1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN pptx

23 1,1K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 807 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Tín dụng đối với học sinh, sinh viên là việc Nhà nước thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ để trang trải một phần chi phí học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên đang theo h

Trang 1

CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỌC SINH - SINH VIÊN.

NỘI DUNG CHÍNH

I Cở sở lý luận và thực tiễn 2

1.1 Cở sở lý luận 2

1.2 Cở sở thực tiễn 4

1.2.1 Bối cảnh thế giới 4

1.2.2 Bối cảnh trong nước 6

II Phấn tích chính sách tín dụng cho HSSV ở Việt Nam 7

2.1 Phân tích nội dung chính sách 7

2.1.1 Một số văn bản quy định 7

2.1.2 Nội dung chính sách 8

2.2 Những mục tiêu của chính sách 10

2.3 Đánh giá chính sách 13

III Một số kiến nghị .20

Kết luận 24

Trang 2

I Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1 Cơ sở lý luận.

1.1.1 Khái niệm:

Tín dụng đối với học sinh, sinh viên là việc Nhà nước thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ để trang trải một phần chi phí học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên đang theo học hệ chính qui tập trung tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề có thời gian đào tạo từ 1 năm trở lên

Ngân hàng Chính sách xã hội là tổ chức tín dụng của Nhà nước được giao nhiệm vụ huy động vốn để thực hiện chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên theo Quyết định số 107/2006/QĐ-TTg ngày 18/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ

1.2.2 Cơ sở ra đời

Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Đẩy mạnh nguồn nhân lực

là một trong những chỉ đạo của chính phủ

Ngày 28/12/2001, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục năm 2001-2010 Chiến lược đã chỉ rõ con người và nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Để từng bước triển khai chiến lược giáo dục cần tiến hành nghiên cứu và xây dựng những chính sách phát triển giáo dục nói chung, trong đó có những chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nói riêng Trên tinh thần đó, trong những năm qua Đảng và nhà nước luôn có những chính sách chăm lo và đầu tư cho giáo dục nói chung và những chính sách hướng vào học sinh, sinh viên- nguồn nhân lực

Trang 3

trong tương lai Cũng vì vậy trong nhiều nghị sự chính sách của nhà nước, vần

đề tín dụng đối với HSSV do nhà nước hỗ trợ ngày càng được thảo luận nhiều

Chương trình cho vay là mối quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách bởi vì nó có thể góp phần giải quyết một loạt những vấn đề chính sách căng thẳng của chính phủ Việc cho vay và được vay giữ một vai trò trung tâm thúc đẩy đối thoại chính sách và chia sẻ tri thức Việc hỗ trợ cải cách thông qua chương trình và dự án cho vay khuyến khích phát triển các hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế Nó góp phần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực với trình độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho nền kinh tế Đồng thời

đó là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với một bộ phận dân cư vì lẽ này hay lẽ khác mà trong cuộc sống có những khó khăn không đủ điều kiện cho con

em mình được học tập Tạo điều kiện cho các con em gia đình chính sách để các

em có trình độ và kiến thức, được thụ hưởng chính sách giáo dục của Nhà nước

ta, thụ hưởng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước Thụ hưởng thành quả trong công cuộc xây dựng và phát triển giáo dục nhằm tạo

sự công bằng xã hội để mọi người nhận được sự công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo, có công ăn việc làm, từng bước thoát nghèo Vì vậy, tín dụng đối với HSSV là chính sách hợp với yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế trong giai đoạn mới, phù hợp với lòng dân, được nhân dân đón nhận và nhiệt tình ủng

hộ, thể hiện tính ưu việt mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đang phấn đấu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.2 Cơ sở thực tiễn.

Thực hiện chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo, Chính phủ đã ban hành Nghị định 78/2002 ND-CP ngày 4/10/2002 về tín dụng đối với hộ nghèo và

Trang 4

các đối tượng chính sách, đồng thời chính phủ ban hành quyết định số 131/2002

QD-TTg về việc thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam trên cơ sở

tổ chức lại ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây để thực hiện nhiệm vụ cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách Sự ra đời của Ngân hàng Chính sách Xã hội đã tạo lập một công cụ quan trọng để thực hiện hỗ trợ tín dụng cho người nghèo Tín dụng đối với HSSV đã dược thực hiện trong chính sách này của chính phủ Song cũng vì vậy mà phạm vi đối tượng được áp dụng cũng rất hẹp và số tiền được vay cũng thấp, chưa giải quyết triệt để mục tiêu công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo đồng thời không tạo được động lực để phát triển sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là việc mở rộng hệ thống giáo dục đại học Bởi vậy cần có một chính sách tín dụng dành cho đối tượng HSSV

1.2.1 Bối cảnh thế giới.

Ngày nay, dường như bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều nhận thức rõ rằng nhân tố con người hay nguồn nhân lực con người là nhân tố quyết định đến

sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia

Trong xu thế toàn cầu hóa, cùng với chính sách mở cửa về kinh tế, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ Hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo để nâng cao mặt bằng dân trí , đào tạo nguồn nhân lực lao động kỹ thật đáp ứng nhu cầu phát triển kinh

tế theo hướng hiện đại Đầu tư cho giáo dục nhằm phát triển nguồn nhân lực trong tương lai, vấn đề tín dụng cho HSSV do nhà nước hỗ trợ ngày càng được thảo luận nhiều trong chương trình nghị sự chính sách của nhiều nước Chương trình tín dụng đối với HSSV đã có mặt ở hơn 50 nước trên khắp thế giới và hầu hết đều dành cho giáo dục trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và đại học Điển hình ở Châu Á,

Trang 5

nơi được mệnh danh là “thiên đường của giáo dục đại học”, chương trình này

đã được thiết lập ở một số quốc gia như: Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Mông Cổ, Philippin, Pakixtan, Singapo, Việt Nam, Thái Lan, Xrilanka,…

 Trung Quốc.

Trung Quốc từ lâu được biết đến là một trong những nước có nền văn hóa

đồ sộ và lâu đời nhất thế giới Ngày nay, Trung Quốc lại được nhiều người biết đến như một nền kinh tế trên đà phát triển mạnh mẽ và một nền giáo dục chất lượng cao Trong hơn 50 năm qua, chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục phát huy truyền thống chú trọng phát triển giáo dục từ ngàn xưa Mỗi năm ngân sách tài chính được cấp cho ngành giáo dục chiếm gần 14% tổng chi tiêu nhà nước, tương đương gần

3% GDP Chương trình cho sinh viên vay lần đầu tiên xuất hiện ở Trung Quốc năm 1986 Hai chương trình quốc gia chính thức được bắt đầu năm 1999 và hiện vẫn trong giai đoạn xây dựng; một chương trình do chính phủ trợ cấp và chương trình thứ hai hoạt động theo hình thức thương mại Chương trình cho sinh viên vay vốn do chính phủ trợ cấp (GSSLS) là chương trình cho vay chính ở Trung Quốc Chương trình có đối tượng là sinh viên nghèo hệ chính quy tập trung ở các trường đại học công lập

 Hàn Quốc.

Ở Hàn Quốc ưu tiên phát triển trước nguồn nhân lực là một trong những nhân tố hàng đầu tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong suốt 30 năm của Hàn Quốc

Hàn Quốc đã đầu tư 30 tỷ USD cho giáo dục, trong đó tăng tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục bậc cao lên mức 28,6% GDP

Trang 6

Hàn Quốc có 6 chương trình cho vay được chính phủ hỗ trợ cho giáo dục đại học

và đến được với 16% số sinh viên Trong số những chương trình này, chương trình cho vay của Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực và Tổng công ty lương hưu dành cho công chức nhà nước là lớn nhất, chiếm gần 86% tổng số vốn vay của sinh viên Chương trình của Bộ Gíao dục và Phát triển nguồn nhân lực là lớn nhất trong số 6 chương trình cho vay được chính phủ hỗ trợ tài chính Chương trình này giải ngân các khoản vốn vay có trợ cấp lãi suất cho toàn bộ lĩnh vực giáo dục đại học Chương trình có đối tượng là sinh viên nghèo, ưu tiên cho sinh viên thuộc nhóm thất nghiệp và có thu nhập thấp

1.2.2 Bối cảnh trong nước.

Theo thống kê của tổng cục thống kê, số lượng HSSV đều tăng qua mỗi năm Về số lượng sinh đại học, cao đẳng cụ thể tăng như sau: Năm 2000 có 899,5 nghìn sinh viên đên năm 2007 là 1,6 triệu sinh viên và năm 2009 là 1,796 triệu sinh

viên

Thực tế hiện nay có rất nhiều sinh viên gặp khá nhiều khó khăn trong học tập trong đó có vấn đề học phí phải nộp và các chi phí khác trang trải, phục vụ cho học tập như tiền ăn học, tiền sách, tiền thuê nhà(đối với nhưng sinh viên từ nơi khác đến theo học)

HSSV là đối tượng nhạy cảm hơn ai hết với tác động của những khó khăn

do giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tăng cao trong thời gian qua Theo thống kê của ngành giáo dục thì chi phí cho một sinh viên trong một năm còn nhiều hơn cả học phí phải đóng hàng năm Nếu nhìn một cách tổng thể, số sinh viên xuất thân

từ các vùng quê chủ yếu là thu nhập của gia đình từ nông nghiệp thì khả năng chu cấp của gia đình cho sinh viên gặp rất nhiều khó khăn, chưa kể các sinh viên ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo….Sẽ là một sự thiệt hại lớn nếu như gần 67% sinh viên có nhu cầu vay vốn nhưng không được đáp ứng sẽ phải nghỉ học Hiện nay, nhu

Trang 7

cầu vay vốn của HSSV vẫn tiếp tục tăng cao, chương trình tín dụng này đã và đang tạo nhiều cơ hội hơn nữa cho những người nghèo được đi học đại học, để HSSV không phải bỏ học vì thiếu học phí, từ đó góp phần cải thiện sự công bằng xã hội trong giáo dục.

II PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH, SINH VIÊN VAY VỐN CỦA VIỆT NAM.

2.1 Nội dung chương trình vay vốn đối với học sinh, sinh

viên.

2.1.1: Một số văn bản quy định chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn.

Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên được áp dụng để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên trong thời gian theo học tại trường bao gồm: tiền học phí; chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở,

đi lại Theo quyết định số 157/2007 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 27 tháng 9 năm 2007 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên đã quy định về đối tượng vay vốn, điều kiện cho vay và phương thức vay vốn

 Chính sách được thể hiện trong các văn bản sau:

- Ngày 18/5/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg về tín dụng đối với học sinh, sinh

107/2006/QĐ-viên

- Ngày 18/8/2006, Bộ tài chính banh hành Thông tư số 75/2006/TT-BTC về hướng dẫn một số nội dung Quyết định số 107/2006/QĐ-TTg ngày 18/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên

- Ngày 27/9/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg về tín dụng đối với học sinh, sinh

157/2007/QĐ-viên

Trang 8

- Ngày 15/11/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Q u y ế t đ ịnh s ố 2077/Q Đ

2.1.2 Nội dung chương trình

 Đối tượng được vay vốn

Theo điều 2 của quyết định số 157/2007 QĐ-TTg quyết định về đối tượng được vay vốn là học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm:

1 Học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động

2 Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng:

- Hộ nghèo theo tiêu chuẩn quy định của pháp

 Phương thức cho vay

Theo điều 3 của quyết định số 157/2007 QĐ-TTg quyết định về phương thức cho

vay:

Trang 9

1 Việc cho vay đối với học sinh, sinh viên được thực hiện theo phương thức cho vay thông qua hộ gia đình Đại diện hộ gia đình là người trực tiếp vay vốn và

có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng Chính sách xã hội Trường hợp học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động, được trực tiếp vay vốn tại Ngân hàng Chính sách

xã hội nơi nhà trường đóng trụ sở

2 Giao Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay đối với học sinh, sinhviên

 Điều kiện vay vốn

Theo điều 4 quyết định số 157/2007 QĐ-TTg quyết định về điều kiện vay vốn:

1 Học sinh, sinh viên đang sinh sống trong hộ gia đình cư trú hợp pháp tại địa phương nơi cho vay có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 Quyết định này

2 Đối với học sinh, sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc giấy xác nhận được vào học của nhà trường

3 Đối với học sinh, sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên

về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu

2.2 Những mục tiêu của chương trình cho sinh viên vay

Trang 10

- Trợ cấp chéo: hỗ trợ sinh viên có nhu cầu bằng nguồn thu từ mức học phícao hơn.

- Tăng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục đại học

Thứ hai, hỗ trợ sinh viên.

- Giảm bớt khó khăn về tài chính cho sinh viên trong quá trình học

- Tăng cường trách nhiệm của sinh viên

- Mang lại sự độc lập về tài chính cho sinh viên

Thứ ba, mục tiêu ngân sách ( tạo thu nhập từ học phí)

- Tạo nguồn thu nhập cho các trường đại học công lập (do có thể tăng mức học phí), nhằm đảm bảo mức chi phí đào tạo cho sinh viên trong một năm tăng lên để duy trì chất lượng đào tạo

Thứ tư, mở rộng hệ thống giáo dục đại học.

- Chương trình ở đây, một mặt là có thể tăng tỷ lệ đóng góp của sinh viên qua học phí, bù đắp cho phần Ngân sách Nhà nước tính trên đầu sinh viên bị giảm xuống ở đại học công lập, mặt khác là giảm bớt gánh nặng về mức học phí toàn phần mà sinh viên phải đóng ở các trường đại học tư thục

- Tạo nguồn thu bổ sung từ học phí để trang trải một phần cho việc mở rộng khối các trường đại học công lập

Trang 11

- Mở rộng các trường đại học thông qua phát triển khối các trường đại học tưthục (để giảm thiểu vai trò của nhà nước trong tài trợ cho sự mở rộng

này)

Thứ năm, nhu cầu về nguồn nhân lực.

- Đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp cụ thể hoặc nguồn nhân lực khu vực

- Chương trình góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nằm trong ưutiên quốc gia

Mục tiêu của chương trình tín dụng cho sinh viên ở Việt

“Để thực hiện nhất quán chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho tất

cả các học sinh, sinh viên đã trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước, nhưng có gia đình khó khắn, có thể học đến khi tốt nghiệp” trích chỉ thị số 21/2007/CT-TTg về thực hiện chế độ

cho vay ưu đãi để học đại học, cao đẳng và dạy nghề

Ngày đăng: 27/06/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w