1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Độ trễ thời gian hoạt động đầu tư phát triển: khái niệm, bản chất, tính thích ứng pptx

27 809 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 896,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục Lời nói đầuNgày nay, cùng với vai trò quan trọng của nguồn lực con người, tài nguyên thiênnhiên, có thể nói, đầu tư là yếu tố có vai trò quan trọng mang tính quyết định đối với s

Trang 1

Mục lục Lời nói đầu

Ngày nay, cùng với vai trò quan trọng của nguồn lực con người, tài nguyên thiênnhiên, có thể nói, đầu tư là yếu tố có vai trò quan trọng mang tính quyết định đối với sựphát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói chung và các chủ thể kinh tế khác trong nềnkinh tế nói riêng

Đầu tư, thực chất là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằmlàm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sảnxuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển Nguồn lực cho đầu tư là tiền vốn, theonghĩa rộng là tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên Nguồn lực này,thông qua hoạt động đầu tư do chủ thể đầu tư thực hiện nhằm đạt được mục đích của đầu tư

là phát triển Vì vậy, hoạt động đầu tư chính là một quá trình, diễn ra trong một thời kỳ dài,bao gồm nhiều nội dung, tuỳ theo cách tiếp cận

Xuất phát từ quá trình và thực hiện đầu tư, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tưcho các hoạt động chuẩn bị đầu tư, đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư, đầu tư trong giaiđoạn vận hành

Do những đặc thù của hoạt động đầu tư mà trong hoạt động đầu tư đã tồn tại khái

niệm "độ trễ thời gian" Đây là một trong những mấu chốt để giải quyết vấn đề hiệu quả

hoạt động đầu tư, một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng của hoạt động đầu tư

Trang 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ ĐỘ TRỄ

THỜI GIAN TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

1.1 Các vấn đề cơ bản của đầu tư phát triển

1.1.1 Đầu tư

Đầu tư theo nghĩa chung nhất là sự bỏ ra hay sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại đểtiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt các kết quả, thực hiện được các mục tiêu nhất địnhtrong tương lai

Mục tiêu của hoạt động đầu tư: bao gồm những lợi ích về mặt tài chính gắn liền vớidoanh nghiệp chủ đầu tư; những lợi ích về mặt kinh tế và những lợi ích về mặt xã hội mà dohoạt động đầu tư tạo nên

Đối tượng của hoạt động đầu tư: Đầu tư vào tài sản hữu hình (tài sản vật chất), đầu tưvào tài sản vô hình (nghiên cứu và phát triển, dịch vụ, quảng cáo, thương hiệu), đầu tư vàotài sản sản xuất hay đầu tư vào tài sản lâu bền

1.1.2 Đầu tư phát triển

- Khái niệm: Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồnlực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kiến trúc hạtầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhânlực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trìtiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế-xã hội,tạo ra việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội

Đầu tư phát triển làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế mà không phải là sự chu chuyểngiữa đơn vị này sang đơn vị kia của nền kinh tế

1.1.3 Vốn đầu tư

Căn cứ theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng: Vốn đầu tư được hiểu là tiền tíchlũy của xã hội của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ là tiền tiết kiệm của dân cư vàvốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duytrì tiềm lực hoạt động của các cơ sở sẵn có và tạo ra tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội

1.1.4 Nguồn vốn đầu tư

Trang 3

Là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư phát triểnkinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội Nguồn vốn đầu tư bao gồmnguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

1.2 Nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển

Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng cho hoạt động đầu tư Đứng trên góc độ vĩ

mô, nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốnnước ngoài

1.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước

Nguồn vốn đầu tư trong nước được hình thành từ phần tích lũy của nội bộ nền kinh

tế Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn khu vực dân doanh:

a, Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốntín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quan trọng cho hoạt động đầu tư pháttriển kinh tế Việt Nam thời gian qua

Vốn ngân sách đầu tư hiện nay chia làm hai loại:

+ Vốn ngân sách TW dùng để đầu tư xây dựng các dự án (trồng rừng đầu nguồn,rừng phòng hộ, các công trình chủ yếu của nền kinh tế…)

+ Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các địa phương đầu tư vào những vấn đề quantrọng của địa phương

- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển :

Tín dụng đầu tư là quan hệ tín dụng trong đó nhà nước là người đi vay để đảm bảocác khảon chi của ngân sách đồng thời nhà nước cũng là người cho vay để đảm bảo cácchức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế Là nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triểncủa nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhànước Ngoài ra nó còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệuquả đầu tư vì với cơ chế tín dụng các doanh nghiệp vay vốn phải đảm bảo nguyên tắc hoàntrả vốn vay Do có yếu tố ưu đãi nên khuyến khích các DN đầu tư theo định hướng của nhànước

Trang 4

- Nguồn vốn tự huy động của các DNNN: Là thành phần giữ vai trò chủ đạo trongnền kinh tế, các DNNN vẫn nắm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn Trong nhữngnăm 2001-2004 vốn này chiếm 32,3% so với tổng vốn đầu tư nhà nước,trong đó chủ yếu làvốn khấu hao cơ bản của các doanh nghiệp,trích lợi nhuận sau thuế cho ĐTPT và một phầnvay từ các tổ chức tín dụng.Nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp dùng để đầu tư cho pháttriển sản xuất kinh doanh nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Theo đánh giá nguồn vốn nguồn vốn khu vực nhà nước trong nhiều năm nay chiếm

tỷ trọng trên 56,6% tổng số vốn đầu tư

b, Nguồn vốn từ khu vực tư nhân

Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũycủa các doanh nghiệp dân doanh, của hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ khu vực kinh tế ngoàinhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để

c, Thị trường vốn:

Là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán chứng khoán và các giấy ghi nợ trung hạn vàdài hạn Đây không phải là các sự việc mua đi bán lại hay chuyển đổi các giấy tờ có giá từtay của một chủ thể này sang tay một chủ thể khác một cách đơn thuần nếu nhìn nhận từbên ngoài Về thực chất, đây là quá trình vận động tư bản ở hình thái tiền tệ - là quá trìnhchuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứngkhoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọinguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ TW và chínhquyền địa phương tạo ra một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế Đây được coi là một lợithế mà không một phương thức huy động nào có thể làm được

2.1.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưuchuyển vốn quốc tế đó là quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trênthế giới Theo tính chất lưu chuyển của vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoàichính như sau:

- Tài trợ phát triển chính thức ODF: nguồn vốn này bao gồm viện trợ phát triểnchính thức ODA và các hình thức tái trợ phát triển khác Dòng vốn này phải qua chính phủ

Trang 5

quốc gia tiếp nhận hoặc được bảo lãnh chính thức, dòng vốn phải đáp ứng cho đầu tư pháttriển, duy trì và tạo mới để đảm bảo sự hoạt động của nền kinh tế và các cơ sở, nó khôngbao hàm các nguồn vốn mang tính chất nhân đạo như cứu nạn thiên tai…mà nó mang tínhchất dài hạn, trong đó ODA chiếm phần lớn trong ODF

Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủnước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thứctài trợ khác ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác Nguồn vốnnày thường lớn nên có tác dụng nhanh và mạnh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhucầu kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư Tuy nhiên tiếp nhận vốn này thường gắn với sự trảgiá về mặt chính trị và tình trạng nợ nần chồng chất nếu sử dụng không hiệu qủa vốn vay vànếu thực hiện không nghiêm ngặt việc trả nợ vay

Mặc dù có tính ưu đãi cao song sự ưu đãi của loại vốn này thường đi kèm với cácđiều kiện ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn vàthị trường…) Vì vậy chúng ta cần xem xét kỹ khi tiếp nhận viện trợ và cần có nghệ thuậtthỏa thuận để có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được các mục tiêu có tính nguyên tắc

- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu

tư và phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với các nước phát triển Nguồnvốn này khác cơ bản với các nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận này không phátsinh nợ cho nước tiếp nhận Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận đượcphần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nướcngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩyphát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghiệphay cần nhiều vốn Do vậy để sử dụng hiệu quả vốn đầu FDI tùy thuộc chủ yếu vào cáchthức huy động và quản lý sử dụng nó tại nước tiếp nhận đầu tư chứ không phải ở ý đồ củangười đầu tư

- Thị trường vốn quốc tế: Với xu hướng toàn cầu hóa, mối liên kết ngày càng tăngcủa của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc gia đã tạo ra vẻ đa dạngcủa các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vitoàn cầu Thực tế cho thấy, mặc dù tất cả các nguồn vốn đều có sự gia tăng về khối lượng

Trang 6

nhưng luồng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán có mức tăng nhanh hơn các luồng vốnkhác.

1.3 Đặc điểm của đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển: là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vậtchất.nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, muasắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hệnchi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực mớicho nền kinh tế -xã hội, tạo ra việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xãhội

Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia, làmột lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất, kỹ thuậtcủa nền kinh tế Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hoạt động đầu tư là một bộphận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật mới, duytrì sự hoạt động của cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện có và vì thế, là điều kiện để phát triển sảnxuất kinh doanh dịch vụ của các doanh nghiệp

Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác,

đó là:

1.3.1 Đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài

Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn Nguồnvốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư Vì vậy trong quá trình đầu tư chúng taphải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạchphân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trongthời gian ngắn chồng lãng phí nguồn lực

1.3.2 Thời gian dài với nhiều biến động

Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tácdụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra

1.3.3 Có giá trị sử dụng lâu dài

Trang 7

Các thành quả của thành quả đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàngtrăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới nhưvườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở Mỹ, kim tụ tháp cổ Ai cập, nhà thờ La Mã ởRoma, vạn lý trường thành ở Trung Quốc, tháp Angcovat ở Campuchia, …

1.3.4 Cố định

Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng sẽ hoạtđộng ở ngay nơi mà nó đựơc tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnhhưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư Vì vậycần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phảiphù hợp với kế hoạch, qui hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế sosánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnhthổ

1.3.5 Liên quan đến nhiều ngành

Hoạt động đầu tư phát triển rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.Diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau Vì vậykhi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trongquản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thểtham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trìnhthực hiện đầu tư

1.4 Vai trò của đầu tư phát triển

Nhìn một cách tổng quát: đầu tư phát triển trước hết là hoạt động đầu tư nên cũng cónhững vai trò chung của hoạt động đầu tư như: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tácđộng đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học vàcông nghệ của đất nước

Ngoài ra với tính chất đặc thù của mình, đầu tư phát triển là điều kiện trước tiên vàcần thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh tế vàvới từng cơ sở sản xuất Đó là :

- Đầu tư phát triển đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất kỹ thuật và phươngthức sản xuất

Trang 8

- Đầu tư phát triển là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và thay đổi tỷ lệ cân đốigiữa chúng

Khi đầu tư phát triển được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng sẽlàm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành Phát triển và hình thành những ngànhmới để phục vụ nền kinh tế quốc dân Như vậy đầu tư phát triển đã làm thay đổi cơ cấu vàquy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh

tế Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăngtích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêucầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội

Do những đặc thù của hoạt động đầu tư mà trong hoạt động đầu tư đã tồn tại khái

niệm "độ trễ thời gian" Đây là một trong những mấu chốt để giải quyết vấn đề hiệu quả

hoạt động đầu tư, một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng của hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư phát triển được đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau, độ trễ về thời gianphát huy tác dụng để tăng trưởng kinh tế cũng rất khác nhau Chẳng hạn, nếu đầu tư cho sảnxuất thì có những lĩnh vực phát huy tác dụng ngay trong năm như vốn mua sắm phương tiệnvận tải, vốn đầu tư xây dựng khách sạn, nhà hàng, Song nếu đầu tư cho việc trồng cây lâunăm như cao su, trồng quế, thì phải từ 7 đến 10 năm sau mới có kết quả Còn nếu nhưđầu tư cho giáo dục - đào tạo, đầu tư cho nghiên cứu khoa học thì thời gian của độ trễ còndài hơn so với đầu tư cho sản xuất

1.5 Độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư phát triển

Dự án đầu tư bao gồm nội dung từ việc đề xuất việc bỏ vốn để tạo mới, sử dụng hoặccải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặcnâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định

Dự án đầu tư là cơ sở cho việc quyết định của các chủ đầu tư có đầu tư hay không,việc cho phép thực hiện hay không thực hiện của các cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án,cho vay hay không cho vay của các tổ chức tín dụng, quyết định tài trợ hay không của cácnhà tài trợ…Do vậy, việc khảo sát điều tra để lập nên một dự án đầu tư là hết sức quantrọng bởi vì nó liên quan đến các khâu sau này của việc thực hiện dự án Một dự án đầu tưđược thực hiện thông qua hoạt động đầu tư

Trang 9

Chu kỳ của hoạt động đầu tư là các giai đoạn mà một dự án phải trải qua từ chuẩn bịđầu tư, giai đoạn đầu tư (thực hiện đầu tư) và giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư Nhưvậy, hoạt động đầu tư bao gồm nhiều giai đoạn thực hiện và do đặc điểm của nó mà phátsinh độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư.

1.5.1 Khái niệm

Độ trễ thời gian nói chung là khả năng xảy ra chậm trễ trong quá trình thực hiện công việc nào đó trong một chuỗi công việc mà qua đó có thể ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện hoặc hiệu quả của các bước hoặc các công việc khác có liên quan.

Độ trễ thời gian trong đầu tư là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư và thời gian vận hành các kết quả đầu tư Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được

trong tương lai

1.5.2 Bản chất

Từ khái niệm trên ta đã hiểu được bản chất của độ trễ thời gian của hoạt động đầu tư,

đó là đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai

Thời gian đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoànthành và đưa vào hoạt động Tuỳ theo tính chất, nội dung, qui mô của dự án mà thời gianđầu tư có thể dài hay ngắn Thông thường, một dự án bắt đầu với công việc là chuẩn bị mặtbằng (công việc này liên quan đến việc thẩm định, điều tra mặt bằng môi trường xungquanh, điều tra tình hình thị trường, nghiên cứu triển vọng tương lai của dự án…) Bên cạnh

đó, chủ đầu tư còn phải tìm kiếm nguồn lực cho việc thực hiện dự án Nguồn lực đó baogồm: tiền vốn, nhân lực, vật lực…Trong đó, việc huy động tiền vốn là một vấn đề rất quantrọng Có những dự án qui mô lớn cần nguồn tiền lớn, việc huy động vốn mất rất nhiều thờigian, có thể huy động trong nội bộ công ty, huy động thông qua phát hành cổ phiếu, tráiphiếu, vay vốn ngân hàng…Mặt khác, có những dự án, chủ đầu tư phải bỏ thời gian, tiềnbạc…đào tạo được đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân có đủ tay nghề, trình độ để thực hiện

dự án (ví dụ như dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất…) Ngoài ra, khi thực hiện

dự án, chủ đầu tư phải tìm nguồn nguyên vật liệu cung cấp đầu vào với giá cả phải chăng,đảm bảo chất lượng và cung ứng đảm bảo đủ số lượng khi thực hiện dự án…Đây là những

Trang 10

yếu tố có vai trò hết sức quan trọng đối với việc thực hiện dự án đầu tư, nó liên quan đếntiến độ hoàn thành của dự án Do vậy mới có những dự án có thời gian đầu tư kéo dài hàngchục năm

Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa công trình vào hoạt độngcho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải Đầu tư trong năm nhưng thành quả đầu tưchưa chắc đã phát huy ngay trong năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm

kế tiếp

Như vậy, thời gian đầu tư và vận hành kết quả đầu tư là sự nối tiếp nhau đã tạo nên

độ trễ thời gian Có nhiều công trình phát huy tác dụng lâu dài, thậm chí tồn tại vĩnh viễn.Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu tác động hai mặt, cả tích cực lẫntiêu cực của các yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế - xã hội…Đặc điểm này của đầu tư cầnđược quán triệt khi đánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển

1.5.3 Tính thích ứng

Do bản chất và đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển: thời kỳ đầu tư kéo dài, thời

gian vận hành kết quả đầu tư cũng kéo dài do đó không phải bất cứ sự gia tăng đầu tư nào cũng đem lại kết quả ngay trong ngắn hạn, nhất là đối với các dự án thực hiện trong nhiều năm Đây là đặc điểm riêng có của hoạt động đầu tư phát triển có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư Và rất khó khăn cho các nhà hoạch định để đưa ra những chính sách thích ứng với đăc điểm này nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của

nó đến hoạt động đầu tư

Có thể thấy tác động của độ trễ thời gian trong đầu tư ngay ở việc xác định hiệu quả của hoạt động đầu tư thông quả hệ số ICOR Đây là hệ số cho ta biết muốn có một đơn vị tăng trưởng thì cần bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư Như vậy theo hệ số ICOR thì

nói quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng là thuận chiều Tuy nhiên, có những trường hợp đầu tư chưa đem lại hiệu quả ngay như đầu tư vào các dự án trung, dài hạn hay các dự

án cơ sở hạ tầng Vì thế hệ số này sẽ không phản ánh 1 cách chính xác hiệu quả của

đồng vốn bỏ ra ngay tại thời điểm bỏ vốn, mà một trong các nguyên nhân chính là do yếu tố độ trễ thời gian

Trang 11

Như vậy để đánh giá đúng kết quả và hiệu quả cảu hoạt động ĐTPT thì yêu cầu phải quan tâm đúng mức đến vấn đề độ trễ thời gian như việc áp dụng phương thức quản

lý đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ động sang tạo của chủ đầu tư, cần có sự thống nhất hợp lý với cac chỉ số kinh tế, kỹ thuật của dựa trên đầu

tư Quán triệt đặc điểm này cần nâng cao hiệu quả công tác đánh giá kết quả, chi phí, hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển cần

được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và toàn xã hội

1.5.4 Nguyên nhân của Độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư

Từ thực chất của độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư, ta có thể hiểu được nhữngnguyên nhân gây ra độ trễ trong hoạt động đầu tư:

- Một nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm của hoạt động đầu tư đó là đầu tư cần mộtnguồn lực lớn về vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư Trong mỗi giai đoạn,quá trình của hoạt động đầu tư đều phải có sự tham gia của các nguồn lực

- Một nguyên nhân nữa, do quá trình thực hiện đầu tư và thời kỳ vận hành các kết quảđầu tư chịu ảnh hưởng lớn từ các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội, do vậy, việc nghiêncứu, qui hoạch, thiết kế công trình, dự án tại một địa điểm để khởi công công trình là mộttrong những vấn đề đầu tiên phải làm và tiêu tốn khá nhiều thời gian của các chủ đầu tư,nếu không có sự nghiên cứu này, sai lầm xảy ra sẽ gây tổn thất rất lớn cho chủ đầu tư

- Việc khởi công một công trình, một dự án chịu ảnh hưởng rất nhiều yếu tố, đặc biệt

là yếu tố khách quan (như thời tiết, giá cả nguyên vật liệu…) gây ảnh hưởng không nhỏ đếntiến độ thực hiện dự án

- Hoạt động đầu tư là do con người thực hiện, do vậy, thời gian đầu tư và thời gianvận hành kết quả đầu tư do con người quyết định Có những dự án đầu tư bị chậm trễ là do

ý thức chủ quan của con người, đó có thể là do tình trạng tham ô, lãng phí, là trình độ, nănglực thẩm định dự án, giám sát, tuyển chọn nhà thầu hay nhà thầu kém năng lực…Chính

Trang 12

những nguyên nhân này góp phần không nhỏ làm kéo dài thời gian đầu tư, làm độ trễ thờigian hoạt động đầu tư càng sâu hơn.

Như vậy, độ trễ thời gian là một tất yếu của hoạt động đầu tư, vấn đề ở đây chính làhiểu bản chất của khái niệm này, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp làm giảm đi ởmức tối ưu độ trễ nhằm tăng hiệu quả đầu tư, tăng hiệu quả nguồn lực đã bỏ ra, phát huymột cách nhanh nhất thành quả của hoạt động đầu tư

Chương II: Thực trạng về độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư phát

triển của Việt Nam

Để làm rõ vấn đề độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư của Việt Nam trong thờigian qua, chúng ta hãy đi vào những nét nổi bật của những dự án đầu tư được tài trợ từ cácnguồn khác nhau, qua đó thấy được thực trạng của vấn đề độ trễ thời gian của các loại dự án

có nguồn vốn khác nhau

Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển, cơ cấu và hiệu quả đầu tư

2003 2004 2005 2006 2007 1.Vốn đầu tư (tỷ VND)

(Chia theo các TPKT) 239.246 290.927 343.135 398.900 461.900-Khu vực nhà nước 126.558 139.831 164.635 185.100 200.000-Khu vực ngoài quốc doanh 74.388 109.754 130.398 150.500 187.800-Khu vực có vốn ĐTNN 38.300 41.342 51.102 63.300 74.100

Tăng so với năm trước (nghìn tỷ VND) 77,6 101,9 123,9 134,6 169,6

4.Hiệu quả đầu tư

Trang 13

Tỷ lệ VĐT so với GDP (%) 39,0 40,7 40,9 41,0 40,4

Để tăng 1 đồng GDP phải đầu tư (đồng)

(Nguồn: Vietnam Economic Times 2007 – 2008)

Theo báo cáo nghiên cứu đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện kế hoạch phát triểnkinh tế xã hội 2006 - 2010, Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã nhận định: Tỷ trọng vốn đầu tư nhànước vẫn là nguồn lực lớn nhất Đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng tăngdần từ 23,3% lên 29,3% năm 2007

Đáng chú ý là thời gian gần đây các tập đoàn kinh tế và nhiều DNNN khác có xu thế

mở rộng đầu tư kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực Trong khi đó, công tác giám sát, nhất là

về tài chính cũng như năng lực quản trị rủi ro của các tập đoàn đó không theo kịp

2.1 Các dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước

2.1.1 Thực trạng độ trễ thời gian của các dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước

Những vấn đề liên quan đến độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư hiện nay ở ViệtNam có thể nêu ra sau đây liên quan đến vấn đề quản lý dự án, chậm trễ thực hiện dự án,gây ra tình trạng thời gian đầu tư kéo dài, đặc biệt là các dự án có nguồn vốn từ ngân sáchnhà nước Trong khi đó khu vực này đang chiếm gần nửa tổng đầu tư toàn xã hội (41 -48%)

Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư thực hiện qua các năm

Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt 2007

Theo báo cáo, phần lớn các dự án sử dụng vốn nhà nước đều được thực hiện rấtchậm, thủ tục đầu tư xây dựng rườm rà, hiệu quả đầu tư của nhiều dự án thấp, còn thất

Ngày đăng: 27/06/2014, 01:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Vốn đầu tư phát triển, cơ cấu và hiệu quả đầu tư - Độ trễ thời gian hoạt động đầu tư phát triển: khái niệm, bản chất, tính thích ứng pptx
Bảng 1 Vốn đầu tư phát triển, cơ cấu và hiệu quả đầu tư (Trang 12)
Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư thực hiện qua các năm - Độ trễ thời gian hoạt động đầu tư phát triển: khái niệm, bản chất, tính thích ứng pptx
Bảng 2 Tỷ trọng vốn đầu tư thực hiện qua các năm (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w