1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài " các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty cổ phần mía đường 333 " pptx

92 485 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh Cho Công Ty Cổ Phần Mía Đường 333
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 242,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

được gọi là tínhhiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinhdoanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tếphải chi r

Trang 1

MỞ ĐẦU

Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) tới nay, đất nước ta đã thực hiện côngcuộc đổi mới quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấpsang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa.Từ đó tới nay nền kinh tế nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ,song cũng gặp không ít những khó khăn còn tồn tại Hoạt động sản xuất kinhdoanh sôi nổi, sống động hơn nhưng cũng đặt các doanh nghiệp trước những thửthách gay go và quyết liệt Trong cơ chế mới này, yếu tố quan trọng quyết địnhđến sự tồn tại, phát triển và diệt vong của các doanh nghiệp là hiệu quả sản xuấtkinh doanh Hiệu quả ấy, về mặt lượng, thể hiện mối tương quan giữa kết quảthu được và chi phí bỏ ra Do vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh lànhiệm vụ trung tâm của công tác quản lý tại các doanh nghiệp

Sau một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần mía đường 333, tôi thấyCông ty cổ phần mía đường 333, là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạtđược hiệu quả khá cao Song bên cạnh đó, Công ty vẫn có những hạn chế còntồn tại làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty như: doanhthu không ổn định, công tác marketing chưa mạnh

Xuất phát từ tình hình đó, tôi chọn chủ đề “ các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty cổ phần mía đường 333” làm

đề tài của luận văn tốt nghiệp

Luận văn được chia làm ba chương chính như sau:

ChươngI: Hiệu quả sản xuất kinh doanh và vai trò của việc nâng cao hiệu quả

sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp công nghiệp

Chương II: Phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổphần mía đường 333 hiện nay

Chương III: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhcho Công ty cổ phần mía đường 333

Qúa trình thực hiện luận văn không tránh khỏi sự thiếu sót.Tôi kính mong sựgiúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ công nhân viên của Công ty vàcác bạn đọc

Trang 2

PHẦN I HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP

1 Khái niệm, bản chất và vai trò hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các Doanh Nghiệp:

1.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh

Đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt độngtrong nền kinh tế, với các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiệm vụ mụctiêu hoạt động khác nhau Ngay trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệpcũng có các mục tiêu khác nhau Nhưng có thể nói rằng trong cơ chế thị trường

ở nước ta hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh (doanhnghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệmhữu hạn ) đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận Để đạt đượcmục tiêu này mọi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinhdoanh và phát triển doanh nghiệp thích ứng với các biến động của thị trường,phải thực hiện việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinhdoanh, phải kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời phải tổchức thực hiện chúng một cách có hiệu quả

Trong qúa trình tổ chức xây dựng và thực hiện các hoạt động quản trị trên,các doanh nghiệp phải luôn kiểm tra ,đánh giá tính hiệu quả của chúng Muốnkiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của toàn doanhnghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanhnghiệp không thể không thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của các hoạt độngsản xuất kinh doanh đó Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuấtkinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) là gì ? Để hiểu được phạm trù hiệuquả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm hiểuxem hiệu quả kinh tế nói chung là gì Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa

ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:

- Theo P Samerelson và W Nordhaus thì: "hiệu quả sản xuất diễn ra khi xãhội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sảnlượng hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năngsản xuất của nó" Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ

có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng cácnguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế

Trang 3

có hiệu quả cao Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là

lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa

- Có một số tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ

tỷ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí Các quan điểm nàymới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộphần tham gia vào quy trình kinh tế

- Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ sốgiữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình choquan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông: "Tính hiệu quả được xác địnhbằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" (2)Đây

là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tínhhiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh tế

- Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế

Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằngđơn vị giá trị.Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau "Mốiquan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng cácnhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu ) được gọi là tínhhiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinhdoanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tếphải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệuquả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền vàcác nhân tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vịhiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suấttiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trịchi phí

- Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú

ý và sử dụng phổ biến đó là: hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc mộtqúa trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồnlực để đạt được mục tiêu đã xác định Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phảnánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh

Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệuquả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinhdoanh) của các doanh nghiệp như sau: hiệu quả sản xuất kinh doanh là mộtphạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc,

(2)

Trang 4

thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp

đã đề ra

1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh

Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệuquả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt đượccác mục tiêu của doanh nghiệp Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạmtrù hiệu quả sản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, các công thức

cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp thì chúng ta cần:

Thứ nhất: Phải hiểu rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất

là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng cácyếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp Mối quan hệ sosánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối

Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là :

H = K - C H: Là hiệu quả sản xuất kinh doanh

đo, đong, đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu bán hàng, lợinhuận, thị phần Như vậy kết quả sản xuất kinh doanh thường là mục tiêu củadoanh nghiệp

Thứ hai

- Phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp: Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụngcác nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định Các mục tiêu xã

Trang 5

hội thường là : Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vitoàn xã hội hay phạm vi từng khu vực, nâng cao trình độ văn hoá, nâng cao mứcsống, đảm bảo vệ sinh môi trường Còn hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh trình

độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu cả về kinh tế xã hội trênphạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như trên phạm vi từng vùng, từngkhu vực của nền kinh tế

- Hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài: Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào các mục tiêu của doanhnghiệp do đó mà tính chất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở các giaiđoạn khác nhau là khác nhau Xét về tính lâu dài thì các chỉ tiêu phản ánh hiệuquả của toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong suốt qúa trình hoạtđộng của doanh nghiệp là lợi nhuận và các chỉ tiêu về doanh lợi Xét về tínhhiệu quả trước mắt (hiện tại) thì nó phụ thuộc vào các mục tiêu hiện tại màdoanh nghiệp đang theo đuổi Trên thực tế để thực hiện mục tiêu bao trùm lâudài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận có rất nhiều doanh nghiệp hiện tạilại không đạt mục tiêu là lợi nhuận mà lại thực hiện các mục tiêu nâng cao năngsuất và chất lượng của sản phẩm, nâng cao uy tín danh tiếng của doanh nghiệp,

mở rộng thị trường cả về chiều sâu lẫn chiều rộng do do mà các chỉ tiêu hiệuquả ở đây về lợi nhuận là không cao nhưng các chỉ tiêu có liên quan đến cácmục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp là cao thì chúng ta không thể kết luận làdoanh nghiệp đang hoạt động không có hiệu quả, mà phải kết luận là doanhnghiệp đang hoạt động có hiệu quả Như vậy các chỉ tiêu hiệu quả và tính hiệuquả trước mắt có thể là rái với các chỉ tiêu hiệu quả lâu dài, nhưng mục đích của

nó lại là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài, nhưng mục đích của nó lại lànhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài

1.3 Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với với doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanhnghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh : Khi tiến hành bất kỳ một hoạtđộng sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sửdụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng có thể tạo ra kết quả phù hợpvới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.Ở mỗi giai đoạn phát triển của doanhnghiệp thì doanh nghiệp đều có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuốicùng bao trùm toàn bộ qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tối đahoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp.Để thựchiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các nhà doanhnghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau.Hiệu quả sảnxuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu nất để các nhà quản trị thựchiện chức năng quản trị của mình Thông qua việc tính toán hiệu quả sản xuất

Trang 6

kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệuquả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động cóhiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn cho phép các nhàquản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thíchhợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quảcác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Với tư cách là một công

cụ quản trị kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng đểkiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vàotrong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để kiểm tra đánh giátrình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như

ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Do vậy xét trên phương diện lýluận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quantrọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằmđưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất đểthực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh tếnhư là các nhiệm vụ, các mục tiêu để thực hiện Vì đối với các nhà quản trị khinói đến các hoạt động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệuquả của nó Do vậy mà hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò là công cụ đểthực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh đồng thời vừa là mục tiêu để quản trịkinh doanh

1.4 Phân loại hiệu quả kinh doanh

Tùy theo phạm vi, kết quả đạt được và chi phí bỏ ra mà có các phạm trùhiệu quả khác nhau như: hiệu quả kinh tế xã hội, hiệu quả sử dụng các yếu tốsản xuất trong qúa trình kinh doanh.Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, hiệu quả trực tiếp của các doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế, còn hiệu quảcủa ngành hoặc hiệu quả của nền kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế xã hội Từ

đó ta có thể phân ra 2 loại: hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và hiệu quả kinh

tế - xã hội

1.4.1 Hiệu qủa kinh tế của doanh nghiệp

Khi nói tới doanh nghiệp người ta thường quan tâm nhất, đó là hiệu quảkinh tế của doanh nghiệp, vì các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinhdoanh đều với động cơ kinh tế để kiếm lợi nhuận

1.4.1.1 Hiệu quả kinh tế tổng hợp

Trang 7

Hiệu qủa kinh tế tổng hợp là phạm trù kinh tế biểu hiện tập của sự pháttriển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trongqúa trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.Hiệu quả kinh tế tổng hợp là thước đo hết sức quan trọng của sự tăngtrưởng kinh tế và là chỗ dựa cho việc đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tếcủa doanh nghiệp trong từng thời kỳ.

1.4.1.2 Hiệu quả kinh tế của từng yếu tố

Hiệu quả kinh tế từng là yếu tố, là sự thể hiện trình độ và khả năng sử dụngcác yếu tố đó trong qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó là thước

đo quan trọng của sự tăng trưởng từng yếu tố và cùng với hiệu quả kinh tế tổnghợp làm cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp

1.4.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội

Hiệu quả kinh tế - xã hội là hiệu quả mà doanh nghiệp đem lại cho xã hội

và nền kinh tế quốc dân Nó thể hiện qua việc tăng thu ngân sách cho Nhà nước,tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của ngườilao động và tái phân phối lợi tức xã hội

Tóm lại trong quản lý, qúa trình kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh tếđược biểu hiện ở các loại khác nhau Việc phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở đểxác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phân tích hiệu quả kinh tế và xác địnhnhững biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh Nghiệp:

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là mối quan hệ so sánhgiữa kết quả đạt được trong qúa trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra đểđạt được kết quả đó Nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực đầu vào để đạtđược các mục tiêu của doanh nghiệp Các đại lượng kết quả đạt được và chi phí

bỏ ra cũng như trình độ lợi dụng các nguồn lực nó chịu tác động trực tiếp của rấtnhiều các nhân tố khác nhau với các mức độ khác nhau, do đó nó ảnh hưởngtrực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Đối với cácdoanh nghiệp công nghiệp ta có thể chia nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

2.1 Các nhân tố khách quan

2.1.1 Nhân tố môi trường quốc tế và khu vực

Trang 8

Các xu hướng chính trị trên thế giới, các chính sách bảo hộ và mở cửa củacác nước trên thế giới, tình hình chiến tranh, sự mất ổn định chính trị, tình hìnhphát triển kinh tế của các nước trên thế giới ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạtđộng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như việc lựa chọn và sử dụngcác yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Do vậy mà nó tác động trực tiếp tới hiệuquả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Môi trường kinh tế ổn định cũngnhư chính trị trong khu vực ổn định là cơ sở để các doanh nghiệp trong khu vựctiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi góp phần nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh Ví dụ như tình hình mất ổn định của các nước ĐôngNam Á trong mấy năm vừa qua đã làm cho hiệu quả sản xuất của nền kinh tếcác nước trong khu vực và trên thế giới nói chung hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp trong khu vực nói riêng bị giảm rất nhiều Xu hướng tự dohoá mậu dịch của các nước ASEAN và của thế giới đã ảnh hưởng tới hiệu quảsản xuất kinh doanh của các nước trong khu vực.

2.1.2 Nhân tố môi trường nền kinh tế quốc dân

2.1.2.1 Môi trường chính trị, luật pháp

Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho việc phát triển và mởrộng các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong vàngoài nước Các hoạt động đầu tư nó lại tác động trở lại rất lớn tới các hiệu quảsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quyphạm kỹ thuật sản xuất tạo ra một hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động,các hoạt động của doanh nghiệp như sản xuất kinh doanh cái gài, sản xuất bằngcách nào, bán cho ai ở đâu, nguồn đầu vào lấy ở đâu đều phải dựa vào các quyđịnh của pháp luật Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của phápluật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với ngườilao động như thế nào là do luật pháp quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệmđảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trongdoanh nghiệp).Có thể nói luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sựtồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng trực tiếp tới các kếtquả cũng như hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp

2.1.2.2 Môi trường văn hoá xã hội

Tình trạng thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục,tập quán, tâm lý xã hội đều tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệuquả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có thể theo hai chiều hướng tích

Trang 9

cực hoặc tiêu cực Nếu không có tình trạng thất nghiệp, người lao động có nhiều

cơ hội lựa chọn việc làm thì chắc chắn chi phí sử dụng lao động của doanhnghiệp sẽ cao do đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vàngược lại nếu tình trạng thất nghiệp là cao thì chi phí sử dụng lao động củadoanh nghiệp sẽ giảm làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,nhưng tình trạng thất nghiệp cao sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm và có thể dẫnđến tình trạng an ninh chính trị mất ổn định, do vậy lại làm giảm hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ văn hoá ảnh hưởng tới khả năngđào tạo cũng như chất lượng chuyên môn và khả năng tiếp thu các kiến thức cầnthiết của đội ngũ lao động, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xãhội nó ảnh hưởng tới cầu về sản phẩm của các doanh nghiệp.Nên nó ảnhhưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

2.1.2.3 Môi trường kinh tế

Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốcdân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người là các yếu tố tác độngtrực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp Nếu tốc độ tăng trưởng nền kinh tếquốc dân cao, các chính sách của Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu

tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữmức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ tạo điều kiện cho các doanhnghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại.2.1.2.4 Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng

Các điều kiện tự nhiên như: các loại tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý,thơi tiết khí hậu, ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu,năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượng sảnphẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ do đó ảnh hưởngtới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng

Tình trạng môi trường, các vấn đề về xử lý phế thải, ô nhiễm, các ràngbuộc xã hội về môi trường, đều có tác động nhất định đến chi phí kinh doanh,năng suất và chất lượng sản phẩm.Một môi trường trong sạch thoáng mát sẽ trựctiếp làm giảm chi phí kinh doanh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩmtạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nó quyết định sự phát triển của nền kinh tếcũng như sự phát triển của các doanh nghiệp Hệ thống đường xá, giao thông, hệthống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy

Trang 10

động và sử dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán của các doanh nghiệp do

đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.2.5 Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ

Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, tình hình ứng dụng củakhoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trên thế giới cững như trong nướcảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật côngnghệ của doanh nghiệp do đó ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm tức

là ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

21.3 Nhân tố môi trường ngành

2.1.3.1 Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành

Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành với nhauảnh hưởng trực tiếp tới lượng cung cầu sản phẩm của mỗi doanh nghiệp, ảnhhưởng tới giá bán, tốc độ tiêu thụ sản phẩm do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả củamỗi doanh nghiệp

2.1.3.2 Khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay trong hầu hết các lĩnh vực, cácngành nghề sản xuất kinh doanh có mức doanh lợi cao thì đều bị rất nhiều cácdoanh nghiệp khác nhóm ngó và sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực đó nếu như không

có sự cản trở từ phía chính phủ Vì vậy buộc các doanh nghiệp trong các ngành

có mức doanh lợi cao đều phải tạo ra cac hàng rào cản trở sự ra nhập mới bằngcách khai thác triệt để các lợi thế riêng có của doanh nghiệp, bằng cách định giáphù hợp (mức ngăn chặn sự gia nhập, mức giá này có thể làm giảm mức doanhlợi) và tăng cường mở rộng chiếm lĩnh thị trường Do vậy ảnh hưởng tới hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.3.3 Sản phẩm thay thế

Hầu hết các sản phẩm của doanh nghiệp đều có sản phẩm thay thế, sốlượng chất lượng, giá cả, mẫu mã bao bì của sản phẩm thay thế, các chính sáchtiêu thụ của các sản phẩm thay thế ảnh hưởng rất lớn tới lượng cung cầu, chấtlượng, giá cả và tốc độ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do đó ảnh hưởngtới kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.3.4 Người cung ứng

Các nguồn lực đầu vào của một doanh nghiệp được cung cấp chủ yếu bởicác doanh nghiệp khác, các đơn vị kinh doanh và các cá nhân Việc đảm bảo

Trang 11

chất lượng, số lượng cũng như giá cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụthuộc vào tính chất của các yếu tố đó, phụ thuộc vào tính chất của người cungứng và các hành vi của họ Nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là không

có sự thay thế và do các nhà độc quyền cung cấp thì việc đảm bảo yếu tố đầuvào của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhà cung ứng rất lớn, chi phí về cácyếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhà cung ứng rất lớn, chiphí về các yếu tố đầu vào sẽ cao hơn bình thường nên sẽ làm giảm hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn nếu các yếu tố đầu vào của doanhnghiệp là sẵn có và có thể chuyển đổi thì việc đảm bảo về số lượng, chất lượngcũng như hạ chi phí về các yếu tố đầu vào là dễ dàng và không bị phụ thuộc vàongười cung ứng thì sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh

2.1.3.5 Người mua

Khách hàng là một vấn đề vô cùng quan trọng và được các doanh nghiệpđặc biệt quan tâm chú ý Nếu như sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra màkhông có người hoặc là không được người tiêu dùng chấp nhận rộng rãi thìdoanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất được Mật độ dân cư, mức độ thunhập, tâm lý và sở thích tiêu dùng của khách hàng ảnh hưởng lớn tới sản lượng

và giá cả sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới sự cạnh tranh củadoanh nghiệp vì vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của doanh nghiệp

2.2 Các nhân tố chủ quan (nhân tố bên trong doanh nghiệp)

2.2.1 Bộ máy quản trị doanh nghiệp

Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, bộ máy quản trịdoanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanhnghiệp, bộ máy quản trị doanh nghiệp phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụkhác nhau:

- Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp và xây dựng chodoanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Nếu xâydựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp.Nếu xây dựng được một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp hợp

lý (phù hợp với môi trường kinh doanh, phù hợp với khả năng của doanhnghiệp) sẽ là cơ sở là định hướng tốt để doanh nghiệp tiến hành các hoạt độngsản xuất kinh doanh có hiệu quả

- Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kếhoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh vàphát triển doanh nghiệp đã xây dựng

Trang 12

- Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuấtkinh doanh đã đề ra

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên

Với chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanhnghiệp, ta có thể khẳng định rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rấtlớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu bộ máy quản trịđược tổ chức với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơchế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực vàtinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp đạt hiệu quả cao Nếu bộ máy quản trị doanh nghiệp được tổ chứchoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm

vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiểm nhiệm quá nhiều, sự phối hợptrong hoạt động không chặt chẽ, các quản trị viên thì thiếu năng lực và tinh thầntrách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khôngcao

2.2.2 Lao động tiền lương

Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọihoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác động trựctiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tácđộng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phảm, tác động tới tốc độ tiêu thụsản phẩm do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Ngoài ra công tác tổ chức phải hiệp lao động hợp lý giữa các bộphận sản xuất, giữa các cá nhân trong doanh nghiệp, sử dụng người đúng việcsao chi phát huy tốt nhất năng lực sở trường của người lao động là một yêu cầukhông thể thiếu trong công tác tổ chức lao động của doanh nghiệp nhằm đưa cáchoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao Như vậy nếu ta coichất lượng lao động (con người phù hợp trong kinh doanh) là điều kiện cần đểtiến hành sản xuất kinh doanh thì công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện

đủ để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả Công tác tổ chức

bố trí sử dụng nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh,phương án kinh doanh…đã đề ra Tuy nhiên công tác tổ chức lao động của bất

kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần tuân thủ các nguyên tắc chung và sử dụngđúng người đúng việc, quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng sao cho có thể thực hiệnnhanh nhất, tốt nhất các nhiệm vụ được giao, đồng thời phải phát huy được tính

Trang 13

độc lập, sáng tạo của người lao động có như vậy sẽ góp phần vào việc nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh lao động thì tiền lương và thu nhập của người lao động cũng ảnhhưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì tiền lương

là một bộ phận cấu thành lên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồngthời nó còn tác động tói tâm lý người lao động trong doanh nghiệp Nếu tiềnlương cao thì chi phí sản xuất kinh doanh sẽ tăng do đó làm giảm hiệu quả sảnxuất kinh doanh, nhưng lại tác động tới tính thần và trách nhiệm người lao độngcao hơn do đó làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp nênlàm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Còn nếu mà mức lương thấp thì ngượclại Cho nên doanh nghiệp cần chú ý tới các chính sách tiền lương, chính sáchphân phối thu nhập, các biện pháp khuyến khích sao cho hợp lý, hài hoà giữa lợiích của người lao động và lợi ích của doanh nghiệp

2.2.3 Tình hình tài chính của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo chocác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và ổn định

mà còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và ápdụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất

và chất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu như khả năng về tài chính của doanhnghiệp yếu kém thì doanh nghiệp không những không đảm bảo được các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường mà còn không

có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất

do đó không nâng cao được năng suất và chất lượng sản phẩm Khả năng tàichính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp Khảnăng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanhnghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh tới tốc độ tiêu thụ vàkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chiphí băng cách chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào Vìvậy tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuấtkinh doanh của chính doanh nghiệp đó

2.2.4 Đặc tính của sản phẩm và công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm

- Đặc tính của sản phẩm

Ngày nay chất lượng của sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quantrọng của các doanh nghiệp trên thị trường, vì chất lượng của sản phẩm nó thoảmãn nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, chất lượng sản phẩm càng cao sẽ đápứng được nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng tốt hơn Chất lượng sản

Trang 14

phẩm luôn luôn là yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp, khi chất lượng sảnphẩm không đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng, lập tức khách hàng

sẽ chuyển sang tiêu dùng các sản phẩm khác cùng loại Chất lượng của sảnphẩm góp phần tạo nên uy tín danh tiếng của doanh nghiệp trên thị trường

Những đặc tính mang hình thức bên ngoài của sản phẩm như : Mẫu mã,bao bì, nhãn hiệu…trước đây không được coi trọng nhưng ngày nay nó đã trởthành những yếu tố cạnh tranh quan trọng không thể thiếu được Thực tế chothấy, khách hàng thường lựa chọn các sản phẩm theo trực giác, vì vậy nhữngloại hàng hoá có mẫu mã bao bì nhãn hiệu đẹp và gợi cảm…luôn giành được ưuthế hơn so với các hàng hoá khác cùng loại

Các đặc tính của sản phẩm là nhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp góp phần rất lớn tới việc tạo uy tín, đẩy nhanh tốc độtiêu thụ sản phẩm làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên cóảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm là một khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, nó quyết định tới các khâu khác của quá trình sản xuấtkinh doanh Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có tiêu thụ được hay không mới

là điều quan trọng nhất Tốc độ tiêu thụ nó quyết định tốc độ sản xuất và nhịp độcung ứng nguyên vật liệu Cho nên nếu doanh nghiệp tổ chức được mạng lướitiêu thụ sản phẩm phù hợp với thị trường và các chính sách tiêu thụ hợp lýkhuyến khích người tiêu dùng sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng và chiếm lĩnhđược thị trường, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụsản phẩm, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng vòng quay của vốn, góp phần giữvững và đảy nhanh nhịp độ sản xuất cũng như cung ứng các yếu tố đầu vào nêngóp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.2.5 Nguyên vật liệu và công tác tổ chức đảm bảo nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng và khôngthể thiếu được đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Số lượng, chủngloại, cơ cấu, chất lượng, giá cả của nguyên vật liệu và tính đồng bộ của việccung ứng nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, ảnhhưởng tới năng suất và chất lượng của sản phẩm do đó ảnh hưởng tới hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí sử dụng nguyên vật liệu của cácdoanh nghiệp công nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí kinh doanh

và giá thành đơn vị sản phẩm cho nên việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có

ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

Trang 15

nghiệp.Việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu đồng nghĩa với việc tạo ra kết quảlớn hơn với cùng một lượng nguyên vật liệu

Bên cạnh đó, chất lượng của công tác đảm bảo nguyên vật liệu cũng ảnhhưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu công tác

tổ chức đảm bảo nguyên vật liệu được tốt, tức là luôn luôn cung cấp đầy đủ, kịpthời và đồng bộ đúng số lượng, chất lượng, chủng loại các loại nguyên vật liệucần thiết theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh, không để xảy ra tình trạng thiếuhay là ứ đọng nguyên vật liệu, đồng thời thực hiện việc tối thiểu hoá chi phí kinhdoanh sử dụng của nguyên vật liệu thì không đảm bảo cho sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp diễn ra bình thường mà còn góp phần rất lớn vào việc nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.2.6 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp

Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hìnhquan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làmnền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh Cơ sởvật chất đem lại sức mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lờicủa tài sản Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tàu sản củadoanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinhdoanh, nó thể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp qua hệ thống nhàxưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi…Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệpcàng được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng góp phần đem lại hiệu quả cao bấtnhiêu Điều này thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống nhà xưởng, khotàng, cửa hàng, bến bãi được bố trí hợp lý, nằm trong khu vực có mật độ dân cưlớn, thu nhập về cầu về tiêu dùng của người dân cao…và thuận lợi về giao thông

sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản vô hình rất lớn đó là lợi thế kinh doanhđảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao

Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnhhưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm haytăng phí nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất còn có công nghệsản xuất tiên tiến và hiện đại sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng tiết kiệmnguyên vật liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, còn nếu trình độ kỹthuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ sản xuất lạc hậu haythiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp rấtthấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu

2.2.7 Môi trường làm việc trong doanh nghiệp

Trang 16

Môi trường văn hoá trong doanh nghiệp

Môi trường văn hoá do doanh nghiệp xác lập và tạo thành sắc thái riêng củatừng doanh nghiệp Đó là bầu không khí, là tình cảm, sự giao lưu, mối quan hệ,

ý thức trách nhiệm và tinh thần hiệp tác phối hợp trong thực hiện công việc Môitrường văn hoá có ý nghĩa đặc biệt và có tác động quyết định đến việc sử dụngđội ngũ lao động và các yếu tố khác của doanh nghiệp Trong kinh doanh hiệnđại, rất nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp liên doanh rất quan tâmchú ý và đề cao môi trường văn hoá của doanh nghiệp, vì ở đó có sự kết hợpgiữa văn hoá các dân tộc và các nước khác nhau Những doanh nghiệp thànhcông trong kinh doanh thường là những doanh nghiệp chú trọng xây dựng, tạo

ra môi trường văn hoá riêng biệt khách với các doanh nghiệp khác Văn hoádoanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn cho các doanh nghiệp, nó ảnhhưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành các mục tiêu chiến lược và các chínhsách trong kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc thựchiện thành công chiến lược kinh doanh đã lựa chọn của doanh nghiệp

Cho nên hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpphụ thuộc rất lớn vào môi trường văn hoá trong doanh nghiệp

- Các yếu tố mang tính chất vật lý và hoá học trong doanh nghiệp:

Các yếu tố không khí, không gian, ánh sáng, độ ẩm, độ ổn, các hoá chấtgây độc hại là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian lao động, tới tinhthần và sức khoẻ của lao động do đó nó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng laođộng của doanh nghiệp, đồng thời nó còn ảnh hưởng tới độ bền của máy mócthiết bị, tới chất lượng sản phẩm.Vì vậy ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

- Môi trường thông tin:

Hệ thống trao đổi các thông tin bên trong doanh nghiệp ngày càng lớn hơnbao gồm tất cả các thông tin có liên quan đến từng bộ phận, từng phòng ban,từng người lao động trong doanh nghiệp và các thông tin khác Để thực hiện cáchoạt động sản xuất kinh doanh thì giữa các bộ phận, các phòng ban cũng nhưnhững ngưòi lao động trong doanh nghiệp luôn có mối quan hệ ràng buộc đòihỏi phải giao tiếp, phải liên lạc và trao đổi với nhau các thông tin cần thiết Do

đó mà hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộcrất lớn vào hệ thống trao đổi thông tin của doanh nghiệp Việc hình thành qúatrình chuyển thông tin từ người nàu sang người khác, từ bộ phận này sang bộphận khác tạo sự phối hợp trong công việc, sự hiểu biết lẫn nhau, bổ sung nhữngkinh nghiệm, những kiến thức và sự am hiểu về mọi mặt cho nhau một cách

Trang 17

thuận lợi nhanh chúng và chớnh xỏc là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp thựchiện cú hiệu quả cỏc hoạt động sản xuất kinh doanh của mỡnh.

2.2.8 Phương phỏp tớnh toỏn của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh tế được xỏc định bởi kết quả đầu ra và chi phớ sử dụng cỏcyếu tố đầu vào, hai đại lượng này trờn thực tế đều rất khú xỏc định được mộtcỏch chớnh xỏc, nú phụ thuộc vào hệ thống tớnh toỏn và phương phỏp tớnh toỏntrong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều cú một phương phỏp, một cỏch tớnhtoỏn khỏc nhau do đú mà tớnh hiệu quả kinh tế của cỏc hoạt động sản xuất củadoanh nghiệp cũng phụ thuộc rất nhiều vào phương phỏp tỳnh toỏn trong doanhnghiệp đú

3 Sự cần thiết phải nõng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh Nghiệp:

Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, hầu hết cỏc doanh nghiệp đềuphải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt của cỏc doanh nghiệp trong và ngoàingành Cú rất nhiều doanh nghiệp đó trụ vững và phỏt triển do hoạt động cú kếtquả, nhưng cũng cú khụng ớt doanh nghiệp bị thua lỗ, giải thể hoặc phỏ sản Chonờn buộc cỏc doanh nghiệp phải luụn tỡm ra cỏc biện phỏp để khụng ngừng nõngcao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỡnh

Bản chất của phạm trự sản xuất kinh doanh cho ta thấy nõng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh chớnh là nõng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trờnthị trường giỳp cho doanh nghiệp tồn tại ngày càng phỏt triển Nh ta đã biết bảnchất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội vàtiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệuquả kinh tế Chính việc khan hiếm các nguồn lực và sử dụng các nguồn lực cótính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội Điều đó đã

đặt ra yêu cầu là phải khai thác, tận dụng một cách triệt để các nguồn lực Để đạt

đợc mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp phải hết sức chú trọng và phát huy tối

đa năng lực của các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí

Tuy nhiên để hiểu rõ hơn bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh cần phân biệt đợc hai khái niệm về hiệu quả và kết quả sản xuất kinhdoanh

Kết quả là một phạm trù phản ánh những cái thu đợc sau một quá trìnhkinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó Kết quả bao giờ cũng

là mục tiêu của doanh nghiệp và có thể biểu hiện bằng đơn vị hiện vật nh (tạ, tấn,

kg, m2, ) và đơn vị giá trị (đồng, nghìn đồng, triệu đồng, tỷ đồng, ) hay cũng

có thể phản ánh mặt chất lợng của sản xuất kinh doanh nh uy tín của công ty,chất lợng của sản phẩm Kết quả còn phản ánh quy mô hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, một doanh nghiệp đạt đợc kết quả lớn thì chắc chắn

Trang 18

quy mô của doanh nghiệp cũng phải lớn Do đó việc xác định kết quả sản xuấtkinh doanh là tơng đối khó khăn.

Trong khi đó, hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ tận dụng các nguồnlực sản xuất hay phản ánh mặt chất lợng của quá trình kinh doanh Hiệu quảkinh doanh không phải là số tuyệt đối mà là một số tơng đối, là tỷ số giữa kếtquả và hao phí nguồn lực để có kết quả đó Việc xác định hiệu quả sản xuất kinhdoanh cũng rất phức tạp bởi kết quả kinh doanh và hao phí nguồn lực gắn vớimột thời kỳ cụ thể nào đó đều rất khó xác định một cách chính xác

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trịdoanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh của mình Khi tiến hànhbất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, các doanh nghiệp đều phải huy

động sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có nhằm đạt đợc mục tiêu là tối đa hoá lợinhuận và hiệu quả kinh doanh là một trong những công cụ, phơng pháp để doanhnghiệp đạt đợc mục tiêu đó

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là góp phần nâng cao sức cạnhtranh của doanh nghiệp trên thị trờng Mỗi doanh nghiệp hoạt động sản xuấtkinh doanh trên thị trờng đều gặp rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau trongcùng ngành cũng nh là ngoài ngành Do vậy chỉ có nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh mới có thể tiết kiệm đợc chi phí, nâng cao năng suất lao động, nângcao chất lợng sản phẩm,mới có thể nâng cao đợc sức cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trờng Nh vậy, cần phải tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một tất yếu khách quan để mỗidoanh nghiệp có thể trụ vững, tồn tại trong một cơ chế thị trờng cạnh tranh khốcliệt

4 Hệ thống chỉ tiờu hiệu quả sản xuất kinh doanh chủ yếu của Doanh Nghiệp:

4.1 Cỏc chỉ tiờu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp

Cỏc chỉ tiờu hiệu quả tổng hợp cho phộp ra đỏnh giỏ được hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp Nú là mục tiờu cuốicựng mà doanh nghiệp đặt ra

4.1.1 Chỉ tiờu lợi nhuận

Lợi nhuận vừa là chỉ tiờu phản ỏnh kết quả đồng thời vừa là chỉ tiờu phảnỏnh tớnh hiệu quả của cỏc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đốivới cỏc chủ doanh nghiệp thỡ hay quan tõm cỏi gỡ người ta thu được sau quỏtrỡnh sản xuất kinh doanh và thu được bao nhiờu, do đú mà chỉ tiờu lợi nhuậnđược cỏc chủ doanh nghiệp đặc biệt quan tõm và đặt nú vào mục tiờu quan trọngnhất của doanh nghiệp Cũn đối với cỏc nhà quản trị thỡ lợi nhuận vừa là mụctiờu cần đạt được vừa cơ sở để tớnh cỏc chỉ tiờu hiệu quả của doanh nghiệp

P = TR - TC

Trang 19

1st Qtr 2nd Qtr 3rd Qtr 4th Qtr 0

20 60 100

1st Qtr 2nd Qtr 3rd Qtr 4th Qtr

East West North

P: Lợi nhuận thu được (trước thuế lợi tức) từ hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

TR: Doanh thu bán hàng

TC: Chi phí bỏ ra để đạt được doanh thu đó

4.1.2 Các chỉ tiêu về doanh lợi:

Các chỉ tiêu về doanh lợi nó cho ta biết hiệu quả sản xuất kinh doanh củatoàn doanh nghiệp, nó là các chỉ tiêu được các nhà quản trị, các nhà đầu tư, cácnhà tín dụng đặc biệt quan tâm chú ý tới, nó là mục tiêu theo đuổi của các nhàquản trị

+ Doanh lợi toàn bộ vốn kinh doanh:

KD

VKD

V

DVKD: Doanh lợi toàn bộ vốn kinh doanh

P : Lợi nhuận trước hay sau thuế lợi tức (nếu là trước thuế lợi tức có thểtính thêm lãi trả vốn vay) thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc từ tất

cả các hoạt động của doanh nghiệp

VKD: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp (vốn chủ sở hữu cộng vốn vay) Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn kinh doanh, doanh nghiệp tạo rađược mấy đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế lợi tức DVKD càng cao càng tốt.+ Doanh lợi vốn chủ sở hữu (vốn tự có)

DVCSH: Doanh lợi vốn chủ sở hữu

ΠR: Lợi nhuận (trước hoặc sau thuế)

CCSH: Vốn chủ sở hữu (vốn tự có của doanh nghiệp)

Π R

C CSH

Trang 20

x C

Q

% 100

x C

DTR: Doanh lợi doanh thu bán hàng

Psản xuất: Lợi nhuận trước hoặc sau thuế lợi tác thu được từ hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp

TR: Tổng doanh thu bán hàng

Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợinhuận trước hoặc sau thuế lơị tức

4.1.3 Chỉ tiêu khác:

H: Hiệu quả kinh tế của sản xuất

Q: Sản lượng sản xuất tính theo giá trị

C: Chi phí tài chính (chi phí xác định trong kế toán tài chính)

CTT : Chi phí kinh doanh thực tế

CPĐ: Chi phí kinh doanh phải đạt

(chi phí kinh doanh là chi phí được xác định trong quản trị chi phí kinhdoanh, nó khác với chi phí tài chính)

Hai chỉ tiêu này còn được dùng để đánh giá tính hiệu quả ở từng bộ phậntrong doanh nghiệp

4.2 Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận

Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận cho phép ta đánh giáđược hiệu quả của từng mặt, từng yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Trang 21

+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (tài sản lưu động)

- Doanh lợi vốn lưu động:

LD

R VLD

V

DVLD: Doanh lợi vốn lưu động

VLD: Vốn lưu động bình quân của doanh nghiệp

Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn lưu động doanh nghiệp tạo ra mấyđồng lợi nhuận

n

S = 365

- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động (HLD): TR

V H

LD

LD =

HLD: cho biết trong một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng vốn lưu động

HLD càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao và số tiền tiết kiệm càng nhiều

Trang 22

+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định (tài sản cố định)

Hiệu quả sử dụng vốn cố định cho ta biết khả năng khai thác và sử dụngcác loại tài sản cố định của doanh nghiệp

- Sức sinh lợi của tài sản cố định: TSCD

D

R

DVCD: Doanh lợi vốn cố định

TSCĐ: Giá trị tài sản cố định bình quân trong kỳ của doanh nghiệp

Chỉ tiêu này cho biếy cứ một đồng vốn cố định tạo ra được mấy đồng lợinhuận DVCD càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản càng có hiệu quả

- Sức sản xuất của tài sản cố định (N): TSCD

HCD: Càng nhỏ hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng cao

4.2.2 Hiệu quả sử dụng lao động

Lao động là yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất, hiệu quả sử dụng lao độnggóp phần nâng cao hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp Các chỉ tiêu phản ánhhiệu quả sử dụng lao động bao gồm:

- Sức sinh lời bình quân của lao động: L

sx

Pbq: Lợi nhuận bình quân một lao động

L: Số lao động bình quân trong kỳ

- Năng suất lao động: L

Q

W =

W: năng suất đơn vị lao động, W càng cao càng tốt

Q: Sản lượng sản xuất ra (đơn vị có thể là hiện vật hoặc giá trị)

Trang 23

L: Số lao động bình quân trong kỳ hoặc tổng thời gian lao động (tính theogiờ, ca, ngày lao động)

- Hiệu suất tiền lương ( HTL): TL

TL H

SX

TL =

TL: Tổng tiền lương chỉ ra trong kỳ

HTL: Càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng chi phí lao động hợp lý

Trang 24

PHẦN II: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINHDOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG 333

1. Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển

1.1. Giới thiệu về Công ty

Tên Công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG 333

Tên tiếng Anh : The 333 Sugar Joint Stock Company

 Tên viết tắt : The 333 SUCO

 Vốn điều lệ : 23.000.000.000 đồng (Hai mươi ba tỷ đồng chẵn)

 Trụ sở chính : Thị trấn Ea Knốp, Huyện Ea Kar, Tỉnh Đak Lak

 Điện thoại : (0500) 3829 112 Fax: (0500) 3829 089

 Email : miaduong333@gmail.com

 Giấy CNĐKKD : Số 6000181156 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Đak Lak cấp

lần đầu ngày 28/06/2006 và thay đổi lần thứ 02 ngày 30/03/2010

 Tài khoản : Số 050001260488 tại Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương Tín,

Chi nhánh Đak Lak, Phòng Giao dịch Huyện Ea Kar

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển

Tiền thân của Công ty Mía đường 333 là Sư đoàn 333 - đơn vị quân đội thuộc quân khu 5, Bộ Quốc Phòng Sư đoàn 333 thành lập tháng 10 năm 1976 với nhiệm vụ chính là làm kinh tế và bảo vệ vùng giải phóng tại Tỉnh Đak Lak

Tháng 10 năm 1982, Chính phủ quyết định chuyển Sư đoàn 333 sang Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm quản lý đồng thời đổi tên thành Xí nghiệp Liên hợp Nông Công Lâm Nghiệp 333, thuộc Liên hiệp các Xí nghiệp Cà phê Việt Nam Hoạt động chủ yếu của Xí nghiệp Liên hợp Nông Công Lâm nghiệp 333 là hợp tác với Liên Xô (cũ) để trồng, sản xuất và chế biến cà phê Trong thời gian này, Xí

Trang 25

nghiệp Liên hợp Nông Công Lâm nghiệp 333 trực tiếp quản lý 23 nông trường và xí nghiệp.

Tháng 11 năm 1991, Chính phủ ban hành Nghị định 388/CP-NĐ về việc thành lập các doanh nghiệp Nhà nước Trên cơ sở đội ngũ cán bộ công nhân viên và cơ sở vật chất còn lại thuộc cấp quản lý, Xí nghiệp được thành lập lại theo Quyết định 217 ngày 9 tháng 4 năm 1993 của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm vẫn lấy tên là Xí nghiệp Liên hợp Nông Công Lâm nghiệp 333 nhưng trực thuộc Tổng công

ty Cà phê Việt Nam.

Xí nghiệp Liên hợp Nông Công Lâm nghiệp 333 từ một cơ quan quản lý chuyển sang sản xuất kinh doanh trực tiếp nên gặp rất nhiều khó khăn Trước tình hình đó,

Xí nghiệp đã lập dự án đầu tư xây dựng nhà máy đường Dự án này được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt tại Quyết định số 484 ngày 14/05/1994 với công suất 500 tấn mía/ngày và chính thức đi vào hoạt động từ vụ mía 1997 - 1998.

Ngày 19 tháng 4 năm 1997, theo quyết định số 130 của Tổng công ty Cà phê Việt Nam, Xí nghiệp Liên hợp Nông Công Lâm nghiệp 333 được đổi tên thành Công ty Mía đường 333 cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ mới.

Ngày 30 tháng 12 năm 2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ra quyết định

số 3762/QĐ/BNN-ĐMDN về việc chuyển mô hình hoạt động của Công ty Mía đường 333 sang mô hình hoạt động của công ty cổ phần và đổi tên thành Công ty Cổ phần Mía đường 333 Công ty Cổ phần Mía đường 333 chính thức đi vào hoạt động

từ ngày 28/06/2006 theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 40.03.000094 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Đak Lak.

Từ đó đến nay, hoạt động của Công ty ngày càng mở rộng và đạt được nhiều thành tích nổi bật Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều khởi sắc, đồng thời còn duy trì và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động tại địa phương nơi Công

ty hoạt động

Quá trình tăng vốn của Công ty

Thời gian Vốn điều lệ Hình thức tăng vốn

Tháng 6/2006 10 Tỷ đồng Vốn điều lệ khi mới thành lập Công ty

Tháng 9/2009 11,5 tỷ đồng Phát hành 150.000 cổ phiếu để chi trả cổ tức Tháng 3/2010 23 tỷ đồng Phát hành 1.150.000 cổ phiếu cho cổ đônghiện hữu theo tỷ lệ 1:1

1.3. Ngành nghề kinh doanh

Theo Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh và Đăng ký thuế Công ty cổ phần số

6000181156 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Đak Lak cấp lần đầu ngày 28/06/2006

và đăng ký thay đổi lần 2 ngày 30/03/2010, Công ty được phép kinh doanh các lĩnh vực sau:

Trang 26

– Sản xuất, chế biến đường mía;

– Chế biến hạt điều nhân xuất khẩu;

– Sản xuất nước tinh khiết, nước ngọt có gas và không gas;

– Sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh;

– Đại lý mua bán xăng dầu và chất bôi trơn động cơ;

– Trồng mía đường;

– Mua bán hàng vật tư nông nghiệp, nông sản;

– Kinh doanh vận tải hàng hoá bằng ôtô;

– Cho thuê mặt bằng, kho bãi.

2. Cơ cấu tổ chức của Công ty

Cơ cấu tổ chức của Công ty được tổ chức theo mô hình đơn giản và hiệu quả, bao gồm Trụ sở làm việc và các xí nghiệp sản xuất các sản phẩm đường, nhân hạt điều, nước uống tinh khiết, phân vi sinh

Trụ sở Công ty

– Địa chỉ : Thị trấn Ea Knốp, Huyện Ea Kar, Tỉnh Đak Lak

– Điện thoại : (0500) 3829 112 Fax: (0500) 3829 089

– Email : miaduong333@gmail.com

Xưởng sản xuất đường: Thị trấn Ea Knốp, Huyện Ea Kar, Tỉnh Đak Lak

Xưởng sản xuất điều: Thị trấn Ea Knốp, Huyện Ea Kar, Tỉnh Đak Lak

3. Cơ cấu bộ máy quản lý Công ty

Công ty Cổ phần Mía đường 333 được tổ chức và điều hành theo mô hình công ty cổ phần, tuân thủ theo:

– Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa X thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và các văn bản hướng dẫn;

– Luật và các quy định khác có liên quan;

– Điều lệ của Công ty Cổ Phần Mía Đường 333 do Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty chi tiết được thể hiện theo sơ đồ dưới đây, cụ thể:

3.1. Đại hội đồng cổ đông

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất của Công ty, toàn quyền quyết định mọi hoạt động của Công ty và có nhiệm vụ:

– Thông qua, sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công ty;

Trang 27

– Thông qua các báo cáo của hội đồng quản trị về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh;

– Quyết định các phương án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và đầu tư;

– Bầu, bãi nhiệm hội đồng quản trị và ban kiểm soát;

– Các nhiệm vụ khác do Điều lệ Công ty quy định.

– Quyết định cơ cấu tổ chức, bộ máy, quy chế hoạt động của Công ty;

– Bổ nhiệm, bãi nhiệm và giám sát hoạt động của Tổng giám đốc;

– Kiến nghị sửa đổi và bổ sung Điều lệ Công ty;

– Quyết định triệu tập Đại hội đồng cổ đông;

– Các nhiệm vụ khác do Điều lệ Công ty quy định.

Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Mía đường 333 hiện có 05 thành viên bao gồm:

01 chủ tịch và 04 thành viên; nhiệm kỳ là 05 năm

3.3. Ban kiểm soát

Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, thay mặt cổ đông kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành của Công ty nhằm đảm bảo các lợi ích hợp pháp của các cổ đông Ban kiểm soát gồm 03 thành viên với nhiệm kỳ là 05 năm.

về việc thực hiện các quyền, nhiệm vụ được giao Tổng giám đốc có nhiệm vụ: – Tổ chức triển khai thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị, kế hoạch sản xuất kinh doanh;

Trang 28

– Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ Công ty theo đúng Điều lệ Công ty, Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị

– Ký các văn bản, hợp đồng, chứng từ theo sự phân cấp của Điều lệ Công ty; – Báo cáo trước Hội đồng quản trị tình hình hoạt động tài chính, kết quả kinh doanh và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của Công ty trước Hội đồng quản trị;

– Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và của Công ty Giúp việc cho Tổng giám đốc là các Phó Tổng Giám đốc Phó Tổng giám đốc do HĐQT bổ nhiệm theo đề xuất của Tổng giám đốc và được Tổng giám đốc, căn cứ vào khả năng và nhu cầu quản lý, ủy quyền một số quyền hạn nhất định.

b. Phó Tổng Giám đốc - Phụ trách đầu tư vùng nguyên liệu mía

Phó Tổng Giám đốc - Phụ trách đầu tư vùng nguyên liệu mía do Hội đồng quản trị

bổ nhiệm, là người tham mưu cho Tổng giám đốc, được Tổng giám đốc phân trách nhiệm, quyền hạn và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về kết quả quản lý và điều hành các hoạt động tổng hợp xây dựng chiến lược, kế hoạch đầu tư nguyên liệu mía cho sản xuất chế biến đường.

c. Phó Tổng Giám đốc - Phụ trách Sản xuất chế biến điều

Phó Tổng Giám đốc - Phụ trách sản xuất chế biến điều do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, là người tham mưu cho Tổng giám đốc, được Tổng giám đốc phân trách nhiệm, quyền hạn và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về kết quả quản lý và điều hành hoạt động sản xuất chế biến điều xuất khẩu.

3.5. Các phòng chức năng

a. Phòng Tài chánh - Kế toán

Gồm 05 nhân viên, có nhiệm vụ:

– Hạch toán kế toán;

– Quản lý, kiểm soát hoạt động tài chính;

– Thống kê, báo cáo và phân tích hoạt động kinh tế;

– Quản lý hệ thống mạng vi tính.

b. Phòng Tổ chức – Hành chính

Gồm 03 nhân viên, có nhiệm vụ:

– Quản lý lao động, tiền lương, chế độ, chính sách đối với người lao động;

– Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật;

– Phụ trách dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho người lao động;

– Phụ trách công tác đào tạo;

Trang 29

– Quản lý hành chính, văn thư;

– Quản lý tài sản, trang thiết bị, dụng cụ văn phòng

c. Phòng Kế hoạch – kinh doanh

Gồm 06 nhân viên, có nhiệm vụ:

– Tổng hợp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Theo dõi, hỗ trợ các đơn vị trong công tác triển khai thực hiện kế hoạch Tổng hợp xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh của Công ty;

– Theo dõi, tổng hợp thông tin, đánh giá, điều độ sản xuất;

– Cung ứng nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, vật tư, thiết bị phục vụ sửa chữa, lắp đặt dự án đầu tư (mua trong nước);

– Thu thập, đánh giá thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra;

– Quản lý hệ thống kho tàng;

– Quản lý cửa hàng kinh doanh xăng dầu và xưởng sản xuất nước lọc.

d. Phòng Kiểm nghiệm :

Gồm 22 nhân viên, có nhiệm vụ:

– Giám sát quá trình sản xuất của các phân xưởng;

– Kiểm tra chất lượng sản phẩm phù hợp với hệ thống quản lý chất lượng; nghiệm thu nguyên, vật liệu đầu vào cho sản xuất;

– Phân tích và cung cấp kết quả cho các bộ phận trong quá trình sản xuất đường

để sản phẩm sản xuất ra đảm bảo tiêu chuẩn đã đăng ký.

e. Phòng Kỹ Thuật :

Gồm 05 nhân viên, có nhiệm vụ:

– Quản lý thiết lập, lưu trữ hồ sơ kỹ thuật thiết bị toàn Công ty, kiểm soát tình hình sử dụng của các đơn vị, quản lý hồ sơ các sự cố, tham mưu trong sử dụng thiết bị và giải quyết sự cố;

– Xây dựng kế hoạch và tổng hợp quyết toán công tác sửa chữa định kỳ, sửa chữa lớn;

– Quản lý toàn bộ mọi hoạt động về chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực kỹ thuật.

Trang 30

– Tổ chức thu mua mía, điều tiết đốn chặt và điều hành vận chuyển mía về cho nhà máy;

– Thực hiện công tác khuyến nông, kỹ thuật nông nghiệp, khảo nghiệm và nhân giống mía.

3.6. Các phân xưởng sản xuất

a. Phân xưởng Đường

Phân xưởng Đường nằm đối diện với trụ sở Công ty hiện có 200 cán bộ, công nhân viên Nhiệm vụ chính của phân xưởng:

– Sản xuất chế biến đường RS từ nguyên liệu mía;

– Quản lý và tổ chức xưởng sản xuất phân vi sinh;

– Tổ chức điều hành sản xuất theo kế hoạch đã được phê duyệt;

– Kiểm soát thực hiện các quy trình, quy phạm về thiết bị, công nghệ;

– Kiểm soát quá trình sản xuất sản phẩm theo tiêu chuẩn chất lượng quy định; – Quản lý thiết bị, nhà xưởng, vật kiến trúc thuộc phạm vi trách nhiệm kể cả hệ thống xử lý nước thải.

b. Phân xưởng Điều

Phân xưởng Điều cũng nằm tại Thị trấn Ea Knốp nhưng cách trụ sở Công ty khoảng 2km Phân xưởng khoảng 149 cán bộ, công nhân viên với nhiệm vụ chính là sản xuất, chế biến nhân hạt điều xuất khẩu.

Trang 31

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG 333

Trang 32

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

TỔNG GIÁM ĐỐC

Phòng Kiểm Nghiệm

Phó Tổng giám đốc Phụ trách Nguyên liệu

4.

Cơ cấu cổ đông, danh sách cổ đông nắm giữ từ 5% vốn cổ phần của Công ty

và cổ đông sáng lập

4.1. Cơ cấu vốn cổ phần trước khi chào bán

Tính đến thời điểm ngày 03/06/2010, cơ cấu vốn cổ phần của Công ty như sau:

Trang 33

STT Cổ đông Số Cổ phần Tỷ lệ sở hữu (%)

Tổng cộng 2.300.000 100

Nguồn: Công ty cổ phần mía đường 333

4.2. Danh sách cổ đông nắm giữ từ trên 5% vốn cổ phần của Công ty

Tính đến thời điểm ngày 03/06/2010, danh sách cổ đông nắm giữ từ trên 5% vốn

cổ phần của Công ty như sau:

Tỷ lệ (%)

1 Công ty Cổ phần

Đường Ninh Hòa

Ninh Xuân, Ninh Hòa, Khánh Hòa 3703000188 895.620 38,94

2 Ông Phan Xuân

Thuỷ

Thị trấn Ea Knốp, Huyện Ea Kar, Đak Lak

240334100 345.000 15,00

3 Tổng công ty Cà

phê Việt Nam

240 Nguyễn Đình Chính, P.11, Q.Phú Nhuận, TP HCM

4106000354 261.510 11,37

4 Trần Thị Thu

Thúy

516 Nguyễn Thị Định, TP Buôn Mê Thuột, Đak Lak

TT Tên cổ đông sáng lập Địa chỉ Số cổ phần

Trang 34

Công Minh

Công ty Cổ phần Mía đường 333 đã đi vào hoạt động từ ngày 28/06/2006 và căn cứ vào quy định tại Điều 84, Khoản 5, Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều 18, Điều lệ

Công ty: “Trong vòng ba năm, kể từ ngày thành lập, các cổ đông sáng lập (các

thành viên Hội đồng quản trị đầu tiên) phải cùng nhau giữ ít nhất 20% vốn điều lệ.

Cổ phần của Cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là

Cổ đông của Công ty khi được Đại hội đồng cổ đông phê chuẩn Hết thời hạn 03 năm kể từ ngày thành lập Công ty, các hạn chế vừa nêu được bãi bỏ” và thời hạn

hiệu lực của việc hạn chế chuyển nhượng đối với cổ đông sáng lập là đến ngày 28/06/2009 Như vậy, đến thời điểm hiện nay mọi hạn chế chuyển nhượng đối với

cổ đông sáng lập đã hết hiệu lực.

5 Hoạt động kinh doanh cuả công ty mía đường 333

5.1.Sản lượng sản phẩm/giá trị dịch vụ qua các năm

5.1.1.Các nhóm sản phẩm của Công ty

Các sản phẩm của Công ty bao gồm:

– Đường RS (đường tinh luyện tiêu chuẩn) đóng trong túi PE hoặc PP loại 0,5

kg, 1 kg, 50 kg Sản phẩm đường của Công ty được sản xuất theo tiêu chuẩn Việt Nam, được sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc sử dụng làm nguyên vật liệu sản xuất các mặt hàng khác như bánh, kẹo… Sản phẩm đường hiện vẫn là sản phẩm chủ lực của Công ty;

– Điều nhân xuất khẩu đóng trong thùng giấy trọng lượng tịnh 22,68 kg/thùng (một thùng giấy gồm 02 thùng thiếc);

– Mật rỉ - một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất đường Mật rỉ dùng làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng khác như bột ngọt, cồn…

– Nước uống tinh khiết nhãn hiệu Vina 333 đóng chai loại 0,5 lít, 1,5 lít và đóng bình loại 21 lít;

– Phân vi sinh bao gồm phân Komix 1 dùng để bón lót cho mía và Komix 2 dùng để bón thúc cho mía;

– Trong quá trình sản xuất cũng tạo ra một số sản phẩm phụ như bã mía, bùn,

vỏ hạt điều, dầu điều… đều được công ty tận dụng phục vụ cho quá trình sản xuất như đốt để chạy máy phát điện, làm nguyên liệu sản xuất phân vi sinh… hoặc bán ra bên ngoài.

34

Trang 35

– Bên cạnh đó, Công ty còn hoạt động thương mại đơn thuần một số mặt hàng như xăng dầu, nhớt, phân vô cơ nhằm tận dụng hết lợi thế vị trí địa lý và quan

hệ trong kinh doanh của Công ty.

5.1.2.Sản lượng sản phẩm dịch vụ qua các năm

Sản lượng của một số sản phẩm của Công ty đạt được trong thời gian qua như sau:

TT Sản phẩm, dịch vụ Đơn vị

tính Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009

Quý 1/ 2010

Nguồn: Công ty cổ phần mía đường 333

5.1.3.Tỷ lệ doanh thu, lợi nhuận của các sản phẩm qua các năm

Tỷ lệ doanh thu của từng hoạt động trong năm 2007, 2008, 2009 và Quý 1 năm

Giá trị

%/Tổng doanh thu

Giá trị

%/Tổng doanh thu

Giá trị

%/Tổng doanh thu

Trang 36

từ dịch vụ

khác

Tổng cộng 118.538 100 139.952 100 158.256 100 101.469 100

Nguồn: Công ty cổ phần mía đường 333

Mặt hàng chủ lực của Công ty là các sản phẩm đường RS (đường tinh luyện tiêu chuẩn) và mật rỉ Tỷ trọng doanh thu của các mặt hàng này luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu hàng năm của Công ty (> 80% tổng doanh thu).

Tỷ lệ lợi nhuận gộp của từng hoạt động trong năm 2007, 2008, 2009 và của Quý 1 năm 2010 như sau:

Đơn vị tính lợi nhuận: Triệu đồng

TT Sản phẩm

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Quý 1/2010 Giá trị

%/Tổng Lợi nhuận

Giá trị

%/Tổng Lợi nhuận

Giá trị

%/Tổng Lợi nhuận

Giá trị

%/Tổng Lợi nhuận

5.2.1.Chủng loại và nhà cung cấp nguyên vật liệu

Do Công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy, mỗi một lĩnh vực sản xuất kinh doanh yêu cầu các chủng loại nguyên vật liệu khác nhau

– Đối với sản xuất đường, nguyên liệu chính là cây mía, bên cạnh đó là các hóa chất như lưu huỳnh, vôi cục, muối ăn, axit photphoric… và bao PE, PP dùng

để đóng gói.

– Đối với sản xuất nhân hạt điều xuất khẩu, nguyên liệu chính là hạt điều thô.

36

Trang 37

– Đối với sản xuất nước tinh khiết đóng chai, nguyên liệu chính là nước tự nhiên.

– Đối với sản xuất phân vi sinh, nguyên liệu chính là từ phế phẩm của quá trình sản xuất đường.

– Đối với kinh doanh xăng dầu và nhớt, nguồn hàng được mua lại của các nhà cung cấp trong khu vực.

Phần lớn nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh của Công ty là sản phẩm nông nghiệp: mía cây, hạt điều thô… Nguồn nguyên vật liệu của Công ty hoàn toàn

là mua trong nước hoặc thông qua các đại lý thu mua

Danh sách một số nhà cung cấp nguyên vật liệu chính

T

T Sản phẩm Nhà cung cấp

1 Mía nguyên liệu Nông dân trồng mía tại Đak Lak

2 Điều nguyên liệu

Doanh nghiệp Trung Dũng (Đak Lak) Công ty TNHH Mỹ Lệ (Bình Phước) Doanh nghiệp tư nhân Mai Lệ (Bình Dương) Doanh nghiệp tư nhân Đại Phước Đức (Bình Dương)

3 Nhiên liệu Công ty TNHH Nhân Đạt (Khánh Hoà)

4 Hoá chất

Công ty Nam Quốc Minh (TP.HCM) Công ty TNHH TM Hưng Phát Thành (TP.HCM) Công ty TNHH Hồng Phương (Khánh Hoà) Công ty TNHH TM DVSX TTC (Khánh Hoà)

5 Bao bì

Công ty Bao bì Việt Phú (Quảng Ngãi) Công ty TNHH Bao bì Thành Nghĩa (TP.HCM) Công ty TNHH SXTM Thành Thành Công (Tiền Giang)

Nguồn: CTCP Mía đường 333

5.2.2.Sự ổn định của nguồn cung cấp nguyên vật liệu

Đối với mía nguyên liệu

Mía là một loại nguyên liệu được dùng chủ yếu để sản xuất đường – mặt hàng chủ lực của Công ty Với công suất hiện nay là 800 tấn mía/ngày, bình quân mỗi vụ Công ty tiêu thụ hết khoảng 126.000 tấn mía nguyên liệu Ngay từ khi mới thành lập, Công ty đã xác định phải tập trung phát triển vùng trồng mía nguyên liệu riêng

để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho Công ty Hiện tại, Công ty đã phát triển được diện tích trồng mía phục vụ cho nhà máy là 5.000 ha Vùng diện tích trồng mía

Trang 38

nguyên liệu của Công ty cách Công ty trong bán kính khoảng 20 km Như vậy, với diện tích trồng mía Công ty phát triển được hiện đã đủ đáp ứng cho công suất hiện tại của Nhà máy

Vùng nguyên liệu mía của Công ty còn là một trong những vùng mía trong cả nước

có chất lượng tốt, cự ly vận chuyển gần (khoảng 20 km) và có khả năng mở rộng diện tích do có quỹ đất phong phú Hiện tại diện tích trồng mía tại Huyện Ea Kar

và Huyện M’Drak khoảng 7.000 ha Trong những năm qua, ngoài việc đầu tư vùng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, chế biến đường của Nhà máy, Công ty còn đầu

tư thêm cho Công ty Cổ phần Mía đường Đak Nông (Tỉnh Đak Nông) và Công ty

Cổ phần Đường Ninh Hoà (Tỉnh Khánh Hoà) mỗi nhà máy 200 ha/năm Công ty đang có lợi thế rất lớn về vùng nguyên liệu mía ổn định.

Đối với hạt điều nguyên liệu

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng 400 nghìn ha điều nhưng do ngành chế biến điều liên tục tăng nên diện tích này mới chỉ đáp ứng được 60% hạt điều nguyên liệu 40% hạt điều nguyên liệu đang được nhập khẩu từ các nước như: Bờ biển Ngà, Indonexia… Tuy nhiên, điều nguyên liệu hiện nay của nhà máy là hoàn toàn mua trong nước Công ty mua lại điều nguyên liệu của các đầu mối thu mua tại các Tỉnh Bình Dương, Bình Phước… Điều nguyên liệu ở Đak Lak

ít và chất lượng không cao chủ yếu dùng để cung cấp cho các cơ sở chế biến tư nhân trong vùng Công ty chưa quy hoạch vùng nguyên liệu điều riêng để phục vụ sản xuất của Nhà máy Vì vậy, tính ổn định đối với việc cung cấp điều nguyên liệu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy là chưa cao.

Đối với các nguyên liệu khác

Đối với các nguyên vật liệu khác như vôi, hóa chất, bao bì, xăng dầu,…, Công ty cũng đã tạo dựng được mối quan hệ tốt và lâu dài với các đơn vị cung cấp nguyên liệu Công ty ký kết các hợp đồng hợp tác lâu dài hoặc các hợp đồng dài hạn cho cả mùa vụ nên đảm bảo được tính ổn định về giá cả, số lượng và nguồn cung cấp.

5.2.3.Các kế hoạch và biện pháp chủ động nguyên vật liệu chính

Thời gian qua, Công ty không ngừng nghiên cứu và sử dụng nhiều biện pháp để duy trì sự ổn định và phát triển vùng mía nguyên liệu, bao gồm:

Thứ nhất, Công ty hỗ trợ người nông dân trồng mía bằng nhiều hình thức khác

nhau Nguồn vốn của người nông dân dùng để đầu tư thường rất hạn hẹp, thu nhập của người nông dân chủ yếu dựa vào nông sản Do đó, để đảm bảo cho người nông dân yên tâm trồng mía, Công ty phải hỗ trợ người nông dân về vốn, giống cây và phân bón đồng thời phải bao tiêu sản phẩm cho người nông dân, đảm bảo được đời sống cho người nông dân Hiện nay, suất đầu tư của Công ty là 16.000.000 đồng/ha mía trồng mới và 8.000.000 đồng/ha chăm sóc.

Thứ hai, Công ty thường xuyên áp dụng những giống mía mới cho năng suất cao

vào sản xuất Công ty thiết lập mối quan hệ với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía đường Bến Cát, Trung tâm Giống Quảng Ngãi để thử nghiệm, tuyển chọn

38

Trang 39

và nhân giống mía mới có năng suất và chất lượng cao nhằm cải thiện tình trạng giống mía cũ Nhờ vậy năng suất mía hiện nay đạt từ 53 – 55 tấn/ha.

Thứ ba, công tác khuyến nông luôn được chú trọng Đây là một biện pháp đem lại

lợi ích thiết thực cho cả Công ty và người nông dân trồng mía Công ty thường xuyên giới thiệu giống mía tốt phù hợp với thổ nhưỡng, cho năng suất cao đã được các Trung tâm nghiên cứu kiểm nghiệm tới người nông dân Công ty thường xuyên

tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn cho nông dân kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mía nhằm đạt được năng suất cao nhất.

Thứ tư, quy hoạch vùng trồng mía trong dài hạn Để đảm bảo nguyên liệu mía cho

dự án nâng cấp Nhà máy đường từ 800 tấn mía/ngày hiện nay lên 2.500 tấn mía/ngày, Công ty đã lập dự án phát triển vùng nguyên liệu và đã được Tỉnh Đak Lak phê duyệt Quy hoạch vùng nguyên liệu mía cho Công ty Cổ phần Mía đường

333 tại Quyết định số 3911/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh Đak Lak với diện tích được quy hoạch là 7 ha.

Đối với hạt điều nguyên liệu, hiện tại Công ty tăng cường xây dựng đội ngũ thu mua nguyên liệu nằm vùng tại các vùng nguyên liệu Nhiệm vụ chính là thu mua nguyên liệu, đảm bảo đủ nguyên liệu sản xuất cho Công ty.

5.2.4.Ảnh hưởng của nguyên vật liệu tới doanh thu và lợi nhuận

Nguyên liệu mía chiếm 72% trên tổng chi phí giá thành sản xuất đường RS và hạt điều nguyên liệu chiếm 74% trên tổng chi phí giá thành sản xuất nhân hạt điều xuất khẩu Đây là hai mặt hàng có tỷ trọng doanh thu lớn nhất của Công ty (chiếm 87% tổng doanh thu của Công ty) Do đó, doanh thu và lợi nhuận của Công ty là khá nhạy cảm với biến động của giá mía nguyên liệu và giá hạt điều nguyên liệu Thời gian vừa qua, do nguồn cung nguyên vật liệu không đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, vì vậy, giá của hai loại nguyên liệu này tăng cao nên đã làm gia tăng chi phí sản xuất của Công ty Thời gian qua, giá nhân hạt điều xuất khẩu giảm nên đã ảnh hưởng đến doanh thu và giảm lợi nhuận của lĩnh vực sản xuất hạt điều Bù lại, giá đường trên thế giới tăng cao tác động tới giá đường trong nước từ đó làm gia tăng doanh thu từ đường của Công ty, do đó, Công ty vẫn đảm bảo được lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh

Giá trị

%/Tổng Doanh thu

Giá trị

%/Tổng Doanh thu

Giá trị

%/Tổng Doanh thu

Trang 40

TT Chi phí

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Quý 1/2010 Giá trị

%/Tổng Doanh thu

Giá trị

%/Tổng Doanh thu

Giá trị

%/Tổng Doanh thu

Giá trị

%/Tổng Doanh thu

Nguồn: BCTC kiểm toán năm 2007, 2008, 2009 và BCTC Q1 năm 2010 của Công ty

Trong những năm qua, Công ty không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, các khoản mục chi phí của Công ty cũng tăng theo Nhìn chung, các khoản mục chi phí của Công ty tăng qua các năm Tuy nhiên, những bất ổn kinh tế

vĩ mô cuối năm 2007 ở Việt Nam và khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả công tác quản lý chi phí của Công ty

Năm 2008, tỷ trọng tổng chi phí của Công ty trên doanh thu đạt 94,73% tăng tuyệt đối là 5,53% so với năm 2007 Nguyên nhân chính của sự gia tăng này là do những biến động của nền kinh tế Năm 2008, chi phí các nguyên vật liệu đầu vào như mía nguyên liệu, hạt điều nguyên liệu, chi phí nhân công, chi phí lãi vay ngân hàng … tăng cao làm gia tăng tỷ trọng chi phí trên tổng doanh thu Năm 2009, nền kinh tế dần đi vào ổn định, giá của các nguyên vật liệu đầu vào giảm giúp cho Công ty giảm được tỷ trọng tổng chi phí trên doanh thu Tỷ trọng tổng chi phí trên doanh thu của công ty hiện đang được kiểm soát ở mức trung bình so với các công ty khác trong ngành Năm 2009, giá vốn hàng bán chỉ còn 82,53% so với tổng doanh thu và đến Quý 1 năm 2010, giá vốn hàng bán tiếp tục được kiểm soát một cách hiệu quả khi tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu chỉ còn 74,63%.

Thời gian tới, Công ty tiếp tục đẩy mạnh việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Một số biện pháp Công ty sẽ thực hiện:

Thứ nhất, xây dựng và phát triển vùng trồng mía nguyên liệu ổn định trên cơ sở

tăng năng suất và chất lượng mía.

Thứ hai, chú trọng công tác kiểm soát chi phí Quá trình kiểm soát chi phí được

tiến hành ngay từ khâu thu mua nguyên vật liệu đến khâu bán hàng Đặc biệt, trong quá trình sản xuất, để giảm bớt mức tiêu hao nguyên liệu, Công ty thiết lập các định mức kinh tế kỹ thuật đối với từng sản phẩm Các định mức kinh tế kỹ thuật được bộ phận thống kê theo dõi định kỳ, báo cáo và phân tích giúp Công ty kiểm soát chi phí tốt hơn trong các kỳ tiếp theo

Thứ ba, hợp tác với Công ty Tư vấn Đầu tư và Dịch vụ kỹ thuật Mía đường thuộc

Tổng công ty Mía đường 2, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội để đào tạo, bồi dưỡng lực lượng lao động chủ chốt nhằm nâng cao năng suất lao động và năng lực quản lý.

40

Ngày đăng: 27/06/2014, 04:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình quản trị kinh doanh tổng hợp – Trung tâm đào tạo Quản trị kinh doanh tổng hợp –1997 Khác
2. Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp – Trung tâm đào tạo 4.kinh doanh tổng hợp –1999 Khác
3. Giáo trình Môi trường kinh doanh và đạo đức kinh doanh – Trung tâm đào tạo Quản trị kinh doanh tổng hợp –1997 Khác
4. Marketing căn bản (PhilipKoler) – NXB Thống kê 1994 Khác
5. Những vấn đề về hiệu quả kinh tế trong các xí nghiệp công nghiệp: Lao động 1984 Khác
6. Hiệu quả kinh tế trong các doanh nghiệp công nghiệp/Nguyễn Sỹ Thịnh, Lê Sỹ Thiệp, Nguyễn Kế Tuấn: NXB Thống kê 1985 Khác
7. Thời báo kinh tế, công báo các số năm 1998, 1999, 2000 Khác
8. Các tài liệu của Công ty cổ phần mía đường 333 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w