1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam

52 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Nhóm Ngành Quản Trị Dịch Vụ Du Lịch Và Lữ Hành Các Di Sản Văn Hóa Thế Giới Ở Việt Nam
Người hướng dẫn Giảng Viên: Phạm Thị Vân Anh
Trường học Trường Ngoại Ngữ - Du Lịch
Chuyên ngành Quản Trị Dịch Vụ Du Lịch Và Lữ Hành
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nam
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. KIẾN THỨC CƠ BẢN (7)
    • 1. Công ước di sản thế giới (7)
    • 2. Tiêu chí công nhận di sản thế giới của UNESCO (9)
  • II. Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam (11)
    • 1. Quần thể di tích Cố đô Huế (11)
    • 2. Khu đền tháp Mỹ Sơn (20)
    • 3. Phố cổ Hội An (25)
    • 4. Hoàng Thành Thăng Long (28)
    • 5. Thành nhà Hồ (33)
  • III. Giải pháp phát triển du lịch tại di sản (49)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (50)
  • PHỤ LỤC (51)

Nội dung

Công ước di sản thế giớia Khái niệm: Công ước di sản thế giới là sự kết hợp những nội dung cơ bản của việc bảo tồn tự nhiên và văn hóa trong một văn bản thống nhất và bổ sung thêm những

KIẾN THỨC CƠ BẢN

Công ước di sản thế giới

Công ước di sản thế giới là sự kết hợp những nội dung cơ bản của việc bảo tồn tự nhiên và văn hóa trong một văn bản thống nhất và bổ sung thêm những giá trị tự nhiên, văn hóa và kết hợp chặt chẽ những giá trị văn hóa với môi trường tự nhiên.

Di sản thế giới (World Heritage Site) là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố do các nước có tham gia Công ước di sản thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) Sau đó Chương trình quốc tế Di sản thế giới sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung.

Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:

- Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.

- Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học.

Theo Công ước di sản thế giới thì di sản thiên nhiên là:

- Các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động sáng tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học.

- Các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn.

- Các địa điểm tự nhiên hoặc các vùng tự nhiên được phân định rõ ràng, có giá trị nổi bật toàn cầu về mặt khoa học, bảo tồn hoặc thẩm mỹ

Năm 1992, Ủy ban di sản thế giới đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là di sản kép, để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản Một địa danh được công nhận là di sản thế giới hỗn hợp phải thỏa mãn ít nhất là một tiêu chí về di sản văn hóa và một tiêu chí về di sản thiên nhiên.

* Vai trò của Công ước:

- Xác định những di sản tự nhiên hoặc văn hóa nào sẽ được xem xét để đưa vào Danh sách Di sản Thế giới, giao cho các quốc gia nhiệm vụ xác định những di sản còn chưa được đưa vào Danh sách và xác định vai trò của chính phủ nước đó trong việc bảo vệ và bảo quản di tích.

- Mô tả rõ các chức năng của Uỷ ban Di sản Thế giới, cách thức lựa chọn và nhiệm kỳ hoạt động của những thành viên của Uỷ ban và xác định những cơ quan tư vấn chuyên môn trong việc đưa một di sản vào Danh sách Di sản Thế giới.

- Hướng dẫn cụ thể cách sử dụng và quản lý Quỹ Di sản Thế giới và những điều kiện để một nước có thể nhận được hỗ trợ tài chính quốc tế cho di sản của nước mình. b) Biểu tượng di sản thế giới:

Một khi di sản được lựa chọn thì tên và địa điểm của nó được ghi vào Danh sách Di sản Thế giới

Hình 0 Biểu trưng của Di sản Thế giới Nguồn UNESCO

Biểu trưng của di sản thế giới bao gồm 2 phần, hình tròn và hình vuông Phần hình vuông biểu diễn những di sản văn hoá do con người tạo nên Hình tròn biểu diễn cho Trái Đất hay di sản thiên nhiên Mối liên hệ khăng khít giữa di sản văn hoá và di sản thiên nhiên được thể hiện bởi nét gạch nối hai biểu tượng này với nhau Ngoài ra vòng tròn ở ngoài còn thể hiện trách nhiệm của chúng ta là phải bảo vệ các di sản này cho các thế hệ mai sau.

Tiêu chí công nhận di sản thế giới của UNESCO

Để được đưa vào danh sách Di sản thế giới , một tài sản cần phải đáp ứng một hoặc nhiều tiêu chí văn hóa hay thiên nhiên cụ thể và phải chứng minh được giá trị nguyên vẹn và / hoặc nguyên bản của nó Cụ thể thì để được ghi vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO, một tài sản phải đáp ứng các tiêu chuẩn về văn hoá theo công ước về Di sản thế giới đã được Ủy ban về Di sản thế giới của UNESCO duyệt lại Đến năm 2005, điều này đã được sửa đổi để chỉ có một bộ 10 tiêu chí, trong đó 6 tiêu chí đầu thuộc về di sản văn hóa, còn các tiêu chí 7 đến 10 thuộc về di sản thiên nhiên.

* Các tiêu chuẩn di sản văn hóa thế giới

(i) là một kiệt tác của tài năng sáng tạo của con người, hoặc

(ii) thể hiện sự thay đổi quan trọng các giá trị của nhân loại trong một khoảng thời gian hoặc trong một vùng văn hóa của thế giới, sự phát triển của kiến trúc hay kỹ thuật, nghệ thuật xây dựng, quy hoạch đô thị và thiết kế phong cảnh, hoặc

(iii) là bằng chứng duy nhất hoặc hiếm có nhất về một truyền thống văn hóa hoặc một nền văn minh đang tồn tại hoặc đã biến mất, hoặc

(iv) là ví dụ điển hình về một kiểu xây dựng, kiến trúc, kỹ thuật, hoặc cảnh quan minh họa cho một giai đoạn quan trọng của lịch sử nhân loại, hoặc

(v) là ví dụ điển hình của một khu định cư truyền thống, đại diện cho một hoặc một số nền văn hóa, đặc biệt khi nền văn hóa đó đang có nguy cơ bị tàn phá trước tác động của những thay đổi không thể tránh được, hoặc

(vi) gắn bó trực tiếp hoặc rõ ràng với những sự kiện hoặc truyền thống, tư tưởng hoặc tín ngưỡng, hoặc với những tác phẩm văn học và nghệ thuật có ý nghĩa phổ biến (tiêu chí này chỉ dùng cho những hoàn cảnh đặc biệt và kết hợp với những tiêu chí khác).

(vii) là ví dụ điển hình cho một giai đoạn quan trọng trong lịch sử phát triển của Trái Đất, bao gồm nguồn gốc cuộc sống, những quá trình biến đổi quan trọng diễn ra trong sự biến đổi của địa hình, những nét đặc trưng của sự hình thành hoặc biến đổi tự nhiên của các thành tạo, hoặc

(viii) là ví dụ điển hình, đại diện cho những quá trình mang tính sinh thái và sinh học quan trọng đang diễn ra trong sự phát triển liên tục của hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt, hệ sinh thái miền duyên hải và hệ sinh thái biển và của những quần thể động thực vật, hoặc

(ix) bao gồm những hiện tượng hoặc những vùng tự nhiên đặc biệt nhất có những thắng cảnh tự nhiên hiếm có và có giá trị thẩm mỹ, hoặc (x) bao gồm những môi trường sống tự nhiên quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất cho việc bảo tồn tính đa dạng sinh học, trong đó, có các loài động thực vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng dưới góc độ khoa học và bảo tồn

Nhìn hệ thống 6 tiêu chí trên, chúng ta đã nhận thấy để một tài sản được công nhận là di sản văn hóa thế giới, thì nó phải đáp ứng các tiêu chí về tính sáng tạo, tính chưa đựng lịch sử, tính duy nhất và độc đáo, đặc điểm về kiến trúc, sự sinh sống, sinh hoạt của con người Phạm vi ảnh hưởng của các di sản văn hóa thế giới là toàn cầu, do đó, các di sản này phải thể hiện được sự ảnh hưởng mạnh mẽ tới một khu vực rộng lớn, trong một giai đoạn kéo dài, ảnh hưởng sâu sắc đến con người trong giai đoạn ấy, thể hiện những nét văn hóa đặc trưng hay nền văn minh thời đại.

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam

Quần thể di tích Cố đô Huế

Quần thể di tích Cố đô Huế nằm dọc hai bên bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế Thành phố Huế là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của tỉnh, là cố đô của Việt Nam thời phong kiến dưới triều nhà Nguyễn, từ 1802 đến 1945.

* Danh hiệu: di sản văn hóa thế giới

Phần lớn các di tích này nay thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích

Cố đô Huế và được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày

11 tháng 12 năm 1993 Hiện tại, cố đô Huế đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.

Hình 1 Kinh Thành Huế_ Thừa Thiên Huế

Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới, Colombia từ ngày 6 đến 11/12/1993, UNESCO đã quyết định công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá của nhân loại Đây là di sản đầu tiên của Việt Nam được ghi tên vào danh mục Di sản thế giới, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô huế.

Quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hóa thế giới mang giá trị toàn cầu, hội tụ đủ các yếu tố theo tiêu chí số 4 của Công ước quốc tế 1972:

- Quần thể kiến trúc tiêu biểu cho những thành quả nghệ thuật độc đáo, những kiệt tác do bàn tay con người tạo dựng.

- Có giá trị to lớn về kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc trong một kế hoạch phát triển đô thị hay một chương trình làm đẹp cảnh quan tại mọi khu vực văn hóa của thế giới.

Quần thể di tích cố đô Huế - di sản được UNESCO xem là "Một thí dụ điển hình về đô thị hóa và kiến trúc của một kinh đô phòng thủ, thể hiện quyền lực của vương quốc phong kiến cổ của Việt Nam ở thời kỳ huy hoàng vào thế kỷ XIX" (UNESCO Press, ngày 11/12/1993)

- Một quần thể kiến trúc của một thời kỳ quan trọng.

- Kết hợp chặt chẽ với các sự kiện trọng đại, những tư tưởng hay tín ngưỡng có ảnh hưởng lớn hay với các danh nhân lịch sử”.

Trong biên bản phiên họp lần thứ 17, Uỷ ban Di sản Thế giới đã ghi về di sản

Cố đô Huế như sau:

“Quần thể Di tích Huế là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất được xây dựng vào đầu thế kỷ 19 Nó kết hợp triết lý Đông Phương và truyền thống Việt Nam Được hoà quyện vào môi trường thiên nhiên, vẻ đẹp và sự phong phú đặc biệt của kiến trúc và trang trí ở các toà nhà là một phản ánh độc đáo của đế chế Việt Nam ngày xưa vào thời cực thịnh của nó”.

Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO vinh danh với những tiêu chí gắn với tính chất kinh đô và hoàng gia thời phong kiến Việt Nam Những tính chất đó có thể là một trong những tiền đề quan trọng tạo nên các giá trị văn hóa nổi trội của khu di sản văn hóa thế giới này Với tính chất đặc trưng như vậy, Huế được coi là một “di sản kiến trúc đô thị” tiêu biểu của nhân loại, là nơi tích hợp, hội tụ và lan tỏa các giá trị văn hóa mang tầm cỡ quốc gia.

Trong cách đánh giá của các vua triều Nguyễn, vị trí địa lý của Huế không chỉ quan trọng về mặt giao thông, có tính chất phòng thủ, mà còn hàm chứa những ý nghĩa đặc biệt về phong thủy theo quan niệm truyền thống Á Đông Theo đó, họ tin rằng các yếu tố tự nhiên có sức mạnh chi phối đến sự thịnh suy của cả triều đại Vì thế, dưới thời Nguyễn, các cụm công trình kiến trúc quan trọng của Huế đều được thiết kế gắn liền với yếu tố cảnh quan phong thủy, như những ngọn núi, quả đồi hay dòng sông, con suối, đặc biệt là hồ nước, đều có thể mang tư cách “tiền án”, “hậu chẩm”, “tả thanh long”, “hữu bạch hổ”, Đó chính là “những thuộc tính văn hóa tâm linh tạo nên giá trị nổi bật của Di sản văn hóa thế giới Cố đô Huế”.

Sau những biến thiên dữ dội của lịch sử, Quần thể di tích Cố đô Huế hiện nay bao gồm hệ thống di tích kiến trúc thành quách, cung điện và lăng tẩm của các vua quan nhà Nguyễn ở nội và ngoại vi thành phố Mỗi đền đài, lăng tẩm là một tổ hợp những công trình kiến trúc nằm trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng Mỗi công trình kiến trúc lại mang trên mình vẻ đẹp riêng biệt như: lăng Gia Long hoành tráng; lăng Minh Mạng thâm nghiêm; lăng Thiệu Trị giản dị; lăng

Tự Đức thơ mộng; lăng Đồng Khánh xinh xắn; lăng Khải Định tinh xảo Các lăng tẩm ở Huế xứng đáng được đánh giá là thành tựu rực rỡ nhất trong các di sản kiến trúc cung đình của người Việt Nam Quả không sai khi Cố đô Huế được các chuyên gia di sản văn hóa quốc tế ví như “một kiệt tác thơ về kiến trúc đô thị”.

Hình 2 Chùa Thiên Mụ Hình 3 Lăng Khải Định

Quần thể di tích Cố đô Huế cũng để lại cho chúng ta những bài học lịch sử hết sức sinh động về thái độ ứng xử văn hóa với môi trường thiên nhiên trong quá trình đô thị hóa Quan niệm “thiên - địa - nhân”, thuyết “âm - dương”, “ngũ hành” và các nguyên tắc phong thủy điển hình của phương Đông đã được vận dụng khá nhuần nhuyễn trong việc xây dựng Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành cùng các lăng tẩm, đền đài, miếu mạo, chùa chiền Từ đó đã tạo ấn tượng mạnh mẽ về thẩm mỹ và cảm quan nghệ thuật cho du khách bốn phương Các yếu tố thiên nhiên đã trở thành một phần quan trọng trong “di sản kiến trúc đô thị” Huế Ngược lại, các công trình kiến trúc văn hóa - nghệ thuật, tôn giáo - tín ngưỡng cũng đã trở thành “Thiên nhiên thứ hai - thiên nhiên văn hóa của con người”.

Quần thể di tích Cố đô Huế không chỉ là một hợp thể hài hòa giữa thiên nhiên và kiến trúc mà còn chứa đựng sự đa dạng văn hóa, cả văn hóa vật thể và phi vật thể, trong đó lối sống cung đình của hoàng gia, nếp sống thanh lịch, tế nhị của cộng đồng cư dân Kinh thành đã trở thành yếu tố văn hóa cốt lõi làm nên sự hấp dẫn cho Huế xưa và nay.

Hình 4 Lăng Tự Đức Hình 5 Lăng Minh Mạng

* Các tiêu chí được công nhận:

1) Tiêu chí về di sản:

Cố đô Huế hiện có 7 di sản thế giới được UNESCO công nhận, trong đó có 5 di sản thuộc về 1 triều đại (triều Nguyễn), lại đủ cả 3 loại hình (vật thể, phi vật thể, và di sản tư liệu), đây là điều hiếm có trên thế giới! Hiện Việt Nam có 28 di sản thế giới được UNESCO công nhận thuộc 3 loại hình này (8 di sản vật thể, 12 di sản phi vật thể, 8 di sản tư liệu) thì Thừa Thiên Huế có đến 7 di sản (chiếm 25% về số lượng của cả nước).

Thừa Thiên Huế cũng có 2 di tích cấp quốc gia đặc biệt (tính số lượng cụ thể là

22, gồm 16 thuộc Quần thể di tích Cố đô, 6 thuộc tuyến đường Hồ Chí Minh),

87 di tích cấp quốc gia, trong đó có 1 làng di sản (làng cổ Phước Tích, là 1 trong

2 làng Di sản của Việt Nam), 79 di tích cấp tỉnh; có 2 di sản phi vật thể cấp quốc gia (ca Huế và dệt dèng - A Lưới), có hơn 500 lễ hội, có hàng chục làng nghề thủ công truyền thống, có nghệ thuật ẩm thực phong phú với hàng nghìn món ăn cung đình và dân gian nổi tiếng Có nhiều bảo tàng với các sưu tập cổ vật phong phú, trong đó có 8 nhóm hiện vật gồm 32 cổ vật đã xếp hạng bảo vật quốc gia… Điều đáng nói là tính hệ thống, sự nguyên vẹn và mức độ tập trung của các di tích, di sản của Cố đô Huế thì không có địa phương nào ở Việt Nam có thể so sánh được!

Cố đô cũng là vùng đất có nhiều di sản tự nhiên độc đáo, có giá trị tiêu biểu nổi bật không chỉ trong phạm vi đất nước và khu vực, như sông Hương, đầm phá Tam Giang (là đầm phá lớn nhất Đông Nam Á), vịnh Lăng Cô - Chân Mây (được công nhận là 1 trong 29 vịnh đẹp thế giới), rừng quốc gia Bạch Mã

2) Tiêu chí về đô thị:

Khu đền tháp Mỹ Sơn

- Nằm cách thành phố Đà Nẵng tầm gần 70 cây số, thuộc địa phận xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Thánh địa Mỹ Sơn hiện ra với một quần thể kiến trúc gồm nhiều đền đài Chămpa cùng kiến trúc vô cùng độc đáo Bị quên lãng trong một thời gian dài lên đến hàng thế kỷ, phải đến năm 1885 nơi đây mới được phát hiện và vào năm 1999 nơi này đã được UNESCO lựa chọn là di sản thế giới như một minh chứng duy nhất về nền văn minh châu Á đã bị biến mất Nếu bạn là du khách thích khám phá và tìm hiểu nền văn hóa cổ xưa thì đây là một địa điểm đáng để bạn khám phá. b) Lịch sử

- Mang dấu ấn lịch sử lâu đời

- “Di tích Mỹ Sơn là một quần thể lịch sử với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách kiến trúc điêu khắc tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử của vương quốc Champa”

- Thánh địa Mỹ Sơn có niên đại khoảng thế kỷ IV – sớm nhất ở Mỹ Sơn, vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền dâng cúng vua Bhadravarman – vị vua sáng lập dòng vua đầu tiên vùng Amaravati vào cuối thế kỷ IV, được đồng hóa với thần Siva, trở thành tín ngưỡng thờ thần – vua cùng tổ tiên hoàng tộc Đây là tổ hợp gồm nhiều đền đài của vương quốc Champa, nằm lọt trong một thung lũng nhỏ có đường kính khoảng 2 km, được bao quanh bởi núi đồi.

Hình 6 Khám phá những kiến trúc cổ đại hàng thế kỷ tại Mỹ Sơn c) Giá trị di sản

- Tháng 12-1999, khu di tích Mỹ Sơn được ghi vào danh sách di sản văn hóa thế giới của UNESCO Kể từ đó đến nay đã có hàng chục triệu lượt khách đến đây tham quan, nghiên cứu Kiến trúc sư tài ba Kazik (người Ba Lan) nhiều năm gắn bó với Mỹ Sơn cho rằng: “Người Chămpa cổ đã gửi tâm linh vào đất đá và đã biết dựa vào thiên nhiên để làm nên một Mỹ Sơn tráng lệ, thâm nghiêm, hùng vĩ. Đây là một bảo tàng kiến trúc điêu khắc nghệ thuật vô giá của nhân loại mà sẽ còn lâu chúng ta mới hiểu hết” Những di tích của khu đền tháp Mỹ Sơn là những công trình quan trọng nhất và cũng rất bí ẩn của nền văn hóa Chămpa cổ Hầu hết công trình được kết cấu bằng gạch nung với trụ đá và trang trí những phù điêu sa thạch thể hiện các giai thoại của nền văn minh sông Hằng - Ấn Độ.

- Với lịch sử hình thành trải dài gần ngàn năm, Mỹ Sơn là nơi ghi dấu sự phát triển rực rỡ, đặc sắc của nền nghệ thuật Chămpa Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất Nhiều phong cách kiến trúc Chămpa được khẳng định và phát triển trong quần thể di tích này

Là trung tâm tôn giáo vương quốc cổ Chămpa, Mỹ Sơn có một vị trí tâm linh quan trọng trong cộng đồng dân cư, là chỗ dựa tinh thần của người Chăm xưa, đồng thời đây cũng là công trình nghệ thuật độc đáo có giá trị của nhân loại Nơi đây từng viên gạch, góc tháp đều mang giá trị lịch sử, văn hóa được làm nên bằng sức sáng tạo của con người

- Giữa tháng 5-2017, khi mà đợt khai quật đầu của năm 2017 vừa tạm dừng Lãnh đạo Ban quản lý Di sản văn hóa Mỹ Sơn cho biết, trong quá trình khai quật, trùng tu nhóm tháp K Mỹ Sơn các nhà khảo cổ đã phát hiện 2 tượng có thân người, đầu hình sư tử Bức tượng được phát hiện gồm một tượng bị gãy hết tay chân (chỉ còn thân mình) và một tượng tương đối nguyên vẹn, cao khoảng 1,2m; được điêu khắc thô sơ và mờ nét bằng đá sa thạch Bước đầu, theo phỏng đoán của các nhà chuyên môn, 2 bức tượng này có thể là tượng sư tử hoặc tượng khỉ Hanuman dùng để trang trí trước cổng tháp K, vốn là một trong những tháp cổ của vương triều Chămpa Đặc biệt, nhóm khai quật còn phát hiện một con đường cổ rộng 8m được dẫn bởi hai bờ tường song song (mỗi bờ tường rộng 0,6m), bị chôn vùi ở độ sâu gần 1m so với mặt đất Bước đầu, các hiện vật và con đường được nhóm chuyên gia Ấn Độ và Việt Nam xác định có niên đại trùng với thời kỳ xây dựng tháp K (thế kỷ XI-XII)

Hình 7 Con đường cổ đại Hình 8 Lễ hội Katê của người Chăm

- Thánh địa Mỹ Sơn là nơi hội tụ những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu, độc đáo, là chứng tích sống động, xác thực về lịch sử của một trong những nền văn hóa tại Việt Nam Quần thể di tích Mỹ Sơn có giá trị nổi bật toàn cầu, là niềm tự hào chung của nhân loại Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, việc trùng tu di tích Mỹ Sơn được tiến hành và hoạt động trùng tu di sản được áp dụng theo tiêu chuẩn quốc tế, với đội ngũ các nhà khoa học cả trong và ngoài nước cùng làm việc Ngày 30-12-2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1915/QĐ-TTg kèm theo các biện pháp hành chính và ngân sách cho quy hoạch tổng thể khu di tích Mỹ Sơn giai đoạn 2008-2020 Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhằm đẩy mạnh việc bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật khu đền tháp Mỹ Sơn không chỉ cho Việt Nam mà cho cả nhân loại.

Hình 9 Toàn bộ đền đài được xây dựng trên một khu đất rộng d) Tiêu chí được công nhận

- Theo các bia ký còn lưu lại, thì khu di tích tôn giáo thờ các vị thần Ấn Độ giáo được bắt đầu xây dựng tại đây từ thế kỷ thứ IV, ban đầu bằng gỗ, bị hỏa hoạn thiêu rụi, được xây dựng lại bằng gạch, đá trong suốt nhiều thế kỷ Sau khi vương quốc Chămpa dời đô vào Đồ Bàn (Vijaya), rồi về Phan Rang

(Panduranga) Khu thánh địa này trở thành hoang phế, bị rừng che phủ trong nhiều thế kỷ.

- Năm 1898, một người Pháp tên là Camille Paris phát hiện ra khu di tích, sau đó được Louis de Finot và Launet de Lajonquière nghiên cứu các văn bia Tiếp đến năm 1901-1902, được H Parmentier và Carpeaux tổ chức khai quật, nghiên cứu Toàn khu di tích có 68 công trình lớn nhỏ, trong đó có một ngôi đền bằng đá duy nhất của các di tích Chămpa, được trùng tu lần cuối vào năm 1234.

- Trận bom B.52 của Mỹ năm 1969 đã tàn phá và làm biến dạng khu di tích một cách trầm trọng Nhiều ngôi tháp bị bom đánh sập, trong đó có ngôi tháp A1 cao 24m – một kiệt tác trong kiến trúc Chămpa.

- Sau khi kết thúc chiến tranh (1975), Nhà nước ta đã cho rà phá bom mìn, phát quang cây cỏ (20 người đã chết và bị thương do bom mìn của địch để lại).

- Năm 1980, trong chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam - BaLan, kiến trúc sư Kazimiers Kviatkowski (thường gọi là Kazik -1944-1997) được cử sang phụ trách, đã sắp xếp, gia cố các đền tháp Kazik đã có công lớn tạo dựng bộ mặt của khu di tích Mỹ Sơn còn lại ngày hôm nay từ đống hoang tàn đổ nát Ngày này, khu di tích Mỹ Sơn chỉ còn lại 30 đền tháp, nhưng không công trình nào còn nguyên vẹn.

- Ngày 29-4-1979, Bộ Văn hóa - Thông tin ra Quyết định số 54- VHTT, công nhận quần thể khu đền tháp là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

- Ngày 1-12-1999, khu di tích Mỹ Sơn được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là Di sản Văn hóa thế giới với hai tiêu chuẩn:

+) Là điển hình nổi bật về sự giao lưu văn hóa với sự hội nhập văn hóa bên ngoài vào văn hóa bản địa, đặc biệt là nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ giáo.

+) Phản ánh sinh động tiến trình phát triển lịch sử văn hóa Chămpa trong lịch sử Đông Nam Á.

Di tích Mỹ Sơn có thể sánh ngang với các di tích nổi tiếng khác ở khu vực Đông Nam Á như: Angkor (Campuchia), Pagan (Myanmar), Borobudur

Phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam.

Hình 10 Phố cổ Hội An b) Giá trị di sản

Thương cảng Hội An được hình thành từ thế kỷ 16, thịnh đạt vào thể ký 17 -18 và suy giảm dần từ thế kỷ 19 Dù không rộng lớn nhưng Hội An vẩn giữ được toàn vẹn những giá trị kiến trúc và văn hóa Vì vậy mà Hội An được là di tích văn hóa cấp quốc gia vào năm 1985.

Phố cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á Phần lớn những ngôi nhà ở đây mang kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 -19 Năm trong lòng phố cổ là những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưởng minh chứng cho sự hình thành, phát triển và suy tàn của cảng thị này Có rất nhiều dấu ấn về sự giao thoa, pha trộn văn hóa tại đây Những hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà của người Việt và một số ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp Ngoài ra, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú.

Rất nhiều di tích còn nguyên vẹn như bến cảng, phố cổ, nhà thờ tộc, đình chùa, đền miếu, các hội quán của người Hoa, lăng mộ của người Nhật và đặc biệt là biểu tượng của Hội An – Chùa Cầu (chùa Nhật Bản) Cho thấy Hội An vẩn còn lưu giữ lại những nét văn hóa, kiến trúc của các nước có quan hệ buôn bán với thương cảng này như Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Bộ Đào Nha, Pháp, Ý.

Hình 11 Chùa Cầu Hội An c) Tiêu chí được công nhận

Tại lần họp thứ 23 vào ngày 4 – 12 – 1999 của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là di sản văn hóa thế giới theo hai tiêu chí:

- Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo.

- Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế. d) Hiện trạng phát triển

Trong những năm gần đây, Quảng Nam đã trở thành điểm đến của hàng triệu du khách trong nước và quốc tế từ khắp nơi trên thế giới Tổng lượt khách tham quan lưu trú năm 2014 đạt 3.680.000 lượt khách, trong đó, khách quốc tế đạt 1.769.000 lượt, khách nội địa đạt 1.911.000 lượt, khách tham quan đạt 2.513.000 lượt, khách lưu trú đạt 1.167.000 lượt Doanh thu du lịch năm 2014 đạt 2200 tỷ đồng Thu nhập xã hội từ du lịch đạt 5.170 tỷ đồng Phố Cổ Hội An là điểm tham quan chủ yếu và quan trọng nhất trên địa bàn Quảng Nam, năm 2014 đạt 1.756.916 lượt khách tham quan, trong đó có 796.876 lượt khách lưu trú Khách đến Hội An mang nhiều quốc tịch (Úc 15,2%, Pháp 13%, Anh 9,1%, Đức 8,5%,

Mỹ 6%, Nhật 4%, Tây Ban Nha 3,5%, Hà Lan 3,3% Trung Quốc 2% ),.[2] Đặc biệt là vào các dịp lễ hội như Hành trình di sản, đêm rằm phố Cổ, lễ hội giao lưu văn hóa Việt - Nhật, liên hoan hợp xướng quốc tế, vào mùa du lịch, với số lượng khách tăng lên đột biến dẫn tới hệ thống các điểm du lịch (nhất là phố Cổ), hệ thống khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng của Hội An đã trở nên quá tải Đây chính là cơ hội để phát triển và mở rộng các điểm, các loại hình du lịch ở vùng ven phố Cổ (du lịch biển đảo, du lịch cộng đồng làng quê, làng nghề, ), các loại hình lưu trú như khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà nghỉ và cả loại hình du lịch cộng đồng.

Hình 12 Phố cổ Hội An về đêm

Tuy nhiên qua nghiên cứu cho thấy, do sự phát triển quá nhanh của du lịch Hội An trong những năm gần đây trong khi các điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng, các điều kiện đón tiếp khách vẫn chưa được đầu tư kịp thời, đồng bộ, đảm bảo đón số lượng khách đông Áp lực khách tham quan quá đông, nhất là vào các dịp lễ hội, sự kiện lớn đã làm cho khu trung tâm Phố Cổtrở nên quá tải (không gian, sức chứa, môi trường, các dịch vụ) làm tăng nhanh sự xuống cấp của cơ sở vật chất (đe dọa đến các ngôi nhà cổ), chất lượng các dịch vụ, sự cạnh tranh không lành mạnh Mặt khác, các sản phẩm du lịch của Hội An hiện nay đều dựa chủ yếu vào văn hóa khu Phố Cổ dẫn tới sự quá tải, bắt đầu có dấu hiệu nhàm chán, suy giảm sức hấp dẫn, nhất là đối với khách quay lại lần thứ 2, thứ

3 Những điều này đã làm cho các đối tượng khách, nhất là khách đến Hội An lần 2,3; khách có chi tiêu thấp, khách theo đoàn, khách nội địa chưa được quan tâm đúng mức dẫn tới các đối tượng khách này có xu hướng di chuyển ra Đà Nẵng để lưu trú với chi phí lưu trú thấp hơn, có nhiều cơ sở lưu trú để lựa chọn, có nhiều điểm du lịch thường xuyên được làm mới,

Hoàng Thành Thăng Long

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội có diện tích 20ha, bao gồm khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và các di tích còn sót lại trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như Bắc Môn, Đoan Môn, Hậu Lâu, rồng đá điện Kính Thiên, nhà con rồng, nhà D67 và cột cờ Hà Nội.

Cụm di tích này được bao bọc bởi 4 con đường: phía bắc là đường Phan ĐìnhPhùng, phía nam là đường Điện Biên Phủ, phía đông là đường Nguyễn Tri Phương và phía tây là đường Hoàng Diệu.

Hình 13 Hoàng Thành Thăng Long b) Giá trị di sản

- Là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Đông Kinh và tỉnh thành Hà Nội bắt đầu từ thời kì tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn.

- Vào lúc 20 giờ 30, ngày 31/7/2010 theo giờ địa phương tại Brasil, tức 6 giờ 30 ngày 1/8/2010 theo giờ Việt Nam, Ủy ban di sản thế giới (WHC) thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản Văn hóa thế giới.

Hình 14 Khu Khảo cổ 18 Hoàng Diệu Hình 15 Công trình kiến trúc kiểu Pháp c) Tiêu chí công nhận Ủy ban Di sản thế giới đã công nhận khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là Di sản Văn hóa thế giới dựa trên 3 tiêu chí (trong số 6 tiêu chí của UNESCO):

- Tiêu chí II: Những di tích trên mặt và khai quật được trong lòng đất tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là minh chứng về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại, đặc biệt là Phật giáo và Nho giáo, thuyết phong thủy, mô hình vương thành phương Đông, mô hình kiến trúc quân sự phương Tây (thành Vauban), để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia vùng châu thổ sông Hồng Kết quả giao thoa, tiếp biến văn hóa đó được biểu đạt trong tạo dựng cảnh quan, quy hoạch các khu cung điện, trong nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí cung đình với diễn biến văn hóa đa dạng qua các thời kỳ lịch sử.

- Tiêu chí III: Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt lịch sử liên tục 13 thế kỷ (trải dài từ thời tiền Thăng Long, qua thời Đinh- Tiền Lê, đến thời kỳ Thăng Long-Đông Kinh-Hà Nội với các vương triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn) và vẫn được tiếp nối cho đến ngay nay Những tầng văn hóa khảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của di sản phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục của các vương triều cai trị đất nước Việt Nam trên các mặt tư tưởng, chính trị, hành chính, luật pháp, kinh tế và văn hoá trong gần một ngàn năm Trên thế giới rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu như vậy của sự phát triển chính trị, văn hoá như tại khu Trung tâm

Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội.

- Tiêu chí VI: Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội minh chứng rõ nét về một di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử của một quốc gia dân tộc vùng Đông Nam Á trong mối quan hệ khu vực và thế giới

Di sản đề cử là bằng chứng thuyết phục về sức sống và khả năng phục hưng của một quốc gia sau hơn mười thế kỷ bị nước ngoài đô hộ Di sản đề cử còn ghi đậm dấu ấn thắng lợi của một nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, có ảnh hưởng rộng lớn trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới bao gồm hai cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất của Việt Nam.

Hình 16 Đoan Môn - Một trong những công trình trên mặt đất của Hoàng thành còn được lưu giữ đến ngày nay. d) Hiện trạng khai thác, phát triển du lịch

Năm 2011, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới Khu trung tâm gồm di tích khảo cổ học 18Hoàng Diệu và trục chính tâm Hoàng thành Thăng Long, tạo nên một quần thể thống nhất, là bộ phận quan trọng nhất của Kinh thành Thăng Long - kinh đô của quốc gia Đại Việt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18, với một giá trị văn hóa nổi bật, bề dày lịch sử 1.300 năm và sự giao thoa các giá trị văn hóa suốt hàng nghìn năm lịch sử.

Hình 17 Kỳ Đài – Cột cờ Hà Nội

Hơn nữa, nơi đây nằm ở vị trí trung tâm của thủ đô, rất thuận tiện cho việc kết nối các điểm di tích đặc biệt khác như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu di tích Phủ Chủ tịch, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, phố cổ…

Dù có nhiều tiềm năng như vậy, nhưng Hoàng thành Thăng Long chưa được phát huy những giá trị cả về mặt di sản và du lịch Du khách tới tham quan chưa có nhiều cơ hội được tiếp cận những thông tin để hiểu hết về giá trị của hoàng thành, do vậy lượng khách đến đây tham quan còn ít, chưa xứng tầm với một di sản đã được UNESCO công nhận.

Từ thực trạng trên, các đại biểu đã tập trung thảo luận về tiềm năng giá trị khu di sản Hoàng thành Thăng Long cho phát triển du lịch thủ đô cũng như biện pháp đẩy mạnh công tác phát huy giá trị khu di sản, thu hút khách du lịch tới Hoàng thành Thăng Long và cách thức phối hợp, kết nối chương trình tham quan Hà Nội - di sản Hoàng thành Thăng Long.

Theo các chuyên gia, giữa di sản và du lịch thực sự cần gắn kết với nhau, bởi di sản là tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch, ngược lại, du lịch là con đường hiệu quả nhất trong quảng bá, giới thiệu giá trị di sản đến rộng rãi du khách trong và người nước. Ông Mai Tiến Dũng - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội - cho rằng, cuộc tọa đàm là cơ hội để Hoàng thành Thăng Long giới thiệu sâu sắc hơn nữa giá trị của di sản này đến với giới doanh nghiệp du lịch Để từ đó, 2 bên hiểu nhau hơn và giúp các doanh nghiệp du lịch tích cực quảng bá giới thiệu, thu hút khách thăm quan đến với Hoàng thành Thăng Long, để nơi đây là một điểm đến hấp dẫn trong tương lai không xa.

Thành nhà Hồ

Thành nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai) là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu của Việt Nam dưới thời nhà Hồ), nằm trên địa phận tỉnh Thanh Hóa Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở tại Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới Thành được xây dựng trong thời gian ngắn, chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397) và cho đến nay, dù đã tồn tại hơn

6 thế kỷ nhưng một số đoạn của tòa thành này còn lại tương đối nguyên vẹn.

Ngày 27 tháng 6 năm 2011, sau 6 năm đệ trình hồ sơ, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, thành cũng được CNN đánh giá là một trong 21 di sản nổi bật và vĩ đại nhất thế giới Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt Từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 6 năm 2020, Quỹ Bảo tồn Văn hóa của Đại sứ Hoa Kỳ (AFCP) đã tài trợ 92,500 USD vào dự án bảo tồn Cổng Nam, Thành nhà Hồ. a) Vị trí địa lý

Hình 19 Sơ đồ thành nhà Hồ

- Thành Nhà Hồ thuộc địa phận các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa.

- Thành xây trên địa phận hai thôn Tây Giai, Xuân Giai nay thuộc xã Vĩnh Tiến và thôn Đông Môn nay thuộc xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa

Vị trí thành nhà hồ so với các trung tâm thành phố lân cận như sau:

• Cách thủ đô Hà Nội: 140 km (theo Quốc lộ 1, quốc lộ 38B, quốc lộ 12B và quốc lộ 45)

• Cách thành phố Thanh Hóa: 45 km (theo quốc lộ 45)

• Cách thành phố Tam Điệp: 42 km (theo Đại lộ Đồng Giao và quốc lộ 45)

- Đây là kinh thành của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407. b) Lịch sử hình thành và đặc điểm kiến trúc

Thành Tây Đô được xây vào năm 1397 dưới triều Trần do quyền thần Hồ Quý Ly chỉ huy, người không lâu sau (1400) lập ra nhà Hồ.

Theo sử sách, thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng một năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua

Thuận Tông của vương triều Trần Người quyết định chủ trương xây dựng là Hồ Quý

Ly, lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình Người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là

Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh Hình

Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều

Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới, thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là Thành nhà Hồ.

Thành đá được xây dựng trong một thời gian kỷ lục, chỉ chừng 3 tháng Các cấu trúc khác như các cung điện, rồi La Thành phòng vệ bên ngoài, đàn Nam Giao còn được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cho đến năm 1402 Hồ Quý Ly từ khi nắm quyền lực của triều Trần cho đến khi sáng lập vương triều mới đã ban hành và thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng của chế độ quân chủ cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thê kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.

Hình 22 Cấu trúc thành nhà Hồ

Theo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng Thành Tây Đô ở vào địa thế khá hiểm trở, có lợi thế về phòng ngự quân sự hơn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá Vị trí xây thành đặc biệt hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có núi non hiểm trở, vừa có ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được ưu thế giao thông thủy bộ Như mọi thành quách bấy giờ, thành bao gồm thành nội và thành ngoại Thành ngoại được đắp bằng đất với khối lượng gần 100.000 mét khối, trên trồng tre gai dày đặc cùng với một vùng hào sâu có bề mặt rộng gần tới 50m bao quanh.

Bên trong thành ngoại là thành nội có mặt bằng hình chữ nhật chiều Bắc - Nam dài 870,5m, chiều Đông - Tây dài 883,5m Mặt ngoài của thành nội ghép thẳng đứng bằng đá khối kích thước trung bình 2 m x một m x 0,70 m, mặt trong đắp đất Bốn cổng thành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng tiền - hậu - tả - hữu (Cửa Tiền hay còn gọi là Cửa Nam, Cửa Hậu còn gọi là Cửa Bắc, cửa Đông Môn và cửa Tây Giai) Các cổng đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp múi bưởi, trong đó to nhất là cửa chính Nam, gồm 3 cửa cuốn dài 33,8 m, cao 9,5 m, rộng 15,17 m Các phiến đá xây đặc biệt lớn (dài tới 7 m, cao 1,5 m, nặng chừng 15 tấn).

Các cung điện, dinh thự trong khu vực thành đã bị phá huỷ, di tích còn lại hiện nay là 4 cổng thành bằng đá cuốn vòm, tường thành và đặc biệt là Di tích Đàn tế Nam Giao còn khá nguyên vẹn Trong các phế tích đáng chú ý có nền chính điện chạm một đôi tượng rồng đá rất đẹp dài 3,62 m.

Thành Tây Đô thể hiện một trình độ rất cao về kĩ thuật xây vòm đá thời bấy giờ Những phiến đá nặng từ 10 đến 20 tấn được nâng lên cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàn toàn không có bất cứ một chất kết dính nào Trải qua hơn 600 năm, những bức tường thành vẫn đứng vững. Được xây dựng và gắn chặt với một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc, Thành Nhà Hồ còn là dấu ấn văn hóa nổi bật của một nền văn minh tồn tại tuy không dài, nhưng luôn được sử sách đánh giá cao. c) Khu di tích thành nhà Hồ

Khu di tích thành nhà Hồ với trung tâm là thành nhà Hồ, nằm ở phía tây huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, gần quốc lộ 45 Khu di tích này nằm giữa sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa giới hành chính các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, Vĩnh Long, Vĩnh Yên, Vĩnh Quang, Ninh Khang, thị trấn Vĩnh Lộc, một phần xã Vĩnh Phúc (huyện Vĩnh Lộc) và một phần xã Thạch Long (huyện Thạch Thành).

Hình 23 Khu di tích Thành nhà Hồ

Ngoài thành nhà Hồ, được gọi là thành trong, khu di tích này có:

Tường thành và Hào thành:

Từ bên ngoài, có thể thấy toàn bộ các bức tường của tòa thành được xây bằng các khối đá khổng lồ có hình khối chữ nhật hoặc gần vuông, xếp không trùng mạch theo hình chữ Công "I" Trên thực tế, tường thành được cấu tạo bởi ba lớp gắn kết chặt chẽ với nhau bằng một kỹ thuật xây dựng đặc biệt:

Lớp ngoài: tường thành được xây dựng bằng "những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách tài tình"(13) Tất cả các khối đá xây được đẽo gọt công phu thành các khối vuông thành sắc cạnh, với kích thước trung bình 2,2 x 1,5 x 1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2 x 1,7 x 1,5m và 5,1 x một x 1,2m Những khối đá lớn nhất nặng tới khoảng 26,7 tấn. Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho biết, năm Tân Tỵ (1401) "Hán Thương hạ lệnh cho các lộ nung gạch để dùng vào việc xây thành Trước đây xây thành Tây Đô, tải nhiều đá tới xây, ít lâu sau lại bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá"(14) Đến nay, qua nghiên cứu sưu tầm, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ đã phát hiện có 294 địa dainh hành chính trong cả nước đóng góp xây dựng Thành Nhà Hồ. Để hoàn chỉnh công trình này, con số ước tính hơn 100,000m3 đất đã được đào đắp, hơn 20,000m3 đá, trong đó có nhiều khối đá nặng trên 20 tấn đã được khai thác, vận chuyển và lắp đặt.

Ngày đăng: 22/03/2024, 22:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]Được truy lục từ cổng thông tin điện tử: https://vi.wikipedia.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh Link
[2] Được truy lục từ cổng thông tin điện tử: https://tuoitre.vn/thanh-nha-ho---di-san-van-hoa-the-gioi- Link
[3] Được truy lục từ cổng thông tin điện tử:http://daidoanket.vn/tiem-nang-du-lich-thanh-nha-ho-khong-de-lang-phi-360759.html Link
[4] Được truy lục từ cổng thông tin điện tử:https://hoiantrip.org/pho-co-hoi-duoc-unesco-cong-nhan-vao-nam-nao/ Link
[5] Giáo trình môn Địa lí du lịch trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 0. Biểu trưng của Di sản Thế giới. Nguồn UNESCO - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 0. Biểu trưng của Di sản Thế giới. Nguồn UNESCO (Trang 9)
Hình 1. Kinh Thành Huế_ Thừa Thiên Huế - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 1. Kinh Thành Huế_ Thừa Thiên Huế (Trang 12)
Hình 6. Khám phá những kiến trúc cổ đại hàng thế kỷ tại Mỹ Sơn - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 6. Khám phá những kiến trúc cổ đại hàng thế kỷ tại Mỹ Sơn (Trang 21)
Hình 9. Toàn bộ đền đài được xây dựng trên một khu đất rộng - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 9. Toàn bộ đền đài được xây dựng trên một khu đất rộng (Trang 23)
Hình 10. Phố cổ Hội An - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 10. Phố cổ Hội An (Trang 25)
Hình 11. Chùa Cầu Hội An - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 11. Chùa Cầu Hội An (Trang 26)
Hình 13. Hoàng Thành Thăng Long - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 13. Hoàng Thành Thăng Long (Trang 29)
Hình 14. Khu Khảo cổ 18 Hoàng Diệu     Hình 15. Công trình kiến trúc kiểu  Pháp - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 14. Khu Khảo cổ 18 Hoàng Diệu Hình 15. Công trình kiến trúc kiểu Pháp (Trang 29)
Hình 16. Đoan Môn - Một trong những công trình trên mặt đất của Hoàng - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 16. Đoan Môn - Một trong những công trình trên mặt đất của Hoàng (Trang 31)
Hình 17. Kỳ Đài – Cột cờ Hà Nội - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 17. Kỳ Đài – Cột cờ Hà Nội (Trang 32)
Hình 18. Thành nhà Hồ - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 18. Thành nhà Hồ (Trang 34)
Hình 22. Cấu trúc thành nhà Hồ - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 22. Cấu trúc thành nhà Hồ (Trang 36)
Hình 23. Khu di tích Thành nhà Hồ - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 23. Khu di tích Thành nhà Hồ (Trang 38)
Hình 24. La Thành - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 24. La Thành (Trang 39)
Hình 25. Đàn Nam Giao - Bài tập nhóm ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành các di sản văn hóa thế giới ở việt nam
Hình 25. Đàn Nam Giao (Trang 41)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w