Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu khoa học Chính sách tiền tệ CSTT là tổng thể các biện pháp mà Ngân hàng trung ương thực hiện thông qua việc sử dụng các công cụ CSTT tác động đến mục
Trang 2Mục lục
CHƯƠNG 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ KÊNH TÍN DỤNG 4
I.1 Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ 4
I.1.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ 4
I.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 5
I.1.3 Cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ qua các kênh 6
I.2 Cơ sở lý luận về kênh tín dụng 11
I.2.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng 11
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CƠ CHẾ TRUYỀN TẢI TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 17
2.1 Tình hình thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thời gian qua 17
2.1.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 17
I.2.2 Việc sử dụng các công cụ của CSTT 18
I.2.3 Hiệu quả CSTT ở Việt Nam trong thời gian qua 22
2.3 Thực trạng cơ chế truyền tải CSTT qua kênh tín dụng 23
I.2.4 Tác động truyền tải qua kênh tín dụng ngân hàng 23
I.2.5 Đánh giá chung về CSTT qua kênh tín dụng ở Việt Nam thời gian qua 36
CHƯƠNG 3 39
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CƠ CHẾ TRUYỀN TẢI TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 39
I.3 Định hướng phát triển kinh tế xã hội 39
I.4 Hoàn thiện và nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước 40
I.4.2 Nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước 42
I.5 Giải pháp tăng hiệu quả truyền tải tác động CSTT qua kênh tín dụng 44
I.5.1 Giữ vững môi trường kinh tế vĩ mô ổn định 44
I.5.2 Phát triển thị trường tín dụng 45
I.5.3 Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng 50
I.6 Kiến nghị 56
I.6.1 Kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan ban ngành liên quan 56
I.6.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 56
I.6.3 Kiến nghị với các NHTM 57
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu khoa học
Chính sách tiền tệ (CSTT) là tổng thể các biện pháp mà Ngân hàng trung ương thực hiện thông qua việc sử dụng các công cụ CSTT tác động đến mục tiêu hoạt động làm thay đổi cung tiền, lãi suất, qua đó tác động đến mục cuối cùng của CSTT là lạm phát, tăng trưởng kinh tế và công ăn viêc làm cao Vấn đề mà tất cả các NHTW trên thế giới quan tâm để đảm bảo thực thi CSTT đạt mục tiêu mong muốn, đó là cách thức CSTT tác động đến nền kinh tế, hay kênh truyền tải CSTT như thế nào là nhanh nhất, hiệu quả nhất Hiện nay giữa các nhà kinh tế còn có những quan điểm rất khác nhau về vấn đề này nhất là tầm quan trọng của từng kênh truyền tải, bởi trong những điều kiện hay mức độ phát triển của thị trường tài chính khác nhau, thì tác động của CSTT tới nền kinh tế qua các kênh cũng không giống nhau Ở các nước đang phát triển và chuyển đổi, cơ chế truyền tải CSTT có phần không ổn định do hệ thống tài chính của các nước này còn kém phát triển và cấu trúc hệ thống tài chính đang trong quá trình thay đổi, Việt Nam cũng không ngoại lệ trong các nước phát triển
Đối với nước ta hiện nay, thị trường tài chính còn phát triển ở trình độ thấp Thị trường tiền tệ chưa tạo được tiền đề cho sự phát triển năng động và hiệu quả, việc sử dụng các công cụ tiền tệ còn hạn chế Thị trường vốn thì chưa phải là kênh phân bổ vốn
đa dạng và có hiệu quả của nền kinh tế Thị trường cổ phiếu và trái phiếu đều quá nhỏ
bé, khối lượng hàng hóa không đủ để tạo môt thị trường vốn sôi động và hấp dẫn
Trong bối cảnh đó, thị trường tín dụng giữ một vai trò đăc biệt quan trọng Vốn đầu
tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng Hệ thống TCTD trong đó TCTD nhà nước là chủ lực chính cung ứng vốn Thị trường tín dụng có ý nghĩa quyết định với huy động và phân bổ nguồn vốn nhàn rỗi một cách tiết kiệm và có hiệu quả Thị trường tín dụng phải phát triển lành mạnh là nhân tốt cần thiết đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế.CSTT có thể tác động tới nền kinh tế qua nhiều kênh như lãi suất, giá tài sản và kênh tín dụng Nhưng rõ ràng trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển như nước ta thì kênh tín dụng thực sự trở thành kênh truyền dẫn tác động CSTT quan trọng
và phổ biến
Vậy thực trạng truyền dẫn tác động CSTT qua kênh tín dụng hiện nay như thế nào
và vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng hiệu quả kênh truyền dẫn này, xuất phát từ đó, nhóm em xin chọn đề tài “ Hiệu quả cơ chế truyền tải tác động chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng và giải pháp cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về sự truyền dẫn tác động CSTT qua kênh tín dụng từ đó thấy được vai trò của kênh tín dụng ở Việt Nam
Phân tích thực trạng của kênh này để thấy được những vấn đề còn tồn tại từ đó tìm
ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kênh tín dụng
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự truyền tải ảnh hưởng CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở sự truyền tải tác động CSTT qua hoạt động tín dụng ngân hàng từ năm 1997 tới nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp triết học duy vật biện chứng và lãi suất thường được dùng trong nghiên cứu khoa học, đề tài kết hợp phân tích định lượng, phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp
5 Đóng góp của đề tài
− Phân tích thực trạng hiệu quả truyền tải tác động CSTT qua kênh tín dụng
6 Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài chia làm
3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ và kênh tín dụng
Chương 2 Thực trạng hiệu quả cơ chế truyền tải tác động CSTT qua kênh tín dụng ở VN trong thời gian qua
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền tải tác động chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ KÊNH TÍN DỤNG
I.1 Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ
I.1.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ
Khái niệm CSTT: Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế
Tuỳ điều kiện các nước, CSTT có thể được xác lập theo hai hướng: CSTT mở rộng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng - CSTT chống thất nghiệp) hoặc CSTT thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng - CSTT ổn định giá trị đồng tiền)
Vị trí CSTT: Trong hệ thống các công cụ đIều tiết vĩ mô của Nhà nước thì CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại
Trang 6Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách CSTT là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho CSTT quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.
I.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
I.1.2.1 Mục tiêu cuối cùng
− Ổn định giá trị đồng tiền:
NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ) Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát = 0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được, để
có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên
− Tăng trưởng kinh tế :
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà
Mối quan hệ giữa các mục tiêu: Có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ
mô khác
Công ăn việc làm cao là một mục tiêu có giá trị bởi vì nếu thất nghiệp cao sẽ gây cho các gia đình khốn khổ về mặt tài chính, mất đi lòng tự trọng cá nhân và làm tăng tội
ác Đồng thời khi thất nghiệp cao thì nguồn tài nguyên sẽ không được khai thác từ đó làm giảm tổng sản phẩm xã hội
Vì lẽ đó CSTT phải quan tâm tới khả năng tạo công ăn việc làm giảm áp lực thất nghiêp cho xã hội Do đó đảm bảo công ăn việc làm là một mục tiêu mà NHTW phải theo đuổi khi hoạch định CSTT
Tuy nhiên mục tiêu công ăn việc làm cao không đồng nghĩa với không có thất nghiệp vì trong xã hội luôn tồn tại một bộ phận thất nghiệp tự nhiên Bộ phận này có lợi cho nền kinh tế, họ gồm những người tự nguyện quyết định tới khối công việc để tìm một công việc khác họ ưa thích
Mặc dù các mục tiêu đưa ra là nhất trí với nhau song không phải lúc nào cũng vậy Mục tiêu công ăn việc làm và ổn định giá cả mâu thuẫn với nhau trong thời hạn ngắn
Trang 7Thứ nhất: việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thất thường kéo theo CSTT mở rộng và
sự tăng giá Còn nếu giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với việc thực hiện CSTT thắt chặt, lãi suất tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu dẫn đến giảm tổng cầu của nền kinh tế, thất nghiệp vì thế có xu hướng tăng lên
Thứ hai: mục tiêu ổn định giá cả và công ăn việc làm mâu thuẫn với nhau còn thể hiện thông qua phản ứng của NHTW với các cú shock cung nhằm đảm bảo mức cầu tiền thực tế, kết quả là giá cả tăng lên
Thứ ba: mâu thuẫn này còn thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh tỷ giá Với việc hạ giá đồng bảo tệ, các ngành xuất khẩu có khả năng mở rộng dẫn tỷ lệ thất nghiệp giảm kèm theo sự tăng lên của mức giá chung Do đó việc duy trì một mức tỷ giá ổn định
và thích hợp sẽ làm giảm công ăn việc làm
Tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm không mâu thuẫn với nhau cả trong ngắn hạn và dài hạn, công ăn việc làm cao sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại
Vậy trong ngắn hạn, NHTW không thể đạt được tất cả mục tiêu trên Hầu hết NHTW các nước coi sự ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của CSTT Tuy nhiên, trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏ mục tiêu chủ yếu để khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc các ảnh hưởng của các cú shock cung đối với sản lượng Có thể nói NHTW theo đuổi một mục tiêu dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn
I.1.2.2 Mục tiêu trung gian
Mục tiêu trung gian là các chỉ tiêu được lựa chọn để đạt được mục tiêu cuối cùng
Nó thường là khối lượng tiền cung ứng (M1, M2, M3), lãi suất thị trường
Mục tiêu trung gian phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
phản ánh CSTT nhanh hơn mục tiêu cuối cùng NHTW dựa vào các dấu hiệu này để điều chỉnh hưởng tác động khi cần thiết
hợp với định hướng CSTT khi NHTW có khả năng kiểm soát mục tiêu trung gian Ví dụ như sự trông đợi của các nhà kinh doanh sẽ quyết định tới tổng đầu tư nhưng nếu chọn chỉ tiêu này làm mục tiêu trung gian thì ảnh hưởng của NHTW tới nó là rất ít Do đó nếu lựa chọn chỉ tiêu mà NHTW không kiểm soát được thì sẽ ảnh hưởng tới định hướng và hiệu quả CSTT và lãng phí mọi cố gắng
năng kiểm soát của NHTW sẽ trở lên vô nghĩa nếu chỉ tiêu lựa chọn không quan hệ chặt chữ với mục tiêu cuối cùng
I.1.3 Cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ qua các kênh.
Nếu như cơ chế kiểm soát các điều kiện mang tính chủ quan khi chịu sự chi phối của NHTW thông qua việc lựa chọn hệ thống các mục tiêu trung gian và công cụ CSTT thì cơ chế truyền dẫn tác động của CSTT lại mang tính khách quan Cơ chế truyền dẫn
Trang 8CSTT được xây dựng dựa trên cách tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ thông qua hệ thống các “kênh truyền dẫn” bao gồm kênh lãi suất, kênh giá tài sản, kênh tín dụng Từ đó mà đạt được mục tiêu giá cả sản lượng
Sơ đồ 1 Các kênh truyền tải của chính sách tiền tệ
I.1.3.1 Tác động qua kênh lãi suất.
Chúng ta sẽ xét ảnh hưởng qua
sơ đồ 2
− Đối với tiêu dùng và đầu tư:
khi khối cung tiền tăng lên làm cho
mức lãi suất giảm xuống, khuyến
khích các chủ thể trong nền kinh tế
chi tiêu, đầu tư nhiều hơn Về phía
cá nhân hộ gia đình được lợi do chi
phí vốn vay để mua hàng hóa giảm
xuống, do đó sẽ gia tăng chi tiêu bao
gồm cả chi tiêu tiêu dùng và chi tiêu
vào hàng hóa lâu bền Hơn nữa, lãi
suất tiết kiệm giảm xuống không
hấp dẫn họ gửi tiết kiệm, tiêu dùng hiện tại của họ sẽ tăng lên Đối với khu vực doanh nghiệp, lãi suất vay vốn giảm xuống khiến cho chi phí vay vốn ngân hàng giảm, các dự
án đầu tư, kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư sử dụng vốn đi vay ngân hàng tăng lên Ngoài ra, với mức lãi suất thấp cũng làm giảm chi phí lưu giữ vốn lưu động (ví
dụ như hàng tồn kho) và do đó các khoản đầu tư dưới dạng vốn lưu động có thể tăng lên Khi lãi suất thực tăng lên sẽ có tác động ngược lại làm giảm đầu tư, tiêu dùng Lưu ý, nhu cầu đầu tư nhạy cảm với mức lãi suất thực chứ không phải lãi suất danh nghĩa Khi
tăng, kéo theo sự giảm xuống của mức lãi suất ir (Hiệu ứng Fisher: ir = I - ∏*) Có thể khái quát ảnh hưởng như sau:
Sơ đồ 2 Tác động của kênh lãi suất tới tổng cầu và sản lượng
Cung øng tiÒn tÖ L· i suÊt Gi¸ cæ phiÕu
TiÒn göi ng©n hµng TÝn dông ng©n hµngTh ¬ng m¹ i Tû gi¸
Gi¸ trÞ doanh nghiÖp
Tµi s¶n, thu nhËp Tµi s¶n riªng
TÝn dông, ®Çu t , gi¸ c¶ s¶n l î ng
Trang 9L ã i suất chính thức
L ã i suất danh nghĩa trê n thị trư ờng tiền tệ
L ã i suất ngân hàng
T ổng cung Lã i suất cho
vay danh nghĩa dài hạ n
Lã i suất huy động cho vay dài hạ n L ã i suất thực
T iền mặt thu nhập C hi tiê u dù ng
− Xột tỏc động dưới ảnh hưởng của thu nhập: Lói suất thực giảm xuống người gửi
tiền tiết kiệm sẽ bất lợi, nhưng người đi vay thỡ được lợi sẽ dẫn đến sự phõn phối thu nhập từ người gửi tiền sang người vay tiền Người đi vay sẽ tăng cường đi vay phục vụ tiờu dựng, đầu tư vào cỏc danh mục, dự ỏn đầu tư nhằm tăng thu nhập, trong khi người tiết kiệm chi tiờu bị hạn chế do thu nhập từ lói tiền gửi giảm Tuy nhiờn, sự giảm chi tiờu này thấp hơn nhiều so với nhu cầu đầu tư, tiờu dựng của người đi vay Do vậy, tổng chi tiờu sẽ tăng, GDP tăng lờn Xột trờn một khớa cạnh khỏc, khi lói suất tiết kiệm khụng hấp dẫn người gửi tiền thỡ họ sẽ cú xu hướng nắm giữ nhiều tài sản tài chớnh hơn (cổ phiếu, trỏi phiếu…), giỏ của cỏc tài sản tài chớnh này sẽ tăng khi lói suất giảm, làm tăng thi nhập cho họ và do đú chỉ tiờu tiờu dựng của họ cú thể tăng lờn
I.1.3.2 Tỏc động qua kờnh giỏ tài sản.
Sự thay đổi của mức lói suất thị trường sẽ ảnh
hưởng đến giỏ cả thị trường của cỏc tài sản tài chớnh
(cổ phiếu, trỏi phiếu) và tài sản thực (bất động sản), do
đú mà ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, chi tiờu của
cỏc chủ thể kinh tế Mối quan hệ giữa lói suất thị
trường và giỏ cả của thị trường là giỏ trị của tài sản là
nghịch chiều, khi lói suất thị trường giả xuống, cỏc chủ
thể sẽ cú sự di chuyển vốn sang cỏc kờnh đầu tư vào
cỏc tài sản tăng lờn, xu hướng đầu tư, tiờu dựng tăng
lờn sẽ làm tăng GDP Và ngược lại khi lói suất thị
trường tăng sẽ làm giảm GDP
Một cỏch tiếp cận khỏc là xem xột ảnh hưởng của
CSTT đến giỏ cổ phiếu của cụng ty, thể hiện ở tỷ lệ
Giá tài sản
Cổ phiếu Trái phiếu Bất động sản
Giá trị doanh nghiệp Thực trạng tài chính Năng lực tài sản ròng
Chủ đầu tư Chủ đầu tư và
hàng lâu bền
Tiêu dù ng, vay ngân hàng
Tổng cầu
Trang 10i i
0 1
cổ phiếu hoặc trỏi phiếu Do đú cầu chứng khoỏn giảm, dẫn tới giỏ chứng khoỏn giảm
− Với sự giảm xuống của cung tiền cú tỏc động làm lói suất thị trường tăng, lói suất tiết kiệm ngõn hàng tăng, sẽ hấp dẫn và khuyến khớch người dõn gửi tiền ngõn hàng hơn
là mua chứng khoỏn, do vậy mà giỏ chứng khoỏn giảm xuống Và ngược lại khi cung tiền tăng lờn sẽ cú tỏc dụng làm cho giỏ cổ phiếu tăng lờn
Sự tăng lờn của giỏ cổ phiếu của cụng ty cú tỏc dụng nõng cao giỏ trị của cụng ty trờn thị trường, giỏ trị này của cụng ty cú thể cao hơn giỏ thay thế tài sản (chỉ số q>1), điều này kớch thớch doanh nghiệp đầu tư mới vào nhà xưởng, mỏy múc trang thiết bị… bởi giỏ của chỳng rẻ một cỏch tương đối so với giỏ cổ phiếu Và ngược lại, chỉ số q<1, nhu cầu đầu tư mới của doanh nghiệp sẽ giảm Cú thể khỏi quỏt hiệu ứng này như sau:M↑→P*↑→q↑→I↑→Y↑
I.1.3.3 Thụng qua kờnh tỷ giỏ hối đoỏi.
Sự biến động của lượng tiền cung ứng sẽ làm thay
đổi tỷ giỏ hối đoỏi Áp dụng mụ hỡnh Mundell-Fleming
trong nền kinh tế mở, tỷ giỏ hối đoỏi linh hoạt, chỳng ta sẽ
xem xột tỏc động của CSTT đến nền kinh tế, thể hiện ở đồ
thị 3
Đồ thị 3 Tỏc động của cung tiền đến tỷ giỏ hối
đoỏi
Thứ nhất, làm thay đổi giỏ
cả tương đối của hàng húa
Trong điều kiện cơ chế tỷ
giỏ linh hoạt khi NHTW sử
dụng CSTT mở rộng làm
tăng lượng cung tiền đường
LM dịch chuyển sang phải
(từ LMo đến LM1 ), trong
khi đường IS khụng thay
đổi đẩy lói suất đồng nội tệ
giảm xuống làm cho lói suất
trong nước thấp hơn lói suất
nước ngoài, sẽ khuyến
khớch luồng vốn chảy ra,
cầu ngoại tệ sẽ tăng sẽ đẩy
tỷ giỏ danh nghĩa tăng, do
Lã i suất
Nhu cầu đối vớ i tiền nội tệ và tài sản nội tệ
Tỷ giá hối đoái danh nghĩ a
Tỷ giá hối đoái thực
Cán cân thư ơng mại
Giá trị tài sản ròng (TS nợ -TS có) Chi tiêu và vay mư ợ n
Tổng cung (chi phí hàng nhập khẩu) Giá cả hàng hoá
Trang 11đó làm tăng tỷ giá thực Nhà đầu tư tìm cách chuyển hướng đầu tư từ tài sản nội tệ sang tài sản ngoại tệ, đồng nội tệ sẽ giảm giá so với đồng ngoại tệ Sự giảm giá của đồng nội
tệ khiến cho giá của hàng hóa xuất khẩu tính bằng nội tệ cao hơn, nhu cầu xuất khẩu tăng lên, nhập khẩu giảm và do đó tổng cầu và sản lượng tăng
M↑→i↓→E↑→ xuất khẩu ↑, nhập khẩu ↓→AD↑→Y↑
Thứ hai, ảnh hưởng đến giá trị tài sản bằng ngoại tệ trên bảng cân đối tài sản của các chủ thể kinh tế Biến động về mặt tỷ giá có thể cải thiện hoặc làm xấu đi tình trạng tài chính của các chủ thể Tài sản của các chủ thể là các khoản vay nợ bằng ngoại tệ, khi
tỷ giá thay đổi làm thay đổi giá trị tài sản ròng Họ sẽ dự đoán chiều hướng biến động của tỷ giá, từ đó đưa ra quyết định chi tiêu của mình
Xem xét ở một số quốc gia duy trì tỷ giá cố định, CSTT có thể tác động tới tỷ giá thực thông qua giá cả trong nước và do vậy dẫn đến có thể tác động tới xuất khẩu ròng mặc dù với mức độ thấp hơn và chậm hơn Tùy theo điều kiện và mức độ phát triển của thị trường, đặc biệt điểm tài chính của các hộ gia đình, các doanh nghiệp trong từng quốc gia mà CSTT tác động qua kênh tỷ giá là khác nhau
Sơ đồ 4 Tác động của kênh tỷ giá tới tổng cầu và sản lượng
I.1.3.4 Tác động của kênh tín dụng
Trung gian tài chính trong đó chủ yếu là ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với tài trợ vốn cho nền kinh tế Sự mở rộng hay thu hẹp quy mô cho vay của nó quyết định tới quy mô của tổng cầu, từ đó quyết định tới sự tăng trưởng kinh tế
Kênh tín dụng là kênh truyền dẫn ảnh hưởng của CSTT tới khả năng cấp tín dụng của trung gian tài chính Kênh này truyền dẫn ảnh hưởng của CSTT qua 2 giác độ là hoạt động tín dụng ngân hàng và sự điều chỉnh bảng tổng kết tài sản
Ở Việt Nam, thị trường tài chính chưa phát triển nên tín dụng trở thành mắt xích trọng yếu trong phát triển kinh tế Vì vậy tín dụng trở thành kênh quan trọng trong sự truyền tải CSTT tới nền kinh tế Trong phần sau sẽ trình bày cụ thể hơn về kênh tín dụng
Kết luận, cơ chế truyền dẫn CSTT đến các mục tiêu vĩ mô là một quá trình phức
tạp, hiệu quả của cơ chế truyền dẫn thông qua các kênh không chỉ phụ thuộc vào nhân tố chủ quan là liều lượng tác động của NHTW mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khách quan như mức độ nhạy cảm lãi suất và đầu tư, khả năng độc lập vào nguồn vốn tín dụng của doanh nghiệp, sự phát triển của thị trường tài chính… Do đó chúng ta cần phải xem xét đầy đủ và toàn diện ảnh hưởng của các nhân tố trong quá trình truyền dẫn tác động qua các kênh đến nền kinh tế, trên cơ sở đó lựa chọn được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và các công cụ CSTT thích hợp nhằm đạt được mục tiêu chính sách đã đề
ra của NHTW
Trang 12I.2 Cơ sở lý luận về kênh tín dụng
I.2.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng
I.2.1.1 Khái niệm
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Vậy theo quan điểm này thì tín dụng có 3 đặc trưng chủ yếu là tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả có lãi
Quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng mang tính tạm thời, tính tạm thời của
sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó, nó chính là kết quả của
sự thỏa thuận của các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng sao cho phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó
Tính hoàn trả tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Vì vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động có tính ngắn hạn là chủ yếu và sau một thời gian nhất định ngân hàng phải hoàn trả cho những người gửi tiền Đồng thời ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí các hoạt động như khấu hao tài sản cố đ inh, trả lương cho cán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng do đó người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả lãi
Dựa trên sự tín nhiệm lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay: người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn có hiệu quả và sau một thời gian nhất định người đi vay có khả năng trả được nợ Cơ sở của sự tín nhiệm này có thể do uy tín của người đi vay, giá trị tài sản thế chấp hoặc do sự bảo lãnh của người thứ ba Sự tín nhiệm lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng
I.2.1.2 Vai trò của hoạt động tín dụng
− Thứ nhất: Hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy tái sản xuất xã hội.TDNN huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các thành phần kinh tế trong xã hội, từ đó cung ứng vốn kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tín dụng của các doanh nghiệp
và cá nhân để họ có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm
− Thứ hai: TDNH là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả cho nền kinh tế
Các doanh nghiệp sẽ chủ động trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh
vì nó không phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân Họ có thể tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất xã hội nhờ vào vốn TDNN Nguồn vốn TDNH là nguồn vốn tài trợ có hiệu quả nhất vì nó thỏa mãn nghiên cứu về thời hạn
và số lượng đồng thời các hình thức tín dụng đa dạng, sự tiếp cận dễ dàng, chi phí thấp Bên cạnh đó các hình thức tín dụng cung ứng luôn kèm theo điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro vì vậy người đi vay phải quan tâm thực sự tới hiệu quả sử dụng vốn thì mới có thể quan hệ lâu dài với tổ chức tín dụng
− Thứ ba: Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách xã hội
Trang 13Về bản chất chính sách xã hội được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ ngân sách nhà nước, song lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả Phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng thay thế cho phương thức tài trợ không hoàn lại sẽ duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách
Ví dụ việc tài trợ vốn cho người nghèo nay được thực hiện phổ biến bằng tín dụng người nghèo với lãi suất thấp Rõ ràng hình thức tài trợ này có hiệu quả hơn vì đối tượng chính sách buộc phải quan tâm tới hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn
Từ đó dần dần họ có thể tồn tại độc laaoj với nguồn vốn tài trợ, đó chính là mục đích của phương thức trài trợ bằng con đường tín dụng
− Thứ tư: Tín dụng là kênh truyền tải trong đó của Nhà nước đến mục tiêu kinh tế vĩ mô.Việc đảm bảo mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hòa phụ thuộc một phần vào khối lượng tín dụng và cơ cấu tín dụng về mặt thời hạn cũng như về mặt đối tượng tín dụng Vấn đề này lại phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng như lãi suất cho vay, điều kiện cho vay, yêu cầu thế chấp bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng Vậy thông qua thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô hoặc chuyển hướng vận động của các nguồn vốn tín dụng, từ đó ảnh hưởng tới tổng cầu của nền kinh tế Tổng cầu thay đổi dưới trong đó của chính sách tín dụng sẽ trong đó tới tổng cung và điều kiện sản xuất khác, điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô cần thiết
I.2.1.3 Chất lượng hoạt động tín dụng.
Chất lượng hoạt động tín dụng chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố của chủ quan và khách quan Những nhân tố khách quan ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng gồm:
Ngân hàng là chủ thể trung gian trong nền kinh tế vì vậy hoạt động của NHTM được coi là cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Do đó nền kinh tế ổn định hay bất ổn định đều ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Một nền kinh tế tăng trưởng ổn đinh, lạm phát vừa phải vừa tạo điều kiện để hoạt động tín dụng hoạt động có chất lượng cao và ngược lại
Hoạt động ngân hàng không chỉ chịu sự giám sát, điều hành của pháp luật mà còn chịu sự giám sát và điều chỉnh của luật ngân hàng và luật TCTD Pháp luật tạo môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và có hiệu quả, là cơ sở để giải quyết những tranh chấp xảy ra Các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm ngặt thì chất lượng hoạt động tín dụng mới được đảm bảo
Trang 14Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả của các ngành nông nghiệp, thủy sản Khi đó điều kiện tự nhiên không thuận lợi như thiên tai, hạn hán, bệnh dịch thì các khoản cho vay của ngân hàng sẽ rủi ro rất lớn.
Đạo đức xã hội là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng Nếu đạo đức
xã hội không tốt, trình độ dân trí thấp, hiểu sai lệch về hoạt động của ngân hàng thì chất lượng hoạt động tín dụng sẽ không cao
Hoạt động kinh doanh của khách hàng luôn chứ đựng những rủi ro, có những rủi ro kiểm soát được và có những rủi ro không thể dự đoán được dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp giảm sút ảnh hưởng đến chất lượng các khoản vay
Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng gồm:
các phòng ban sẽ tạo điều kiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, quản lý tốt các khoản vay, đảm bảo hoạt động tín dụng ngân hàng có hiệu quả
Chính sách tín dụng gồm các biện pháp nhằm mở rộng hay hạn chế tín dụng để đảm bảo mục tiêu kinh doanh của ngân hàng Do đó chính sách tín dụng sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng và chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng có đúng đắn hay không
Kiểm soát nội bộ sẽ giúp ngân hàng phát hiện kịp thời những sai phạm phát sinh trong quá trình thu hồi một khoản tín dụng và từ đó có biện pháp khắc phụ kịp thời.Vậy CSTT tác động tới mục tiêu kinh tế vĩ mô qua kênh tín dụng như thế nào? Tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu về cơ chế truyền dẫn trong đó CSTT qua kênh tín dụng
I.2.1.4 Cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng
Theo quan điểm của Bernanke (1953) và Blinder (1988), tác động của CSTT thông qua tín dụng được thể hiện qua 2 kênh cho vay và bằng cân đối kế toán
Tác động của CSTT thông qua 2 con đường: hoạt động tín dụng của ngân hàng và quá trình điều chỉnh bảng tổng kết tài sản của khách hàng
− Thứ nhất, ảnh hưởng qua hoạt động tín dụng của ngân hàng.
NHTW thực thi CSTT nới lỏng hay thắt chặt sẽ làm thay đổi mức cung tiền tệ sẽ dẫn tới sự thay đổi về khối lượng tín dụng cung ứng của hệ thống ngân hàng, truyền ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế Điều này thể hiện thông qua tác động về mặt lượng và mặt giá (lãi suất)
Trang 15Sơ đồ 5 Tỏc động của kờnh tớn dụng tới tổng cầu và sản lượng
Hạ n mức tín dụng Giá cổ phiếu
Lựa chọn ngư ợ c và rủi
ro đạo đức
Tín dụng ngân hàng
Giá cả sản
Về mặt giỏ, sự thay đổi về mặt lói suất của NHTW sẽ ảnh hưởng đến lói suất thị trường, truyền dẫn tỏc động thay đổi lói suất cho vay của hệ thống ngõn hàng thương mại Theo quan điểm Stiglitz và Weiss (1981), lói suất giảm xuống cú thể tỏc động thuận chiều làm giảm lợi nhuận kỳ vọng của ngõn hàng, nhưng đồng thời cũng cú thể tỏc động nghịch chiều làm gia tăng khả năng thành cụng dự ỏn, tức là giảm thiểu rủi ro của cỏc dự
ỏn (rủi ro thấp thường đi kốm với sinh lợi nhỏ và ngược lại) Ta cú cụng thức:
Lợi nhuận kỳ vọng của ngõn hàng = Lói suất cho vay * Xỏc suất thành cụng của dự ỏn.(Giả định chi phớ hoạt động của ngõn hàng bằng khụng)
Thường thỡ, cỏc ngõn hàng sẽ ấn định mức lói suất cho vay đem lại lợi nhuận kỳ vọng cho ngõn hàng là cao nhất Tuy nhiờn, trong điều kiện thụng tin khụng cõn xứng thỡ việc tăng lói suất cho vay chỉ thu hỳt được cỏc dự ỏn cú độ rủi ro cao, do đú làm giảm lợi nhuận kỳ vọng Nếu NHTW quy định trần lói suất cho vay thỡ cỏc ngõn hàng lại sử dụng cỏc cụng cụ phi lói suất (như hạn mức tớn dụng) để lựa chọn khỏch hàng và làm cho kờnh truyền dẫn này hiệu quả hơn Và ngược lại, nếu lói suất giảm do CSTT mở rộng của NHTW sẽ làm cho lượng tớn dụng NHTM cấp cho nền kinh tế tăng làm tăng đầu tư và tăng tổng cầu
Về mặt lượng, cụng cụ hạn mức tớn dụng cú ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng tiền cung ứng do đú đến đầu tư của xó hội Khi NHTW thực thi CSTT nới lỏng làm tăng lượng tiền gửi ngõn hàng Để giải quyết vấn đề mất cõn đối giữa cung cầu tớn dụng, ngõn hàng thương mại ngoài việc giảm lói suất cũn ỏp dụng mở rộng hạn mức tớn dụng thụng qua việc giảm cỏc điều kiện vay vốn, điều kiện thẩm định tớn dụng Lượng tớn dụng cấp cho nền kinh tế do đú tăng lờn làm tăng đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ
M↑ → tiền gửi NH↑→ cho vay ↑→ I ↑→Y↑
Cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp khú khăn trong việc tiếp cận thị trường vốn trực tiếp như việc phỏt hành cỏc giấy tờ cú giỏ trờn thị trường tài chớnh để thu hỳt vốn như cỏc doanh nghiệp lớn, do vậy mà tiếp cận vốn ngõn hàng là hết sức cần thiết đối với họ
Trang 16Ngoài ra, sự thay đổi lãi suất còn có ảnh hưởng đến giá trị tài sản trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại Khi lãi suất giảm xuống do NHTW thực thi CSTT nới lỏng sẽ lên giá trị thị trường tài sản dưới dạng chứng khoán, bất động sản trên bảng cân đối của ngân hàng thương mại tăng lên, khả năng cho vay của ngân hàng theo đó cũng tăng lên sẽ tác động tăng sản lượng và tổng cầu nền kinh tế.
− Thứ hai, quá trình điều chỉnh bảng cân đối tài sản của khách hàng
Bernanke (1953) và Blinder (1988) đã phân tích ảnh hưởng của kênh tín dụng ngân hàng đến tổng cầu kinh tế thông qua tình trạng cân đối kế toán hay giá trị tài sản ròng của khách hàng CSTT của NHTW được thực thi sẽ làm thay đổi giá trị tài sản ròng trên bảng cân đối cảu doanh nghiệp, điều này kéo theo sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức và ảnh hưởng đến quyết định của ngân hàng về lượng tín dụng cung ứng Có thể khái quát sự ảnh hưởng CSTT đến biến động tài sản ròng của doanh nghiệp theo 4 hướng:
Khi NHTW sử dụng CSTT nới lỏng, lãi suất giảm xuống làm tăng giá cổ phiếu của doanh nghiệp, giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp do đó tăng lên, hạn chế rủi ro lãi suất cho doanh nghiệp và giảm rủi ro cho ngân hàng, rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch của ngân hàng giảm xuống Hoạt động cho vay của ngân hàng được mở rộng sản lượng
và tổng cầu sẽ tăng lên
M↑→P*↑→Giá trị tài sản ròng ↑→ Lựa chọn đối nghịch↓ và rủi ro đạo đức↓→ Cho vay↑→ I↑→ Y↑
Ảnh hưởng đến giá trị thị trường tài sản được dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay Lãi suất giảm do CSTT mở rộng sẽ làm tăng giá trị thị trường của tài sản thế chấp, giảm rủi ro lãi suất cho doanh nghiệp, tình trạng tài chính của doanh nghiệp được cải thiện, các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng dễ dàng hơn và do
đó lượng tín dụng gia tăng sẽ làm tăng tổng cầu
Ảnh hưởng qua mức giá cả chung của nền kinh tế CSTT mở rộng làm cho mức giá
cả chung nền kinh tế tăng lên (không dự tính trước được), làm giảm gánh nặng nợ nần của doanh nghiệp tài sản, giá trị tài sản ròng trên bẳng cân đối tài sản do đó mà tăng lên, rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch của ngân hàng giảm xuống, khả năng mở rộng tín dụng gia tăng dẫn đến tăng sản lượng, tổng cầu
M↑→P↑→ Giá trị tài sản ròng ↑→Lựa chọn đối nghịch ↓→ Cho vay↑→I ↑→Y ↑
Tình trạng đồng tiền của doanh nghiệp Các dòng tiền vào (các khoản thu vào) là nguồn trả nợ chủ yếu cho ngân hàng CSTT mở rộng, lãi suất giảm xuống làm tăng tính thanh khoản cho bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp, luồng tiền vào dễ dàng hơn Mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp tăng lên, khả năng trả nợ tăng lên Ngân hàng có thể
mở rộng cho vay, do đó tăng đầu tư và sản lượng M↑→↓Dòng tiền vào lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức cho vay I Y
Kênh tín dụng cũng tác động tới tiêu dùng của hộ gia đình với cơ chế chuyển tải tương tự như trường hợp các doanh nghiệp Lãi suất thị trường giảm xuống cũng có tác
Trang 17dụng làm tăng giá trị tài sản trên bảng cân đối của các hộ gia đình, vì thế khả năng cho vay của ngân hàng đối với hộ gia đình tăng lên, tổng cầu tăng lên nhờ hệ quả tất yếu của
sự tăng tiêu dùng
Tuy nhiên, hiệu quả tác động của kênh tín dụng phụ thuộc vào các điều kiện sau:
Ảnh hưởng của lãi suất đến nhu cầu đầu tư doanh nghiệp trong điều kiện thông tin bất cân xứng là kém hiệu quả nếu thị trường tài chính phát triển, các doanh nghiệp có thể tiếp cận nhiều nguồn vốn khác nhau trên thị trường một cách dễ dàng (phát hành trái phiếu, cổ phiếu, tín dụng thương mại…) hoặc tỷ trọng vốn tín dụng ngân hàng trng tổng nhu cầu của doanh nghiệp ít Như đã nói ở trên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tỏ ra phản ứng với biến động lãi suất qua kênh tín dụng mạnh hơn, vì khả năng tiếp cận vốn trên thị trường tài chính trực tiếp bị hạn chế
− Sự phát triển của thị trường các công cụ tài chính phái sinh
Khi lãi suất thay đổi sẽ làm gia tăng giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp, làm giảm hoặc tăng giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thu hẹp hoặc mở rộng cho vay của NHTM Tuy nhiên, nếu một thị trường công cụ phái sinh phát triển (công cụ hoán đổi lãi suất, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn…) có thể giúp doanh nghiệp trang bị bảo hiểm rủi ro cho chính mình, chống đỡ rủi ro lãi suất, khi đó sự thay đổi lãi suất do tác động của CSTT thông qua kênh tín dụng với thông tin không cân xứng tỏ ra kém hiệu quả
Trang 18Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CƠ CHẾ TRUYỀN TẢI TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kênh tín dụng có tác động mạnh trong cơ chế truyền tải CSTT nếu như trên thị trường tài chính các doanh nghiệp lệ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng Quyền lực của ngân hàng trung ương trong việc tác động tới tín dụng của khu vực ngân hàng thông qua các công cụ CSTT là lớn
Trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển như ở nước ta thì tín dụng trở thành kênh quan trọng trong truyền tải tác động CSTT tới nền kinh tế Trước khi xem xét thực trạng truyền dẫn tác động CSTT qua kênh tín dụng, chúng ta sẽ nhìn lại tình hình thực hiện CSTT trong thời gian qua
2.1 Tình hình thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thời gian qua.
2.1.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Trong thời gian qua NHNN Việt Nam theo đuổi chính sách đa mục tiêu trong đó các mục tiêu không mâu thuẫn với nhau mà theo quan điểm “ổn định để tăng trưởng” và
“Tăng trưởng trong ổn định”
Theo điều 2, chương 1, Luật NHNN Việt Nam (tháng 12/1997) CSTT và mục tiêu cuối cùng của CSTT của Việt Nam được nêu như sau: “CSTT quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân”
NHNN Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu mức tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (M2) làm mục tiêu trung gian M2 bao gồm:
+ Tiền gửi có kỳ hạn tiền gửi tiết kiệm ở Ngân hàng
Trang 19I.2.2 Việc sử dụng các công cụ của CSTT
I.2.2.1 Hạn mức tín dụng
Công cụ hạn mức tín dụng (HMTD) được NHNN Việt Nam sử dụng nhằm khống chế trực tiếp mức dư nợ tín dụng từ đó kiểm soát tổng lượng tiền trong thời kỳ lạm phát chưa ổn định và các công cụ gián tiếp chưa được sử dụng Việc áp dụng công cụ này đã đạt kết quả nhất định, khống chế được mức tăng dư nợ tín dụng từ 5% (năm 1993) xuống còn 27,5% (năm 1994) Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dần vai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán vì lạm phát có xu hướng giảm và thấp dần; mặt khác nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng tăng và cần phải mở rộng tín dụng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế Do đó
từ quý II/1998, NHNN đã không áp dụng công cụ này như một công cụ thường xuyên để điều hành chính sách tiền tệ, mà chỉ sử dụng công cụ này khi cần phải hạn chế sự gia tăng tín dụng nhanh chóng
Công cụ này sẽ được xoá bỏ hoàn toàn khi thị trường tiền tệ ổn định, thị trường vốn phát triển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả
I.2.2.2 Tái cấp vốn
Thực hiện công cụ tái cấp vốn, từ năm 1994 đến nay đang từng bước hoàn thiện cơ chế cho vay các NHTM trên cơ sở bù đắp thiếu hụt thanh toán, đáp ứng nhu cầu thiếu vốn cho các NHTM để cho vay nền kinh tế; tạo ra kênh cung ứng vốn tín dụng có sự kiểm soát của NHNN, không cung ứng tràn lan như những năm trước đây, qua đó mà NHNN
có thể kiểm soát được lạm phát; việc cho vay thanh toán bù trừ đã hỗ trợ hệ thống thanh toán giữa các TCTD Nhưng xét trên giác độ là công cụ CSTT để điều tiết dự trữ của hệ thống NHTM thì hiệu lực của công cụ tái cấp vốn có những thời điểm còn rất hạn chế do các NHTM không phụ thuộc vào nguồn vốn của NHNN trong quá trình hoạt động vì họ luôn có số dự trữ vượt mức cao ở NHNN Tình trạng thừa vốn kéo dài của các NHTM cho đến nửa đầu năm 2000 đã làm triệt tiêu tác động của công cụ tái cấp vốn đến MB qua cả khối lượng và giá Hơn nữa, lãi suất tái cấp vốn không gây hiệu ứng với lãi suất thị trường và không có tác dụng kích thích tăng giảm nhu cầu tiền tệ, sự thay đổi giảm lãi suất tái cấp vốn trong thời gian qua cũng không làm tăng nhu cầu vay vốn của các NHTM
I.2.2.3 Công cụ lãi suất
Trong thời gian qua cơ chế điều hành lãi suất đã từng bước thay đổi theo tự do hóa, chuyển dần từ công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp
Năm 1996, NHNN qui định các mức lãi suất trần theo thời hạn cho vay và quyết định chênh lệch giữa lãi suất cho vay huy động vốn Đến năm 1998, NHNN xóa bỏ quyết định chênh lệch lãi suất, chỉ còn qui định trần lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi được tự do hóa Từ ngày 5/8/2000 cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng động nội
tệ sẽ thay thế bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, TCTD ấn định lãi suất cho vay đối
Trang 20với khách hàng trên cơ sở lãi suất cơ bản cộng với một biên độ do Thống đốc NHNN qui định từng thời kỳ.
Từ ngày 1/6/2002 ngân hàng nhà nước quyết định chuyển sang cơ chế lãi suất ổn định Đồng VN của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng Đây là một sự “cởi trói” cho các tổ chức tín dụng trong các hoạt động kinh doanh, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động trong hoạt động huy động vốn và cho vay đối với khách hàng Cơ chế mới đã tạo ra sự sôi động trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của các tổ chức tín dụng Nếu như với cơ chế lãi suất cơ bản, trong các đầu năm 2002 lãi suất huy động vốn dừng lại ở mức 0,6%/tháng, lãi suất cho vay bình quân là 0,7%/tháng, thì từ khi áp dụng
cơ chế lãi suất thỏa thuận từ tháng 6 năm 2002 và nhất là trong các tháng 8 và 9 năm 2002 lãi suất huy động vốn cao nhất của các NHTM lên tới 0,7% thậm chí 0,72% / tháng Mức lãi suất cao nhất trong vòng gần hai năm qua, không dừng lại ở đó các tháng đầu năm
2003 do nhu cầu vốn vay trên thị trường vẫn cao các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng vẫn tiếp tục cuộc cạnh tranh huy động vốn thông qua các biện pháp nâng lãi suất huy động Thực hiện các hình thức khuyến mại rầm rộ và hấp dẫn Đã xuất hiện diễn biến bất thường trên thị trường tiền tệ Việt Nam là lãi suất nội tệ tăng lên quá cao, trong khi lãi suất ngoại tệ giảm xuống quá thấp
Đến tháng 8/2008, trước bối cảnh lạm phát và nhập siêu tăng nhẹ đe dọa đến kinh
tế vĩ mô, cùng các giải pháp thắt chặt tiền tệ, NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản từ 8.24%/năm lên 8.75%, 12%-14%, điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn từ 6.5%/năm, lên 7.5%-13%-15%/năm, lãi suất chiếu khấu từ 4.5%/năm lên 6%; 7% - 13%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng được điều chỉnh từ 10.8%/năm lên 15%/năm NHNN qui định trần lãi suất huy động ở mức 12% từ 16/2/2008 Đến ngày 19/5/2008, NHNN điều hành lãi suất theo quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, theo đó lãi suất huy động và cho vay tối đã sẽ bằng 150% lãi suất cơ bản Những tháng cuối năm để hạn chế tác động của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, NHNN đã điều chỉnh giảm các loại lãi suất chỉ đạo QĐ 16 không phải là bước thắt nút trong xu hướng từ do hóa lãi suất mà đây là một biện pháp tình thế Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, có sự điều tiết của Nhà nước (có thể gọi đó là nền kinh tế hỗn hợp) Việc Nhà nước tham gia điều tiết thị trường tiền tệ là bình thường Ngoài ra, là qui định hành chính, khi cần thiết, lãi suất cơ bản được ban hành (hoặc điều chỉnh) tại thời điểm nhất định nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn và chứa đựng nguy cơ xấu (thâm hụt ngân sách, nguy cơ lạm phát…), sự can thiệp của Nhà nước vào hệ thống tài chính - tiền tệ vẫn thực sự cần thiết và không thể thay thế
Hiện nay, có những ý kiến đòi loại bỏ lãi suất cơ bản trong hoạt động tài chính - tiền tệ phải chăng còn nóng vội, chưa hiểu hết những khó khăn của kinh tế Việt Nam vì
Trang 21sau khủng hoảng kinh tế, còn rất nhiều tiềm ẩn rất nhiều khó khăn, tăng trưởng không bền vững và nguy cơ lạm phát có thể tái diễn Vì vậy, việc loại bỏ lãi suất cơ bản ngay lúc này có thể là một biện pháp khá nóng vội, không nên loại bỏ
I.2.2.4 Công cụ dự trữ bắt buộc
Trong suốt thời gian qua, cơ chế quản lý dự trữ bắt buộc của NHNN Việt Nam có nhiều bổ sung, sửa đổi theo hướng vừa đảm bảo việc quản lý của NHNN, vừa tạo sự thông thoáng cho hoạt động của các ngân hàng, vừa phù hợp với yêu cầu kiểm soát tổng phương tiện thanh toán
Cho tới năm 1998, quy chế DTBB có những thay đổi đáng kể: Đối tượng áp dụng được mở rộng thêm (quỹ TDND, NH hợp tác); số tiền DTBB phải gửi tại NHNN để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thay cho quy định về cơ cấu tiền DTBB trước đây: 70% gửi tại NHNN và 30% tiền mặt, ngân phiếu còn thời hạn thanh toán; việc trả lãi tiền DTBB do Chính phủ quy định
Để tạo đà khôi phục, phát triển kinh tế trong năm 1999-2002 tỉ lệ DTBB được điều chỉnh nhiều lần theo xu hướng giảm nhằm nới lỏng tiền tệ, kích thích đầu tư, tiêu dùng Việc giảm tỷ lệ DTBB trên đã đóng góp phần nhất định vào việc mở rộng tín dụng, giảm chi phí hoạt động và góp phần làm dịu đi những khó khăn của các NHTM do lãi suất giảm
Giai đoạn 2003-2010, công cụ DTTBB đã được điều chỉnh linh hoạt, thận trọng nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát và góp phận tăng trưởng kinh tế, tùy thuộc vào từng giai đoạn để có từng bước tăng giảm hợp lý
Đặc biệt năm 2008, do sự biến động mạnh của nền kinh tế, tiền tệ thế giới trong nước, công cụ DTBB được sử dụng như một trong các biện pháp hữu hiệu để kiềm chế lạm phát năm 2008 Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháng 2/2008 NHNN điều chỉnh tăng 1% tỷ lệ DTBB đối với tất cả các kỳ hạn Đồng thời mở rộng diện phải DTBB đói với loại tiền gửi kỳ hạn từ 24 tháng trở lên (trước đây chỉ bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 24 tháng) nhằm nâng cao khả năng điều tiết công cụ DTBB Những tháng cuối năm nhằm hỗ trợ các TCTD tăng cường cung ứng vốn cho nền kinh tế ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN lại điều chỉnh giảm DTBB Riêng năm 2008, NHNN
đã có tới 3 lần điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm điều chỉnh linh hoạt thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ ổn định lạm phát, nhờ tác động này với độ trễ nên năm 2009, lạm phát đã được kiềm chế ở mức 1 con số là 6.9%
Năm 2009, thực hiện giảm dự trữ bắt buộc, nhằm hỗ trợ vốn khả dụng cho các tổ chức tín dụng, tạo đều kiện để các tổ chức mở rộng huy động vốn và tín dụng cho nền kinh tế Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ giúp các ngân hàng giảm chi phí đầu vào và cấp tín dụng với giá rẻ hơn cho cá nhân và doanh nghiệp
Năm 2010 NHNN đã có một quyết định khá táo bạo là giảm tỷ lệ dự trữ ngoại tệ bắt buộc của các tổ chức tín dụng (TCTD) từ 7% xuống 4% Quyết đinh này ban hành vào thời điểm cung cầu ngoại tệ đã giảm nhiệt do một số động thái kịp thời như kết hối
Trang 22các tập đoàn, tổng công ty lớn và tỷ giá điều chỉnh mới đã bắt đầu ngấm Cùng với khả năng phát hành thành công trái phiếu 1 tỷ USD khá cao thì việc giảm DTBB là một động thái mạnh mẽ, quyết liệt đã khơi thông một nguồn vốn không nhỏ cho thị trường Trong bối cảnh kinh tế thế giới xác định đã qua đáy khủng hoảng thì doanh nghiệp rất khát vốn
để mở rộng sản xuất đón đầu tăng trưởng trở lại
Có thể nói, NHNN đã đưa ra các chính sách về dự trữ bắt buộc khá phù hợp và kịp thời Trách nhiệm còn lại thuộc về các TCTD và các doanh nghiệp Hy vọng, trong năm
kỷ niệm đại lễ nghìn năm Thăng Long, con rồng nhỏ Việt Nam sẽ sớm vươn mình cất cánh mạnh mẽ
I.2.2.5 Nghiệp vụ thị trường mở.
Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) bắt đầu được sử dụng ngày 12/7/2002 và sau hơn 8 năm hoạt động đã đạt được những thành công nhất đinh:
số thành viên tham gia mới là 4 thì tới nay đã có 22 TCTD được công nhận là thành viên tham gia NVTTM
Tần suất và khối lượng trúng thầu tăng dần qua các năm Khi thị trường mở mới đi vào hoạt động thì khoảng cách này là 10 ngày/phiên Từ tháng 1/2001 tới tháng 2/2002
là 1 tuần một phiên và từ tháng 5/2002 trở tăng lên 2 phiên mỗi tuần, Từ tháng 11/2004, NHNN đã tăng định kỳ giao dịch lên 3 phiên/ tuần và đến nay mỗi ngày có từ 2 đến 3 phiên giao dịch, đến ngày 21/12/2009 cho tới nay là 2 phiên/ngày
đến lượng vốn mỗi ngày Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ qua thị trường mở có từ 12.000 – 15.000 tỷ đồng; nghiệp vụ thị trường mở được tăng cường 2 phiên/ngày, chứng tỏ công
cụ tiền tệ được sử dụng linh hoạt, có thể kiểm soát được tình hình vốn khả dụng của các NHTM
NHNN khẳng định: Sẽ tiếp tục triển khai các nghiệp vụ TTTT một cách hiệu quả, linh hoạt theo tín hiệu thị trường, đảm bảo nhu cầu thanh khoản cho các TCTD và an toàn hệ thống Trên cơ sở đó, Ban Điều hành Thị trường mở sẽ xem xét sử dụng các phương thức đấu thầu khối lượng, lãi suất với các kỳ hạn phù hợp, đồng thời tăng cường tính hiệu quả của thị trường liên ngân hàng NHNN sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy chế, quy trình nghiệp vụ TTTT, phối hợp với Trung tâm lưu ký Chứng khoán trong việc lưu
ký Giấy tờ có giá để các hoạt động TTTT diễn ra thuận lợi nhất, hỗ trợ tối đa cho các TCTD
I.2.2.6 Tỷ giá hối đoái.
Luật NHNN năm 1997 coi tỷ giá hối đoái là công cụ CSTT Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của nhà nước, NHNN xác định và công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam Thời gian qua với sự chỉ đạo sát sao của Thường trực Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, Ngành, NHNN đã điều hành tỷ giá linh hoạt, thực hiện được các mục tiêu của
Trang 23chính sách tỷ giá, đảm bảo thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng, góp phần thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Cụ thể:Can thiệp thị trường ngoại hối với mức tỷ giá mua vào và bán ra được điều chỉnh linh hoạt, kịp thời bán ngoại tệ để can thiệp, hạ nhiệt thị trường khi thị trường dư cầu và mua ngoại tệ vào ở mức hợp lý, nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế nhập siêu trong thời điểm dư cung ngoại tệ.CSTT và chính sách tỷ giá được điều hành, phối hợp đồng bộ Lãi suất VND tăng trong lãi suất USD giảm đã tạo sự hấp dẫn cho tiền đồng, góp phần ổn định tỷ giá.
Trong bối cảnh cung cầu ngoại tệ và tỷ giá trên thị trường biến động phức tạp, có những thời điểm biến động đột biến, NHNN kịp thời bám sát diễn biến trên thị trường, thường xuyên theo dõi cập nhật thông tin và đánh giá các dòng vốn vào, ra để có chính sách điều hành tỷ giá thích hợp
I.2.3 Hiệu quả CSTT ở Việt Nam trong thời gian qua.
Từ năm 1997, việc điều hành CSTT của NHNN thu được một số thành công nhất định
kích cầu của chính phủ, khôi phục tăng trưởng kinh tế và khắc phục tình trạng thiểu phát Giai đoạn 2002-2007 với những chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động kinh tế ngân hàng, CSTT góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Tốc độc tăng trưởng kinh tế năm
2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007 là 7,08%, 7,34%,7.79%, 8.43%, 8.01%, 8.24% ), lạm phát đã tăng lên đảm bảo chỉ tiêu đề ra (lạm phát năm 2002, 2003, 2004, 2005, 2006
là 4%, 3%, 3%, 6.5%, 6.6%)
tiếp sang các công cụ gián tiếp Chấm dứt việc sử dụng công cụ hạn mức tín dụng từ
Trang 24năm 1998, đưa nghiệp vụ thị trường mở vào hoạt động từ tháng 7/2000, công cụ tỷ giá được sử dụng linh hoạt… Các công cụ được phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ.
thường xuyên và đột biến của TCTD
Song không phải lúc nào hiệu quả CSTT cũng đạt như mong muốn và việc điều hành CSTT cũng đạt như mong muốn và việc điều hành CSTT trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế nhất đinh:
quả CSTT không đạt được như mong muốn (Trong khi tốc độ tăng M2 trong các năm
1999, 2000, 2001 lần lượt là 39,3%, 39%, 28.3% thì tốc độ tăng GDP tương ứng chỉ là 4.8%, 6.8%, 6.8%)
hai con số là 12.6%
động CSTT chưa chính xác Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở thiếu chủ động, số lượng giao dịch thực tế chênh lệch xa so với số lượng giao dịch mục tiêu
trường nên nhiều khi không theo đuổi được mục tiêu hoạt động của mình
2.3 Thực trạng cơ chế truyền tải CSTT qua kênh tín dụng.
I.2.4 Tác động truyền tải qua kênh tín dụng ngân hàng.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của hội nhập quốc tế, các chủ thể kinh doanh phải đương đầu với nhiều thách thức mới Trong hoàn cảnh như vậy TDNH trở thành mắt xích trọng yếu của hoạt động kinh tế Bên cạnh đó do thị trường vốn còn non yếu chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế nên kênh tính dụng ngân hàng trở thành kênh truyền dẫn trong đó CSTT quan trọng và phổ biến Kênh tín dụng ảnh hưởng làm tăng tiền gửi từ đó ảnh hưởng tới khối lượng cho vay của các ngân hàng và cuối cùng trong đó tới những mục tiêu kinh tế vĩ mô
Trong những năm gần đây, CSTT thực hiện theo hướng mở rộng để thực hiện chương trình kích cầu của Chính phủ Khi thực hiện CSTT nới lỏng, lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ tăng lên từ đó ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay, kích thích đầu tư, tín dụng và kết quả là kinh tế tăng trưởng Song không phải lúc nào CSTT cũng đạt được như mong muốn, có khi tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với lượng tiền cung ứng tăng thêm Vì sự truyền dẫn ảnh hưởng từ sự tăng M2 tới tăng trưởng kinh tế là một quá trình phụ thuộc
Bảng 2: Diễn biến tốc độ tăng M2, huy động vốn, dư nợ cho vay, GDP, lạm phát
tăng M2 tăng tiền Tốc độ
gửi ngân hàng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Tăng trưởng vốn đầu
tư toàn
Tốc độ tăng trưởng GDP
Chỉ số lạm phát
Trang 25phục đà phát triển kinh tế NHNN đã thực hiện CSTT mở rộng (đặc biệt là năm 1999 tốc
độ tăng M2 cao tới 39.3%) nhằm thực hiện chương trình kích cầu của chính phủ tới hàng loạt các tín hiệu thông báo chiều hướng duy trì điều kiện thuận lợi của NHNN là giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tiền gửi nội tệ cũng giảm (1999-2003) song hiệu quả CSTT không đạt được như mong muốn Trong giai đoạn 1999-2000, khi lượng tiền cung ứng tăng ở mức độ cao (năm 1999: 39,3%, năm 2000: 39%) thì tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp (năm 1999: 4,8%, năm 2000: 6,8), mức lạm phát cũng rất thấp, đây là giai đoạn thiểu phát của nền kinh tế
mở rộng đạt mức bình quân rất cao với mức 26,7% năm Chính điều này là yếu tố gây nên mức lạm phát cao chưa kể độ trễ và lũy tích của việc tăng cung tiền đối với nền kinh
tế trong các năm kế tiếp, đây là giai đoạn bùng phát lạm phát trên 20% ở năm 2008 Đặc biệt vào năm 2006 là năm trước khi bùng nổ lạm phát, tốc độ mở rộng cung tiền đạt tới đỉnh điểm 33,6% và cùng với các yếu tố khác đã góp phần làm tăng lạm phát trong năm
kế tiếp Kết quả là lạm phát dường như ngoài tầm kiểm soát trong những tháng cuối năm
2007 và đầu năm 2008 và gây nên những ảnh hưởng tới quá trình tăng trưởng bền vững của nền kinh tế
những năm gần đây Tăng trưởng cung tiền M2 luôn lần lượt duy trì ở mức khoảng 30%
kể từ năm 2004, đặc biệt tăng vọt lên khoảng 50% vào năm 2007 Cung tiền chính là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho lạm phát ở Việt Nam trở nên “vượt trội”
so với các nước trong khu vực Chẳng hạn như vào thời điểm tháng 6/2007, lượng tiền
Trang 26mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng ở Việt Nam đã tăng tới 21,1% so với đầu năm như các con số tương ứng của Trung Quốc và Thái Lan lần lượt chỉ là 10% và 1,4%
Nam tăng 22%, nhưng mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng đã tăng lên đến 110% Trong khi đó, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50%
Việc điều hành cung tiền ở Việt Nam nhiều năm qua, các cơ quan chức năng luôn thể hiện sự chậm trễ, thiếu nhất quán Ví như tại những tháng đầu năm 2008, khi lạm phát tăng liên tiếp và tăng mạnh thì các nhà hoạch định chính sách tiền tệ lại loay hoay giữa việc hút tiền về thông qua bán trái phiếu và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, với việc bơm tiền ra trước đòi hỏi đáp ứng thanh khoản của các ngân hàng thương mại và mua vào ngoại tệ nhằm duy trì tỷ giá Những hành động này một mặt khiến cho các doanh nghiệp
và các cá nhân trong nền kinh tế gặp khó khăn trong công tác dự báo và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, mặt khác đẩy kỳ vọng lạm phát lên cao
Tổng phương tiện thanh toán và dự nợ tín dụng đang ở mức cao bắt nguồn từ việc nới lỏng chính sách tiền tệ mà nhất là việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất Mức tăng cao này ảnh hưởng không thuận lợi tới việc kiểm soát lạm phát và ổn định lãi suất thị trường trong năm 2009 và sẽ còn kéo dài sang năm 2010 do độ trễ của tác động chính sách tiền
tệ Khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước vẫn được đảm bảo và đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán của nền kinh tế Đến hết tháng 10/2009, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng tăng 31,09%, tổng tài sản tăng 26,49% so với cuối năm 2008 Chênh lệch thu - chi tăng 53,09% so với cuối năm 2008 và dư nợ xấu của toàn hệ thống chiếm 2,2% tổng dư nợ cho vay, tăng nhẹ so với tỉ lệ nợ xấu năm 2008 là 2,17%
Nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2010 là ổn định kinh tế vĩ mô, nâng mức tăng trưởng của nền kinh tế lên 6,5% và đảm bảo an sinh xã hội là ba mục tiêu chính trong năm 2010 Trong đó có trách nhiệm lớn và ở chừng mực nào đó có yếu tố quyết định của ngành ngân hàng Ngân hàng Nhà nước theo đó phải làm tốt vai trò của ngân hàng Trung ương, vừa tham mưu vừa điều hành chính sách tiền tệ và các ngân hàng thương mại cũng phải tham gia nhằm đạt các mục tiêu này
Kế hoạch hành động trong năm 2010 theo Ngân hàng Nhà nước thông báo là: giảm mức tăng tổng phương tiện thanh toán và dự nợ tín dụng đối với nền kinh tế xuống còn 25% so với cuối năm 2009; định hướng điều hành lãi suất và tỉ giá ở mức hợp lý, phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ mô, đảm bảo ổn định hoạt động và an toàn hệ thống; Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ áp dụng biện pháp điều hành cung ứng tiền chặt chẽ và thận trọng Các mức lãi suất cơ bản, tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu cũng được điều chỉnh linh hoạt để kiểm soát mặt bằng lãi suất thị trường ở mức hợp lý và thực dương, tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng
Trang 27Tỉ giá liên ngân hàng cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với tín hiệu thị trường theo hướng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập siêu và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Tác động của M2 tới biến số kinh tế vĩ mô qua kênh tín dụng là một quá trình được diễn ra như sau:
I.2.4.1 Tác động của lượng tiền cung ứng tới tốc độ tăng tiền gửi ngân hàng.
− Khi tăng M2 thì tiền gửi vào ngân hàng tăng lên
Đồ thị 1: Mối quan hệ tăng mức cung tiền
M2 và tốc độ tăng tiền gửi ngân hàng
M2 Tốc độ tăng tiền gửi ngân hàng
Nhìn vào đồ thị ta thấy M2 và tiền gửi ngân hàng tăng cùng chiều hướng và gần như hoàn toàn trùng khớp với nhau
Từ năm 1997 khi ngân hàng thực hiện CSTT mở rộng thì vốn tiền gửi cũng tăng lên hàng năm, năm 2000 tốc độ tăng là 43.2% Năm 2000 có tốc độ vốn tiền gửi tăng cao như vậy là do lãi suất tiền gửi thực sự hấp dẫn người gửi tiền, công tác huy động vốn của TCTD thực hiện tốt
Sang năm 2001, tốc độ tăng vốn tiền gửi giảm mạnh chỉ có 24.5% Vì năm 2001 thị trường bất động sản sôi động, việc đầu tư vào bất động sản đem lại lợi tức cao hơn lợi tức từ tiền gửi ngân hàng Hoặc việc đầu tư vào cổ phiếu (với lợi tức từ 10-15%) cũng hấp dẫn hơn gửi tiền vào ngân hàng (lãi suất cao nhất với VND là 8%/năm, với USD là 3.5%/năm)
Năm 2002, tốc độ vốn tiền gửi tăng lên 29.22% là do lãi suất huy động vốn của ngân hàng đã tăng lên Sang năm 2003 với hàng loạt các biện pháp của NHNN trong việc điều chỉnh lãi suất thì tới cuối năm (tháng 8/2003) lãi suất hoạt động đã giảm xuống nên tốc độ tăng vốn tiền gửi thấp đi (chỉ còn 22.7%) Năm 2004, không như các năm trước, lượng vốn đầu tư vào bất động sản đã giảm đáng kể, trong khi hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn chưa sôi động, do vậy dân tạm gửi tiền vào NH để hưởng lãi Xu hướng phổ biến là gửi ngắn hạn Do tiền gửi ngân hàng tăng mạnh nên hầu hết NH đều trong tình trạng thừa vốn Lượng tiền gửi ngân hàng tăng mạnh nhất là vào năm 2007 do trong
xã hội lượng cung tiền rất lớn, hoạt động NH đổi mới mạnh mẽ tạo lòng tin cho khách hàng, cho người gửi tiền, dịch vụ phát triển đa dạng Đồng thời cũng cho thấy, người dân ngày càng có thói quen gửi tiền vào NH vừa hưởng lãi, vừa an toàn
Trang 28Nguyên nhân vốn huy động của các tổ chức kinh tế tăng nhanh do nhiều DN thực hiện IPO, số vốn thu về lớn nhưng chưa sử dụng đến, tạm thời gửi NH Một số DN bán
cổ phần cho cổ đông chiến lược, phát hành cổ phần tăng vốn quỹ thặng dư vốn và số vốn điều lệ tăng thêm chưa đầu tư được cũng tạm thời để trong tài khoản tiền gửi tại NHTM
Nhiều DN trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản thu tiền sử dụng đất, tiền bán căn
hộ, tiền bán nhà xây thô của khách hàng, chưa sử dụng đến cũng tạm thời gửi NH Quỹ đầu tư chứng khoán, vốn của các nhà kinh doanh chứng khoán, vốn chuẩn bị thành lập mới NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần, công ty chứng khoán chưa đi vào hoạt động tạm thời để trên tài khoản tại NH được lựa chọn Trong số đó có cả vốn phát hành trái phiếu chưa giải ngân được cũng để trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
Năm 2008 , tốc độ tăng tiền gửi giảm xuống chỉ còn 23.33% do các nguyên nhân: Một là, do thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, các ngân hàng thương mại bị khống chế hạn mức tín nên các doanh nghiệp, đông đảo khách hàng khác rất khó vay được vốn ngân hàng Bởi vậy các doanh nghiệp giảm tiền gửi của mình để chuyển sang sử dụng cho đầu tư Một số doanh nghiệp cho đối tác kinh doanh của mình vay Các tập đoàn cũng sử dụng vốn tiền gửi của mình để cho các đơn vị thành viên, công ty con vay, Bên cạnh đó, người dân, doanh nghiệp tư nhân, cũng giảm tiền gửi của mình để cho người thân trong gia đình, bạn bè, đầu mối bạn hàng vay kinh doanh, đầu tư, thanh toán, Hai là thị trường chứng khoán sụt giảm, giá cổ phiếu trên thị trường OTC xuống quá thấp, hàng loạt nhà đầu tư thua lỗ, thụt vốn Bởi vậy tiền của các nhà đầu tư gửi tại ngân hàng thương mại cũng sụt giảm theo Ba là một lượng đáng kể tiền của người dân được đầu tư vào vàng
Năm 2009, Những đợt tăng lãi suất huy động VND liên tiếp giữa các ngân hàng thương mại khiến tổng số dư tiền gửi của khách hàng tăng lên, đồng thời với thị trường chứng khoán, bất động sản kết hợp với cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã gây một tâm lý bất an cho khách hàng Việc gửi tiền vào ngân hàng là một lựa chọn an toàn và phù hợp nhất
I.2.4.2 Tác động của tiền gửi ngân hàng đến tăng trưởng tín dụng.
Vốn tiền gửi là vốn cơ bản để gửi ngân hàng thực hiện cho vay Do đó tỷ lệ vay nền kinh tế trên vốn tiền gửi cao chứng tỏ hiệu suất sử dụng VTG cao
Trang 29Đồ thị 1: Mối quan hệ tăng tiền gửi ngân hàng và tăng
Nguồn báo cáo thường niên NHNN các năm 1997-2009
Từ năm 1997-1999, trong khi tốc độ tăng tiền gửi ngân hàng cao (1997: 34.3%, 1998: 30.5%, 1999:34%) thì tốc độ tăng dư nợ cho vay nền kinh tế thấp (1997: 22.6%, 1998:16.4%, 1999: 19.2%) Vậy rõ ràng trong giai đoạn này các ngân hàng bị ứ đọng vốn Nguyên nhân ở đây do nền kinh tế hấp thụ vốn kém, hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Riêng năm 1999, tốc độ tăng VTG rất cao (34%) thì tăng trưởng tín dụng chỉ tăng có 19.2% Chính vì vậy mà tốc độ tăng GDP rất thấp 4.8% Vậy hiệu suất
sử dụng vốn tiền gửi của ngân hàng đã ảnh hưởng tới hiệu quả truyền dẫn trong đó CSTT qua kênh tín dụng
Từ năm 2000 trở đi, tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng tiền gửi ngân hàng chênh lệch không đáng kể, hiệu suất sử dụng tiền gửi ngân hàng của ngân hàng tăng lên Nhưng lại xảy ra hiện tượng thiếu vốn VND để cho vay trong khi lại thừa vốn ngoại tệ Nguyên nhân là do lãi suất VND giảm thấp khiến dân chúng chuyển từ tiền gửi bằng VND sang gửi tiền bằng USD thậm chí họ đi vay VND để mua USD
Năm 2004 tốc độ tín dụng tăng lên 41.65% là do nhu cầu vốn cho nền kinh tế tiếp tục trong trong khi thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… tăng lên; lãi suất huy động tương đối ổn định kích thích đầu tư
Và đỉnh điểm, tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng cao nhất là 2007, tăng lên đến 53.89% so với năm 2006 chỉ 25.4% Tăng trưởng tín dụng cao nguyên nhân là do những năm trước, luồng vốn tín dụng chủ yếu đổ vào các ngành quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế như hạ tầng, công nghiệp, thương mại-dịch vụ, xuất khẩu…đến năm 2007
đã có sự chuyển dịch đáng kể vốn sang các lĩnh vực khác như: đầu tư kinh doanh CK, BĐS, vàng và cho vay tiêu dùng Những lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro Nguyên nhân của
sự chuyển dịch luồng vốn tín dụng thì có nhiều, nhưng nguyên nhân chính vẫn là do
Trang 30TTCK phát triển mạnh tạo điều kiện cho các DN huy động vốn, nhất là vốn trung-dài hạn qua phát hành CP và trái phiếu, giảm vay vốn NH Vì vậy, trước sức ép về lợi nhuận
và cạnh tranh buộc các NH phải mở rộng cho vay
Năm 2008, tăng trưởng tín dụng là 23.38%, thấp hơn so với mức tăng 53.89% của năm 2007 Nguyên nhân là do: Thứ nhất: tín dụng năm 2007 tăng quá nóng, căng thẳng vốn khả dụng và thanh khoản, hoạt động của các ngân hàng thương mại bắt đầu xuất hiện hiện tượng khan hiếm tiền VND nên ngân hàng hạn chế cho vay Thứ hai: rào cản lãi suất cao, mức lãi suất lên đến 24% - 25% đối với VND trở thành một thách thức lớn đối với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vay vốn, cũng như hạn chế khả năng tiếp cận Thứ ba, khó khăn từ thị trường chứng khoán và bất động sản dẫn tới sự thận trọng
và hạn chế cho vay của các ngân hàng thương mại Thứ tư: Nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước “chốt” mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm ở mức 30% không cho tăng trưởng tín dụng quá nóng như năm 2007
Năm 2009, tốc độ tăng trưởng tín dụng là 37.73% Con số trên đã vượt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 30% đề ra cho cả năm Ngân hàng Nhà nước lý giải: “Do tác động của các giải pháp kích thích kinh tế, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, hộ sản xuất tăng cao, kéo theo tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng ở mức cao.”NHNN cho rằng, huy động vốn của các tổ chức tín dụng đã gặp nhiều khó khăn trong năm qua, ảnh hưởng đến khả năng cân đối vốn của các tổ chức tín dụng Lãi suất huy động tăng cao trong khi trần lãi suất cho vay bị khống chế bởi lãi suất cơ bản làm chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay bị thu hẹp, gây khó khăn cho việc trích lập dự phòng rủi ro và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng Việc nới lỏng chính sách tiền tệ, nhất là thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất khiến cho tổng phương tiện thanh toán và
dư nợ tín dụng đang ở mức cao, ảnh hưởng không thuận lợi đối với việc kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất thị trường trong năm 2009 và sẽ kéo dài sang năm 2010 do độ trễ của tác động chính sách tiền tệ
Năm 2010 dư nợ tín dụng 5 tháng đầu năm tăng mạnh và ước đạt 10.52% Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), so với tháng trước, dư nợ tín dụng trong tháng 6 ước tăng khoảng 3,06%, mức cao nhất kể từ đầu năm Đây là tín hiệu chứng tỏ các NH bắt đầu mở rộng tín dụng để đạt mức tăng trưởng theo chỉ tiêu cả năm 25%
Báo cáo của NHNN cũng cho thấy, không chỉ tín dụng tăng mạnh, tổng nguồn vốn huy động của toàn hệ thống ngân hàng 6 tháng đầu năm ước tăng 10,82%, tổng phương tiện thanh toán ước tăng 9,6%
Đối với những diễn biến lãi suất trên thị trường thời gian qua, NHNN khẳng định,
từ cuối tháng 5, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn trên 3 tháng tăng chủ yếu do sức ép tăng huy động vốn để cho vay Việc giảm lãi suất thị trường đang gặp khó khăn do lãi suất huy động chưa được giảm thời gian trước và chênh lệch lãi suất của các NH thương mại không cao (khoảng 2,5%), nên lãi suất cho vay chưa có điều kiện để giảm xuống mức lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ