1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài " Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á năm 1997 " pdf

30 932 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á năm 1997
Tác giả Nhóm Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997
Người hướng dẫn Trần Bá Trí
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 1997
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 589,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Chuyên đề chỉ giới thiệu nguyên nhân, diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan và một số nước châu Á năm 1997 và những bài học kinh nghiệm đối với

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn : Trần Bá Trí

Sinh viên thực hiện :



Trang 2

- Tình hình kinh tế của một số quốc gia Châu Á trong cuộc khủng hoảng

- Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến một số lĩnh vực kinh tế của Việt Nam

- Bài học cho Việt Nam từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á

2 Phạm vi nghiên cứu

Chuyên đề chỉ giới thiệu nguyên nhân, diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan và một số nước châu Á năm 1997 và những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH TÀI CHÌNH TIỀN TỆ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG NĂM 1997

1 1 Hình ảnh của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997–1999 ở một số nước Châu Á

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á nổ ra năm 1997 trước hết xuất phát

từ Thái Lan Ngày 2.7.1997, Ngân hàng trung ương Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, chấm dứt một thời kỳ dài duy trì tỷ giá hối đoái gần như cố định so với đồng USD Tỷ giá hối đoái Baht/USD: năm 1991 là 25,28, năm 1992: 25,19, năm 1996: 25,61 (Bảng 2.1)

Ngay khi đồng Baht bị tuyên bố thả nổi, nó đã mất giá 20% Tháng 1.1998 tỷ giá hối đoái đạt mức 53 Baht/USD

Ngày 11.7.1997, Philippines tuyên bố thả nổi đồng Peso

Ngày 11.8.1997, Malaysia tuyên bố không can thiệp vào thị trường hối đoái (thực chất là thả nổi đồng Ringgit)

Ngày 14.8.1997, Indonesia tuyên bố thả nổi đồng Rupiah

Năm 1996, tỷ giá bình quân đồng Won của Hàn Quốc là 884,2 Won/USD thì: ngày 30.9.1997 là 914,8 Won/USD, ngày 14.12.1997 đồng Won được thả nổi

Có thể nói sự mất giá nhanh với quy mô chưa từng có của những đồng tiền Thái Lan, Phillippines, Malaysia, Indonesia và Hàn Quốc là biểu hiện dễ nhận thấy của sự bùng nổ khủng hoảng kinh tế-tài chính ở các nước này

Bảng 1.1 Tỷ giá hối đoái bình quân năm 1996 và 1997

Nước/ Tỷ giá bình quân 1996 1997

Nguồn: ASEAN University Network(2000), Economic Crisis in Southeast Asia and

Korea, Tradition and Modernity Publisher, Seoul, Korea

Trang 4

Biểu hiện bên ngoài thứ hai của tình trạng khủng hoảng tài chính tiền tệ là sự thua lỗ và phá sản với tốc độ và quy mô thất thường của hệ thống ngân hàng, tài chính quốc gia, (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Tình trạng thua lỗ và phá sản của hệ thống ngân hàng, tài chính

Năm tài chính từ 1.4.1997 đến 31.3.1998 Nước Năm tài

Số ngân hàng bị quốc hữu hóa/

Chính phủ giám sát

Số ngân hàng bị sát nhập

Số ngân hàng bị bán cho công ty nước ngoài

Tổng số ngân hàng

Nguồn: Fusion Confusion, the Economist, 4.4.1998, P.87

Biểu hiện bên ngoài thứ ba của tình trạng khủng hoảng kinh tế-tài chính là sự thua lỗ và phá sản với quy mô và tốc độ bất thường của doanh nghiệp (Bảng 1.3)

Bảng 1.3 Tình trạng thua lỗ và phá sản của các doanh nghiệp

Nước Thời gian Số doanh nghiệp phá sản

Thái Lan Tháng 1.1998 đến

5.1998

3.961 doanh nghiệp ngừng hoạt động, trong

đó có 592 phá sản Malaysia Năm 1996

Năm 1997

489 doanh nghiệp phá sản 6.583 doanh nghiệp phá sản (bằng 13 lần so với 1996)

Indonesia Năm 1998 Khoảng 80% doanh nghiệp ngừng hoạt

động Hàn Quốc Năm 1997

Năm 1998

14.000 doanh nghiệp phá sản 53.000 doanh nghiệp phá sản (gấp 3,8 lần năm 1997)

Trang 5

Bảng 1.4 Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp khi khủng hoảng kinh tế - tài chính

Tăng trưởng kinh tế (%) Tỷ lệ thất nghiệp (%)

1996 1997 1998 1996 1997 1998 Thái Lan 6,7 -0,4 -8,3

Malaysia 8,2 7,0 2,0

Indonesia 7,8 4,6 -13,7

Philippines 5,8 5,2 -0,5 9,5 10,4 3,3 Hàn Quốc 7,1 5,5 -5,8 2,3 2,5 8,0 Nguồn: ASEAN University Network(2000), Economic Crisis in Southeast Asia and Korea, Tradition and Modernity Publisher, Seoul, Korea, tr 21- 25 và Nguyễn Thiện

Nhân (2002) “Khủng hoảng kinh tế- tài chính ở châu Á 1997-1999”, NXB Đại học

Quốc gia TP.HCM

Năm 1996, tổng thu nhập quốc gia của Hàn Quốc là 528 tỷ USD, năm 1998 giảm chỉ còn 317 tỷ USD, giảm 39%, thu nhập bình quân đầu người giảm từ 11.380 USD còn 6.823 USD, [6, tr61]

Về mặt kinh tế, khủng hoảng 1997-1999 ở 4 nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia

và Hàn Quốc có đặc điểm giống nhau về xu hướng diễn biến của năm tham số:

1 Tỷ giá hối đoái tăng mạnh, ngoài tầm kiểm soát

2 Phá sản hàng loạt các ngân hàng, công tài chính

3 Phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp

4 Thất nghiệp tăng mạnh

5 Tăng trưởng kinh tế tăng mạnh

Trang 6

1.2 Mô hình “Các nguy cư khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính”

Sơ đồ 1.1 Mô hình “Các nguy cư khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng

kinh tế - tài chính”

Nguồn: Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 12 năm 2002

Qua đó ta thấy, khủng hoảng chỉ có thể nổ ra khi bên trong nền kinh tế đã tích lũy bốn nguy cơ khủng hoảng là:

- Sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp

- Sự kém hiệu quả của các ngân hàng, công ty tài chính

- Sự lên giá của đồng nội tệ

Trang 7

lớn, khả năng giữ tỷ giá hối đoái cố định sẽ ngày càng suy yếu và việc phải thả nổi đồng tiền nội địa-tức tăng tỷ giá hối đoái chỉ là vấn đề thời gian

Khi một số nhà đầu tư nước ngoài tiên đoán chính phủ nước sở tại sắp hết dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái cố định thì họ sẽ bán tài sản họ đã đầu tư, đổi lấy ngoại tệ mang ra nước ngoài Lúc đầu, chính phủ các nước thường bán dự trữ ngoại tệ

để duy trì tỷ giá cũ, song đến một lúc nào đó, không còn khả năng bán nữa thì sẽ thả nổi

tỷ giá hối đoái Lúc này các nhà đầu tư nước ngoài chưa bán tài sản (sổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu) thì sẽ tìm cách bán thật nhan và đổi sang ngoại tệ để tối thiểu hóa thiệt hại cho mình Áp lực này càng làm cho tỷ giá hối đoái tăng vọt Đó là vòng xoáy khủng hoảng thứ 1, tác động rất nhanh tới tỷ giá hối đoái (Sơ đồ 1.1)

Và việc chỉ vài ngân hàng phá sản, sẽ gây tâm trạng lo âu cho người dân gửi tiền tiết kiệm ở các ngân hàng khác, họ sẽ lại chạy đi rút tiền tiết kiệm khỏi ngân hàng, dẫn đến việc cả các ngân hàng làm ăn hiệu quả cũng lâm vào mất khả năng chi trả, phá sản

Đó là vòng xoáy khủng hoảng thứ 3, tác động nhanh (Sơ đồ 1.1)

Khi tỷ giá hỗi đoái tăng mạnh dư nợ ngoại tệ của các doanh nghiệp tính bằng tiền nội tệ sẽ tăng vọt, cùng với việc các ngân hàng, công ty tài chính phá sản sẽ không

có khả năng cung ứng tín dụng cho các doanh nghiệp hoạt động nữa Các doanh nghiệp nào hoạt động vốn đã kém hiệu quả, thì giờ đây sẽ không có đủ vốn để kinh doanh, càng sớm bị đảy tới thua lỗ và phá sản Khi doanh nghiệp thua lỗ thì các ngân hàng, công ty tài chính không đòi được nợ, sẽ càng phá sản nhanh hơn Đó là vòng xoáy khủng hoảng thứ 4, tác động chậm hơn các vòng xoáy khủng hoảng trước (Sơ đồ 1.1)

Khi một nước bị khủng hoảng dẫn tới hậu quả là tỷ giá hối đoái của nước đó tăng mạnh, thì tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu nước đó tăng, làm cho xuất khẩu của các nước có tỷ giá ổn định bị ảnh hưởng xấu Điều này làm cho cán cân thương mại của nước này bị thâm hụt, khả năng thanh toán quốc gia ngày càng suy yếu Đây là áp lực buộc các nước này phải phá giá đồng nội tệ để đẩy mạnh xuất khẩu, phòng ngừa khả năng mất thanh toán (Sơ đồ 1.1) Có thể gọi đây là tác động dây truyền của việc phá giá một nước tới các nước khác (Sơ đồ 1.1)

Tóm lại, từ mô hình “Các nguy cư khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính”, chúng ta nhận thấy khủng hoảng kinh tế tài chính “kiểu châu

Á 1997-1999” đã nổ ra với sự kiện bên trong là sự tích lũy 4 nguy cơ khủng hoảng, với

Trang 8

sự xuất hiện và tác động lẫn nhau của 4 vòng xoáy khủng hoảng) và dưới tác động dây chuyền của phá giá nội tệ (Sơ đồ 1.1)

Trình tự xuất hiện của các vòng xoáy khủng hoảng ở mỗi nước, tiến trình khủng hoảng ở mỗi nước có khác nhau, tùy theo hoàn cảnh cụ thể (mức độ tích lũy các nguy

cơ khủng hoảng) và chính sách đối phó của mỗi nước

Trang 9

CHƯƠNG 2 TÓM TẮT DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Ở MỘT

SỐ NƯỚC CHÂU Á 2.1 Thái Lan –Ngòi nổ của cuộc khủng hoảng

2.1.1 Tình hình kinh tế Thái Lan trước khủng hoảng

Những năm trước năm khủng hoảng kinh tế-tài chính nền kinh tế của Thái Lan phát triển rất tích cực: GDP tăng cao liên tục, xuất khẩu phát triển, lạm phát thấp, ngân sách chính phủ luôn dư thừa và cán cân thanh toán có thể kiểm soát được, đầu tư tăng vọt và tình trạng thất nghiệp hầu như không có

 Các doanh nghiệp hoạt động ngày càng kém hiệu quả

Tăng trưởng GDP ở mức cao, kéo dài nhiều thập kỷ, cộng với lãi suất tiết kiệm trong nước cao (bình quân 16,3% năm, trong khi ở Mỹ là 7,6), và tỉ giá hối đoái gần như cố định đã tạo nên một môi trường kinh doanh rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt đầu tư tài chính, cho vay ngắn hạn và tín dụng thương mại Như vậy, các doanh nghiệp trong nước nếu vay vốn trực tiếp từ các ngân hàng, công ty nước ngoài như Mỹ thì chỉ chịu lãi suất bằng ½ lãi suất cho vay trong nước Nếu các doanh nghiệp tận dụng khả năng sử dụng vốn bên ngoài không quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn vay thì hiệu quả kinh tế sẽ giảm, dù tổng sản lượng có thể tăng

Một điểm đặc biệt ở Thái Lan là trong giai đoạn 1991-1996, đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Thái Lan chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với đầu tư tài chính gián tiếp và sử dụng vốn vay ngắn hạn nước ngoài Tổng đầu tư trực tiếp thwoif kỳ này là 11,701 tỷ USD, tổng đầu tư trực tiếp của Thái Lan ra nước ngoài là 2,857 tỉ USD, do vậy tổng đầu tư trực tiếp thuần là 8,822 tỉ USD Trong khi đó, tổng đầu tư tài chính thuần (cổ phiếu, trái phiếu) là 16,4 tỉ USD, và tổng vay ngắn hạn thuần là 60,04 tỉ USD Như vậy, trong tổng số vốn nước ngoài thuần đã đầu tư vào Thái Lan thời kỳ 1991-1996 là 85,293 tỉ USD thì đầu tư trực tiếp chỉ chiếm 10,36% (8,844 tỉ USD), đầu tư gián tiếp 19,23% (16,404 tỉ USD) và tín dụng, vay ngắn hạn tới 70,4% (60,045 tỉ USD)

Việc sử dụng đến gần 90% nguồn vốn nước ngoài ở dạng đầu tư tài chính và tín dụng ngắn hạn sẽ tạo áp lực tài chính rất lớn lên các công ty, vì phải trả nợ thường xuyên và bằng ngoại tệ (với tín dụng ngắn hạn) Hậu quả, là nếu doanh nghiệp kinh doanh không tốt thì hiệu quả ản xuất kinh doanh của các công ty sẽ thấp

Trang 10

Thế nhưng , tỉ suất thu hồi hay tỉ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) bình quân của các doanh nghiệp đã giảm từ 8%/năm vào năm 1991 xuống chỉ còn 1%/năm năm vào

1996 Trong một nền kinh tế mà lãi xuất cho vay là 16,3%/năm còn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là 1%/năm thì rõ ràng là đang tích lũy nguy cơ khủng hoảng

 Ngân hàng hoạt động ngày càng kém hiệu quả

Trước nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và do có phần buông lỏng vai trò giám sát hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đi vay nên các ngân hàng và công ty tài chính của Thái Lan đã rất tích cực vay nợ nước ngoài để tài trợ cho doanh nghiệp trong nước

Tổng nợ nước ngoài so với tổng tài sản nước ngoài mà hệ thống ngân hàng có tăng từ 171% (1991) lên 694% (1996) Đồng thời ROA của hệ thống ngân hàng Thái Lan chỉ còn 0,99%/năm Rõ ràng Thái Lan đang tích lũy nguy cơ khủng hoảng “ phá sản Ngân hàng”

Trang 11

Bảng 2.1 Số liệu kinh tế Thái Lan (diện tích 514.000 km 2 , dân số 61 triệu

người)

Nguồn : Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 12 năm 2002

 Quốc gia tiến đến bờ vực mất khả năng thanh toán

Trong suốt các năm 1991-1996 , cán cân thương mại của Thái Lan luôn bị thâm hụt, tổng cộng là 35,26 tỉ USD Thâm hụt tài khoản vãng lai năm 1996 tới 14,7 tỉ USD Một lí do của tình trạng này là do xuất khẩu bị kìm hãm, nhập khẩu được khuyến khích

do tỉ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định (25baht/USD), lạm phát trong nước cao hơn so với ở Mỹ ( 5% so với 3%), đồng baht bị định giá cao hơn so với đồng USD Để

bù đắp thâm hụt thương mại và để có vốn đầu tư bình quân 40%GDP mỗi năm, con

Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 Tăng trưởng (%)

GDP (a)

7,0 7,1 8,2 8,6 8,7 6,7 -0,4 -8,3 1

Baht/USD 25,28 25,32 25,54 25,09 25,19 25,61 47,25 41,3

7 37,11

Lạm phát (%) 5,7 4,1 4,6 5,1 5,8 4,8 5,6 8,1 5,02 Xuất khẩu (tỷ USD) 28,23 32,1 36,4 44,47 55,4 54,4 56,7 52,9 Nhập khẩu (tỷ

Trang 12

đường không tránh khỏi là vay tiền nước ngoài (từ các ngân hàng, các doanh nghiệp, nhà đầu tư tài chính, chính phủ các nước) Vì vậy nợ nước ngoài của Thái Lan không ngừng tăng, từ 35,99 tỉ USD năm 1991 lên 89 tỉ USD năm 1996, gấp 2,47 lần trong vòng 5 năm, và bằng 54% GDP Nợ ngắn hạn chiếm: 67% tổng nợ nước ngoài (1995), 51% tổng nợ nước ngoài (1996) Nợ ngắn hạn năm 1995 và 1996 gấp gần 1,18 lần dự trữ ngoại tệ của quốc gia Tức là Thái Lan thực tế đã mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài từ năm 1995 Tức là thực tế TL đã mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài từ năm 1995 Nếu các nhà đầu tư Thái Lan cũng phải thả nổi đồng nội địa Baht, thì chính

họ sẽ bán cổ phiếu, trái phiếu, đòi nợ ngắn hạn, đổi từ tiền Baht ra USD, làm tăng cầu ngoại tệ đột ngột Kết quả là tỉ giá hối đoái sẽ tăng, dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gia sẽ ngày càng cao Đến tháng 6.1997 nợ nước ngoài của Thái Lan đã bằng 1,5 lần dự trữ ngoại tệ của Thái Lan

Tóm lại, cuối 1996 đầu 1997, Thái Lan đã tích lũy cả 4 nguy cơ khủng hoảng ở mức cao

2.1.2 Diễn biến khủng hoảng kinh tế-tài chính ở Thái Lan

Đầu năm 1997 đến tháng 3 năm 1997: người dân và các nhà đầu tư bắt đầu rút vốn ra khỏi các ngân hàng và các công ty tài chính, chính phủ phải đóng cửa thị trường chứng khoáng ngày 3.3.1997 Chính phủ yêu cầu các tổ chức tài chính phải tăng cường

dự trữ tiền mặt, thông báo 10 công ty tài chính ở trạng thái không bình thường (Unico housing Co.Ltd ; Thai-Fuji; Royal International; Sri Dhana; Eastern Finance; County….)

Ngày 4 và 5/3/1997: hơn 21,4 tỉ Baht (820tr USD) đã được rút khỏi các ngân hàng và công ty tài chính

9/4/1997: tỉ giá hối đoái tăng lên mức 26,08baht/USD

Trang 13

HOÀN TOÀN không còn khả năng bán ngoại tệ để duy trì tỉ giá hối đoái Có lẽ thấy trước nguy cơ này , ngày 2.7.1997 chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, kết quả là 6.1997: tỉ giá là 25 Baht/USD Đến tháng 1.1998: tỉ giá là 53Baht/USD (tăng 112% trong 6 tháng)

2.2 Indonesia – Hiệu ứng lan truyền của cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng lan san Indonesia khi các nhà xuất nhập khẩu không thể thu hồi được lượng vốn đầu tư từ Thái Lan khiến đất nước khủng hoảng nghiêm trọng, cũng như Thái Lan, Indonesia khởi đầu khủng hoảng cũng từ việc mất giá của đồng Rupiah, tốc độ của nó chẳng khác nào 1 chiếc xe công thức 1, có thời điểm nó mất giá trên 625% (tỷ giá đồng Rupiah/USA tương ứng vào các ngày 2.7.1997; 31.12.1997 và 15.7.1998 là 2430, 4375, 15200) Trong khi đó nợ nước ngoài của Indonesia lên tới 133,67 tỷ USD ( trong đó vay ngắn hạn 29,2 tỷ USD) khiến Indonesia lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, tỷ lệ thất nghiệp tăng 4 lần và 16 ngân hàng và trên 80% daonh nghiệp trên đất nước bị phá sản Mức lạm phát tính đến tháng 5.1998 là 49,7% 1 tháng sau là 56,7% Khiến hàng loạt Nhà đầu tư (chủ yếu người Hoa) rút vốn gửi sang Singapore Cuộc khủng hoảng chính thức bắt đầu tại Indonesia

Sau đó cuộc khủng hoảng bắt đàu lan rộng hơn với các nước Đông Nam Á khác như Malaixia, philipin và cả Singapore cũng bị ảnh hưởng khiến các đồng nội tệ tại các quốc gia này giảm nhanh chống như đồng Pêsô (Philipin), Riggit (Malaixia) giảm khoảng 25% Và đồng đô la Singapore cũng giảm mức 6% so với trước thời kỳ khủng hoảng

2.3 Hàn Quốc – Sự sụp đổ của các tập đoàn kinh tế (CHAEBOL)

Vào tháng 10.1997 cuộc khủng hoảng bắt đầu tại Hàn Quốc quốc gia có nền kinh

tế phát triển vượt bậc và đứng thứ 11 thế giới Lĩnh vực tài chính ngân hàng của Hàn Quốc bị ảnh hưởng trầm trọng nhất Trong những năm 1995 tốc dộ tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc là 8.9%/năm một con số kỳ diệu những đến năm 1998 mức tăng trưởng ở mức -0.8%

Dưới sự giúp sức của chính phủ Hàn Quốc các chaebol được hưởng rất nhiều ưu đãi, nhiều khoảng vay được chính phủ tài trợ rất lớn mức vay của chaebol dao động từ

200 đến 1000% số vốn tự có của họ để kinh doanh Khiến nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào các tập đoàn này, với việc ảnh hưởng giá đồng Won giảm nghiêm trọng trong cuối năm 1996 giảm 36.6% và mức 19.5% vào tháng 10.1997 các tập đoàn này không

Trang 14

thể tiêu thụ một lượng lớn hàng hóa như điện tử, máy móc… Khiến họ không có khả năng trả nợ, họ vay ngân hàng nhằm cứu vãn nhưng với mức lãi suất cao 18%/năm nhưng các ngân hàng vẫn không chấp nhận Dẫn đến tình trạng hàng loạt các chaebol bị phá sản trong đó có 7 trong 30 chaebol lớn nhất tại Hàn Quốc như Hanbo, KIA, Jinro, Dainong… Với mức nợ lên tới 25,83 nghìn tỷ Won và tổng nợ nước ngoài là 130 tỷ USD Theo đó mức tín nhiệm của Hàn Quốc cũng bị đánh hạ từ mức AA- xuống A+ việc huy động vốn trở nên khó khăn vô cùng

2.4 Nhật Bản – Sự sụt giá của dồng Yên

Cũng những nguyên nhân trên cuộc khủng hoảng lan rộng san nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới, hậu quả khiến đồng yên giảm từ mức 146,5 yên/USD xuống 145,5 yêm/USD Nguyên nhân từ sự chậm trễ của chính phủ Nhật bản trước cú sốc là nguyên nhân chính của tình hình dẫn đến tình trạng hàng loạt các ngân hàng tại Nhật Bản bị chao đảo, hàng loạt vụ đỗ vỡ của các doanh nghiêp trong đó có gần 1800 doanh nghiệp

bị phá sản thất nghiệp tăng lên 4.1% Nợ nước ngoài cảu Nhật Bản đạt mức kỷ lục 14.5

tỷ USD

Trang 15

CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐẾN CÁC QUỐC GIA CHÂU Á 3.1 Tác động tiêu cực

Hậu quả của cuộc khủng hoảng gây ra là quá rõ ràng, toàn diện và hết sức nặng

nề Đó là sực mất ổn định của đồng tiền và cảu thị trường tiền tệ của mỗi nước và khu vực; sự giảm sút các luồng vốn nước ngoài đỗ vào mỗi nước và toàn khu vực; là sự hoạt động đầu tư do mức lãi suất cao và yếu tố lòng tin Tất cả làm suy giảm nhanh chóng tốc độ tăng trưởng kinh té các nước này và toàn khu vực, tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng (chẳng hạn, tại Thái Lan, Hàn quốc và Inđônêxia tình trạng thất nghiệp tăng gấp đôi so với mức trước khủng hoảng), các khoản nợ ngoại tệ nước ngoài gia tăng Giá trị đồng tiền bản tệ suy giảm trầm trọng ước tính đã có hơn 20 đồng tiền khác nhau bị giảm giá Theo đó mà ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu là không thể tránh khỏi trong đó nền kinh tế đứng đầu thế giới giảm 0.5 – 1% trong năm 1998 và hoạt động thương mại toàn cầu suy giảm từ 2 – 3% so với năm 1997

Khủng hoảng đã gây thiệt hại cho các nước châu Á ít nhất 300 tỷ USD khoảng 20% GDP của các nước bị khủng hoảng và thiệt hại chung của nền kinh tế toàn cầu lên đến 500 tỷ USD Niềm tin của các nhà đầu tư từ khu vực này giảm mạnh, các dòng vốn cũng sụt giảm theo Ngoài ra, căng thẳng tình trạng bất ổn định về chính trị theo đó gia tăng

- Quá tình tự do hóa và toàn cầu hóa được đẩy mạnh

3.3 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến một số lĩnh vực kinh tế của Việt Nam

Ngày đăng: 27/06/2014, 04:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Quang Thao, Đặng Xuân Hoan, Chu Việt Cường, Nguyễn Lương Thanh, Hồ Trung Thanh.(1998) “Khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở châu Á”, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở châu Á
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
3. “Fusion Confusion”, the Economist, 4.4.1998, P.87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fusion Confusion
4. Đình Thơm(1998). “Khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực, nguyên nhân và giải phát”, NXB thông tin KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực, nguyên nhân và giải phát
Tác giả: Đình Thơm
Nhà XB: NXB thông tin KHXH
Năm: 1998
7. Nguyễn Thiện Nhân (2002). “Khủng hoảng kinh tế- tài chính ở châu Á 1997- 1999”, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng kinh tế- tài chính ở châu Á 1997-1999
Tác giả: Nguyễn Thiện Nhân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2002
8. Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 12 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
Nhà XB: Tạp chí Phát triển kinh tế
Năm: 2002
9. Paul Krugman (2009). “Sự trở lại của kinh tế học suy thoái”, BXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự trở lại của kinh tế học suy thoái
Tác giả: Paul Krugman
Năm: 2009
1. ASEAN University Network(2000), Economic Crisis in Southeast Asia and Korea, Tradition and Modernity Publisher, Seoul, Korea Khác
6. Facts about Korea, Korean Information Service, Seoul, Korea, 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.  1  Hình  ảnh  của  cuộc  khủng  hoảng  tài  chính  tiền  tệ  1997–1999  ở  một  số  nước  Châu Á - Đề tài " Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á năm 1997 " pdf
1. 1 Hình ảnh của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997–1999 ở một số nước Châu Á (Trang 3)
Bảng 1.4 Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp khi khủng hoảng kinh tế - tài chính - Đề tài " Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á năm 1997 " pdf
Bảng 1.4 Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp khi khủng hoảng kinh tế - tài chính (Trang 5)
Sơ đồ 1.1 Mô hình “Các nguy cư khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng - Đề tài " Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á năm 1997 " pdf
Sơ đồ 1.1 Mô hình “Các nguy cư khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng (Trang 6)
Bảng 2.1. Số liệu kinh tế Thái Lan (diện tích 514.000 km 2 , dân số 61 triệu - Đề tài " Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á năm 1997 " pdf
Bảng 2.1. Số liệu kinh tế Thái Lan (diện tích 514.000 km 2 , dân số 61 triệu (Trang 11)
Bảng 4.1: Tăng trưởng GDP bình quân và lãi suất tiền gửi bình quân 1991-1996 - Đề tài " Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á năm 1997 " pdf
Bảng 4.1 Tăng trưởng GDP bình quân và lãi suất tiền gửi bình quân 1991-1996 (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w