1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một số chỉ tiêu sinh sản bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại potx

8 603 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 194,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một số chỉ tiêu sinh sản của bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại Nguyễn Văn Hải, Trịnh Vinh Hiển và Lê Thị

Trang 1

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một

số chỉ tiêu sinh sản của bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại

Nguyễn Văn Hải, Trịnh Vinh Hiển và Lê Thị Hồng Thảo

Bộ môn Dinh Dưỡng và Thức Ăn Vật Nuôi

Tác giả để liên hệ: ThS Nguyễn Văn Hải, Bộ môn Dinh Dưỡng và Thức Ăn Vật Nuôi ĐT: 0241 790431

Abstract Effects of mineral block supplementation on milk yield and reproduction of dairy cows

The 6-month experiment (2 months before calving and 4 months after calving) was undertaken in 36 dairy crossbred cows, which was rendomly divided in 4 group of 9 each The design of experiment was: (a) Control group: Basal diet; (b) Treatment1: Basal diet plus mineral block1 (TL1); (c) Treatment2: Basal diet plus mineral block2 (TL2); (d) Treatment3: Basal diet plus mineral block3 (TL3) It was revealed that mineral block supplementation increased DM intake of cows, live weight of calves, milk yield/day (9.1-18.2%) mineral block suplementation reduced retention time of placenta, body weight losses and production cost Among four treatments, TL1 was the best.

Key words: Mineral block, chelate, TL 1 , dairy cow

Đặt vấn đề Khoáng chất trong cây thức ăn (TA) thường ở dạng liên kết có cấu trúc bền vững: như liên kết khoáng với axit phytic mà gia súc khó có thể sử dụng được (Bogdanov G

A, 1990); theo một số tác giả thì khoáng chất trong cây TA chỉ hấp thu được 5–20% (Kalimullin I 1990) Do đó để đáp ứng đủ nhu cầu cao cho duy trì, nuôi thai và sản xuất sữa của bò sữa người ta thường bổ sung premix khoáng vào trong TA tinh của bò sữa; đặc biệt là vào vụ đông TA thô có chất lượng kém thì việc bổ sung khoáng lại càng cần thiết (Vũ Duy Giảng, 2001; Nguyễn Xuân Trạch, 2003) Tuy nhiên bổ sung premix theo một tỷ lệ nhất định vào TA tinh cũng có một số hạn chế nhất định đó là không đáp ứng được chính xác nhu cầu dinh dưỡng khoáng cho từng cá thể gia súc theo từng giai đoạn mùa vụ khác nhau (Venhedictov A M,1988) Còn bổ sung khoáng đa lượng, vi lượng vào khẩu phần (KP) của gia súc bằng tảng đá liếm để chúng liếm tự do, tự lựa chọn, tự cân đối khoáng trong lúc thiếu cũng như lúc thừa đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng đem lại kết quả tốt và rất thuận tiện trong chăn nuôi gia súc nhai lại KP thiếu các nguyên tố khoáng sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình sinh sản Dưới tác động của một số nguyên tố khoáng, nhất là Mg, đã giúp cho hoạt động của enzym hexokinaza thúc đẩy canxi hoá thành phốt phát canxi, chống chứng co giật, tránh bệnh ketoxit, tăng cường sự chắc chắn của cơ trơn làm cho quá trình đẻ nhanh, nhau ra sớm hơn (Geopgievski và cs, 1979)

Theo Kalimulin (1984, 1990) và Abdulov (1971) các nguyên tố khoáng vi lượng ở dạng chelate đóng vai trò chủ chốt trong quá trình đồng hoá diễn ra trong cơ thể sống và tốc độ của phản ứng xảy ra nhanh hơn hàng nghìn lần; trong cơ thể gia súc có khả năng hấp thu cao nhiều lần so với khoáng vô cơ, làm tăng khả năng đề kháng của cơ thể, tăng cường quá trình trao đổi chất và do đó làm tăng khả năng sản xuất của vật nuôi

Trang 2

Xuất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu bổ sung khoáng vi lượng dạng chelate trong tảng khoáng liếm làm TA cho bò sữa nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc có hoặc không sử dụng tảng khoáng liếm trong KP của bò sữa đến lượng TA ăn vào, năng suất (NS) và một số chỉ tiêu sinh sản Từ đó tìm ra được công thức tảng khoáng liếm có chất lượng tốt nhất để phục vụ sản suất

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu:

+ Địa điểm thí nghiệm (TN): Trung tâm sữa và giống bò Hà Nội – Công ty giống gia súc Hà Nội

+ Thời gian TN: 180ngày, từ 11/2004 đến 5/2005

+ Số bò TN: 36 bò sữa F2, F3 (trước khi đẻ 2 tháng và sau khi đẻ 4 tháng) chia làm

4 lô theo phương pháp phân lô ngẫu nhiên, đảm bảo đồng đều về các yếu tố trong TN Sơ

đồ bố trí TN như Bảng 1

Bảng 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Số bò TN (con)

T gian nuôi chuẩn bị (ngày)

T gian TN (ngày)

S lượng sữa TB lứa trước (kg)

Lứa sữa

P đầu TN (kg)

9

15

180

2 – 4

9

15

180

2 – 4

9

15

180

2 – 4 442,6a±9,5

9

15

180 10,9a±0,49

2 – 4

Các số trung bình của cùng một hàng mang cùng chữ cái thì không khác nhau có ý nghĩa thống kê với mức xác suất P > 0,05

Khẩu phần cơ sở (KPCS) cho bò trước khi đẻ 2 tháng và sau khi đẻ 4 tháng như Bảng 2 Các lô TN ăn bổ sung các loại TL1, TL2, TL3 (Bảng 4)

Bảng 2: Khẩu phần cơ sở cho bò thí nghiệm (kg/con/ngày)

+ Cỏ Voi

+ Rơm

+ Thân cây chuối

+ Rỉ mật

+ Bã sắn ủ

+Thức ăn tinh

20

ăn tự do 12,5 0,5

1 1,5

21

ăn tự do

7

1

4 0,4kg TĂ/kg sữa

(Mức dự kiến lượng rơm trong KPCS khoảng 3.5 - 4kg/con/ngày)

Nhu cầu dinh dưỡng của bò TN dựa trên tiêu chuẩn ăn của Venhedictov (1988) cho

bò sữa nhiệt đới

Trang 3

Bảng 3: Nhu cầu dinh dưỡng của bũ thớ nghiệm (cho 1 bũ/ngày)

Chỉ tiêu

Loại gia súc

CK (kg)

NLTĐ

(MJ)

Protein (g)

(g)

Ca (g)

P (g)

Bò chửa trước đẻ 2 tháng (P= 400– 450kg,

SL sữa 3000kg/chu kỳ)

Bò khai thác sữa (P= 400 – 450kg, N S sữa

14 kg/ngày)

+ Yếu tố TN: tảng khoỏng liếm (TL) – do Bộ mụn Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuụi – Viện Chăn Nuụi sản suất

Bảng 4: Thành phần tảng khoỏng liếm cho bũ sữa

* Cỏc nguyờn tố vi lượng: Fe, Cu, Zn, Mn, Co, I trong tảng khoỏng liếm ở dạng hữu cơ

- Chỉ tiờu theo dừi thớ nghiệm:

+ Tỷ lệ sút nhau (sau 12h khụng ra nhau coi là sút nhau)

+ Thời gian ra nhau

+ Tỷ lệ bại liệt trước và sau khi đẻ

+ Tỷ lệ bũ mắc bệnh sốt sữa

+ NS sữa: hàng ngày cõn và ghi chộp SL sữa của từng bũ TN

+ Khối lượng (KL) bũ TN và KL bờ sơ sinh: hàng thỏng cõn bũ TN để theo dừi sự biến đổi KL bũ qua cỏc thỏng

+ Lượng TA ăn vào và tiờu tốn TA để sản suất sữa: Tảng liếm được cõn lại sau 15 ngày TN (để biết được ăn vào) Cõn lượng TA cho vào và lượng TA ăn thừa 15 ngày lấy mẫu TA để phõn tớch theo cỏc chỉ tiờu: vật chất khụ, protein, mỡ, xơ, khoỏng tổng số, Ca,

P (tại Phũng Phõn tớch TA Viện Chăn Nuụi và trường Đại học Nụng nghiệp I) Dựa vào thành phần hoỏ học để tớnh NL trao đổi của TA theo cụng thức trong “Thành phần hoỏ học và giỏ trị dinh dưỡng TA gia sỳc – gia cầm Việt Nam” (Viện Chăn Nuụi , 2001)

Trang 4

Chất khô (CK) ăn được = (TĂ ăn vào) x (% CK TĂ) - (TĂ ăn thừa) x (% CK TĂ ăn thừa)

+ Giá thành của một kg sữa của bò thí nghiệm

Số liệu được xử lý theo chương trình Excel và Minitab

Kết quả và thảo luận Bảng 5: Lượng thức ăn thu nhận của bò sữa thí nghiệm trước khi đẻ 2 tháng

Các số trung bình của cùng một hàng mang chữ cái a, b, c khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê với mức xác suất P < 0,05

Bảng 5 cho thấy bò TN trước đẻ 2 tháng được ăn bổ sung TL đã làm tăng lượng thu nhận TA; lượng CK ăn vào trên 100kg thể trọng, bò TN đã tăng 9,1–12,7% so với lô ĐC

Bảng 6: Lượng thức ăn thu nhận của bò sữa thí nghiệm sau khi đẻ

Các số trung bình của cùng một hàng mang chữ cái a, b, c khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê với mức xác suất P < 0,05

Bảng 5, 6 cho thấy đàn bò TN được ăn TL đã làm tăng lượng CK ăn vào ở các lô

TN (P<0,05) Đó là do được cung cấp đầy đủ các nguyên tố khoáng đa lượng và vi lượng nên đã kích thích quá trình trao đổi chất, làm tăng tỷ lệ tiêu hoá các chất hữu cơ và tăng khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng của bò TN, nên lượng TA ăn vào của 3 lô bò TN đều tăng so với lô ĐC, tăng 9,1–12,7% (trước đẻ), tăng 8,5–11,2% (sau đẻ) Theo Trần Quốc Việt và cs (2003), bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng chelate (Fe, Cu, Zn, Mn,

Trang 5

Co, I) vào TA tinh của bò đực LaiSind mổ lỗ dò đã cải thiện môi trường dạ cỏ theo hướng thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật dạ cỏ cũng như làm tăng tốc độ và hiệu quả phân giải vật chất khô của TA (với cỏ voi tăng 13–14%; rơm tăng 14–16%) Kalimulin (1984) cho biết khi bổ sung phức chất chelate đã làm tăng tỷ lệ tiêu hoá invivo

CK của rơm lúa mỳ tăng 8,2% so với lô ĐC Như vậy, việc sử dụng TL cũng như bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng chelate vào TA tinh trong KP ăn cho bò sữa đã ảnh hưởng tốt đến môi trường dạ cỏ và làm tăng khả năng thu nhận TA thô của gia súc

Bảng 7: Năng suất sữa của bò thí nghiệm

C¸c sè trung b×nh cña cïng mét hµng mang ch÷ c¸i a, b, c kh¸c nhau th× kh¸c nhau cã ý nghÜa thèng kª víi møc s¾c suÊt P < 0,05

Kết quả bảng 7 cho thấy: các lô bò TN được ăn bổ sung TL đã cho NS sữa cao hơn

lô ĐC 9,1 – 18,2% (P<0,05); trong 3 lô bò TN Lô I ăn TL1 cho NS sữa cao hơn lô II, không có sự sai khác giữa lô I và lô III (P<0,05) Như vậy, việc bổ sung TL làm tăng lượng thu nhận TA và tăng tỷ lệ tiêu hoá cũng như hấp thu chúng, do đó đã làm tăng NS sữa của các lô bò sữa TN Kết quả này cũng tương tự như của Trần Quốc Việt và cs (2003) khi sử dụng khoáng hữu cơ dạng chelate (Fe, Cu, Zn, Mn, Co, I) bổ sung vào TA tinh cho bò sữa đã làm tăng NS sữa lên 9 - 11% Bùi Văn Chính và cs (1994), cũng như nhiều tác giả khác đã dùng bánh đa dinh dưỡng làm TA bổ sung khoáng, protein cho bò,

NS sữa tăng 11 – 16% so với lô ĐC Theo Kalimulin (1984), việc bổ sung TL có phức chất hữu cơ vào KP ăn của bò sữa đã làm tăng NS sữa của bò 13,4%

Theo Abdulov (1971) và Kalimulin (1984, 1990) các nguyên tố khoáng vi lượng (Fe, Cu, Co, Zn, Mn, I, Se, …) ở dạng chelate đóng vai trò chủ chốt trong quá trình đồng hoá diễn ra trong cơ thể sống (xúc tác, điều hoà và hoạt hóa hàng loạt các phản ứng sinh học) và tốc độ của phản ứng xảy ra nhanh hơn hàng nghìn lần Khoáng vi lượng hữu cơ trong cơ thể gia súc có khả năng hấp thu cao, làm tăng khả năng đề kháng của cơ thể, tăng cường quá trình trao đổi chất và do đó làm tăng khả năng sản xuất của vật nuôi Trong TN này, việc bổ sung khoáng hữu cơ đã làm tăng NS sữa của bò sữa

Qua những kết quả này, một lần nữa khẳng định việc bổ sung nguyên tố khoáng đa lượng, vi lượng (dạng chelate) trong TL vào KP đã ảnh hưởng tốt đến NS bò sữa

Bảng 8: Tiêu tốn TĂ và tiền chi phí cho sản xuất sữa

Trang 6

Chỉ tiêu Lô ĐC Lô I Lô II Lô III

Các số trung bình của cùng một hàng mang chữ cái a, b, c khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê với mức sắc suất P < 0,05

Dựa vào kết quả Bảng 6 về lượng TA thu nhận hàng ngày và kết quả NS sữa ở Bảng 7, có thể tính được tiêu tốn TA cho sản xuất sữa (Bảng 8) Bảng 8 cho thấy, mặc dù lượng TA ăn vào cao hơn lô ĐC, song do NS sữa cao nên tiêu tốn TA cho sản xuất sữa của các lô bò TN giảm 1 – 5,4% so với ĐC ở Lô I tiêu tốn TA để sản xuất 1kg sữa thấp hơn LôII rõ rệt (P<0,05); giữa Lô II và Lô III không có sai khác

Dựa vào KP ăn để tính tiền TA hàng ngày và dựa vào kết quả Bảng 7 về NS sữa của bò TN, cho thấy tiền TA cho sản xuất sữa như Bảng 8 Do được cung cấp đầy đủ các khoáng chất đã làm tăng NS sữa của 3 lô bò TN tăng, nên tiền chi phí cho sản suất 1kg sữa của cả ba lô TN đều thấp hơn lô ĐC từ 4,6 đến 6,4%; lô I giảm nhiều nhất (Bảng 8)

Bảng 9: Tình trạng sinh sản của bò thí nghiệm

± 1,17

Các số trung bình của cùng một hàng mang chữ cái a, b, c khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê với mức xác suất P<0,05

+ ăn bổ sung TL đã ảnh hưởng tốt đến KL bê sơ sinh của Lô TN, cao hơn hẳn so với lô ĐC (P<0,05) – tăng 10,8 -13,2% Lượng TA ăn vào ở ba lô TN cao hơn lô ĐC, nên

bò mẹ được đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng hơn lô ĐC, do đó các chất dinh dưỡng cung cấp cho việc nuôi thai cũng tốt hơn, cho nên đã có chênh lệch về KL của bê sơ sinh

KL bê sơ sinh của ba lô bò TN thì không có sai khác đáng kể (P > 0,05)

+ Thời gian ra nhau của cả ba lô TN đều thấp hơn lô ĐC (P<0,05) và lô TN bò không bị sót nhau, còn ở lô ĐC có 1 bò mắc bệnh sót nhau (chiếm 11,1%) Thời gian ra nhau của lô I sớm hơn Lô II, Lô III (P<0,05) Trong quá trình sinh đẻ bò ở các lô ăn bổ sung TL thể hiện đẻ dễ dàng hơn

Dưới tác động của một số nguyên tố khoáng, nhất là Mg, đã giúp cho hoạt động của enzym hexokinaza thúc đẩy canxi hoá thành phốt phát canxi, chống chứng co giật, tránh bệnh ketoxit, tăng cường sự chắc chắn của cơ trơn làm cho quá trình đẻ nhanh, nhau ra sớm hơn (Geopgievski và cs, 1979) Do vậy, lô bò được ăn TL đã có những ảnh hưởng tốt đến quá trình sinh sản

+ Tỷ lệ bệnh bại liệt và sốt sữa ở cả 4 lô bò đều không thấy biểu hiện Khi KP thiếu các khoáng chất và các chất điện giải thì pH của dịch dạ cỏ không ổn định Nó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tiêu hoá và hấp thu ở dạ cỏ Vì vậy nó ảnh hưởng đến pH của máu

Trang 7

Khi pH của máu quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hấp thu và tích luỹ Ca, P, Mg, quá trình này kéo dài dẫn đến một số bệnh: bại liệt trước và sau đẻ, sốt sữa, sót nhau Việc sử dụng TL trong KP (gia súc được liếm tự do, tự lựa chọn, tự cân đối khoáng trong lúc thiếu cũng như lúc thừa) của các lô bò TN đã cung cấp đầy đủ và kịp thời các nguyên

tố khoáng đa lượng, vi lượng cho bò sữa TN, nên chúng đã ảnh hưởng tốt đến quá trình sinh sản của gia súc: tránh được các bệnh sốt sữa, bại liệt, sót nhau cũng như ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của bào thai

Các kết quả này cũng tương tự như kết quả của Tăng Xuân Lưu và cs (2003): bổ sung muối – khoáng KL – 01 đã làm giảm tỷ lệ sót nhau, thời gian ra nhau sớm hơn, giảm tỷ lệ bại liệt, bò không bị sốt sữa và tăng tỷ lệ động dục trở lại của bò sữa

Bảng 10: Khối lượng bò trong quá trình khai thác sữa

Các số trung bình của cùng một hàng mang chữ cái a, b, c khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê với mức xác suất P<0,05

Trong quá trình khai thác sữa ở lô ĐC không ăn bổ sung TL, KL bò tụt cân nhiều hơn 3 lô bò TN có ăn TL (P<0,05) Giữa 3 lô bò TN sự hao hụt cân không có sự sai khác (P>0,05) Trong quá trình TN bò ăn bổ sung TL có thể trạng đẹp hơn: béo và lông mượt; đồng thời phân thải ra khô hơn và không nát như lô ĐC Do được bổ sung đầy đủ các nguyên tố khoáng đã ảnh hưởng tốt nên quá trình tiêu hoá và hấp thu của gia súc, đặc biệt

là lô bò ăn TL1 cho NS sữa cao hơn cũng như mức độ hao hụt khối lượng bò trong quá trình khai thác ít hơn

Qua bảng 5, 6, 7, 8, 9, 10 cho thấy việc bổ sung TL hữu cơ vào KP ăn của 3 lô TN

đã làm tăng các chỉ tiêu sau: tăng thu nhận TA, tăng SL sữa, tăng KL bê sơ sinh, thời gian ra nhau sớm hơn và hao hụt KL bò mẹ trong quá thác sữa ít hơn lô ĐC Trong ba lô

TN giữa LôI và Lô III chỉ có chỉ tiêu về thời gian ra nhau là khác nhau (P<0,05) còn các chỉ tiêu khác không có sai khác (P>0,05) Các chỉ tiêu này của Lô II và Lô III không có

sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Nhưng các chỉ tiêu này ở các Lô I và Lô II có

sự sai khác mang ý nghĩa thống kê (P<0,05) Sự sai khác này do bò TN Lô I ăn TL 1 có hàm lượng Zn, Co, I, Se cao hơn trong TL2 và TL3 và tương tác hỗ trợ giữa chúng với các nguyên tố đa vi lượng khác có chiều hướng tốt hơn Chính vì có hàm lượng các nguyên tố vi lượng này cao, nên gia súc Lô I đã thu nhận số lượng khoáng vi lượng cao hơn Lô II và Lô III Do đó mà khả năng tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng của Lô I

có chiều hướng cao hơn 2 lô còn lại Điều này cũng ảnh hưởng tốt đến việc đẩy nhau thai của bò Lô I ra sớm hơn Lô II và Lô III Như vậy TL1 có ảnh hưởng tốt hơn cả tới NS sữa

và một số chỉ tiêu sinh sản như đã nêu trên

Trang 8

Kết luận và đề nghị

Bổ sung TL hữu cơ vào KP ăn của bò sữa đã làm:

1 Tăng lượng TA ăn vào (9,1- 12,7% - giai đoạn trước khi đẻ 2 tháng; 8,5 – 11,2%

- giai đoạn sau khi đẻ)

2 Tăng NS sữa 9,1 – 18,2% Tiền chi phí TA cho sản xuất 1 kg sữa giảm 4,6 – 6,4% và tiêu tốn TA giảm 5,4% so với lô ĐC

3 Trong quá trình khai thác sữa bò ăn bổ sung TL ít hao hụt KL hơn lô bò không

ăn bổ sung TL Bò ăn bổ sung TL không thấy biểu hiện của bệnh sót nhau sau khi đẻ và trong quá trình đẻ thì dễ dàng và thuận lợi hơn KL bê sơ sinh của 3 lô bò TN tăng 10,8 – 13,2% so với lô ĐC

4.Trong các loại tảng liếm sử dụng trong thí nghiệm thì TL1 cho kết quả và hiệu quả kinh tế cao nhất

Đề nghị

Cho sản xuất thử công thức TL1 phục vụ sản xuất

Tài liệu tham khảo

Abdulov A B., Batưr D G và cs 1971 - “Các nghiên cứu về hoá học các hợp chelate” Kisinhep “Stinhisa” Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, Nguyễn Hữu Tào, Phạm Văn Thìn, Trần Quốc Tuấn 1994 - “Nghiên cứu chế biến và sử dụng tảng ure – rỉ mật làm thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại” Công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi NXBNN, Hà Nội

Bogdanov G A 1990 - Dinh dưỡng gia súc NXBNN Matscơva,

Geopgievski V.I, Annencov B H, Kamoxin B T 1979 - “Dinh dưỡng khoáng của gia súc” NXBNN, Matxcơva

Kalimulin I N 1984 - “Phức chất chelate kim loại là chất kích thích năng suất sản phẩm của trâu bò” Trường ĐHTY Kazanxki

Kalimulin I N 1990 - “Phức chất chelate kim loại là chất kích thích sinh sản và sức đề kháng của gia súc” Trường ĐHTY Kazanxki

Nguyễn Trọng Tiến, Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, Lê Văn Ban 2001 - Giáo trình chăn nuôi trâu

bò NXB Nông nghiệp, Hà Nội

Nguyễn Xuân Trạch 2003 - Sử dụng phụ phẩm nuôi gia súc nhai lại NXB, Nông nghiệp Hà Nội

Tăng Xuân Lưu, Naotoshi Kurosaki 2003 - “Nghiên cứu sử dụng hỗn hợp muối – khoáng kl – 01 để ổn định pH dạ cỏ nhằm phòng chống bệnh sót nhau và bại liệt ở bò sữa” Báo cáo khoa học năm 2003 Phần nghiên cứu thức ăn và dinh dưỡng, Viện Chăn nuôi , Hà Nội

Trần Quốc Việt, Trịnh Vinh Hiển, Lê Thị Hồng Thảo và Nguyễn Văn Huyên 2003 - “Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng chelate đến môi trường dạ cỏ, khả năng phân giải chất khô trong môi trường dạ cỏ, năng suất và chất lượng sữa của bò” Báo cáo khoa học

2003 Viện Chăn Nuôi

Venhedictov A M, Victorov P.I 1988 - “Dinh dưỡng và thức ăn gia súc” NXBNN, Matxcơva

Viện Chăn Nuôi 2001 - “Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc gia cầm Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội

Vũ Duy Giảng 2001 - “Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn gia súc”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội./

Ngày đăng: 27/06/2014, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một số chỉ tiêu sinh sản bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại potx
Bảng 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 2)
Bảng 4: Thành phần tảng khoáng liếm cho bò sữa - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một số chỉ tiêu sinh sản bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại potx
Bảng 4 Thành phần tảng khoáng liếm cho bò sữa (Trang 3)
Bảng 3: Nhu cầu dinh dưỡng của bò thí nghiệm (cho 1 bò/ngày) - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một số chỉ tiêu sinh sản bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại potx
Bảng 3 Nhu cầu dinh dưỡng của bò thí nghiệm (cho 1 bò/ngày) (Trang 3)
Bảng 6: Lượng thức ăn thu nhận của bò sữa thí nghiệm sau khi đẻ - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một số chỉ tiêu sinh sản bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại potx
Bảng 6 Lượng thức ăn thu nhận của bò sữa thí nghiệm sau khi đẻ (Trang 4)
Bảng 5 cho thấy bò TN trước đẻ 2 tháng được ăn bổ sung TL đã làm tăng lượng thu  nhận TA; lượng CK ăn vào trên 100kg thể trọng, bò TN đã tăng 9,1–12,7% so với lô ĐC - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một số chỉ tiêu sinh sản bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại potx
Bảng 5 cho thấy bò TN trước đẻ 2 tháng được ăn bổ sung TL đã làm tăng lượng thu nhận TA; lượng CK ăn vào trên 100kg thể trọng, bò TN đã tăng 9,1–12,7% so với lô ĐC (Trang 4)
Bảng 7: Năng suất sữa của bò thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tảng khoáng liếm đến năng suất sữa và một số chỉ tiêu sinh sản bò sữa nuôi trong điều kiện trang trại potx
Bảng 7 Năng suất sữa của bò thí nghiệm (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w