1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế luật

96 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương Hiệu Cá Nhân Trên Mạng Xã Hội Của Sinh Viên: Nghiên Cứu Tình Huống Sinh Viên
Tác giả Nguyễn Lê Nhật Hào, Trương Ngân Châu, Dương Minh Thư, Hồ Cao Thiệu
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Ngọc Chương
Trường học Đại học Kinh tế - Luật
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại báo cáo tổng kết nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 7,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU (14)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (14)
    • 1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (16)
      • 1.2.1. Mục đích (16)
      • 1.2.2. Nhiệm vụ (16)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (16)
    • 1.4. Phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.4.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu (16)
      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (17)
    • 1.6. Ý nghĩa của đề tài (18)
    • 1.7. Cấu trúc của đề tài (18)
  • CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT (20)
    • 2.1. Các khái niệm có liên quan (20)
      • 2.1.1 Thương hiệu cá nhân (20)
      • 2.1.2. Tầm quan trọng của việc định vị thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội:.9 2.1.3. Ứng dụng mạng xã hội trong xây dựng thương hiệu cá nhân (22)
      • 2.1.4. Sử dụng thương hiệu cá nhân để thành công trong sự nghiệp (25)
    • 2.2. Lý thuyết nghiên cứu (25)
      • 2.2.1. Thuyết vốn xã hội (Social Capital Theory) (25)
      • 2.2.2. Thuyết quản trị hiện tượng (Theory of Information Management – IM) (26)
    • 2.3. Lược khảo nghiên cứu có liên quan đến các khía cạnh ảnh hưởng đến việc xây dựng một thương hiệu cá nhân thành công (0)
    • 2.4. Khoảng trống nghiên cứu về các đề tài liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng một thương hiệu cá nhân thành công (28)
    • 2.5. Mô hình đề xuất và giả thuyết nghiên cứu (30)
      • 2.5.1 Mô hình đề xuất (30)
      • 2.5.2. Giả thuyết nghiên cứu (31)
        • 2.5.2.1. Chiến lược (CL) (31)
        • 2.5.2.2. Năng lực (NL) (32)
        • 2.5.2.3. Khác biệt (KB) (34)
        • 2.5.2.4. Đối tượng (ĐT) (36)
        • 2.5.2.5. Hiệu suất (HS) (37)
  • CHƯƠNG III. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (40)
    • 3.1. Quy trình nghiên cứu (40)
    • 3.2. Nghiên cứu định tính (41)
      • 3.2.1. Mục đích (41)
      • 3.2.2. Phương pháp nghiên cứu (41)
      • 3.2.3. Kết quả nghiên cứu định tính (42)
    • 3.3. Nghiên cứu định lượng (45)
      • 3.3.1. Mục đích (45)
      • 3.3.2 Tổng thể, mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu (45)
    • 3.4. Phương pháp phân tích dữ liệu (46)
      • 3.4.1. Thống kê mô tả mẫu (46)
      • 3.4.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo (48)
      • 3.4.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) (50)
      • 3.3.4. Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) (0)
  • CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (53)
    • 4.1. Mô tả nghiên cứu (53)
      • 4.1.1. Mô tả tổng quát (53)
      • 4.1.2. Một số kết quả mô tả các khía cạnh ảnh hưởng đến xây dựng một thương hiệu cá nhân thành công (0)
      • 4.1.3. Kiểm định T-test (56)
      • 4.1.4. Kiểm định ANOVA (57)
    • 4.2. Đánh giá sơ bộ các thang đo (59)
      • 4.2.1. Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha của từng biến độc lập (59)
        • 4.2.1.1. Phân tích Cronbach’s Alpha biến độc lập “Chiến lược” (59)
        • 4.2.1.2. Phân tích tương quan Pearson biến độc lập “Năng lực” (60)
        • 4.2.1.3. Phân tích Cronbach’s Alpha biến độc lập “Hiệu suất” (60)
        • 4.2.1.4. Phân tích Cronbach’s Alpha biến độc lập “Đối tượng” (61)
        • 4.2.1.5. Phân tích Cronbach’s Alpha biến độc lập “Khác biệt” (61)
      • 4.2.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA (62)
      • 4.2.3. Phân tích nhân tố khẳng định CFA (63)
  • CHƯƠNG V. KẾT LUẬN (71)
    • 5.1. Kết luận chung (71)
    • 5.2. Đề xuất giải pháp và kiến nghị (71)
    • 5.3. Hạn chế của bài nghiên cứu và các định hướng của tác giả về các bài nghiên cứu sau (73)
      • 5.3.1. Hạn chế (73)
      • 5.3.2. Định hướng cho các bài nghiên cứu sau (75)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (85)

Nội dung

Vì vậy, bài nghiên cứu này được tiến hành nhằm phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng một thương hiệu cá nhân thành công – tình huống thực tế tại sinh viên Trường Đại học Ki

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các khái niệm có liên quan

Từ khi khách hàng ngày càng quan tâm và trở nên nhạy cảm với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ, đồng thời chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quảng cáo trong việc đưa ra quyết định mua hàng thì việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm và dịch vụ trở thành thành nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp Sự phát triển của khái niệm thương hiệu sản phẩm và thương hiệu công ty đã đặt nền tảng cho khái niệm “thương hiệu cá nhân”. Tom Peters (1997) đã thực hiện nhiều nghiên cứu về thương hiệu cá nhân và đưa ra khái niệm này trong công trình của mình Tom Peters cho rằng các nhà quản lý cấp cao thường tập trung vào sản phẩm và dịch vụ cung cấp nhưng yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thành công trên thị trường nằm ở những người lao động, nguồn nhân lực của doanh nghiệp Xây dựng thương hiệu cá nhân là quá trình biến bản thân và chuyên môn của bạn thành một thương hiệu, giống như các thương hiệu công ty, sản phẩm. Nói cách khác giá trị cá nhân của con người được thể hiện qua nó (Arora&Stoner,

2009) Mặc dù thuật ngữ “thương hiệu cá nhân” hoặc “thương hiệu con người” mới xuất hiện gần đây nhưng việc xây dựng thương hiệu cá nhân đã có từ rất lâu, gắn liền với sự phát triển của tương tác giữa con người và xã hội (Braudy, 1997) Trong xã hội ngày nay, việc xây dựng thương hiệu đã đạt đến một tầm cao mới và không chỉ là phương pháp mà các công ty áp dụng để trau dồi thương hiệu của họ mà là điều mỗi cá nhân nên làm cho chính mình để trau dồi thương hiệu của mình (Holmberg& Strannegồrd, 2015) Khụng giống như hàng húa và sản phẩm, con người sở hữu thương hiệu cá nhân nội tại nhờ những đặc điểm về tính cách, năng lực, kinh nghiệm và sự phát triển từ quá khứ cũng như sự tương tác với những người khác trong cộng đồng – dù có chủ ý hay không (Rangarajan và cộng sự, 2017) Điều này được gọi là xây dựng thương hiệu cá nhân hoặc tiếp thị bản thân và ngày nay không những đã trở nên thiết yếu mà còn rất quan trọng đối với sự thành công trong nghề nghiệp (Arruda,

2002) Mặc dù việc tiếp thị bản thân mới xuất hiện được hơn một thập kỷ nhưng nó đã được thực hiện bởi cả các ngôi sao điện ảnh, thể thao và nhạc pop cũng như các nhà lãnh đạo trong kinh doanh và chính trị trên toàn thế giới (Shepherd, 2005) Người nổi tiếng thường được người quản lý coi là “sản phẩm” để quảng bá tên tuổi thành công.

Vì vậy, mọi sự xuất hiện và phát ngôn trước công chúng đều vô cùng quan trọng vì hình ảnh của họ đều phụ thuộc vào điều này (Koku, 1995) Theo Klein (2001), chiến dịch của Nike với Michael Jordan là bước khởi đầu cho việc quảng bá bản thân với tư cách là một thương hiệu mang tên thương hiệu Jordan "Thương hiệu của một công ty cũng giống như danh tiếng của một con người Bạn có được danh tiếng bằng cách cố gắng làm tốt những việc khó khăn" (Fleming, H.E (2006), tr.142).

Ngày nay, ý nghĩa của thương hiệu không chỉ là một yếu tố nhận dạng, như Dolak (2008) tuyên bố rằng nó còn giống như một thực thể có thể nhận dạng được và hàm ý cho các giá trị cụ thể Nói một cách đơn giản, thì thương hiệu chính là lời hứa cho các giá trị mang lại Như đã đề cập thì xây dựng thương hiệu cá nhân và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hay dịch vụ có mối liên hệ mật thiết với nhau Cả hai đều hướng đến mục tiêu tạo dựng sự khác biệt và nổi bật giữa thị trường cạnh tranh thông qua những năng lực và đặc điểm riêng biệt của bản thân (Boztepe, 2019) Việc xây dựng thương hiệu cá nhân bắt đầu từ việc bạn nhìn nhận bản thân như một “thương hiệu”, nghĩa là bạn cần xác định những gì bạn muốn người khác biết đến bạn và tạo hình ảnh của bạn một cách nhất quán trên các kênh truyền thông khác nhau trên mạng xã hội Khái niệm xây dựng thương hiệu cá nhân ngày nay được áp dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực từ chính trị, giải trí đến truyền thông xã hội và đặc biệt là thị trường việc làm (Sugihara và cộng sự, 2019; Grande, 2014) Điển hình trong các tài liệu nghiên cứu, việc xây dựng thương hiệu được áp dụng cho các sản phẩm, dịch vụ, công ty và tập đoàn (Handelman 2006; Stern 2006) Những tiến bộ gần đây đã bắt đầu xây dựng thương hiệu cho các cá nhân vì điều đó đang trở nên quan trọng trong văn hóa doanh nghiệp ngày nay (Hearn 2008).

Dưới sự thay đổi của các công nghệ truyền thông mới trong mọi lĩnh vực đời sống và công việc, những thay đổi trên thị trường lao động, xây dựng thương hiệu cá nhân đòi hỏi nhiều yếu tố như chiến lược, năng lực, sự khác biệt, đối tượng mục tiêu và hiệu suất hoạt động theo nghiên cứu của Shafiee và cộng sự (2020) Covey (1989) nhấn mạnh rằng xây dựng thương hiệu cá nhân là về những giá trị bạn tạo ra và cách mọi người hình dung về bạn qua những giá trị đó Trong cuốn sách “7 thói quen hiệu quả” (The 7 Habits of Highly Effective People) của ông cũng đã nêu lên quan điểm rằng một người có thể đạt được các thành tựu quan trọng trong thế giới kinh doanh qua việc phát triển bản thân một cách có ý thức (Begin With The End In Mind) nhằm nâng cao vị thế của bản thân dưới hình thức cao nhất của lần sáng tạo bằng tinh thần của một cá nhân, gia đình hoặc tổ chức Bên cạnh đó, một thương hiệu cá nhân thành công cần có mục tiêu cá nhân rõ ràng, có bản sắc riêng và mạch lạc dựa trên những câu hỏi

“Điều gì là độc đáo có thể phân biệt được ở bạn?”, “Những điểm nổi bật đáng chú ý mà bạn có ở đây là gì?” (Hamby, n.d) Đây là nền tảng để tạo ra lợi thế cạnh tranh của bạn trong việc xây dựng thương hiệu cá nhân Các chiến lược xây dựng nên dựa trên sự tự nhận thức, cam kết đối với mục tiêu cá nhân và xây dựng lòng tin với đối tượng mục tiêu Phát triển thương hiệu cá nhân không chỉ dừng lại ở chiến lược, nó cũng đòi hỏi có sự kết hợp giữa sở thích và lĩnh vực mình chọn, khi bạn yêu thích công việc mình làm bạn sẽ dễ dàng trở nên chuyên nghiệp và tạo ra giá trị thật sự (ElMassah và cộng sự, 2019; Rangarajan và cộng sự, 2017; Ledbetter & Meisner, 2021; Kondor và cộng sự, 2018) Kondor, Takacs và Takacs (2018) đã xác định 3 yếu tố cốt lõi để quản lý thương hiệu cá nhân của các Giám đốc điều hành (CEOs) là năng lực, đạo đức và nhân cách Điều này cũng được Frendika và cộng sự (2018) ủng hộ, bài nghiên cứu chỉ ra rằng một sự khác biệt về năng lực của một số nhân viên người ngoại Quốc giúp họ xây dựng thương hiệu cá nhân mạnh hơn so với nhân viên trong nước

2.1.2 Tầm quan trọng của việc định vị thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội

“Việc phát triển thương hiệu cá nhân đảm bảo rằng bất kì một cá nhân nào cũng không bị bỏ lại phía sau trong quá trình lựa chọn công việc và mọi người phát triển lợi thế cạnh tranh giúp định vị những cơ hội nghề nghiệp mà họ xứng đáng có được” (Horton, 2011) Với số lượng vị trí hạn chế trên thị trường việc làm hiện nay, việc sở hữu một thương hiệu cá nhân mạnh mẽ là điều có thể mở ra nhiều cánh cửa cho nhiều cơ hội việc làm khác nhau (Kang, 2013) Thương hiệu cá nhân đã trở thành một nhân tố quan trọng đối với các ứng viên trong quá trình tìm kiếm việc làm (Horton, 2011).Trong khi nhiều công ty đang tận dụng cơ hội của các công cụ tìm kiếm và mạng xã hội làm công cụ tuyển dụng nhân viên tương lai thì thương hiệu cá nhân đã trở thành một phần quan trọng trong quá trình tuyển dụng “Các công cụ trực tuyến đã cho phép xây dựng thương hiệu cá nhân trở thành một nhiệm vụ tiếp thị quan trọng đối với mọi người Tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu cá nhân là mọi người đều có quyền trở thành thương hiệu của riêng mình và công việc chính của mỗi người là trở thành nhà tiếp thị của chính họ” (Labrecque, Markos, & Milne, 2011) Với khái niệm này, lao động tìm kiếm việc làm có cơ hội xây dựng thương hiệu cho mình vào bất cứ điều gì họ mong muốn, miễn là nó phù hợp với đối tượng mục tiêu của họ Đặc biệt, đối với những cá nhân trên hành trình tìm kiếm việc làm, điều này sẽ thúc đẩy sự thành công của việc chuyển đổi hành động trình bày sơ yếu lý lịch của bản thân như một thủ tục cơ bản quen thuộc sang việc cung cấp nhiều hơn cho doanh nghiệp tiềm năng về khả năng tiếp cận các nguồn lực đa dạng của bản thân ứng viên Các tài nguyên đa dạng mà các ứng viên có thể có bao gồm các thành tích, các bài viết truyền tải mang dấu ấn cá nhân, các kết nối xã hội trong cùng lĩnh vực được giám sát một cách chặt chẽ, sẽ trở thành các công cụ mạnh mẽ để thể hiện bản thân một cách khách quan nhất.

2.1.3 Ứng dụng mạng xã hội trong xây dựng thương hiệu cá nhân

Thế giới hiện đại đã bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của việc quản lý thương hiệu cá nhân và các chuyên gia liên tục đưa ra các lời khuyên chiến lược về việc tạo ra bản sắc thương hiệu theo mong muốn thông qua các phương tiện truyền thông xã hội khác nhau (Schwabel, 2009) Thompson-Whiteside và cộng sự (2018) đã đưa ra một cuộc thảo luận rằng xây dựng thương hiệu cá nhân cũng đang được khuyến khích bởi các nền tảng truyền thông mới, mang đến cơ hội không giống bất cứ điều gì trước đây cho các cá nhân thể hiện bản thân khi thực hiện việc tương tác và chia sẻ ý kiến của họ trên các nền tảng đó Dutta (2014) cũng nói rằng các nhà lãnh đạo hiện đại cần sử dụng phương tiện truyền thông xã hội vì ba lý do Lý do đầu tiên là có thể dễ dàng xây dựng thương hiệu cá nhân của riêng mình Lý do thứ hai, Dutta (2014) đề cập rằng phương tiện truyền thông xã hội có thể là một công cụ để kết nối với tất cả các bên liên quan Là lý do thứ ba, ông đề cập rằng phương tiện truyền thông xã hội cung cấp một môi trường học tập tuyệt vời thông qua việc thu thập phản hồi ngay lập tức Các nhà nghiên cứu khác (Johnson, 2019; Kang, 2013; Harris & Rae, 2011) cũng lưu ý rằng do sự phát triển ngày càng cao của công nghệ, ngày nay người ta nên biết rằng mọi thứ đều xảy ra trên trực tuyến Hầu hết các khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta đều có trên trực tuyến và thông tin có sẵn cho bất kỳ ai muốn đánh giá năng lực và khả năng của chúng ta cho các cơ hội mới Do đó, các nền tảng trực tuyến mang lại nhiều lợi ích hơn, đặc biệt là cho việc xây dựng thương hiệu, nhưng việc tìm kiếm sự cân bằng phù hợp có thể chứng minh là rất khó khăn vì một thương hiệu cá nhân mạnh ngụ ý hợp nhất danh tiếng, niềm tin, bản sắc, tính cách, sự chú ý và tính thực thi.

Mạng xã hội ngày nay đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và quản lý thương hiệu cá nhân Chúng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và đối tượng, với sự hỗ trợ của các nghiên cứu chuyên sâu Việc mọi người thường xuyên chia sẻ thông tin cá nhân trên mạng xã hội càng cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa việc sử dụng mạng xã hội và thương hiệu cá nhân (Boztepe, 2019) Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của mạng xã hội đối với thương hiệu cá nhân Trong nghiên cứu của Kunkel, Doyle và Na (2020), các vận động viên được chỉ ra có thể cải thiện nhận thức và tăng cường mối quan hệ với người hâm mộ thông qua mạng xã hội Mạng xã hội cũng giúp thương hiệu cá nhân tiếp cận lượng khán giả rộng lớn hơn, truyền tải thông tin quan trọng, tham gia vào các hoạt động marketing chính trị hiệu quả và truyền thông tích cực (Sugihart & Aras, 2021; Chen và cộng sự, 2021) Nhờ đó, thương hiệu cá nhân có thể nâng cao khả năng hiển thị của họ đối với các nhà tài trợ nghiên cứu, chính phủ và các tổ chức giáo dục đại học (Kalbande, 2019; Eke, 2012). Theo Wetsch(2012), sự thành công của cá nhân trong một tổ chức phải dựa trên sự hình thành và phát triển của thương hiệu cá nhân Và điều này cần có một kế hoạch lâu dài, bên cạnh việc xây dựng và phát triển các kỹ năng cá nhân thì khả năng sử dụng các công nghệ truyền thông cũng cần được cải thiện để hình thành các mối liên kết mạnh mẽ trong mạng lưới truyền thông thông qua Internet, mang lại lợi ích trong việc phát triển thương hiệu cá nhân một cách chuyên nghiệp.

Sự phát triển của “tiếp thị bản thân” trên mạng xã hội đã góp phần tạo nên hiện tượng người ảnh hưởng trực tuyến (online influencer) và micro-celeb (người nổi tiếng mạng xã hội) Kể từ năm 2006, khi YouTube cho phép kiếm tiền trên nền tảng, nó đã trở thành một ngành công nghiệp, thu hút hàng triệu người đăng tải nội dung Người dùng có thể kiếm tiền thông qua lượt xem, hợp tác thương hiệu, quảng cáo Google và nhiều phương thức khác Các trang mạng xã hội khác như Instagram cũng trở thành lựa chọn tuyệt vời để xây dựng danh tiếng và kiếm tiền Influencer Marketing Hub

(2021) báo cáo rằng ngành marketing thông qua người ảnh hưởng đang mở rộng và dự kiến đạt 13,0 tỷ đô la Mỹ vào năm 2021, tạo ra vô số cơ hội cho số đông.

2.1.4 Sử dụng thương hiệu cá nhân để thành công trong sự nghiệp

Mặc dù thương hiệu cá nhân có lợi cho cá nhân nhưng nó cũng là một khía cạnh quan trọng trong bất kì môi trường chuyên nghiệp nào trên thị trường “Việc xây dựng thương hiệu cá nhân không chỉ tốt cho “các lý do cá nhân” mà còn tốt cho các doanh nghiệp Xây dựng thương hiệu giúp một cá nhân lập nên các chiến lược tối ưu hơn bằng cách luôn phù hợp với thị trường và tư duy mới nhất” (Kaputa, 2005) như việc luôn cập nhật thông tin các xu hướng đổi mới và tìm ra các cách thích nghi hiệu quả. Thương hiệu cá nhân cũng có thể là sự phản ánh sinh động về doanh nghiệp của một người và mọi thứ mà nó đại diện cho Theo Schawbel (2010), “khi người tiêu dùng liên kết một sản phẩm cụ thể với một công ty nhất định, họ có xu hướng nghĩ về công ty đó một cách tích cực hơn” (tr 53) Thương hiệu cá nhân mạnh mẽ sẽ phản ánh cả tập hợp giá trị của công ty cũng như cho một cá nhân cụ thể Thêm vào đó, ngày nay mạng lưới là một phần thiết yếu của người tìm kiếm việc làm Hầu hết mọi người sẽ không kiếm được việc làm trừ khi họ quen biết ai đó trong lĩnh vực công việc mà họ mong muốn Theo Schawbel (2010), sau khi phát triển một thương hiệu cá nhân mạnh mẽ, “mạng lưới sẽ là điểm khác biệt duy nhất khi tất cả chuyên môn đều bình đẳng.Quy mô, tỷ lệ hoạt động và phạm vi tiếp cận của mạng lưới đang trở thành một bằng cấp công việc, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt,” (tr 86) Có một mạng lưới rộng lớn và mạnh mẽ sẽ giúp một cá nhân trở nên nổi bật hơn khi đi xin việc Khi nhà tuyển dụng biết ai đó trong mạng lưới cá nhân, họ có nhiều khả năng tin tưởng cá nhân đó hơn, điều này dẫn đến mức độ tin cậy cũng cao hơn “Thành công trong kinh doanh là về khả năng tiếp cận Mạng xã hội sẽ mang lại cho bạn khả năng tiếp cận, (Kaputa, 2005, trang 138).

Lý thuyết nghiên cứu

2.2.1 Thuyết vốn xã hội (Social Capital Theory)

Lý thuyết vốn xã hội gắn liền với xã hội học (Portes, 1998), theo lý thuyết về vốn xã hội, việc tạo ra vốn xã hội là tập hợp các thuộc tính của xã hội bao gồm cách một cá nhân xây dựng mạng lưới xã hội bằng việc kết nối với niềm tin, trao đổi trong mạng lưới xã hội để thúc đẩy hành vi hợp tác, hỗ trợ xã hội và các sự tương tác giữa các mối quan hệ (Adler & Kwon, 2002) Theo đó, người ta cho rằng vốn xã hội là ý chí tích cực được hình thành thông qua các quan hệ xã hội và vốn xã hội được tạo ra với nền tảng niềm tin là vấn đề cốt yếu (Putnam, 2000) Xây dựng thương hiệu cá nhân phần lớn gắn liền với khái niệm về niềm tin Theo một số nghiên cứu thực nghiệm, mọi người nên nỗ lực thiết lập các mạng lưới mối quan hệ và sự tin tưởng để đạt được kết quả hiệu quả (Adler và cộng sự, 2002) Trên thực tế, vốn xã hội là cơ sở để xây dựng nên thương hiệu cá nhân vì nó giải thích tầm qua trọng của bản sắc xã hội mà một người nào đó tạo ra từ bên trọng và mạng xã hội dùng để kết nối với những cá nhân khác từ bên ngoài (Adler và cộng sự, 2002; Putnam, 2000) Vì vậy, việc tạo ra vốn xã hội là vấn đề về cách mà cá nhân phát triển bản sắc riêng và xây dựng các mối quan hệ bên ngoài như thế nào Các lý thuyết phân tích tin rằng phương tiện truyền thông xã hội là một trong những lựa chọn giao tiếp để một người xây dựng nhận diện thương hiệu của bản thân đồng thời tạo mối quan hệ cá nhân thuận lợi với các bên liên quan Điều này hàm ý lý thuyết vốn xã hội là một trong những lý thuyết then chốt giải thích cơ chế xây dựng thương hiệu cá nhân thông qua vốn xã hội Lời giải thích này phù hợp với những hiểu biết sâu sắc về thương hiệu cá nhân được nêu bởi Cleveland và cộng sự (2015), nghĩa là xây dựng thương hiệu cá nhân đòi hỏi bản sắc cá nhân và nó phải được phát triển thông qua cầu nối thông tin Phương tiện truyền thông xã hội là một công cụ tuyệt vời trong chiến lược xây dựng bản sắc xã hội để bất kì ai cũng có thể xây dựng và thể hiện rõ giá trị thương hiệu một cách tổng thể và toàn diện (Nanayakkara, Dissanayake, 2020).

2.2.2 Thuyết quản trị hiện tượng (Theory of Information Management – IM)

Quản trị hiện tượng (IM) là cách các cá nhân cố gắng kiểm soát những ấn tượng mà người khác hình thành (Leary và Kowalski, 1990) IM được khái niệm hóa theo quan điểm của Goffman (1978) về tương tác xã hội, theo đó các cá nhân tạo ra và áp đặt ấn tượng bên ngoài lên nhận thức của đối tượng mục tiêu (Rosenberg và Egbert,

2011) Con người thể hiện bản thân một cách có ý thức và vô thức, kiểm soát, điều chỉnh và thao túng các hành vi để tạo ra những ấn tượng có lợi (Lee và cộng sự, 1999). Chiến lược IM là "phương tiện giúp việc xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp diễn ra" (Roberts, 2005 trang 689) và được coi là một trong những lý thuyết nổi bật nhất về danh tiếng và xây dựng thương hiệu (Srivoravilai và cộng sự, 2011).

2.3 Lược khảo nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng một thương hiệu cá nhân thành công

Dựa trên các nghiên cứu trong nước, “Building Personal Branding: The Impact of Self-Expression, Social Interaction, and Personal Value” được viết bởi nhóm tác giả

“Nguyễn Thị Hà My, Trần Lam Sơn, Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Vũ Hương Giang và Nguyễn Khánh Chi” đã sử dụng phương pháp PLS-SEM và phương pháp định lượng với dữ liệu từ 300 người trong độ tuổi từ 18 đến 24 để chỉ ra việc xây dựng thương hiệu cá nhân là một trong những yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức về việc làm của thanh niên Việt Nam Khi nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu cá nhân cũng như có những chiến lược chuyên nghiệp sẽ giúp đạt được hiệu quả trong việc nâng cao thương hiệu cá nhân và có được kết quả nghề nghiệp thuận lợi.

Ngoài ra, với bài nghiên cứu: “Personal branding on social media: An insight into students of the faculty of business english Foreign trade university" của nhóm tác giả Nguyễn Thu Hà và Nguyễn Thuý Anh đã sử dụng phương pháp khảo sát trực tuyến để chỉ ra rằng hầu hết sinh viên không có đầy đủ nhận thức và sự quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân, vì vậy họ chưa có chiến lược rõ ràng và tận dụng mạng xã hội như một công cụ đắc lực hỗ trợ tìm kiếm việc làm

Trên thế giới, lĩnh vực liên quan đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân cũng được thực hiện qua một số bài nghiên cứu

Theo bài nguyên cứu nước ngoài “The Effect of Social Media on PersonalBranding Efforts of Top Level Executive” của tác giả İlkay Karaduman chỉ sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính từ dữ liệu của 201 người theo dõi trang mạng xã hội của 14 giám đốc điều hành cấp cao nhất đã cho thấy, trên hầu hết mọi nền tảng mạng xã hội, người dùng sẵn sàng tương tác với các công ty và người quản lý của họ một cách tự nguyện Việc quản lý thương hiệu trên mạng xã hội nên diễn ra trong quá trình hoạch định chiến lược của công ty và từ những nhà quản lý cấp cao nhất đến cấp dưới, tất cả các thành viên trong công ty đều phải nhận thức được tầm quan trọng của mạng xã hội.

Theo bài nguyên cứu khác “Examining the Use of Social Media in Building a Student Personal” nhóm tác giả Tulay Girard và Musa Punar đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu bằng cuộc khảo sát trực tuyến tại hai trường đại học ở Mỹ với dữ liệu

161 phản hồi chỉ ra rằng nhận thức của sinh viên về nỗ lực xây dựng thương hiệu cá nhân của họ khác nhau tùy theo việc họ sử dụng nền tảng truyền thông và nhân khẩu học Sinh viên có sự nhất trí cao trong việc bảo đảm rằng xây dựng thương hiệu cá nhân phản ánh “tính nhất quán" trên mạng xã hội Sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu cá nhân trong sự nghiệp tương lai của họ Sinh viên nam có mức độ đồng tình rằng việc xây dựng thương hiệu cá nhân quan trọng với sự nghiệp tương lai cao hơn sinh viên nữ.

Cuối cùng, theo bài nguyên cứu “Proposing a new framework for personal brand positioning”, nhóm tác giả Maysam Shafiee, Shabnam Gheidi, Maryam Sarikhani Khorrami, Hooshang asadollah chỉ ra rằng việc có tài năng và năng lực không nhất thiết dẫn đến xây dựng thương hiệu thành công, đòi hỏi phải thực hiệu phù hợp và hài hoà với các chiến lược khác biệt và lợi thế tự cạnh tranh, sự hiện diện trong xã hội và sự tin cậy của khán giả Nghiên cứu còn đề xuất rằng các cá nhân muốn xây dựng hoặc định vị thương hiệu cá nhân phải có mục tiêu và chiến lược xác định, giải thích được chính xác lợi thế cạnh tranh và quan tâm tới đối tượng khán giả

2.4 Khoảng trống nghiên cứu về các đề tài liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng một thương hiệu cá nhân thành công

Sự phát triển của internet đã tạo ra nhu cầu kết nối xã hội trực tuyến Trên mạng xã hội, mỗi người thường thể hiện một hình ảnh nhất định để xây dựng thương hiệu cá nhân của mình Mặc dù xây dựng thương hiệu cá nhân là chủ đề được bàn tán sôi nổi trong giới chuyển môn, đã có những bài nghiên cứu đi trước thảo luận về chủ đề này.Các bài nghiên cứu đã sử dụng những phương pháp có thể kể đến như:

Thu thập dữ liệu và đưa ra kết luận về mô tả thực tiễn của việc xây dựng thương hiệu cá nhân (Nguyễn Thu Hà & Nguyễn Thuý Anh, 2021).

+ Kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính thông qua phần mềm LISREL nhằm xác định sự phù hợp của khung phân tích (Maysam Shafiee, Shabnam Gheidi, Maryam Sarikhani Khorrami, Hooshang asadollah,2020).

+ Sử dụng mô hình PLS-SEM để kiểm tra tác động của các nhân tố đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân và mối tương quan giữa thương hiệu cá nhân và nhận thức (Nguyen Thi Ha My, Tran Lam Son, Nguyen Thi Thuy Duong, Vu Huong Giang, Nguyen Khanh Chi, 2023)

Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra được tầm quan trọng của thương hiệu cá nhân và những yếu tố ảnh hưởng đến thương hiệu cá nhân Tuy nhiên, điểm hạn chế ở các bài là về không gian nghiên cứu, hầu hết các bài nghiên cứu đi trước tập trung ở khu vực nước ngoài, qua quá trình lược khảo nhận thấy ở Việt Nam còn đang hạn chế các nghiên cứu thực nghiệm về cách thức xây dựng thương hiệu cá nhân đối với đối tượng là thanh thiếu niên đang và sắp bước vào thị trường việc làm nói chung cũng như là sinh viên nói riêng các mạng xã hội phổ biến nhằm tận dụng hiệu quả mạng lưới kết nối việc làm rộng lớn và đa dạng, chỉ có bài nghiên cứu có liên quan của tác giả Nguyễn Thị Hà My, Trần Lam Sơn, Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Vũ Hương Giang và Nguyễn Khánh Chi (2023) với đề tài “Building Personal Branding: The Impact of Self-Expression, Social Interaction, and Personal Value” và bài nghiên cứu “Personal branding on social media: An insight into students of the faculty of business english. Foreign trade university" của nhóm tác giả Nguyễn Thu Hà và Nguyễn Thuý Anh Vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài “Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội của sinh viên: Nghiên cứu tình huống sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM” tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố tập trung số lượng sinh viên đông đảo cũng như có nhiều cơ hội việc làm bằng nhiều hình thức tại Việt Nam nhằm xác định những nhân tố mà sinh viên quan tâm khi xây dựng một thương hiệu cá nhân để phục vụ tìm kiếm việc làm.

2.5 Mô hình đề xuất và giả thuyết nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu mà nhóm đề xuất như sau:

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất Năng lực

Tương tự như xây dựng thương hiệu sản phẩm, xây dựng thương hiệu cá nhân đòi hỏi phải nắm bắt và phát huy những điểm mạnh và sự độc đáo của một cá nhân đối với đối tượng mục tiêu (Kaputa 2005; Schwabel 2009; Shepherd 2005) Đối tượng

Như đã đề cập trước đó, việc xác định mục tiêu là cần thiết để xác định chiến lược định vị (Kotler, 2003; Kapferer, 2012; McCarthy & Perreault, 1999) Các cá nhân cần phải xác định những người cần tiếp cận và nhu cầu lớn nhất của họ là gì(Rampersad, 2008) để có thể phát triển chiến lược thương hiệu cá nhân.

Khoảng trống nghiên cứu về các đề tài liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng một thương hiệu cá nhân thành công

Sự phát triển của internet đã tạo ra nhu cầu kết nối xã hội trực tuyến Trên mạng xã hội, mỗi người thường thể hiện một hình ảnh nhất định để xây dựng thương hiệu cá nhân của mình Mặc dù xây dựng thương hiệu cá nhân là chủ đề được bàn tán sôi nổi trong giới chuyển môn, đã có những bài nghiên cứu đi trước thảo luận về chủ đề này.Các bài nghiên cứu đã sử dụng những phương pháp có thể kể đến như:

Thu thập dữ liệu và đưa ra kết luận về mô tả thực tiễn của việc xây dựng thương hiệu cá nhân (Nguyễn Thu Hà & Nguyễn Thuý Anh, 2021).

+ Kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính thông qua phần mềm LISREL nhằm xác định sự phù hợp của khung phân tích (Maysam Shafiee, Shabnam Gheidi, Maryam Sarikhani Khorrami, Hooshang asadollah,2020).

+ Sử dụng mô hình PLS-SEM để kiểm tra tác động của các nhân tố đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân và mối tương quan giữa thương hiệu cá nhân và nhận thức (Nguyen Thi Ha My, Tran Lam Son, Nguyen Thi Thuy Duong, Vu Huong Giang, Nguyen Khanh Chi, 2023)

Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra được tầm quan trọng của thương hiệu cá nhân và những yếu tố ảnh hưởng đến thương hiệu cá nhân Tuy nhiên, điểm hạn chế ở các bài là về không gian nghiên cứu, hầu hết các bài nghiên cứu đi trước tập trung ở khu vực nước ngoài, qua quá trình lược khảo nhận thấy ở Việt Nam còn đang hạn chế các nghiên cứu thực nghiệm về cách thức xây dựng thương hiệu cá nhân đối với đối tượng là thanh thiếu niên đang và sắp bước vào thị trường việc làm nói chung cũng như là sinh viên nói riêng các mạng xã hội phổ biến nhằm tận dụng hiệu quả mạng lưới kết nối việc làm rộng lớn và đa dạng, chỉ có bài nghiên cứu có liên quan của tác giả Nguyễn Thị Hà My, Trần Lam Sơn, Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Vũ Hương Giang và Nguyễn Khánh Chi (2023) với đề tài “Building Personal Branding: The Impact of Self-Expression, Social Interaction, and Personal Value” và bài nghiên cứu “Personal branding on social media: An insight into students of the faculty of business english. Foreign trade university" của nhóm tác giả Nguyễn Thu Hà và Nguyễn Thuý Anh Vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài “Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội của sinh viên: Nghiên cứu tình huống sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM” tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố tập trung số lượng sinh viên đông đảo cũng như có nhiều cơ hội việc làm bằng nhiều hình thức tại Việt Nam nhằm xác định những nhân tố mà sinh viên quan tâm khi xây dựng một thương hiệu cá nhân để phục vụ tìm kiếm việc làm.

Mô hình đề xuất và giả thuyết nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu mà nhóm đề xuất như sau:

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất Năng lực

Tương tự như xây dựng thương hiệu sản phẩm, xây dựng thương hiệu cá nhân đòi hỏi phải nắm bắt và phát huy những điểm mạnh và sự độc đáo của một cá nhân đối với đối tượng mục tiêu (Kaputa 2005; Schwabel 2009; Shepherd 2005) Đối tượng

Như đã đề cập trước đó, việc xác định mục tiêu là cần thiết để xác định chiến lược định vị (Kotler, 2003; Kapferer, 2012; McCarthy & Perreault, 1999) Các cá nhân cần phải xác định những người cần tiếp cận và nhu cầu lớn nhất của họ là gì(Rampersad, 2008) để có thể phát triển chiến lược thương hiệu cá nhân.

Bên cạnh việc xác định mục tiêu, nhiều tác giả cho rằng việc phân tích lợi thế cạnh tranh cũng rất quan trọng vì việc nhận thức rõ ràng được năng lực của các đối thủ là tiền đề chính của định vị thương hiệu (Khedher, 2014) Bằng cách này, các cá nhân có thể thiết lập nên các điểm khác biệt của mình để mang lại cho họ các lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Giáo sư Hubert Rampersad (2008) tin rằng tuyên bố cá nhân là cần thiết cho chiến lược định vị và nó đòi hỏi toàn bộ nỗ lực, tham vọng, mục tiêu và lĩnh vực chuyên môn của cá nhân đó.

Chiến lược thương hiệu là một kế hoạch xác định phương hướng và phạm vi của thương hiệu trong thời gian dài để xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững so với các đối thủ cạnh tranh (Arnold, 1992) Văn Gelder (2003) cho rằng chiến lược thương hiệu bắt đầu bằng sự hiểu biết chính xác về định nghĩa của các chiến lược để đảm bảo sự nhất quán và có cái nhìn toàn cảnh về toàn bộ chiến lược Mục đích của chiến lược thương hiệu cá nhân là nâng cao sức ảnh hưởng cả bên trong và bên ngoài cơ hội cho thương hiệu (Heding, Knudtzen và Bjerre, 2008) Chiến lược thương hiệu có thể được xây dựng dựa trên các yếu tố như cốt lõi, giá trị, sự liên tưởng, định vị, lời hứa và bản sắc của thương hiệu (Kotler và Pfoertsch, 2006) Một trong bốn nhiệm vụ mà Aaker (2008) đã mô tả mà một tổ chức hay cá nhân nên cố gắng đạt được chính là thiết lập một cấu trúc chiến lược rõ ràng để định hướng và xác định vị trí thương hiệu nhằm phân biệt với các đối thủ cạnh tranh trong thị trường phù hợp Để có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường, Bradley (2002) cho rằng ngay cả các công ty đều phải cần tập trung vào việc tạo ra giá trị thương hiệu (ví dụ: sự khác biệt và đổi mới), sức mạnh bên trong (ví dụ: năng lực nổi trội) và có hệ thống phân phối, thực hiện các chiến lược một cách toàn diện Trong các nghiên cứu trước đây của Johnson (2019); Thompson-Whiteside và cộng sự (2018); Khang (2013); Farhana (2012) và Harris & Rae (2011) cho thấy rằng để xây dựng một thương hiệu cá nhân mạnh mẽ, một cá nhân nên phát triển chiến lược và biến chúng thành các hành động để thực hiện việc xây dựng thương hiệu của họ.

Sự công nhận thương hiệu cá nhân của một người nào đó sẽ bị ảnh hưởng đáng kể bởi cách thể hiện danh tính của cá nhân đó (Kucharska & Mikołajczak, 2018) Để xây dựng thương hiệu cá nhân trên nền tảng mạng xã hội, những người có ảnh hưởng trên Instagram thường sử dụng những hình ảnh để thể hiện bản thân, trong khi những người trên Twitter sẽ thể hiện bản thân bằng lời nói (Vasconcelos & Rua, 2021) Dù thế nào đi nữa, sự tồn tại của thương hiệu cá nhân đều dựa trên hình thức thể hiện bản thân Khedher (2019) nhận thấy rằng những ứng cử viên tốt nhất cho doanh nghiệp là những người sử dụng thành công các chiến lược tập trung vào bản thân để thể hiện vì sự thích ứng với xã hội và độ chuyên nghiệp cao Do đó, một thành phần quan trọng của việc xây dựng thương hiệu cá nhân, đòi hỏi phải phát triển tính cách và trình bày các thông tin một cách có chiến lược với người tương tác đặc biệt là các nhà tuyển dụng Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, ngày càng có nhiều cơ hội để giới trẻ tự do thể hiện cá tính và khả năng của mình thông qua các kênh trực tuyến khác nhau Xã hội cũng đang nhận ra tầm quan trọng của việc xây dựng danh tính trực tuyến nhất quán và xác thực khi thương hiệu cá nhân đang thu hút nhiều hơn sự quan tâm trong kỷ nguyên kỹ thuật số Vì vậy, những người trẻ này đang sử dụng nhiều chiến lược thể hiện bản thân khác nhau để xây dựng thương hiệu của riêng mình và đạt được sự nhận diện trong lĩnh vực của họ.

Giả thuyết H1: Nhân tố chiến lược định vị thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội ảnh hưởng đến sự tương tác và tạo dựng hình ảnh thương hiệu của cá nhân

Sự hiểu biết và áp dụng các chiến lược marketing cá nhân trên mạng xã hội có ảnh hưởng tích cực đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân của sinh viên.

Mục đích của xây dựng thương hiệu cá nhân là xây dựng tài sản thương hiệu có giá trị cao thông qua hình ảnh tiếp thị và nó đại diện cho tài sản quan trọng nhất của một cá nhân (Baltezarević, & Milovanovic, 2014; Thompson-Whiteside và cộng sự,

2018) Giá trị cá nhân là sự kết hợp đặc biệt giữa năng lực, chuyên môn và kỹ năng mà bản thân mỗi người sở hữu Một cuộc khảo sát với sự tham gia của 75 người nhập cư đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và 75 nhân viên từ Indonesia cho thấy giá trị cá nhân và năng lực văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành thương hiệu cá nhân của cả người nước ngoài và địa phương (Frendika và cộng sự, 2018) Về cơ bản, thương hiệu cá nhân là hình ảnh xác thực cho các lời hứa hẹn về giá trị và hiệu quả hoạt động của một người với những người tiếp cận và nó có thể được xem như một trong những con đường dẫn đến thành công nghề nghiệp sau này (Philbrick & Cleveland, 2015) Việc thể hiện giá trị cá nhân tác động mạnh mẽ đến việc nhận diện thương hiệu cá nhân (Kucharska & Mikołajczak, 2018) Những giá trị này sẽ cực kỳ có lợi trước các nhà tuyển dụng và sẽ mang lại sự hài lòng cho cá nhân với thương hiệu miễn là chúng được thể hiện theo một cách thích hợp (Khedher, 2019) Ngoài ra, xét đến văn hóa hội nhập của Việt Nam, mọi người luôn có nhiều khả năng nhận được sự hỗ trợ và đề xuất từ người khác hơn khi họ thể hiện năng lực trong sự tương tác và làm việc nhóm, điều này giúp họ xây dựng danh tiếng như một thương hiệu cá nhân. Theo Montoya & Vandehey, (2002) đặc trưng của một người là nền tảng quan trọng nhất của thương hiệu cá nhân Tác giả xác định các đặc trưng như các đặc điểm khác biệt và hấp dẫn sẽ giúp truyền đạt lợi ích trí tuệ hoặc cảm xúc cho thương hiệu cá nhân Thông thường nhất đối với một người có trung bình khoảng 3-6 đặc trưng và giữa những đặc trưng này sẽ phân biệt ra đặc trưng hàng đầu của cá nhân đó là đặc trưng nào Montoya & Vandehey, (2002 p.18) mô tả đặc trưng hàng đầu này như một

"nhãn hiệu nhận thức đi vào tâm trí một người ngay lập tức khi một người bắt gặp một thương hiệu cá nhân bất kì Các đặc trưng rõ ràng là thứ gì đó chủ quan vì tất cả mọi người đều khác nhau Nếu lấy Michael Jordan làm ví dụ một số đặc điểm của anh ấy sẽ là: vận động viên cừ khôi và nhà vô địch có tính cạnh tranh cực cao và đặc điểm hàng đầu của anh ấy sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi trở thành "cầu thủ bóng rổ vĩ đại nhất mọi thời đại" Có những đặc điểm thuận lợi hơn tùy thuộc vào các ngành nghề liờn quan và năng lực chuyờn mụn của cỏ nhõn đú (Werner-Runebjửrk (2004), cú nghĩa là các giá trị trong cuộc sống có thể thay đổi và theo thời gian có thể thay đổi phần nào đặc trưng của các cá nhân vì xây dựng thương hiệu cá nhân là một quá trình hữu cơ và liên tục Một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm xác định những đặc trưng kinh doanh nào mà sinh viên thấy quan trọng đối với công việc tương lai của họ.Nghiên cứu mô tả các đặc trưng kinh doanh là những đặc điểm về năng lực chuyên môn hoặc phẩm chất liên quan đến công việc Các đặc điểm được trình bày là: có thể bảo vệ quan điểm, có tinh thần đồng đội, tư duy chiến lược, tư duy lãnh đạo, đúng giờ, khả năng phỏng vấn, gọn gàng, ngoại hình, cá tính, ăn nói khéo léo, có sức thuyết phục, tham vọng và phấn đấu, luôn có tầm nhìn tổng thể, chất lượng, chú trọng vào chi tiết, chăm chỉ, sáng tạo, có hiểu biết về ngành nghề, hiểu về các tiếp thị, giải quyết vấn đề, rất muốn có việc làm, có tổ chức, hòa nhập, thuyết phục, hài hước, có các dự án cá nhân, kinh nghiệm, viết tốt, trưởng thành và đúng đắn Các đặc trưng này sau đó đã được sửa đổi cùng với các kỹ năng và năm đặc trưng được xếp hạng cao nhất là: Độ tin cậy, Chăm chỉ, Trung thực & Chính trực, Thể hiện sự chủ động và Tư duy chiến lược (Waller & Hingorani, 2006).

Shepherd (2005) đề cập đến thuật ngữ xây dựng thương hiệu cá nhân là tự tiếp thị, theo ông bao gồm một số hoạt động được các cá nhân thực hiện nhằm gặt hái được kết quả có lợi cho bản thân Xây dựng thương hiệu cá nhân là một quá trình chiến lược nhằm kiểm soát một cách có chủ ý cách người khác nhìn nhận về bạn và cách bạn quản lý những nhận thức đó một cách có kế hoạch để giúp bạn đạt được mục tiêu của mình (Montoya & Vandehey 2002) Thực tế là mọi người bằng cách nào đó đều đã có thương hiệu cá nhân, chẳng hạn như trong gia đình, giới xã hội hoặc nghề nghiệp vì tên của chúng ta đại diện cho một điều gì đó mặc dù không phải lúc nào chúng ta cũng nhận thức được điều đó Tổng thành tích, thái độ, hành động và cách đối xử của một người với người khác theo thời gian, tất cả đều có tác động lớn đến cá nhân đó và do đó rất quan trọng để được quản lý tốt (Dolak, 2008) Tất cả những yếu tố này đều quan trọng và bao gồm cả việc chúng ta có được cân nhắc cho công việc hay các cơ hội khác trong tương lai hay không vì nó quyết định mức độ tin cậy của ý kiến và ý tưởng của người tương tác (đặc biệt là các nhà tuyển dụng)

Giả thuyết H2: Năng lực, kỹ năng và các giá trị cá nhân được xây dựng trong thương hiệu thông qua các nền tảng mạng xã hội sẽ có ảnh hưởng tích cực đến khả năng phát triển của họ trong học tập, nghề nghiệp và các mối quan hệ và quyết định sự thành công cho thương hiệu.

Arnold (1992) phân loại các yếu tố thương hiệu thành ba nhóm riêng biệt và nhóm cốt lõi đầu tiên của thương hiệu là được hình thành bởi bản chất và tính đặc trưng của nó để phân biệt trong thị trường tương ứng Trong các định nghĩa về thương hiệu trong môi trường kinh doanh, việc định vị có ý nghĩa nhấn mạnh các điểm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường và có sức hấp dẫn đối với người tương tác hoặc khách hàng và công chúng (Kapferer, 2008) Trong các hoạt động kinh doanh, các ý tưởng về việc định vị dựa trên giả định rằng người tiêu dùng dành tâm trí cho các hoạt động thương mại của các thương hiệu có hạn chế nên những thương hiệu thành công nhất là những thương hiệu có thể định vị mình một cách khác biệt trong tâm trí của người tiêu dùng (Heding, Knudtzen & Bjerre, 2008) Kotler và Armstrong

(2012) thảo luận về sức mạnh thương hiệu theo bốn nhóm nhân tố: sự khác biệt (điều gì tạo nên sự nổi bật cho thương hiệu), mức độ liên quan (người tiếp cận cảm thấy được đáp ứng nhu cầu của họ như thế nào), kiến thức và sự đánh giá cao (người tiếp cận đánh giá cao như thế nào về thương hiệu) Các nguyên tắc xây dựng thương hiệu này có thể được áp dụng và đạt được hiệu quả cao khi xây dựng thương hiệu cá nhân. Ngoài ra, thương hiệu cá nhân còn có chức năng truyền tín hiệu Bằng cách truyền đạt các giá trị của bản thân trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình mà các cá nhân có thể giảm đi các vấn đề về bất cân xứng thông tin trên thị trường lao động theo hướng có lợi cho họ nhiều hơn (Zinko và Rubin, 2015) để đạt được sự khác biệt mong muốn, bởi vì tín hiệu có liên quan tích cực đến thành công trong sự nghiệp (Ramaswami và cộng sự, 2010) Xây dựng thương hiệu cá nhân cũng có thể được định nghĩa là một cách làm rõ và truyền đạt những gì làm cho một cá nhân khác biệt và đặc biệt Bằng cách hiểu các thuộc tính, điểm mạnh, kỹ năng và giá trị, và có thể sử dụng chúng để phân biệt một cá nhân khỏi các đối thủ cạnh tranh khác (Arruda, 2002, trang 6) Elmore (2010) nhấn mạnh tầm quan trọng của thương hiệu cá nhân trong thế giới siêu kết nối, chuyển động nhanh và cạnh tranh ngày nay khi xu hướng chuyển từ công việc này sang công việc khác của một người đã trở thành một quy luật hơn là một ngoại lệ Ở một mức độ nào đó, bản thân một cá nhân chịu trách nhiệm đạt được các mối quan hệ quan trọng và tạo ấn tượng tốt với khách hàng và các nhà tuyển dụng tiềm năng nếu gửi đúng thông điệp và luôn tập trung nhất quán vào kế hoạch ban đầu Việc tạo ra một sự kết nối sâu sắc và đáng tin cậy với đối tượng tương tác thông qua các giá trị cốt lõi khác biệt của cá nhân một cách rõ ràng có thể giúp người dùng có thể xây dựng được một thương hiệu cá nhân mạnh mẽ Elmore (2010) tiếp tục chỉ ra rằng một thương hiệu mạnh có thể truyền đạt và quảng bá những giá trị độc đáo của mình tới các nhà tuyển dụng hiện tại hoặc tương lai Điều này sẽ làm tăng cơ hội thăng tiến trong công việc. Giả thuyết H3: Sinh viên cho rằng sự khác biệt hóa thông qua việc xác định và phát triển các yếu tố đặc biệt, sáng tạo, nổi bật, cá nhân hóa là điều quan trọng để xây dựng một thương hiệu cá nhân thành công trên mạng xã hội.

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 06/04/2024, 09:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Thống kê mô tả cơ bản các biến Chiến lược - Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế   luật
Bảng 2 Thống kê mô tả cơ bản các biến Chiến lược (Trang 47)
Bảng 6: Thống kê mô tả cơ bản các biến Hiệu suất - Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế   luật
Bảng 6 Thống kê mô tả cơ bản các biến Hiệu suất (Trang 48)
Bảng 7: Kết quả T-test về mức độ quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cá - Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế   luật
Bảng 7 Kết quả T-test về mức độ quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cá (Trang 57)
Bảng 8: Kết quả ANOVA về mức độ quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cá - Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế   luật
Bảng 8 Kết quả ANOVA về mức độ quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cá (Trang 57)
Bảng 10: Kết quả ANOVA về “Mức độ sử dụng các nền tảng MXH” trong việc xây - Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế   luật
Bảng 10 Kết quả ANOVA về “Mức độ sử dụng các nền tảng MXH” trong việc xây (Trang 58)
Bảng 9: Kết quả  ANOVA về mức độ quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cá - Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế   luật
Bảng 9 Kết quả ANOVA về mức độ quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cá (Trang 58)
Bảng 14: Phân tích Cronbach’s Alpha biến độc lập “Hiệu suất” - Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế   luật
Bảng 14 Phân tích Cronbach’s Alpha biến độc lập “Hiệu suất” (Trang 61)
Bảng 16: Phân tích Cronbach’s Alpha biến độc lập “Khác biệt” - Thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội củasinh viên nghiên cứu tình huống sinh viêntrường đại học kinh tế   luật
Bảng 16 Phân tích Cronbach’s Alpha biến độc lập “Khác biệt” (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w