một nguồn vốn to lớn phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Thông qua công tác huy động vốn sẽ đảm bảo huy động được mọi nguồn vốnnhản rỗi trong xã hội phục vụ mục tiêu phát triển, tăng năng lực sản xuất của nềnkinh tế Bằng các phương pháp và công cụ huy động vốn khác nhau, Nhà nước đãhuy động được các khoản tiền nhàn rỗi trong dân Các khoản huy động được chủyếu được phân phối cho các dự án phát triển cơ sở sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầngnhằm phục vụ cho toàn xã hội
Công tác huy động vốn thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại cácnguồn lực tài chính trong xã hội, góp phần tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng.Các nguồn lực tài chính của xã hội nằm trong dân, các tổ chức, doanh nghiệp… tạmthời nhàn rỗi, không được sử dụng Trong khi đó lại có một bộ phận xã hội tiếnhành sản xuất kinh doanh nhưng lại không có đủ vốn, hoặc Nhà nước có nhu cầu
Trang 23nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng Ngân sách Nhà nước không đáp ứng đủ…
Có thể thấy công tác huy động vốn đã trở thành cầu nối để cung cầu về vốn gặpnhau Chi phí huy động vốn được giảm, tập trung vốn cho quá trình sản xuất, kinhdoanh
1.2.3.2 Huy động vốn góp phần tăng cường vai trò của Nhà nước trong điều tiết kinh tế vĩ mô.
Để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của mình, Nhà nước luôn có nhu cầuchi tiêu rất lớn Các khoản chi này được bù đắp bằng các nguồn thu mà Nhà nướctạo lập nên Tuy nhiên, khi nền kinh tế đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ thìcác nguốn thu cũng không thể bù đắp được các khoản chi Vì thế trong nhiều nămNSNN của nước ta luôn trong tình trạng thâm hụt, gây ảnh hưởng lớn đền kinh tếm,chính trị và xã hội Trước đây Nhà nước thường bù đắp thâm hụt ngân sách bằngcách phát hành tiền hoặc đi vay nước ngoài Việc phát hành tiền là nguyên nhân gây
ra lạm phát còn việc đi vay nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến tính tự chủ của nước ta
Nhận thức được vai trò của công tác huy động vốn đối với nền kinh tế đặcbiệt là việc bù đắp thâm hụt ngân sách Công tác huy động vốn đã được hoàn thiệnnhằm khai thác và sử dụng mọi tiềm lực trong nền kinh tế Nhà nước đã huy độngđược hàng ngàn tỷ đồng để bù đắp thâm hụt ngân sách cũng như đáp ứng nhu cầuđầu tư phát triển Từ đó đã tạo thế cho Chính phủ trong công tác xây dựng kế hoạch
và điều hành ngân sách Với nguồn vốn huy động được, Nhà nước đã đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng, giao dục, y tế, phúc lợi xã hội cho người dân…
Công tác huy động vốn góp phần kiểm soát tình trạng thâm hụt NSNN Việcđảm bảo tiềm lực cho NSNN đã giúp Nhà nước thực hiện có hiệu quả vai trò củamình trong ổn định thị trường tiền tệ, khuyến khích đầu tư phát triển, từng bướctăng quy mô và tỷ trọng của nguốn vốn đầu tư từ ngân sách Công tác huy động vốn
đã giúp cho hoạt động điều hành NSNN được thuận lợi, tăng cường vị thế của Nhànước với các tầng lớp xã hội Đồng thời, việc huy động vốn trong nước đã góp phầngiảm vay nước ngoài, từ đó tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế trong điềukiện hội nhập kinh tế như hiện nay
Trang 241.2.3.3 Huy động vốn góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát
Ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát là một trong những nhiệm vụ hàng đầutrong nền kinh tế thị trường ở bất cứ quốc gia nào Để thực hiện nhiệm vụ này, Nhànước phải sử dụng đồng bộ các giải pháp về tài chính và tiền tệ Huy động vốn đượccoi là một trong những giải pháp quan trọng để ổn định tiền tệ và kiềm chế lạmphát
Huy động vốn góp phần điều hoà khối lượng tiền mặt trong lưu thông Tuỳtheo tình hình thực tế của thị trường mà các công cụ huy động vốn sẽ được sử dụng
để điều hoà lưu thông tiền tệ Nếu như trong lưu thông đang dư thừa tiền tệ, có thểdẫn đến lạm phát cao, Nhà nước sẽ phát hành tín phiếu, trái phiếu hay công trái đểrút bớt lượng tiền trong lưu thông Nếu lượng tiền mặt trong lưu thông thiếu, việcthực hiện chiết khấu và tái chiết khấu sẽ đưa tiền mặt trở lại lưu thông
Công tác huy động vốn tác động đến việc xây dựng và điều hành chính sáchtiền tệ của Nhà nước, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng, góp phần hìnhthành và phát triển thị trường tiền tệ Một chính sách tiền tệ phù hợp và hiệu quả sẽgiúp ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát
1.2.3.4 Huy động vốn góp phần thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán.
Phát triển thị trường chứng khoán là một trong những yếu tố quan trọng thúcđẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong nền kinh tế thị trường Thị trườngchứng khoán là cầu nối giúp người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn cógặp nhau, góp phần huy động tối đa được các nguồn lực trong xã hội Nói cáchkhác, thị trường chứng khoán là nơi tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thờihạn vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
Công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước có vai trò to lớn trong việcthúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, thể hiện ở các mặt sau:
- Các công cụ huy động vốn như tín phiếu, trái phiếu, công trái sẽ là hànghoá quan trọng trên thị trường chứng khoán Kinh nghiệm ở các nước có thị trường
Trang 25chứng khoán phát triển cho thấy trái phiếu Chính phủ đóng vai trò là hàng hoá chủđạo cho thị trường trong giai đoạn đầu.
- Bước đầu tạo ra cơ chế giao lưu hàng hoá trên thị trường chứng khoán,thúc đẩy sự hình thành và phát triển các công ty chứng khoán, môi giới đầu tư, tạothói quen đầu tư, kinh doanh các loại chứng khoán cho các tầng lớp dân cư
- Thông qua việc sử dụng các công cụ lãi suất huy động vốn đối với tráiphiếu Chính phủ, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu… Nhà nước tăng cường chứcnăng định hướng phát triển và điều tiết thị trường tài chính Thị trường tài chính lại
có tác động quan trọng đến mọi hoạt động của nền kinh tế Do đó, trên phạm vi vĩ
mô toàn bộ nền kinh tế, các công cụ huy động vốn là một trong những công cụ quantrọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
- Thông qua các văn bản pháp quy về công tác huy động vốn góp phần tạo
cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động của thị trường chứng khoán
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước 1.3.1 Các nhân tố khách quan
1.3.1.1 Tốc độ phát triển kinh tế
Trong một nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định, thu nhập và tiếtkiệm trong nền kinh tế và các tầng lớp dân cư ngày càng tăng lên Điều này sẽ khiếnnhu cầu đầu tư vào TPCP cũng tăng lên Và ngược lại, nếu nền kinh tế rơi vào suythoái, thu nhập và tiết kiệm của toàn bộ nền kinh tế giảm thì cầu về TPCP cũng sẽgiảm Cầu về trái phiếu là yếu tố quan trọng quyết định khả năng huy động vốnbằng phát hành TPCP trên thị trường sơ cấp
1.3.1.2 Lạm phát và lãi suất tương lai dự tính
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước tác động rất lớn đến tình hìnhlạm phát và lãi suất Hai phạm trù này liên quan chặt chẽ với nhau và ảnh hưởngđến cầu TPCP Nếu lạm phát và lãi suất được dự đoán là sẽ tăng trong tương lai, cầu
Trang 26TPCP sẽ giảm Nếu lạm phát và lãi suất được dự đoán là sẽ giảm, cầu TPCP sẽ có
xu hướng tăng
1.3.1.3 Khả năng sinh lời từ việc mua bán, chuyển nhượng trái phiếu Chính phủ
Khi mua trái phiếu trên thị trường, các nhà đầu tư sẽ nhắm đến hai mục đíchchủ yếu đó là: hưởng lãi từ trái phiếu khi đến hạn thanh toán và mua trái phiếu sau
đó bán lại trên thị trường nhằm thu lợi từ hoạt động kinh doanh ấy Thông thườngmục đích thứ hai sẽ được các nhà đầu tư nhắm tới Tuy nhiên, họ sẽ chỉ bán tráiphiếu đã mua khi thu được lợi từ hoạt động này, tức là số tiền lợi nhuận thu đượckhi đầu tư vào các lĩnh vực khác lớn hớn lợi nhuận từ việc giữ trái phiếu Trong mộtnền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, có nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư tìmđược những hoạt động đầu tư có tỷ suất sinh lời cao hơn là việc mua TPCP Do đó,cầu trái phiếu Chính phủ sẽ giảm Nếu như nền kinh tế suy thoái thì các nhà đầu tư
sẽ tăng tỷ trọng đầu tư vào các công cụ ít rủi ro như TPCP Khi đó cầu TPCP sẽtăng
1.3.1.4 Tính thanh khoản của trái phiếu Chính phủ
Cầu trái phiếu Chính phủ tỷ lệ thuận với tính thanh khoản của trái phiếu.Tính thanh khoản của TPCP chịu ảnh hưởng lớn của quy trình và thủ tục mua, bántrái phiếu trên thị trường Nếu các trình tự này đơn giản, nhanh chóng, chi phí thấp,các nhà đầu tư sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc mua bán, chuyển nhượng tráiphiếu Điều này tạo cho TPCP tính thanh khoản cao, vì thế cầu trái phiếu cũng sẽtăng
1.3.1.5 Lợi tức và mức độ rủi ro của các công cụ đầu tư khác
Nếu lợi tức của các công cụ đầu tư khác tăng lên hoặc rủi ro của chúng giảmxuống, các nhà đầu tư sẽ tăng tỷ lệ vốn đầu tư vào các công cụ này bởi vì sẽ manglại lợi nhuận lớn hơn việc đầu tư vào trái phiếu Chính phủ Do đó cầu TPCP sẽgiảm Và ngược lại, khi lợi tức của các công cụ đầu tư khác giảm hoặc rủi ro khiđầu tư vào các công cụ đó tăng lên, các nhà đầu tư sẽ chuyển vốn đầu tư sang công
Trang 271.3.2 Các nhân tố chủ quan
1.3.2.1 Chính sách huy động vốn của Kho bạc Nhà nước
Nếu như Kho bạc Nhà nước có chính sách huy động vốn hợp lý, chiến lượcdài hạn chắc chắn công tác huy động vốn sẽ gặp nhiều thuận lợi Một chính sáchhuy động vốn hoàn chỉnh sẽ được tính toán kĩ càng các cơ chế về lãi suất trái phiếu,phương thức phát hành, phương thức trả nợ, sự đa dạng của trái phiếu, những quyđịnh cụ thể về việc chuyển nhượng trên thị trường trái phiếu để tăng tính thanhkhoản cho TPCP Tất cả những điều này dựa trên mục đích của đợt huy động vốn
và thực trạng nền kinh tế trong nước, quốc tế cũng như tâm lý của nhà đầu tư Khinhà đầu tư cảm thấy việc nắm giữ TPCP sẽ mang lại một nguồn lợi tức lớn trongtương lai hay việc mua bán trái phiếu trên thị trường thứ cấp dễ dàng, chắc chắnTPCP sẽ là một hàng hóa hấp dẫn đối với họ
1.3.2.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật của hệ thống Kho bạc Nhà nước
Cơ sở vật chất và điều kiện công nghệ kỹ thuật hiện đại được trang bị cho hệthống Kho bạc Nhà nước cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác huy động vốn.Công tác phát hành, quản lý cũng như thanh toán trái phiếu sẽ hiệu quả hơn rấtnhiều nếu có sự hỗ trợ của tin học Ngược lại, nếu như hệ thống Kho bạc Nhà nướckhông được trang bị đầy đủ các phương tiện làm việc như trên, đó sẽ là một khókhăn trong việc thực hiện huy động vốn
Trang 28Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn qua Kho bạc
Nhà nước Việt Nam2.1 Quá trình phát triển của thị trường trái phiếu
Trước khi hệ thống Kho bạc Nhà nước ra đời, trái phiếu Chính phủ được pháthành chủ yếu dưới hình thức công trái xây dựng Tổ quốc và do Ngân hàng Nhànước đảm nhiệm Việc phát hành không thường xuyên và kết quả còn hạn chế dođồng tiền chưa ổn định và nguồn tích lũy trong dân còn ở mức thấp
Sau khi hệ thống Kho bạc Nhà nước được thành lập, trái phiếu Chính phủđược tổ chức phát hành thường xuyên dưới nhiều hình thức và phương thức khácnhau, đã mở ra một trang sử mới của công tác huy động vốn để đáp ứng nhu cầu bùđắp bội chi ngân sách và tăng cường nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế
Quá trình phát triển của thị trường trái phiếu có thể được chia thành 3 giaiđoạn chủ yếu sau:
2.2.1 Giai đoạn 1991 - 1994
Tín phiếu kho bạc lần đầu tiên được phát hành thí điểm tại thành phố HảiPhòng loại kì hạn 3 tháng, lãi suất 5%/tháng và do Kho bạc Nhà nước bán trực tiếpcho các tầng lớp dân cư Kết quả phát hành rất khả quan: trong 6 tháng cuối năm
1991 đã thu được 204,4 tỷ đồng Từ thành công bước đầu đó, Bộ Tài chính đã quyếtđịnh mở rộng địa bàn phát hành tín phiếu kho bạc ra các thành phố lớn: Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh và từ cuối năm 1992 phát hàng rộng khắp các tỉnh, thànhphố trong cả nước Nguồn tín phiếu được sử dụng chủ yếu để cân đối ngân sách nhànước
Có thể nói đây là giai đoạn thử nghiệm trong việc sử dụng công cụ trái phiếuChính phủ để huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển Hánhlang pháp lý cho công tác phát hành trái phiếu Chính phủ chưa đầy đủ, hiệu lựcpháp lý chưa cao; các hình thức và phương thức phát hành còn sơ khai… Mặc dùvậy, những kết quả đạt được trong giai đoạn này đã khẳng định trái phiếu Chính phủ
Trang 29là một kênh huy động vốn hết sức quan trọng để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước
và đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia
Kho bạc nhà nước chỉ phát hành trực tiếp ra công chúng các loại trái phiếukho bạc có kỳ hạn từ 1-2 năm Các đợt phát hành được thực hiện tương đối liên tụctrong năm tại tất cả các đơn vị Kho bạc Nhà nước
Đối với tín phiếu kho bạc ngắn hạn (dưới 1 năm), Kho bạc Nhà nước đã phốihợp với Ngân hàng Nhà nước đưa vào hoạt động thị trường đấu thầu theo hình thứcchiết khấu Đối tượng tham gia đấu thầu là các định chế tài chính, chủ yếu là cácngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm
Hoạt động thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc tuy còn ở giai đoạn thửnghiệm song đã mang lại những kết quả thiết thực Khối lượng tín phiếu đấu thầutăng qua các năm và là nguốn quan trọng để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước
Cơ chế đấu thầu đã bước đầu tạo ra cơ hội cạnh tranh, hình thành lãi suất tín phiếutheo cơ chế thị trường Tín phiếu phát hành theo hình thức ghi sổ nên giảm bớt chiphí phát hành Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc quản lý sổ sách và thanh toán tínphiếu đã cho phép rút ngắn thời gian thanh toán và tạo thuận lợi cho việc chuyểngiao tín phiếu trên thị trường thứ cấp Nghiệp vụ quản lý phát hành và thanh toántương đối đơn giản, thuận lợi cho cả nhà phát hành và các nhà đầu tư
2.1.3 Giai đoạn 2000 đến nay
Nhằm tăng cường khả năng huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tưphát triển kinh tế, đồng thời tạo hàng hóa cho thị trường chứng khoán đã được thànhlập và đang đi vào hoạt động, ngày 13 tháng 1 năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị
Trang 30định số 01/2000/NĐ-CP về quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ, thay thế Nghịđịnh 72/CP Theo Nghị định mới, bên cạnh việc duy trì phương thức đấu thầu tínphiếu qua Ngân hàng Nhà nước và phát hành trái phiếu trực tiếp ra công chúng qua
hệ thống Kho bạc nhà nước, trái phiếu Chính phủ còn được phát hành theo haiphương thức mới: đấu thầu qua Sở Giao dịch chứng khoán và bảo lãnh phát hành
Trái phiếu phát hành theo hai phương thức này được niêm yết và giao dịchtại SGDCK, tạo điều kiện cho việc phát triển thị trường thứ cấp Mặt khác, quy chếmới cũng đã quy định rõ hơn về cơ chế phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếuchính quyền địa phương và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh Mặc dù còn cónhiều hạn chế nhất định, song đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình pháttriển thị trường chứng khoán nợ nói chung và thị trường TPCP nói riêng ở ViệtNam
2.2 Thực trạng công tác huy động vốn qua Kho bạc Nhà nước thời gian vừa qua
2.2.1 Huy động vốn thông qua phát hành tín phiếu Kho bạc
Từ đầu thập niên 90, để phát triển kinh tế xã hội, Việt Nam cần có một sốnguồn vốn lớn, trong khi đó nguồn vốn vay nước ngoài bị hạn chế; do đó việc huyđộng vốn trong nước trở nên cấp thiết, và một trong những kênh huy động quantrọng phải kể đến là phát hành tín phiếu Kho bạc Từ tháng 3/1991 đến tháng3/1995, hệ thống KBNN đã phát hành tín phiếu Kho bạc với các kỳ hạn 3 tháng, 6tháng Mức lãi suất luôn được điều chỉnh để phù hợp với mặt bằng lãi suất huy độngvốn trên thị trường( lãi suất giảm từ 5%/tháng trong năm 1991 xuống còn1,7%/tháng năm 1995) Hình thức thanh toán tín phiếu khá đa dạng như thanh toánlãi ngay khi phát hành, thanh toán cả gốc và lãi tín phiếu khi đến hạn
Trang 31Bảng 2.1: KẾT QUẢ PHÁT HÀNH TÍN PHIẾU QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 1991 – 1995
Nguồn số liệu: Kho bạc Nhà nước
Bắt đầu từ tháng 6/1995, KBNN đã triển khai phương thức đấu thầu tín phiếu Khobạc qua NHNN dưới hình thức chiết khấu Sự thay đổi này đã mở ra một kênh huyđộng mới với nhiều ưu thế hơn hẳn phương thức bán lẻ tín phiếu qua hệ thốngKBNN trước đây nhằm huy động nguồn vốn trong nước đáp ứng kịp thời nhu cầuđiều hành NSNN Đối tượng tham gia đấu thầu chủ yếu là các Ngân hàng thươngmại (NHTM) và các công ty bảo hiểm Qua các năm số lượng thành viên tham giathị trường đấu thấu tín phiếu Kho bạc ngày càng tăng Tính đến cuối năm 2007 đã
có 48 thành viên tham gia thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc
Tín phiếu Kho bạc đấu thầu qua NHNN được áp dụng theo phương thức đấuthầu của Hà Lan, các thành viên đặt thầu theo lãi suất chứ không theo giá; nhưng cóđiểm khác là Bộ Tài chính áp dụng lãi suất chỉ đạo (lãi suất trần) trong quá trình xét
mở thầu Nếu lãi suất trúng thầu trong phạm vi lãi suất chỉ đạo thì đợt thầu thànhcông, lãi suất trúng thầu chính là lãi suất tín phiếu phát hành Nếu lãi suất trúng thầucao hơn lãi suất chỉ đạo, trong trường hợp này những đơn vị nào trúng thầu với mứclãi suất nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất chỉ đạo mới được trúng thầu
Trang 32Từ tháng 6/1995 đến 31/12/2008, KBNN đã phối hợp với Bộ Tài chính tổchức được 583 phiên đấu thầu với tổng doanh số huy động là 126.049,8 tỷ đồng, cụthể số liệu qua các năm như sau:
Bảng 2.2: KẾT QUẢ ĐẤU THẦU TÍN PHIẾU KHO BẠC QUA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 6/1995 – 12/2009
STT NĂM ĐẤU THẦU SỐ PHIÊN KHỐI LƯỢNG TRÚNG THẦU
(Tỷ đồng)
LÃI SUẤT BÌNH QUÂN (%)
Trang 33Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy rằng, qua gần 15 năm hoạt động, côngtác đấu thầu tín phiếu Kho bạc qua NHNN đã dần đi vào ổn định Quy mô và tầnsuất phát hành ngày càng tăng Năm 1995 chỉ có 4 phiên đấu thầu với khối lượngtrúng thầu là 243,6 tỷ đồng Từ năm 1997 số phiên đấu thầu tăng nhanh chóng, đặcbiệt là năm 2005 với 60 phiên và khối lượng trúng thầu là 17.886 tỷ đồng Khốilượng huy động tăng đều năm sau cao hơn năm trước và trở thành nguốn vốn chính
để bù đắp thâm hụt ngân sách Năm 2007 lượng vốn huy động được chỉ là 10.179 tỷđồng Sự sụt giảm này có nguyên nhân vì từ năm 2007, NHNN phát hành trái phiếungân hàng dưới 1 năm vì thế tín phiếu Kho bạc không còn hấp dẫn với các nhà đầu
tư Nhưng năm 2008 lượng vốn huy động được đã tăng trở lại với mức 20.830 tỷđồng Lãi suất khá ổn định, có xu hướng giảm dần qua từng năm Lãi suất giảm từ17,5% năm 1995 xuống còn 5.4% năm 2001, có tăng nhẹ trong các năm tiếp theo vàgiảm xuống mức 3,76% năm 2007 Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008
đã khiến cho tình hình huy động vốn qua phát hành tín phiếu Kho bạc gặp nhiềukhó khăn Trong 7 tháng đầu năm chỉ có 2 phiên được tổ chức nhưng không thànhcông Đến tháng 8/2008 hoạt động này mới được khôi phục lại, lãi suất được đẩylên mức cao 9,992% và kết quả huy động cả năm đạt 20.830 tỷ đồng
Không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu bù đắp bội chi NSNN, công tác đấu thầu tínphiếu Kho bạc còn có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện chính sách tiền tệ Vớichính sách tiền tệ thắt chặt trong giai đoạn này, việc huy động vốn thông qua pháthành tín phiếu Kho bạc đã làm giảm bớt một lượng lớn tiền mặt trong lưu thông,góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô nền kinh tế
Đấu thầu tín phiếu Kho bạc qua NHNN đã tạo ra một bước cạnh tranh mớitrong việc hình thành lãi suất tín phiếu theo cơ chế thị trường Việc NHNN giữ sổsách và thanh toán tín phiếu đã rút ngắn thời gian thanh toán, tạo điều kiện cho việcchuyển giao tín phiếu trên thị trường thứ cấp
Với thực trạng đấu thầu tín phiếu Kho bạc qua NHNN như trên, có thể rút ramột vài nhận xét như sau:
Trang 34Thứ nhất, các thành viên tham gia đấu thầu chủ yếu là các NHTM nhà nước,
là các tổ chức có vốn khả dụng cao Thời gian đầu mới đi vào hoạt động, số lượngthành viên tham gia đấu thầu còn ít, tăng dần qua các năm Tuy nhiên tính cạnhtranh vẫn không cao
Thứ hai, thực chất của việc đấu thầu tín phiếu là đấu thầu khối lượng tínphiếu với khung lãi suất do Bộ Tài chính định trước Mặc dù Bộ Tài chính đã cónhững điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất chung trên thị trường nhưng rõ ràng nóảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định lãi suất
Thứ ba, thị trường thứ cấp tín phiếu Kho bạc đã được mở ra với việc triểnkhai nghiệp vụ thị trường mở, nhưng các thành viên tham gia chưa nhiều và vẫn chỉtập trung vào các NHTM Do đó, công cụ này vẫn chưa phát huy hết vai trò trongviệc thực thi chính sách tiền tệ
Có thể nói răng đấu thầu tín phiếu Kho bạc qua NHNN thực sự đã trở thànhmột kênh huy động vốn có hiệu quả của Nhà nước nhằm mục tiêu bù đắp thâm hụtNSNN với chi phí thấp Hơn thế nữa, công tác này còn có một vai trò quan trọngtrong điều hành chính sách tiền tệ của Nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chếlạm phát
2.2.2 Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Kho bạc
2.2.2.1 Bán lẻ trái phiếu Kho bạc qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
Trái phiếu Kho bạc được phát hành với mục đích huy động vốn vừa để bùđắp thiếu hụt NSNN theo dự toán NSNN hàng năm đã được Quốc hội quy định,đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế
Từ tháng 6/1994 đến tháng 6/1995, KBNN phát hành thí điểm trái phiếu Khobạc kỳ hạn 3 năm, lãi suất được điều chỉnh và công bố hàng năm là 15%/năm, 21%/năm và 14%/năm Tổng lượng vốn huy động được trong đợt phát hành này là 880 tỷđồng Kết quả huy động vốn không cao là do cùng thời điểm này, kỳ phiếu của cácNgân hàng thương mại ngắn hạn có lãi suất bình quân cao hơn, từ 21 – 22%/năm
Trang 35Hơn nữa, người dân vẫn chưa quen với hình thức đầu tư vào trái phiếu trung hạn vàlãi suất chưa thực sự hấp dẫn.
Để đảm bảo nhu cầu vốn cho cân đối NSNN theo chỉ tiêu được Quốc hộigiao nên từ tháng 4/1995 đến tháng 10/1999, KBNN đã phát hành trái phiếu có kỳhạn 1 năm, lãi suất 21%/năm Đây là loại trái phiếu vô danh, in sẵn mệnh giá, lãisuất hấp dẫn, được tự do chuyển nhượng, cầm cố nên đợt phát hành này đã thu hútđược nhiều nhà đầu tư Trong vòng 6 tháng, Kho bạc Nhà nước đã huy động được7.361 tỷ đồng Cũng trong giai đoạn này, từ 1/3/1996 đến 15/4/1996, KBNN đãphát hành trái phiếu có ghi tên, không in sẵn mệnh giá, kỳ hạn dưới 1 năm, lãi suất16%/năm và kết quả huy động được 745 tỷ đồng Tuy nhiên có thể thấy rằng, loạitrái phiếu này có kỳ hạn ngắn (1 năm) nên nếu huy động vốn cho đầu tư phát triểnthị kỳ hạn này không phù hợp, dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong việc sử dụng vốn
Đến tháng 9/1996, loại trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 2 năm lần đầu tiên đượcphát hành, có ghi tên và không in trước mệnh giá Loại trái phiếu này được bán chocác đối tượng là người Việt Nam và người nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam.Chỉ trong vòng 3 tháng đã huy động được 1.259 tỷ đồng Đến cuối năm 2004, số dư
nợ gốc trái phiếu bán lẻ qua hệ thống KBNN loại 2 năm là trên 9.694 tỷ đồng
Năm 2001, thời điểm thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời, KBNN
đã cung cấp hàng hoá cho thị trường này bằng việc phát hành thí điểm trái phiếuChính phủ theo hình thức chiết khấu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tráiphiếu chiết khấu được phát hành vào 15/6/2001, kỳ hạn 5 năm, lãi suất 7,2%/năm.Giá bán trái phiếu sẽ được chiết khấu phần lãi tương ứng với thời gian tính từ ngàyphát hành đến ngày mua trái phiếu, bảo đảm cho các trái phiếu phát hành trong cùngmột đợt sẽ có cùng ngày đáo hạn Trái phiếu không ghi tên, in trước mệnh giá, đượcthanh toán bằng đồng Việt Nam, tiền lãi thanh toán định kỳ mỗi năm một lần, đượcniêm yết và giao dịch tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh Trong đợt phát hành này, lượng vốn huy động được chỉ là 48,6 tỷ đồng.Nguyên nhân là do đây là lần đầu tiên trái phiếu Chính phủ theo hình thức chiết
Trang 36khấu được phát hành, đồng thời lãi suất 7,2%/ năm cho kỳ hạn dài 5 năm không hấpdẫn được nhà đầu tư.
Năm 2006 là thời gian mà phương thức bán lẻ trái phiếu Kho bạc được tạpdừng lại để tập trung vào hai phương thức đấu thầu và bảo lãnh Tuy nhiên bướcsang năm 2009, do nhu cầu thực tiễn, phương thức bán lẻ đã được thực hiện trở lại.Kết quả thu được rất khả quan khi khối lượng vốn huy động được đạt 860 tỷ đồng
Trái phiếu Kho bạc được phát hành với các loại kỳ hạn 1 năm, 2 năm, 3 năm
và 5 năm đạt được kết quả còn rất khiêm tốn nhưng đã đánh dấu một bước thay đổiquan trọng trong quá trình đổi mới cơ chế huy động vốn qua KBNN Trái phiếungắn hạn dần được thay thế bằng trái phiếu trung và dài hạn Các nhà đầu tư đãquen dần với hình thức đầu tư này, tạo đà cho phát hành các loại trái phiếu dài hạnhơn trong tương lai
2.2.2.2 Trái phiếu Kho bạc đấu thầu qua Sở Giao dịch Chứng khoán
Phương thức đấu thầu qua SGDCK được bắt đầu thực hiện khi có Nghị định01/2000/NĐ-CP ngày 13/1/2000 về quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ Quychế mới cho phép áp dụng phương thức đấu thầu TPCP qua Sở giao dịch chứng
khoán và bảo lãnh phát hành Hiện này số lượng thành viên tham gia đấu thầu trái
phiếu Chính phủ là 52 thành viên, bao gồm các NHTM nhà nước, các NHTM cổphần, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán
Phương pháp đấu thầu kết hợp giữa hai hình thức cạnh tranh lãi suất vàkhông cạnh tranh lãi suất, trong đó khối lượng không cạnh tranh tối đa là 30% Tráiphiếu Chính phủ đấu thầu qua Sở Giao dịch Chứng khoán được bán ngang mệnh giávới kỳ hạn 5 năm 7 năm Hình thức phát hành là ghi sổ, được niêm yết và giao dịchtại Sở Giao dịch chứng khoán Tổng khối lượng vốn huy động được thông quaphương thức đấu thầu TPCP qua Sở Giao dịch Chứng khoán từ tháng 7/2000 đến31/12/2009 được phản ánh trong bảng 2.3