1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận phân biệt isi và eoi chiến lược công nghiệp hóa của nies từ thậpkỷ 60 của thế kỷ xx đến nay

60 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Biệt Isi Và Eoi Chiến Lược Công Nghiệp Hóa Của Nies Từ Thập Kỷ 60 Của Thế Kỷ Xx Đến Nay
Tác giả Vũ Minh Anh, Bùi Thị Quỳnh Anh, Phạm Thị Bảo Châu, Phạm Thị Hương Dịu, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Tạ Thu Anh, Trần Thị Lan Anh, Mai Thị Dịu, Mạc Anh Đức, Nguyễn Lê Gia Bảo
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn
Trường học Học viện ngoại giao
Chuyên ngành Quan hệ kinh tế quốc tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (12)
    • 1.1. Định nghĩa (12)
    • 1.2. Phân biệt ISI và EOI (13)
      • 1.2.1. Mục tiêu (13)
      • 1.2.2. Ưu điểm (14)
      • 1.2.3. Nhược điểm (16)
    • 1.3. Ví dụ những nước sử dụng thành công ISI và EOI (18)
      • 1.3.1. Thành công của Singapore trong việc sử dụng EOI (18)
      • 1.3.2. Thành công của Brazil trong việc sử dụng ISI (19)
      • 1.3.3. Hàn Quốc trong việc sử dụng thành công EOI (19)
      • 1.3.4. Đài Loan trong việc sử dụng thành công ISI và EOI (20)
  • CHương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN (22)
    • 2.1. Lịch sử và sự phát triển của NIEs từ thập kỷ 60 đến nay (22)
    • 2.2. Các chiến lược công nghiệp của NIEs (0)
      • 2.2.1. Chiến lược công nghiệp hóa của Đài Loan (23)
      • 2.2.2. Chiến lược công nghiệp hóa của Singapore (29)
      • 2.2.3. Chiến lược công nghiệp hóa của Hàn Quốc từ thập niên 60 của thế kỷ XX cho đến nay (33)
      • 2.2.4. Chính sách phát triển công nghiệp hóa của Trung Quốc giai đoạn từ thập niên 60 của thế kỷ XX cho đến nay (44)
      • 2.3.1. Những thành công của NIEs trong quá trình công nghiệp hoá (51)
      • 2.3.2. Những thách thức của NIEs trong quá trình công nghiệp hoá (52)
  • CHương 3: Rút ra bài học và giải pháp cho Việt Nam TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA (54)
    • 3.1. Những kinh nghiệm từ các nước NIEs (54)
    • 3.2. Giải pháp (55)

Nội dung

ISI Import Substitution IndustrializationCông nghiệp hóa thay thế nhập khẩu trong tiếng Anh là Import Substitution Industrialization, viết tắt là ISI.Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu l

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Định nghĩa

Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu trong tiếng Anh là Import Substitution Industrialization, viết tắt là ISI.

Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu là một lý thuyết kinh tế thường được các nước đang phát triển hoặc các quốc gia thị trường mới nổi thực hiện để tìm cách giảm sự phụ thuộc vào các nước phát triển.

Lý thuyết này nhằm đến việc bảo vệ các ngành hàng, giúp hàng hóa sản xuất trong nước cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, quá trình này giúp cho các nền kinh tế địa phương và quốc gia đạt tính tự chủ.

Công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu trong tiếng Anh là Export Oriented Industrialization, viết tắt là EOI.

Chiến lược công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu là một chiến lược công nghiệp hóa lấy phát triển khu vực sản xuất, xuất khẩu làm động lực chủ yếu lôi kéo phát triển toàn nền kinh tế

Trong chiến lược này, Chính phủ sẽ ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp có thể xuất khẩu được sản phẩm của mình Các biện pháp ưu tiên thường được sử dụng gồm: trợ cấp xuất khẩu, tạo thuận lợi trong tiếp cận tín dụng, hỗ trợ về thông tin thị trường, tạo thuận lợi cho nhập khẩu đầu vào cho sản xuất, ưu đãi về tỷ giá hối đoái, tạo thuận lợi về cơ sở hạ tầng chẳng hạn như thành lập các khu chế xuất Theo dự tính thông thường của các nhà lập chính sách theo đuổi chiến lược này, các ngành xuất khẩu sẽ đem lại thu nhập cho nền kinh tế, công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, đem lại nguồn thu ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu các máy móc cho công nghiệp hóa và đặc biệt là những ảnh hưởng lan tỏa có nó tới các ngành và lĩnh vực kinh tế khác.

Chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu còn được gọi là chiến lược hướng ngoại Chiến lược hướng ngoại được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước Mỹ Latinh từ những năm 50 và các nước Đông Bắc Á những năm 60, sau đó phổ biến sang các nước Đông Nam Á vào đầu những năm 70 của thế kỉ XX.

NICs - Newly Industrialized Countries, hay còn được gọi là "Các nước công nghiê Œp hoá mới" là thuâ Œt ngữ được sử dụng phổ biến từ những năm 1970 để chỉ các quốc gia cơ bản hoàn thành quá trình công nghiê Œp hoá đạt được sự phát triển vượt trô Œi về nền kinh tế

Phân biệt ISI và EOI

Mục tiêu chính của việc thực hiện lý thuyết công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu là bảo vệ, củng cố và phát triển các ngành công nghiệp địa phương bằng nhiều chiến thuật khác nhau, bao gồm: thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu và các khoản vay của chính phủ được trợ cấp Thứ hai, chiến lược xây dựng một nền kinh tế có thể tự chủ với các ngành công nghiệp chủ đạo để thay thế hàng hóa trước đay phải nhập khẩu Từ đó, quốc gia đó sẽ giảm phụ thuộc vào bên ngoài mà chủ yếu là các nước lớn Bên cạnh đó, nhà nước sẽ giảm chi phí logistics, không phải chịu thuế nhập khẩu hàng hóa phải trả khi qua biên giới Cuối cùng là tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp từ đó triệt tiêu các tệ nạn trong nước.

Thứ nhất, bản chất của chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu là sử dụng các lợi thế tương đối và lợi thế tuyệt đối hay còn được gọi là lợi thế so sánh Ngoài ra thì chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu còn sử dụng những nhân tố sản xuất thuộc tiềm năng của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích tối ưu cho quốc gia Chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu được xây dựng và hình thành phát triển nhằm mở cửa nền kinh tế quốc dân để thu hút đầu tư vào khai thác tiềm năng lao động và tài nguyên thiên nhiên của đất nước.

Thứ hai, chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu nhấn mạnh ba vấn đề cơ bản: Khuyến khích mở rộng xuất khẩu thay cho việc kiểm soát nhập khẩu để tiết kiệm ngoại tệ và kiểm soát tài chính; hạn chế bảo hộ ngành công nghiệp trong nước, thay vào đó là nâng đỡ và hỗ trợ cho các ngành sản xuất hàng xuất khẩu; đảm bảo môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài thông qua hệ thống các chính sách khuyến khích và kinh tế tự do để thu hút vốn, công nghệ, trình độ quản lí của nước ngoài.

1.2.2.1 ISI Điểm mạnh đầu tiên của chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu là thúc đẩy sự sáng tạo và tăng trưởng của các ngành công nghiệp địa phương Việc hạn chế nhập khẩu tạo ra nhu cầu lớn hơn cho các sản phẩm trong nước Đổi lại,điều này tạo ra một khoảng cách trong nền kinh tế đòi hỏi phải đầu tư trong giới hạn nội bộ của đất nước Do đó, các nguồn lực địa phương tập trung vào việc sản xuất các dịch vụ và sản phẩm đó sẽ dẫn đến sự hình thành công nghiệp mới Ngoài ra, những lợi ích thu được từ các khoản đầu tư này sẽ được chuyển giao với tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư và hình thành vốn cao hơn. Ưu điểm thứ hai của ISI là bảo vệ các ngành công nghiệp mới Một công ty mới sẽ không phải cạnh tranh với các cong ty và thị trường quốc tế được thành lập.

Sự cạnh tranh này sẽ dẫn đến việc đóng cửa các ngành công nghiệp như vậy bởi vì các công ty quốc tế có lợi thế cạnh tranh lớn hơn so với các ngành công nghiệp địa phương, cả về giá và nguồn cung Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu phục vụ để chuẩn bị các ngành công nghiệp cho sự phát triển và tăng trưởng của họ, cũng để giúp họ có khả năng vươn ra thị trường quốc tế Do đó, nó giúp phát triển kinh tế địa phương, khuyến khích họ tự túc và giảm sự sụp đổ của các doanh nghiệp mới.

Bên cạnh đó, do có công nghiệp hóa địa phương, chiến lược này cải thiện yêu cầu đối với các ngành thâm dụng lao động, tạo cơ hội việc làm Đổi lại, điều này làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế Ngoài ra, chất lượng cuộc sống của công nhân được cải thiện, điều này sẽ làm giảm tỷ lệ người dân sống trong nghèo đói Mặt khác, nền kinh tế trở nên chống lại cú sốc kinh tế toàn cầu hơn, do đó củng cố sự ổn định và bền vững kinh tế. Ưu điểm thứ tư của ISI là giảm chi phí vận chuyển Các sản phẩm sẽ không còn đến từ khoảng cách xa, mà sẽ được sản xuất trong giới hạn địa phương Trọng tâm là phát triển các sản phẩm gia dụng và giảm chi phí vận chuyển để đầu tư vào các ngành công nghiệp.

Cuối cùng là tạo điều kiện đô thị hóa Với sự mở rộng của các ngành công nghiệp, đô thị mới có thể được phát triển để chứa công nhân của các công ty mới này Cách này giúp thúc đẩy ngành xây dựng.

Một trong những ưu điểm của chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu mà không thể không nhắc đến đó chính là việc tận dụng được những lợi thế từ thị trường thế giới về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí của các nước tiên tiến. Ưu điểm thứ hai đó chính là việc khai thác được tiềm năng, lợi thế so sánh của đất nước cho phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất hàng xuất khẩu.

Cuối cùng trong chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu thì phải có thị trường quốc tế rộng lớn cho tiêu thụ sản phẩm, kể cả thị trường các yếu tố đầu vào cho sản xuất.

Các ngành công nghiệp hầu hết là không hiệu quả do được bảo hộ và trợ cấp quá mức, dẫn đến tình trạng quan liêu, không tận dụng được lợi thế của cạnh tranh.

Do đó, giai đoạn này, nền công nghiệp của các nước vẫn chủ yếu là khai khoáng.

Công nghệ sản xuất vô cùng lạc hậu, giá thành cao và khó cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài Ngay cả một số nước có nền kinh tế “mở” như Singapore, Malaysia, Philippines có được tăng trưởng chủ yếu là do hoạt động thương mại và các mặt hàng công nghiệp vẫn phải nhập khẩu từ các nước phát triển Hay thậm chí ở những nước phát triển theo mô hình kinh tế tập trung mặc dù được đưa ra các chỉ tiêu nhưng cũng không thể đáp ứng được nhu cầu trong nước do không có đủ tiềm lực để phát triển công nghiệp.

Quy mô thị trường nội địa còn nhỏ, hàng hóa sản xuất ra khó có thể tiêu thụ. Đa số người dân ở các nước kém phát triển vẫn còn nghèo khổ, chủ yếu là lo sống qua ngày nền khó có thể dư dả để tiêu thụ những mặt hàng tiêu dụng.

Các cơ sở kinh tế nhà nước xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, hoạt động kém hiệu quả do thiếu vốn, thiếu nguyên liệu và công nghệ, kinh nghiệm quản lý còn yếu.

Bên cạnh đó thì chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu cũng có những hạn chế do quá tập trung cho sản xuất hàng xuất khẩu và các ngành có liên quan nên có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa các ngành xuất khẩu và các ngành không xuất khẩu

Nếu xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển của các nước đang phát triển, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng trường chậm chạp Đồng thời sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ bị trì trệ.

Ví dụ những nước sử dụng thành công ISI và EOI

1.3.1 Thành công của Singapore trong việc sử dụng EOI

Singapore cũng là một trong những đất nước đã sử dụng thành công chiến lược công ngiệp hóa hướng ra xuất khẩu (EOI) Cụ thể, từ năm 1965 đến năm

1990 GDP thực tế tăng trên bình quân 6,5%/năm Song song với điều này sự tăng trưởng thần kỳ thậm chí còn hơn thế nữa xuất khẩu tăng ngoạn mục Khoảng thời gian giữa năm 1965-1988 xuất khẩu tăng bình quân 7,6%/năm, với xuất khẩu sản xuất chiếm 75% doanh thu xuất khẩu Hàng công nghiệp xuất khẩu không chỉ bao gồm hàng dệt may mà còn cả hàng điện tử Tuy nhiên vào năm 1960 sản xuất chỉ chiếm 7,2% GDP, chiếm hơn 1/3 lao động tham gia sản xuất truyền thống Theo quan điểm được chấp nhận rộng rãi, thành công của Singapore là do bằng cấp cao cam kết của chính phủ Singapore đến nền kinh tế thị trường laissez-faire mà nhấn mạnh “thương mại tự do” như một lời giải thích cho thành công Đằng sau sự xuất hiện của “Con rồng châu Á” mới này là một trạng thái mạnh mẽ, phát triển, trong đó có sẵn sàng và cung cấp đầy đủ các ưu đãi cho thu hút vốn nước ngoài, kiểm soát lao động và tiết kiệm bắt buộc, tăng lương và trình độ lao động được nâng cao Sự khuyến khích của tài chính tăng trưởng công nghiệp định hướng xuất khẩu của vốn nước ngoài đã là một chính sách tích cực kể từ 1965, sau một nỗ lực không thành công tại ISI.

“Sự phát triển phụ thuộc” của Singapore cho thấy rằng để duy trì tăng trưởng kinh tế, nước này phải tiếp tục thu hút các MNC Điều này đòi hỏi chính phủ phải liên tục nâng cấp trình độ kỹ năng và cơ sở hạ tầng, để thu hút các MNC, lần này là tham gia vào các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn mà không hoàn toàn phụ thuộc vào lao động giá rẻ Singapore đã thành công trong việc thực hiện các dịch vụ định hướng xuất khẩu, chẳng hạn như dịch vụ tài chính và kinh doanh

- nơi các yếu tố chính tạo nên lợi thế so sánh là sự sẵn có của nguồn vốn vật chất và con người cũng như vị trí địa lý Chiến lược EOI đã được Singapore áp dụng thành công để đem lại sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước, vươn tới vị trí “Con rồng châu Á” – một tấm gương phát triển đất nước.

1.3.2 Thành công của Brazil trong việc sử dụng ISI

Brazil đã theo đuổi chiến lược ISI trong những năm 1950 và 1960, tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp trong nước để giảm sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu Nước này thực hiện các chính sách bảo hộ như đánh thuế cao đối với hàng nhập khẩu và trợ cấp cho các ngành công nghiệp trong nước, với mục tiêu thúc đẩy công nghiệp hóa trong nước và tự cung tự cấp nền kinh tế.

Nhờ chiến lược ISI của mình, Brazil đã phát triển một loạt ngành công nghiệp trong nước, bao gồm sản xuất ô tô, sản xuất thép và hóa dầu Đất nước này cũng đạt được sự tăng trưởng kinh tế đáng kể trong giai đoạn này, với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 7,5% mỗi năm từ năm 1950 đến năm 1980.

Bất chấp những thách thức này, kinh nghiệm của Brazil với ISI thường được trích dẫn như một ví dụ về một quốc gia theo đuổi thành công một con đường thay thế để phát triển kinh tế.

1.3.3 Hàn Quốc trong việc sử dụng thành công EOI

Hàn Quốc là một ví dụ về một quốc gia đã sử dụng thành công Công nghiệp hóa Định hướng Xuất khẩu (EOI) trong thời kỳ hậu Thế chiến II.

Hàn Quốc đã theo đuổi chiến lược EOI trong những năm 1960 và 1970, với trọng tâm là phát triển các ngành công nghiệp như sản xuất thép, đóng tàu và điện tử để xuất khẩu Nước này thực hiện các chính sách thúc đẩy xuất khẩu, như ưu đãi thuế và trợ cấp cho các ngành định hướng xuất khẩu, cũng như nỗ lực thu hút đầu tư nước ngoài.

Nhờ chiến lược EOI của mình, Hàn Quốc đã trở thành một nhân tố chính trong nền kinh tế toàn cầu và đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng kể GDP của đất nước tăng trưởng với tốc độ trung bình 7,7% mỗi năm từ năm 1960 đến năm

1990, và thu nhập bình quân đầu người tăng từ 82 đô la năm 1962 lên hơn 10.000 đô la năm 1995.

Thành công của Hàn Quốc với EOI cũng được thúc đẩy bởi các yếu tố như lực lượng lao động có trình độ học vấn cao, sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ đối với phát triển công nghiệp và chiến lược tập trung phát triển các ngành có tiềm năng xuất khẩu cao.

Nhìn chung, kinh nghiệm của Hàn Quốc với EOI thường được trích dẫn như một ví dụ về một quốc gia sử dụng thành công các chính sách khuyến khích xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa.

1.3.4 Đài Loan trong việc sử dụng thành công ISI và EOI Đài Loan là một ví dụ về một quốc gia đã sử dụng thành công cả hai chiến lược Công nghiệp hóa Định hướng Xuất khẩu (EOI) và Công nghiệp hóa Thay thế Nhập khẩu (ISI). Đài Loan đã theo đuổi chiến lược ISI trong những năm đầu sau Thế chiến thứ hai, tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp trong nước như dệt may, xi măng và sản xuất thép để giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu Tuy nhiên, quốc gia này sau đó đã chuyển hướng sang EOI vào những năm 1960 và 1970, trở thành nhà xuất khẩu lớn hàng điện tử, máy móc và các sản phẩm công nghệ cao khác.

Thành công của Đài Loan với cả hai chiến lược ISI và EOI được thúc đẩy bởi các yếu tố như hỗ trợ của chính phủ cho phát triển công nghiệp, đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu, đồng thời tập trung vào việc xây dựng lực lượng lao động lành nghề Đất nước này cũng được hưởng lợi từ một vị trí chiến lược, nằm gần các thị trường lớn của châu Á.

Nhìn chung, kinh nghiệm của Đài Loan với cả ISI và EOI thường được trích dẫn như một ví dụ về một quốc gia sử dụng thành công kết hợp các chính sách thay thế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa.

CƠ SỞ THỰC TIỄN

Lịch sử và sự phát triển của NIEs từ thập kỷ 60 đến nay

Khái niệm các nước công nghiệp hóa mới NICs) được công nhận, sử ( dụng rộng rãi vào những năm 1970 Các quốc gia Châu Á - còn được gọi là "Bốn con hổ Châu Á" - Singapore, Hong Kong, Hàn Quốc và Đài Loan cho thế giới thấy được sự vươn mình mạnh mẽ thống trị về sự thịnh vượng nền kinh tế và đổi mới công nghê Œ

Một số quốc gia cũng có thể bị giáng cấp từ các nước công nghiệp hóa mới xuống thị trường biên giới nếu nền kinh tế của họ suy thoái do môi trường kinh tế hoặc chính trị xấu đi Ví dụ, một số quốc gia đã đạt được những bước tiến trong việc thành lập một chính phủ dân chủ nhưng lại trượt ngã khi một kẻ chuyên quyền nắm quyền Việc thiếu sức mạnh trong các thể chế của họ có thể dẫn đến tình trạng kinh tế của họ bị giảm sút.

Trên thực tế xuất khẩu đã giúp các nền kinh tế này đạt được tốc độ công nghiệp hóa nhanh hơn các nước đang phát triển khác trong cùng thời kỳ Đặc biệt đối với các NIEs, tăng trưởng thu nhập xuất khẩu đã đóng góp khoảng 30% cho tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa Theo số liệu năm 1996, tỷ trọng ngành công nghiệp xuất khẩu trên tổng kim ngạch xuất khẩu của Hồng Kông là 94,2%; Hàn Quốc – 89,4%; Xingapo – 84,7%, …

Các chiến lược công nghiệp của NIEs

2.2.1 Chiến lược công nghiệp hóa của Đài Loan

2.2.1.1 Khái quát Đài Loan là một vùng lãnh thổ từng phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp nhưng đã chuyển mình, trở thành một vùng đất của thương mại và công nghiệp. Những thành tựu đáng chú ý trong phát triển nông nghiệp nói riêng và các khía cạnh kinh tế nói chung của Đài Loan được coi là nền tảng công nghiệp hóa và sự phát triển kinh tế ở đây.

2.2.1.2 Các chiến lược công nghiệp hóa a) Chiến lược phát triển nông nghiệp – nền tảng công nghiệp hóa của Đài Loan

Khi đã tạo lập hiệu quả nền tảng cho phát triển nông nghiệp, chính quyền Đài Loan đã đưa ra kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân 4 năm lần thứ nhất, với chủ trương “Nuôi dưỡng công nghiệp thông qua nông nghiệp - phát triển nông

Chiến lược công nghiệp hóa của Đài Loan phát triển nông nghiệp - nền tảng

CN hóa (1954-1983) thay thế nhập (1951-1960)khẩu hướng về xuất (1961-1980)khẩu tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu

(1980 - nay) nghiệp bằng công nghiệp” Đài Loan, một mặt, đưa ra những biện pháp khuyến khích nâng cao mức sản xuất nông nghiệp tổng thể thông qua các chương trình như “Chương trình nuôi heo hợp nhất”, “Chương trình vụ mùa và vật nuôi hợp nhất”, “Dự án cung cấp tài chính nông nghiệp” và “Quy định mở rộng nông nghiệp”; mặt khác, để tăng chuyển giao các quỹ vốn từ lĩnh vực nông nghiệp sang các lĩnh vực phi nông nghiệp, năm 1954 chính quyền trung ương đưa ra chương trình “Các loại thuế đất nông nghiệp” và “Thu mua bắt buộc lúa gạo ” làm công cụ theo đuổi chính sách quy định giới hạn giá thực phẩm.

Sau giai đoạn cất cánh của nền công nghiệp, Đài Loan đã có những bước phát triển xa hơn trong nền kinh tế Mặc dù các dịch vụ công nghiệp và thương mại đã góp phần cực kỳ quan trọng vào sự phát triển kinh tế thành công của Đài Loan, vai trò của nông nghiệp vẫn được thừa nhận về phương diện là ngành cung cấp thực phẩm và lương thực thiết yếu và có những đóng góp đối với nền kinh tế. Trong giai đoạn đầu, các phương pháp sản xuất tập trung vào việc tăng cường thu hoạch để xuất khẩu thu ngoại tệ, sử dụng nhiều lao động phục vụ cho việc chế biến măng tây, cà chua Trong giai đoạn sau, các phương pháp sản xuất đòi hỏi nhiều vốn được khuyến khích như đánh bắt cá xa bờ và ven bờ, xuất khẩu thịt gà và thịt lợn Thời kỳ này, Đài Loan tiếp tục đưa ra các chương trình và ban hành một số đạo luật phù hợp như: “Chương trình xúc tiến cơ giới (năm 1970)”; “Luật phát triển nông nghiệp (năm 1973)”; “Luật về giá bán nông sản (năm 1974)”; “Luật tái thiết nông thôn và nâng cao thu nhập nông dân (năm 1979)” và chương trình

“Nâng cao xây dựng cơ bản và giúp người dân có thu nhập cao hơn (năm 1982)” Vậy nên có thể kết luận rằng nếu không có sự đóng góp to lớn của ngành nông nghiệp, “Thần kỳ kinh tế” Đài Loan sẽ không bao giờ xảy ra. xuất chip theo hợp đồng lớn nhất thế giới, TSMC, và là nhà sản xuất chất bán dẫn chính được sử dụng trong mọi thứ, từ máy giặt, điện thoại di động đến trung tâm dữ liệu và máy bay chiến đấu

Hiện nay, Đài Loan chiếm đến 80% thị phần toàn cầu về máy tính xách tay và bo mạch chủ, 60% thị phần thiết bị mạng Hòn đảo này là nhà xuất khẩu máy công cụ lớn thứ 5 với tỉ lệ hiệu suất chi phí cao Các doanh nghiệp Đài Loan hiện cung ứng cho các ông lớn như Adidas, Nike, Lululemon và Under Armour Trà sữa trân châu của Đài Loan cũng là thức uống nổi tiếng khắp thế giới.

2.2.1.4 Dự đoán và những thách thức trong quá trình công nghiệp hóa của Đài Loan trong tương lai

Bà Thái Anh Văn - Nhà lãnh đạo Đài Loan vừa cảnh báo ngành công nghiệp bán dẫn phải đối mặt với những thách thức mới và "dễ bay hơi ” Điều này được lý 1 giải bởi những thách thức toàn cầu chưa từng có trong thời gian gần đây, bao gồm sự không chắc chắn đáng kể xung quanh chuỗi cung ứng Để đầu tư vào tương lai của ngành công nghiệp trọng điểm “sản xuất chất bán dẫn”, chính phủ và các trường đại học cần phải hợp tác với khu vực tư nhân, đã thành lập một số trường cao đẳng bán dẫn, chuyên đào tạo thêm nhân tài và nâng cao năng lực R&D để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp Chính phủ cũng cần tiếp tục làm việc với ngành công nghiệp để thúc đẩy sự đổi mới và đẩy công nghệ bán dẫn lên đỉnh cao Ngành công nghiệp bán dẫn sẽ còn là trọng tâm của kế hoạch đưa Đài Loan trở thành một thế lực lớn trong nền kinh tế toàn cầu Dưới sự hợp tác chung của các ngành công nghiệp, chính phủ, học viện và nghiên cứu, bản thân tôi tin Đài Loan sẽ là nơi ươm mầm tài năng và phát triển công nghệ để duy trì lợi thế chiến lược của Đài Loan trong lĩnh vực này.

1 https://danviet.vn/nha-lanh-dao-dai-loan-canh-bao-nhung-thach-thuc-bat-on-ma-nganh-cong-nghiep-chip-phai-doi- mat-20220915085959532.htm, tham khảo ngày 06/03/2023

Và với những kinh nghiệm nâng cấp công nghiệp ở Đài Loan thì những kinh nghiệm của Đài Loan có thể được chuyển giao cho các nền kinh tế đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á nói chung và các nước thành viên của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) nói riêng, qua đó mở rộng ảnh hưởng của ngành sản xuất Đài Loan tới các nền kinh tế này

2.2.2 Chiến lược công nghiệp hóa của Singapore

Mỗi quốc gia có những cách tiếp cận khác nhau đối với cách mạng công nghiệp 4.0, nhưng về cơ bản, Singapore đã biết tận dụng lợi thế, cơ hội và tiếp cận trong việc phát triển công nghiệp hóa theo cách riêng của mình Singapore là một trong số nhiều quốc gia trên thế giới sớm công bố chương trình liên quan đến công nghiệp 4.0

Mặc dù là quốc đảo với diện tích hạn chế và nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào các ngành dịch vụ, nhưng Singapore luôn nhận thức được tầm quan trọng của ngành chế biến, chế tạo trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, để từ đó nhân rộng các ý tưởng đó sang các ngành khác.

Từng là quốc gia nhỏ và nghèo tài nguyên nhất khu vực, Singapore đã vươn lên thành quốc gia thịnh vượng nhờ hoạch định chính sách phát triển công nghiệp hóa một cách cẩn trọng nhưng minh bạch, không khoan dung với tham nhũng, lãng phí dưới sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ

2.2.2.2 Các chiến lược công nghiệp hóa

Ngay từ những năm đầu thập niên 60, Singapore đã chuyển đổi thành công từ vai trò một cảng hàng hóa và căn cứ quân sự của Anh trở thành một trung tâm dịch vụ và công nghiệp của khu vực Những năm 1960, công nghiệp chỉ chiếm 12% GDP và tập trung vào các hoạt động liên quan đến chế biến nguyên liệu thô và dịch vụ hậu cần phục vụ quân đội.

Ngay sau khi độc lập hoàn toàn vào năm 1965, Singapore đã bước vào công cuộc công nghiệp hóa lần thứ nhất, dựa trên nền công nghiệp thâm dụng lao động, để rồi 10 năm sau, vào những năm 1970, chuyển nhanh sang phát triển công nghiệp dựa trên lao động được đào tạo, có kỹ năng

Giai đoạn 1959-1965, Chính phủ Singapore đã thông qua chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Mục tiêu là nhằm cung cấp một trụ cột kinh tế mới, củng cố vai trò là cảng trung chuyển thương mại đồng thời tạo việc làm cho lực lượng lao động ngày càng tăng nhanh Kế hoạch công nghiệp hóa của Singapore

Chiến lược công nghiệp hóa của

Công nghiệp hóa lần thứ nhất: CN hóa thay thế nhập khẩu (1965)

Công nghiệp hóa lần thứ hai: CN hiện đại dựa trên KH - CN; kĩ năng - tri thức

(1980) Công nghiệp hóa dựa trên toàn cầu hóa (1990) Công nghiệp hóa hội nhập sâu rộng hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu

(2000) thời điểm đầu những năm 1960 dựa chủ yếu trên của Báo cáo khảo sát của Phái đoàn Liên hợp quốc về công nghiệp Báo cáo của Phái đoàn liệt kê các ngành công nghiệp có tính khả thi về mặt kinh tế trong ngành đóng tàu và sửa chữa, kỹ thuật kim loại, hóa chất, thiết bị điện cũng như kế hoạch phát triển các khu công nghiệp, các biện pháp kinh tế, tổ chức và hoạt động để thúc đẩy sản xuất các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển.

Rút ra bài học và giải pháp cho Việt Nam TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA

Ngày đăng: 03/04/2024, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w