Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tàichính, kết quả hoạt động sản xuất k
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC QUY ƯỚC VIẾT TẮT vi
LỜI NÓI ĐẦU 1
1.Sự cần thiết của đề tài 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP .4
1.1 Khái niệm và vai trò của tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 4
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 5
1.1.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 6
1.1.4 Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp 7
1.2 Khái niệm,ý nghĩa và mục tiêu của phân tích tài chính 8
1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính 8
1.2.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính 8
1.2.3 Mục tiêu của phân tích tài chính 9
1.3 Căn cứ để phân tích và đánh giá tình hình tài chính 9
1.3.1 Căn cứ để phân tích 9
1.3.2 Phương pháp đánh giá tình hình tài chính 10
1.3.2.1 Phương pháp so sánh 11
1.3.2.2 Phương pháp tỷ số 12
Trang 21.3.2.3 Phương pháp Du Pont 13
1.3.2.4 Phương pháp thay thế liên hoàn 13
1.4 Nội dung và quy trình phân tích tài chính 15
1.4.1 Phân tích khái quát các báo cáo tài chính 15
1.4.1.1 Phân tích bảng cân đối kế toán 15
1.4.1.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 16
1.4.1.3 Phân tích báo cáo lưu chuyền tiền tệ 16
1.4.1.4 Sử dụng thuyết minh báo cáo tài chính hỗ trợ phân tích 17
1.4.2 Phân tích hiệu quả tài chính 18
1.4.2.1 Phân tích khả năng quản lý tài sản: 18
1.4.2.2 Phân tích khả năng sinh lời 20
1.4.3 Phân tích rủi ro tài chính 21
1.4.3.1 Phân tích khả năng thanh khoản 21
1.4.3.2 Phân tích khả năng quản lý nợ 22
1.4.3.3 Phân tích khả năng cân đối vốn 22
1.4.4 Phân tích tổng hợp tình hình tài chính 24
1.4.5 Đánh giá chung tình hình tài chính của doanh nghiệp 25
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tình hình tài chính của doanh nghiệp 27
1.5.1 Nhân tố mang tính chất khách quan 28
1.5.2 Nhân tố mang tính chất chủ quan 28
1.6 Phương hướng cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH TẬP ĐOÀN EVD 30
2.1 Tổng quan về công ty TNHH Tập đoàn EVD 30
2.1.1 Qua trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp 30
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp 31
Trang 32.1.3 Các mặt hàng chủ chốt của công ty EVD 34
2.1.4 Môi trường hoạt động 37
2.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty 37
2.2.1 Phân tích khái quát bảng cân đối kế toán 37
2.2.2 Phân tích cơ cấu tài sản 39
2.2.3 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 41
2.2.4 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn 44
2.2.5 Phân tích khái quát Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 45
2.3 Phân tích hiệu quả tài chính 48
2.3.1 Phân tích các chỉ số về khả năng quản lý tài sản 48
2.3.2 Phân tích khả năng sinh lời 49
2.3.3 Phân tích rủi ro tài chính 51
2.3.3.1 Phân tích các chỉ số về khả năng quản lý vốn vay 51
2.3.3.2 Phân tích khả năng cân đối nhu cầu và khả năng thanh toán ngắn hạn 52
2.3.4 Phân tích tổng hợp tình hình tài chính bằng đằng thức Dupont 55
2.4 Đánh giá tình hình tài chính của EVD 56
2.4.1 Nhận xét chung về EVD 56
2.4.2 Những kết quả đạt được về mặt tài chính 57
2.4.3 Những tồn tại hạn chế 58
2.4.4 Nguyên nhân 60
2.4.4.1.Nguyên nhân chủ quan 60
2.4.4.2.Nguyên nhân khách quan 60
2.4.5 Mục tiêu cụ thể của việc phân tích tài chính EVD 61
CHƯƠNG 3: NHÓM GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA EVD 62
Trang 43.1.Phương hướng sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian tới 63
3.1.1.Phương hướng của công ty 63
3.1.2 Mục tiêu 63
3.2 Nhóm giải pháp cải thiện tình hình tài chính của EVD 64
3.2.1 Nhóm giải pháp định tính nhằm cải thiện tình hình tài chính 64
3.2.1.1 Đẩy mạnh việc mở rộng thị trường và tiêu thụ hàng hoá 64
3.2.1.2 Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu 65
3.2.1.3 Giảm thiểu chi phí 67
3.2.1.4 Giải pháp tăng cường tính thanh khoản và tăng lượng tiền mặt 68
3.2.1.5 Theo dõi công nợ phải trả 70
3.2.2 Nhóm giải pháp định lượng nhằm cải thiện tình hình tài chính 71
3.2.2.1 Giả thiết của giải pháp 71
3.2.2.2 Thực tế các khoản phải thu và hướng giải quyết 72
3.2.2.3 Ước tính các diễn biến khi triển khai thu hồi khoản phải thu 73
3.2.2.4 Phương án cắt giảm chi phí quản lý doanh nghiệp 74
3.2.2.5 Kết quả tình hình tài chính sau phương án đề xuất 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO viii
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂN ĐỐI TÀI SẢN 2009 - 2011 viii
PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂN ĐỐI NGUỒN VỐN x
PHỤ LỤC 3: BẢNG KẾT QUẢ KINH DOANH xi
PHỤ LỤC 4: TÀI SẢN – NGUỒN VỐN BÌNH QUÂN xi
PHỤ LỤC 5: BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU TÀI SẢN NGUỒN VỐN xiii
PHỤ LỤC 6: BIẾN ĐỘNG VỐN SỬ DỤNG 2010 xv
PHỤ LỤC 7: BIẾN ĐỘNG VỐN SỬ DỤNG 2011 xvi
PHỤ LỤC 8: NHÓM CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN xviii PHỤ LỤC 9: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN SAU KHI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP.xx
Trang 5PHỤ LỤC 10: BẢNG KẾT QUẢ KINH DOANH SAU KHI THỰC HIỆN GIẢIPHÁP xxiiPHỤ LỤC 11: NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN xxiii
DANH MỤC BẢNG
Trang 6DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 7DTT Doanh thu thuần
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài
Tài chính doanh nghiệp nghiên cứu về quá trình hình thành và sử dụng các tàisản trong doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu Hoạt động tàichính là một bộ phận tối quan trọng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Tất cả các hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng đến hoạt động tài chính củadoanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩyhay kìm hãm đối với quá trình kinh doanh
Hiện nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranhngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra những khó khăn và thửthách cho các doanh nghiệp Trong bối cảnh đó, để có thể khẳng định được mìnhmỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững tình hình cũng như kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đếntình hình tài chính vì nó quan hệ trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và ngược lại
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tàichính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghịêp cũng nhưxác định được một cách đầy đủ, đúng đắn, nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng củacác nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng, hiệu quả sản xuất kinh doanhcũng như những rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp để họ có thểđưa ra những giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chấtlượng công tác quản lý kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Hơn nữa đánh giá được đúng thực trạng tài chính còn hỗ trợ nhà đầu tư cóquyết định đúng đắn với sự lựa chọn đầu tư của mình; các chủ nợ được đảm bảo vềkhả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với các khoản cho vay; Nhà cung cấp vàkhách hàng đảm bảo được việc doanh nghiệp sẽ thực hiện các cam kết đặt ra; các cơquan quản lý Nhà nước có được các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cũng như
hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thời kiểm soát đượchoạt động của doanh nghiệp bằng pháp luật
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính củadoanh nghiệp, do có được cơ hội học tập, nghiên cứu tại EVD tác giả đã mạnh dạn
Trang 9chọn đề tài: “Phân tích tài chính và đề xuất giải pháp cải thiện tình hình tài chính Công ty EVD” làm chuyên đề nghiên cứu.
2.Mục tiêu nghiên cứu
Như đã phân tích ở phần lý do chọn đề tài, do phân tích tài chính là yếu tốquan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Vì vậy, với đề
tài “Phân tích tài chính và đề xuất giải pháp cải thiện tình hình tài chính Công ty EVD”, tác giả hy vọng đạt được các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa được các lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Mô tả và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
- Đưa ra được các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tài chính củadoanh nghiệp; đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của EVD
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: công ty EVD
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 đến năm 2011
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: tập trung chủ yếu ở Hà Nội
4.Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp thu thập số liệu,
Việc điều tra và thu thập số liệu được tiến hành theo phương pháp điều trathu thập các số liệu thứ cấp về tình hình tài chính của doanh nghiệp gồm:
- Các báo cáo tài chính như: các bảng cân đối kế toán, các báo cáo về kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp;
- Các báo cáo tình hình kinh tế, xã hội nói chung,
- Niên giám thống kê, báo cáo ngành
- Các bài phân tích về công ty, doanh nghiệp nói chung
- Các công trình nghiên cứu trước đây về tài chính doanh nghiệp
b) Phương pháp phân tích thống kê
Căn cứ vào đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, các phương phápphân tích thống kê được sử dụng như sau:
- Phương pháp thống kê mô tả, dùng các chỉ tiêu số tương đối, số tuyệt đối
và số bình quân để đánh giá sự biến động cũng như mối quan hệ giữa các hiệntượng
- Phương pháp thống kê so sánh, đối chiếu, được sử dụng nhằm mục đích sosánh, đối chiếu, đánh giá và kết luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.Trên cơ sở đó tiến hành so sánh hệ thống các chỉ tiêu qua các năm nghiên cứu
Trang 10- Phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp này dùng để lượng hoá sựảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Phương pháp số chênh lệch, phương pháp này dùng để lượng hoá sự ảnhhưởng của các nhân tố đến hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo, giúp thu thập, chọn lọc nhữngthông tin từ những ý kiến trao đổi và đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vựckinh doanh của Công ty
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, các biểu bảng, các quy ướcviết tắt; đề tài bao gồm 3 nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu về tình hình tài chính của công ty TNHH tập
đoàn EVD
Chương 3: Nhóm giải pháp cải thiện tình hình tài chính của EVD
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạolập, phân phối sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp.Xét vềbản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảysinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp [7]
- Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt tới cácmục tiêu của doanh nghiệp đề ra Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, sửdụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động tài chính của doanhnghiệp
- Các mối quan hệ về mặt giá trị được biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanhnghiệp và giữa nó với các chủ thể có liên quan ở bên ngoài, mà trên cơ sở đó giátrị của doanh nghiệp được tạo lập
- Giá trị của doanh nghiệp là sự hữu ích của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu và
xã hội
- Các hoạt động của doanh nghiệp để làm tăng giá trị của nó bao gồm:
+ Tìm kiếm lựa chọn cơ hội kinh doanh và tổ chức huy động vốn
+ Quản lý chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh hạch toán chi phí
và lợi nhuận+ Tổ chức phân phối lợi nhuận cho các chủ thể liên quan và tái đầu tư
Vậy: “Tài chính doanh nghiệp được hiểu là các mối quan hệ về mặt giá trị được biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thể
có liên quan ở bên ngoài mà trên cơ sở đó giá trị của doanh nghiệp được tạo dựng”
Nội dung những quan hệ kinh tế phát sinh thuộc phạm vi tài chính doanhnghiệp bao gồm:
Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: đây là mối quan hệ phát sinh khi
doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (thông qua nộp thuế,phí, lệ phí cho ngân sách Nhà nước) Ngân sách Nhà nước cấp vốn cho doanhnghiệp Nhà nước và có thể góp vốn với công ty liên doanh hoặc công ty cổ phần
Trang 12(mua cổ phần) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tùy theo mục đích yêu cầu quản lý đốivới ngành nghề kinh tế và quyết định tỷ lệ vốn góp hoặc mức cho vay.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể
hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tàichính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thểphát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn.Ngược lại, doanhnghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ.Doanh nghiệpcũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa
sử dụng
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: trong nền kinh tế,
doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hànghóa, dịch vụ, thị trường sức lao động giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư cho vay,với bạn hàng và khách hàng thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệtrong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp bao gồm quan hệ thanhtoán tiền mua vật tư hàng hóa, phí bảo hiểm, chi trả tiền cổ tức, tiền lãi, trái phiếugiữa doanh nghiệp với các ngân hàng, tổ chức tín dụng Trên cơ sở đó, doanhnghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhucầu thị trường
Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp: đây là quan hệ giữa các bộ phận
sản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa các cổ đông và chủ nợ,giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này được thể hiệnthông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phốithu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí
Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thôngqua hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ vì vậy thường được xem là các quan hệtiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh tếđộc lập, đồng thời phản ánh rõ nét quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với cáckhâu khác trong hệ thống tài chính nước ta
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động củadoanh nghiệp và được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
1) Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanhnghiệp diễn ra bình thường và liên tục
Trang 132) Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp vì việc đưa ra quyết định đầu tư đúng đắnphụ thuộc rất lớn vào việc đánh giá, lựa chọn đầu tư từ góc độ tài chính.
3) Tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình kinh doanhcủa doanh nghiệp:
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vậnđộng, chuyển hóa hính thái vốn thành tiền tệ Thông qua tình hình thu chi tiền tệhàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt là báo cáo tài chính
có thể kiểm soát kịp thời, tổng quát các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó pháthiện nhanh chóng những tồn tại và những tiềm năng chưa được khai thác để đưa ranhững quyết định thích hợp điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu đề racủa doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng trởnên quan trọng hơn đối với hoạt động doanh nghiệp bởi những lẽ sau:
- Hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả cáchoạt động của doanh nghiệp
- Quy mô kinh doanh và nhu cầu vốn cho hoạt động doanh nghiệp ngày cànglớn Mặt khác, thị trường tài chính càng phát triển nhanh chóng, các công cụ
để huy động vốn ngày càng phong phú và đa dạng Chính vì vậy quyết địnhhuy động vốn, quyết định đầu tư… ảnh hưởng ngày càng lớn đến tình hình
và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối với các nhàquản lý doanh nghiệp để kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động của doanhnghiệp
1.1.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có chức năng hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Các chức năng của tài chính doanh nghiệp bao gồm:
Tổ chức, huy động, chu chuyển vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục:
- Căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất, định mức tiêu chuẩn để xác định nhu cầu vốncần thiết cho sản xuất kinh doanh
- Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về vốn Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng vềvốn thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn (tìm nguồn tài trợ với chi phí sử dụngvốn thấp nhưng đảm bảo có hiệu quả).Nếu nhu cầu nhỏ hơn khả năng về vốn thì
Trang 14doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất hoặc tìm kiếm thị trường để đầu tư mang lạihiệu quả.
- Lựa chọn nguồn vốn và phân phối sử dụng vốn hợp lý để sao cho với số vốn
ít nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất
Chức năng phân phối thu nhập của tài chính doanh nghiệp
- Thu nhập bằng tiền từ bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, lợi tức cổ phiếu, lãicho vay, thu nhập khác của doanh nghiệp được tiến hành phân phối như sau:
- Bù đắp hao phí vật chất, lao động đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinhdoanh bao gồm: Chi phí vật tư như nguyên vật liệu, nhiên liệu, công cụ lao động;chi phí khấu hao tài sản dài hạn; chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương;chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
- Phần còn lại là lợi nhuận trước thuế được phân phối tiếp như sau: Nộp thuếthu nhập doanh nghiệp theo luật định; bù lỗ năm trước không được trừ vào lợinhuận trước thuế (nếu có); trừ các khoản chi phí không hợp lý, hợp lệ; chia lãi chođối tác góp vốn; trích vào các quỹ của doanh nghiệp
Chức năng kiểm soát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
- Kiểm soát tài chính là việc thực hiện kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụngcác quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
- Thông qua chỉ tiêu vay trả, tình hình nộp thuế cho Nhà nước mà Nhà nước vàngân hàng biết được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp là tốt hay chưa tốt
- Thông qua chỉ tiêu giá thành, chi phí mà biết được doanh nghiệp sử dụng vật
tư, tài sản, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí
- Thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận mà biết được doanh nghiệp làm ăn cóhiệu quả hay không
1.1.4 Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có nhiệm vụ nắm vững tình hình kiểm soát vốn sảnxuất kinh doanh hiện có về mặt hiện vật và giá trị, nắm vững sự biến động vốn củatừng khâu, từng thời gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản lý và điềuchỉnh hiệu quả
Ngoài ra tài chính doanh nghiệp còn có nhiệm vụ tổ chức, khai thác và huyđộng kịp thời các nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh,tránh để cho vốn ứ đọng và kém hiệu quả
Để thực hiện các nhiệm vụ này, tài chính doanh nghiệp phải thường xuyêngiám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn vay và vốn tự có của doanh nghiệp Tức
Trang 15là, với nguồn vốn nhất định phải tạo ra một lượng lợi nhuận lớn dựa trên cơ sở sửdụng tối đa các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp.
1.2 Khái niệm,ý nghĩa và mục tiêu của phân tích tài chính
1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính
Phân tích tài chính là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chínhhiện hành và so sánh với số liệu quá khứ hoặc kế hoạch nhằm mục đích đánh giáthực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một doanh nghiệp,trên cơ sở đó giúp cho nhà phân tích ra các quyết định tài chính có liên quan tới lợi
ích của họ trong doanh nghiệp đó.
1.2.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính
Phân tích tài chính có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cả đối tượng bêntrong và bên ngoài doanh nghiệp:
Đối với nhóm đối tượng thứ nhất: là bên ngoài doanh nghiệp: những kết quả
phân tích tài chính sẽ giúp họ có một cái nhìn toàn diện bao quát về doanh nghiệp,
về vốn, tỷ suất lãi, doanh thu hàng năm, nợ tồn đọng…
- Các chỉ số tài chính sẽ cung cấp một cách chính xác, kịp thời và thiết yếucho các nhà đầu tư có ý định hoặc tương lai sẽ đầu tư vào doanh nghiệp Chínhnhững kết quả phân tích này là cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư, là nguồnthu hút vốn từ ngoài vào giúp cho doanh nghiệp phát triển tốt hơn
- Còn đối với chủ nợ, những chỉ số trong bảng phân tích tài chính phục vụmột yêu cầu duy nhất đó là khả năng thanh toán nợ tồn đọng của doanh nghiệp đốivới họ Nhóm đối tượng này thường chỉ quan tâm chủ yếu đến chỉ số kinh doanh,doanh thu, lưu lượng tiền mà doanh nghiệp có được trong một năm, thường thìkhông quan tâm đến nguồn tiền để phục vụ chi trả thanh toán các khoản nợ củacông ty đó Một số chỉ số tài chính khác mà họ quan tâm như lưu lượng hàng hóa,hàng tồn kho, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng…
- Riêng nhóm “ cơ quan quản lý”, nhóm này chỉ quan tâm đến tốc độ pháttriển của doanh nghiệp trên mặt vĩ mô, những ảnh hưởng của doanh nghiệp trongmột ngành, một lãnh vực hoặc hơn nữa là phạm vi đất nước Những chỉ số này giúp
họ có những cái nhìn bao quát hơn về quá trình phát triển và thị phần của doanhnghiệp trong bộ phận, ngành, lĩnh vực
Đối với nhóm đối tượng thứ hai: là nhóm có tác động từ bên trong doanh
nghiệp: bao gồm có chủ doanh nghiệp, người quản lý, nhân viên… Họ cần có mộtbản phân tích tài chính đầy đủ,chính xác, rõ ràng và chi tiết Phục vụ cho mục đích
Trang 16điều hành, quản lý và xây dựng doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, các nhà quản lýthường yêu cầu những chỉ số phân tích chính xác và chi tiết mang tính thời sự cậpnhật để họ đưa ra những biện pháp chiến lược, sách lược trong kế hoạch kinh doanhcủa mình, khắc phục những khuyết điểm tồn đọng và xúc tiến những giải pháp kinhdoanh mới Đối với nhân viên công ty, những chỉ số tài chính giúp họ có cái nhìnchính xác, khả quan hơn về doanh nghiệp mà họ đang làm và tất nhiên một điềuhoàn toàn có thể xảy ra đó là họ sẽ trở thành một nhà đầu tư.
Hiện nay có rất nhiều phuơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhữngchỉ số phân tích rõ ràng, cụ thể và chi tiết giúp cho tất cả các đối tượng trên đều cóthểkhai thác một cách triệt để phục vụ mục đích của mình
Phân tích tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm ngườikhác nhau: bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp Mỗi nhóm ngườinày có những nhu cầu thông tin khác nhau và do vậy mỗi nhóm có xu hướng tậptrung vào các khía cạnh khác nhau trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp
1.2.3 Mục tiêu của phân tích tài chính
- Nhận dạng những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chínhtheo các tiêu chí:
o Hiệu quả tài chính (khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài sản)
o Rủi ro tài chính ( Khả năng thanh khoản và khả năng quản lý nợ)
o Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (Cân đối tài chính, các đòn bẩy, vàđẳng thức Du-Pont)
- Tìm hiểu, giải thích các nguyên nhân đứng sau thực trạng đó
- Đề xuất giải pháp cải thiện vị thế tài chính của doanh nghiệp
1.3 Căn cứ để phân tích và đánh giá tình hình tài chính
1.3.1 Căn cứ để phân tích
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sửdụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp.Đây là một nguồn thông tin quantrọng bậc nhất.Với những đặc trưng của hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế toánhoạt động như là một nhà cung cấp quan trọng những thông tin đánh giá cho phântích tài chính Các căn cứ để phân tích và đánh giá tình hình tài chính như sau:
- Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp:
o Bảng cân đối kế toán
o Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
o Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
o Thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 17- Các tài liệu liên quan
- Các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp
- Các chỉ tiêu tài chính mục tiêu
- Các chỉ tiêu tài chính của ngành
Trong các tài liệu trên thì báo cáo tài chính đóng vai trò rất quan trọng vìchúng có vai trò và tác dụng như sau:
Vai trò của các báo cáo tài chính:
Cung cấp các chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết giúp kiểm tra, phân tích mộtcách tổng hợp toàn diện, có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình thựchiện các chỉ tiêu chủ yếu của doanh nghiệp
Cung cấp những thông tin, số liệu để kiểm tra giám sát tình hình hạch toánkinh doanh, tình hình chấp hành các chính sách, chế độ kế toán của doanh nghiệp
Cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết để phân tích đánh giá nhữngkhả năng và tiềm năng kinh tế tài chính của doanh nghiệp, giúp cho công tác dự báo
và lập các kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp
Tác dụng của báo cáo tài chính:
Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: dựa vào các báo cáo tài chính để nhậnbiết và đánh giá khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình vốn, công nợ, thuchi tài chính, để ra các quyết định cần thiết, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu củadoanh nghiệp
Đối với các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp như là nhà đầu tư, chủ
nợ, ngân hàng, các đối tác kinh doanh… dựa vào các báo cáo tài chính của doanhnghiệp để phân tích đánh giá thực trạng kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp,
để quyết định phương hướng và quy mô đầu tư, khả năng hợp tác và liên doanh, chovay, thu hồi vốn…
Đối với cơ quan chức năng, cơ quan quản lý nhà nước: dựa vào các báo cáotài chính của doanh nghiệp để phân tích, đánh giá, kiểm tra và kiểm soát hoạt độngkinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng chính sách, chế độ
và pháp luật không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa
vụ đối với nhà nước và khách hàng …
1.3.2 Phương pháp đánh giá tình hình tài chính
Phương pháp phân tích là cách thức tiếp cận đối tượng phân tích để tìm ra mốiliên hệ bản chất hữu cơ của các hiện tượng phân tích Trong phân tích tài chính cóbốn phương pháp đặc thù thường được sử dụng:
Trang 18o Phương pháp so sánh
o Phương pháp tỷ số
o Phương pháp Du-Pont
o Phương pháp thay thế liên hoàn
o Ngoài ra trong bài còn sử dụng phương pháp liên hệ cân đối
Cụ thể từng phương pháp được trình bày như sau:
o So sánh số liệu thực tế giữa các kỳ, các năm để xem xét, xác định tốc
độ và xu hướng phát triển của các chỉ tiêu kinh tế
o So sánh số liệu thực hiện với các thông số kỹ thuật kinh tế trung bìnhhoặc tiên tiến
o So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với các số liệu của các doanhnghiệp tương đương hoặc doanh nghiệp của đối thủ cạnh tranh
- Ưu điểm:
Phương pháp so sánh cho phép tách ra được những nét chung,nét riêng củacác vấn đề được so sánh, từ đó đánh giá được các mặt phát triển hay kém phát triển,hiệu quả hay kém hiệu quả trong mỗi trường hợp cụ thể
- Vấn đề cơ bản của phương pháp:
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xuhướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy, để tiến hành so sánh, phải
giải quyết vấn đề cơ bản như xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh
và xác định mục tiêu so sánh:
+ Xác định số gốc để so sánh phụ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích như
khi nghiên cứu nhịp độ biến động tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu, số gốc để sosánh là trị số của chỉ tiêu ở kỳ trước (năm nay so với năm trước, tháng này so vớitháng trước…); khi nghiên cứu nhịp điệu thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong từngkhoảng thời gian trong một năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước (tháng hoặcquý)…
Trang 19+ Điều kiện so sánh cần được quan tâm khác nhau khi so sánh theo thời gian
và khi so sánh theo không gian
Khi so sánh theo thời gian cần chú ý các điều kiện sau:
a Bảo đảm tính thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu Thông thường,nội dung kinh tế của chỉ tiêu có tính ổn định và thường được quy định thống nhất.Tuy nhiên, do phát triển sản xuất của hoạt động kinh doanh nên nội dung kinh tếcủa chỉ tiêu có thể thay đổi theo chiều hướng khác nhau: Nội dung kinh tế của chỉtiêu có thể bị thu hẹp hoặc mở rộng do phân ngành sản xuất – kinh doanh, do phânchia các đơn vị quản lý hoặc do thay đổi của chính sách quản lý Đôi khi, nội dungkinh tế của chỉ tiêu cũng thay đổi theo chiều hướng “quốc tế hóa” để tiện so sánhtrong điều kiện thế giới là một thị trường chung… Trong điều kiện các chỉ tiêu cóthay đổi về nội dung, để đảm bảo so sánh được, cần tính toán lại trị số gốc của chỉtiêu theo nội dung mới quy định lại
b Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu Trong kinhdoanh, các chỉ tiêu có thể được tính toán theo các phương pháp khác nhau Khi sosánh cần lựa chọn hoặc tính lại các trị số chỉ tiêu theo một phương pháp thống nhất
c Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu cả về số lượng, thờigian và giá trị
- Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh là xác định mức biến động tuyệt
đối và mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích.Mức biến động tuyệt đối được xác định trên cơ sở so sánh trị số của hai chỉtiêu giữa hai kỳ: kỳ phân tích và kỳ gốc, hay chính là so sánh giữa số phân tích và
số gốc
Mức biến động tương đối là kết quả so sánh giữa số thực tế với số gốc đã đượcđiều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết định quy môcủa chỉ tiêu phân tích
1.3.2.2 Phương pháp tỷ số
Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phântích Đó là các chỉ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác Đây làphương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổsung và hoàn thiện bởi lẽ:
Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủhơn Đó là cơ sở để hoàn thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giámột tỷ số của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
Trang 20Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanhquá trình tính toán hàng loạt các tỷ số.
Phương pháp này giúp người phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu vàphân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặctheo từng giai đoạn
1.3.2.3 Phương pháp Du Pont
Với phương pháp này các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhândẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp.Bản chất củaphương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệpnhư ROA, ROE thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả vớinhau.Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp
Thế mạnh của mô hình Du pont:
o Tính đơn giản Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiếnthức căn bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty
o Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên
o Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải
tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng Đôi khi điềucần làm trước tiên là nên nhìn vào thưc trạng của công ty Thay vì tìm cáchthôn tính công ty khác nhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy
mô, để bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém
Hạn chế của mô hình phân tích Dupont:
o Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy
o Không bao gồm chi phí vốn
o Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệuđầu vào
Điều kiện áp dụng phương pháp Dupont:
o Số liệu kế toán đáng tin cậy
1.3.2.4 Phương pháp thay thế liên hoàn
Thay thế liên hoàn là thay thế lần lượt số liệu gốc hoặc số liệu kế hoạch bằng
số liệu thực tế của nhân tố ảnh hưởng tới một chỉ tiêu kinh tế được phân tích theođúng logic quan hệ giữa các nhân tố Phương pháp thay thế liên hoàn có thể được
áp dụng khi mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và giữa các nhân tố, các hiện tượng kinh
tế có thể biểu thị bằng một hàm số Thay thế liên hoàn được sử dụng để tính toánmức ảnh hưởng của các nhân tố tác động tới cùng một chỉ tiêu phân tích Trong
Trang 21phương pháp này, nhân tố thay thế là nhân tố được tính mức ảnh hưởng, còn cácnhân tố khác giữ nguyên, lúc đó so sánh mức chênh lệch giữa cái trước nó và cái đãđược thay thế sẽ tính được mức ảnh hưởng của nhân tố được thay thế
Việc xác định trình tự thay thế liên hoàn hợp lý là một yêu cầu khi sử dụngphương pháp Trật tự thay thế liên hoàn trong các tài liệu được quy định như sau:Nhân tố số lượng thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau Khi có thểphân biệt rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng thì vận dụng nguyên tắc trên trong thay thếliên hoàn là khá thuận tiện
Ta có thể tóm tắt phương pháp này như sau:
o Định nghĩa: phương pháp thay thế liên hoàn là đặt đối tượng nghiên cứu vàonhững điều kiện giả định khác nhau để xác định mức độ ảnh hưởng của từngnhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích
o Các bước chính:
Bước 1: Xác định đối tượng phân tích: là mức chênh lệch kỳ phân tích so với
kỳ kế hoạch (hoặc so với kỳ gốc)
Trang 221.4 Nội dung và quy trình phân tích tài chính
1.4.1 Phân tích khái quát các báo cáo tài chính
1.4.1.1 Phân tích bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính ở một thời điểm nhất định Nó
là một bảng tóm tắt ngắn gọn về những gì mà doanh nghiệp có/sở hữu (tài sản) vànhững gì mà doanh nghiệp nợ (các khoản nợ) ở một thời điểm nhất định
Một bảng cân đối kế toán phải chỉ rõ tài sản dài hạn của doanh nghiệp, tài sảnngắn hạn, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu
Bảng cân đối kế toán cho biết sự phát triển hay suy thoái của doanh nghiệpthông qua các biến động về tài sản và nguồn vốn
- Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn:
+ Cơ cấu tài sản: các loại tài sản và tỷ trọng
+ Cơ cấu nguồn vốn: các loại nguồn vốn và tỷ trọng
+ Mức độ biến động và mức độ phù hợp của các cơ cấu này
+ Đặc trưng của công nghệ sản xuất và chính sách tài trợ của doanh nghiệp
- Phân tích các cân đối tài chính
+ Cân đối tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạn: TSNH nên được tài trợbởi nguồn vốn ngắn hạn
+ Cân đối giữa TSDH và nguồn vốn dài hạn: TSDH nên được tài trợ bởinguồn vốn dài hạn
+Phải nộp thuế, +Vay ngắn hạn+Các khoản phải trả, nộp khác
Nguồn vốn dài hạn
- Đầu tư tài chính ngắn hạn
- Khoản phải thu
- Hàng tồn kho
- Tài sản ngắn hạn khác
- Tài sản dài hạn
- Đầu tư tài chính dài hạn
- Khoản phải thu dài hạn
Trang 23- Bất động sản đầu tư
- Tài sản dài hạn khác
1.4.1.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh hay còn gọi là báo cáo thu nhập là báo cáo tàichính tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, thu nhập củahoạt động tài chính và các hoạt động khác trong một thời kỳ nhất định trong hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Đó là phần chênh lệch giữa các khoản thu vàcác khoản đã chi phát sinh trong kỳ, trong đó nguồn thu chỉ được thừa nhận khichúng được xác định ở mức độ chắc chắn nhất định, trong khi các khoản chi chỉđược thừa nhận khi chúng ở mức độ hợp lý có thể
Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết kết quả kinh doanh chính :
- Doanh thu bao gồm doanh thu thuần sau khi bỏ qua các khoản giảm trừdoanh thu
- Chi phí bao gồm:
Chi phí giá vốn hàng bán
Chi phí tài chính
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
1.4.1.3 Phân tích báo cáo lưu chuyền tiền tệ
Báo cáo lưu chuyền tiền tệ là một loại báo cáo thể hiện dòng tiền ra và dòngtiền vào của một tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định (tháng,quý hay nămtài chính)
Báo cáo này là một công cụ giúp nhà quản lý tổ chức kiểm soát dòng tiền của
tổ chức.Bảng báo cáo dòng tiền mặt thông thường gồm có:
- Dòng tiền vào:
+ Các khoản thanh toán của khách hàng cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ+ Lãi tiền gửi từ ngân hàng
+ Lãi tiết kiệm và lợi tức đầu tư
Hình 1.2: Mô hình phân tích bảng cân đối kế toán
Trang 24+ Đầu tư của cổ đông
- Dòng tiền ra:
+ Chi mua cổ phiếu,nguyên nhiên vật liệu thô, hàng hóa để kinh doanh hoặccác công cụ
+ Chi trả lương, tiền thuê và các chi phí hoạt động hàng ngày
+ Chi mua tài sản dài hạn-máy tính cá nhân,máy móc, thiết bị văn phóng, …+ Chi trả lợi tức
+ Chi trả thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và các thuế vàphí khác
Phân tích báo cao lưu chuyển tiền tệ ta có thể biết số dư tiền mặt thuần của hoạtđộng kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính,chênh lệch số dư qua cácnăm Từ đó cho biết hoạt động nào tốt, hoạt động nào chưa tốt và khái quát về điểmmạnh, điểm yếu của từng hoạt động trên
1.4.1.4 Sử dụng thuyết minh báo cáo tài chính hỗ trợ phân tích
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập cùng với bảng CĐKT và BCKQKD,khi trình bày và lập thuyết minh báo cáo tài chính phải trình bày bằng lời văn ngắngọn, dễ hiểu, phần số liều phải thống nhất với số liệu trên các báo cáo tài chínhkhác Thuyết minh báo cáo tài chính có nội dung cơ bản như sau:
+ Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
+ Chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp: Bao gồm các thông tin về niên
độ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán, nguyên tắc,phương pháp kế toán TSDH, kế toán hàng tồn kho, phương pháp tính toáncác khoản dự phòng, tình hình trích lập và hoàn nhập dự phòng
Chi tiết một số chỉ tiêu trong thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm:
+ Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố
+ Tình hình tăng giảm theo từng nhóm TSDH, từng loại TSDH
+ Tình hình thu nhập của công nhân viên
+ Tình hình tăng giảm vốn chủ sở hữu
+ Tình hình tăng giảm các khoản đầu tư vào đơn vị khác
+ Các khoản phải thu và nợ phải trả
+ Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh
+ Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệpnhư chỉ tiêu bố trí cơ cấu vốn, tỷ suất lợi nhuận, tình hình tài chính…+ Phương hướng sản xuất kinh doanh trong kỳ tới
+ Các kiến nghị
Trang 251.4.2 Phân tích hiệu quả tài chính
1.4.2.1 Phân tích khả năng quản lý tài sản:
Phân tích khả năng quản lý tài sản là đánh giá hiệu suất, cường độ sử dụng(mức độ quay vòng) và mức sản xuất của tổng tài sản trong năm Và nhằm trả lờicâu hỏi một đồng tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu?
- Vòng quay hàng tồn kho, Vòng quay hàng tồn kho là số lần hàng hóa tồn kho
bình quân luân chuyển trong kỳ Tỷ số này đo lường mức doanh số bán liên quanđến mức độ tồn kho của các loại hàng hóa thành phẩm, nguyên vật liệu Trong một
kỳ kinh doanh, số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng tốt
Vòng quay hàng tồn kho cao là cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu doanh nghiệptiết kiệm được chi phí trên cở sở sử dụng tốt các tài sản khác.Vòng quay hàng tồnkho thấp là do quản lý vật tư, tổ chức sản xuất cũng như tổ chức bán hàng chưa tốt
Doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hóa tiêu thụ trong kỳ khôngphân biệt đã thu tiền hay chưa và trừ đi phần chi phí hoa hồng chiết khấu, giảm giáhay hàng bán bị trả lại
Giá trị hàng tồn kho bao gồm toàn bộ các tài sản dự trữ như vật tư, nguyên vậtliệu, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, hàng hóa (không kể các hàng hóa ứ đọngchậm luân chuyển, kém phẩm chất)
Do giá trị hàng tồn kho trong bảng cân đối kế toán là mức tồn kho tại một thờiđiểm cụ thể còn doanh thu thuần là giá trị được tạo ra trong suốt một kỳ kinh doanhnên khi tính toán tỷ số vòng quay hàng tồn kho phải sử dụng mức tồn kho trungbình dựa trên kết quả trung bình cộng các giá trị tồn kho trong kỳ
- Kỳ thu nợ bán chịu ( Kỳ thu nợ ):
Kỳ thu nợ bán chịu phản ánh mức độ bán chịu của doanh nghiệp, về mặt bảnchất chính là phần doanh thu chưa thu hồi được tính theo ngày
Kỳ thu nợ dài phản ánh chính sách bán chịu táo bạo Có thể là dấu hiệu tốt nếutốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng khoản phải thu Nếu vận dụng đúng,chính sách bán chịu là một công cụ tốt để mở rộng thị phần và làm tăng doanh thu.Mặt khác, kỳ thu nợ dài có thể do yếu kém trong việc thu hồi khoản phải thu; doanhnghiệp cũng bị chiếm dụng vốn, khả năng sinh lợi thấp
Trang 26Kỳ thu nợ ngắn có thể do khả năng thu hồi khoản phải thu tốt, doanh nghiệp ít
bị chiếm dụng vốn, lợi nhuận có thể cao Mặt khác, kỳ thu nợ ngắn có thể do chínhsách bán chịu quá chặt chẽ, dẫn tới đánh mất cơ hội bán hàng và cơ hội mở rộngquan hệ kinh doanh
- Vòng quay tài sản ngắn hạn
Số vòng quay của TSNH cho biết trong kỳ kinh doanh một đồng TSNH tạo rabao nhiêu đồng doanh thu Công thức tính vòng quay TSNH:
Số vòng quay càng cao chứng tỏ TSNH có chất lượng cao, được tận dụng đầy
đủ, không bị nhàn rỗi trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Vòng quayTSNH cao là cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nhờ tiết kiệm được chi phí và giảm sốvốn đầu tư
Vòng quay TSNH thấp là do nhiều nguyên nhân như: tiền mặt nhàn rỗi, thuhồi khoản phải thu kém, chính sách bán chịu quá nhiều, quản lý vật tư chưa tốt,quản lý hàng chưa đạt yêu cầu
- Vòng quay tài sản dài hạn
Chỉ số này đo lường mức độ hiệu quả của việc doanh nghiệp sử dụng TSDHcủa mình
Giá trị TSDH là giá trị thuần của các loại TSDH tính theo giá trị ghi trên sổsách kế toán, tức là nguyên giá của TSDH trừ phần hao mòn TSDH cộng dồn tínhđến thời điểm tính toán
Vòng quay TSDH càng lớn phản ánh tình hình hoạt động tốt của doanh nghiệp
đã tạo ra mức doanh thu thuần cao hơn so với TSDH, mặt khác chứng tỏ TSDH cóchất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và phát huy hết tác dụng.Vòng quay TSDH thấp là do nhiều TSDH không hoạt động, chất lượng TSDHkém hoặc không hoạt động đúng công suất
- Vòng quay tổng tài sản
Vòng quay tổng tài sản cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản của doanhnghiệp, hoặc thể hiện một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp đem lại bao nhiêuđồng doanh thu Vòng quay tổng tài sản đánh giá tổng hợp khả năng quản lý tài sảnngắn hạn và tài sản dài hạn của doanh nghiệp Công thức tính vòng quay TTS:
Trang 27Vòng quay tổng tài sản cao chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp có chấtlượng cao, được tận dụng đầy đủ không bị nhàn rỗi và không bị giam giữ trong cáckhâu của quá trình sản xuất kinh doanh.Vòng quay tổng tài sản cao là cơ sở tốt để
có lợi nhuận cao.Vòng quay tổng tài sản thấp là do yếu kém trong quản lý tài sảndài hạn, quản lý tiền mặt, quản lý khoản phải thu, chính sách bán hàng, quản lý vật
tư, quản lý sản xuất, quản lý bán hàng
1.4.2.2 Phân tích khả năng sinh lời
- Doanh lợi sau thuế trên doanh thu (Lợi nhuận biên, ROS):
Chỉ số này cho biết trong một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lãi chochủ sở hữu Đây là chỉ số thể hiện hiệu quả trong quản lý hoạt động sản xuất kinhdoanh và được các cổ đông đại chúng rất quan tâm vì phản ánh quyền lợi của chínhhọ
- Sức sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) :
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệpgóp phần tạo ra bao nhiêu đồng lãi cho chính chủ sở hữu Lợi thế của chỉ số này làphản ánh trực tiếp mức độ sinh lời mà các chủ sở hữu được hưởng trong kỳ.Vì vậy,đây là chỉ số quan trọng nhất và thiết thực nhất đối với chủ sở hữu
- Tỷ suất thu hồi tài sản (Sức sinh lợi tài sản, ROA):
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo đượcbao nhiêu đồng lãi cho toàn xã hội Chỉ số này cho thấy mức độ sử dụng hiệu quảcủa tài sản để tạo ra giá trị cho toàn xã hội và là dấu hiệu cho thấy việc mở rộnghoạt động kinh doanh của doanh nghiệp qua tài sản có hiệu quả hay không
- Sức sinh lợi cơ sở: BEP
Trang 28Doanh lợi trước thuế trên doanh thu cho biết với một trăm đồng vốn đầu tưvào doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lãi cho toàn xã hội Doanh thu chỉ ra vaitrò, vị trí của doanh nghiệp trên thương trường và lợi nhuận thể hiện chất lượng,hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp Nếu tỷ số này càng cao chứng tỏ vai trò vàhiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng tốt.
1.4.3 Phân tích rủi ro tài chính
1.4.3.1 Phân tích khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản của một doanh nghiệp được hiểu là khả năng của doanhnghiệp trong việc đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn Đây là khả năng doanh nghiệp
có thể trang trải các khoản nợ đến hạn và trong phân tích tài chính có một số chỉtiêu thanh toán sau thường được sử dụng:
- Khả năng thanh toán hiện hành:
Khả năng thanh toán hiện hành cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn được đảm bảobởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Trong đó, tài sản ngắn hạn thường bao gồmtiền, khoản phải thu và hàng tồn kho; nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả, vayngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn và nợ định kỳ
Khả năng thanh toán cao thì rủi ro thanh toán sẽ thấp, tuy nhiên lợi nhuận cóthể thấp vì tiền mặt nhiều, phải thu nhiều và hàng tồn kho nhiều
Khả năng thanh toán thấp thì rủi ro thanh toán sẽ cao, tuy nhiên lợi nhuận cóthể cao vì TSNH được sử dụng hiệu quả, nguồn vốn đầu tư cho TSNH nhỏ, ROA vàROE có thể tăng
- Khả năng thanh toán nhanh:
Hàng tồn kho là tài sản có tính thanh khoản thấp nhất trong số các tài sản ngắnhạn của doanh nghiệp và hàng tồn kho sử dụng cho sản xuất và bán chứ không phải
để trả nợ thì sẽ mang lại giá trị lớn hơn Do đó, khả năng thanh toán nhanh đã loại
bỏ khoản mục hàng tồn kho trong tài sản ngắn hạn để đánh giá chặt chẽ hơn về khảnăng thanh toán
Qua khả năng thanh toán nhanh có thể đánh giá được khả năng thanh toán củadoanh nghiệp có lệ thuộc vào hàng tồn kho hay không, tức là có ảnh hưởng đến kếhoạch sản xuất và bán hàng hay không
Trang 29- Khả năng thanh toán tức thời:
Bởi vì việc trả nợ phải thực hiện trên cơ sở tiền tệ nên để đánh giá chặt chẽnhất khả năng thanh toán ngắn hạn, nguời ta sử dụng chỉ số khả năng thanh toán tứcthời.Đây là dấu hiệu tốt để đánh giá tính thanh toán của doanh nghiệp ở thời điểmhiện tại
1.4.3.2 Phân tích khả năng quản lý nợ
- Chỉ số nợ:
Chỉ số nợ cho biết một đồng vốn chủ sở hữu phải gánh bao nhiêu đồng nợ.Đâycũng là chỉ số dùng để đánh giá đòn bẩy tài chính trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Đồng thời để đánh giá tốt hơn chỉ số nợ trên thì trong nợ phải trả ta cần phântích thêm tỷ lệ và tính chất của các khoản nợ ngắn hạn, nợ tín dụng; từ đó đánh giátính chất khoản nợ phải trả chính xác hơn: Nợ người bán chiếm tỷ trọng cao thìdoanh nghiệp đang được ưu đãi từ nhà cung cấp, Nợ tín dụng cao thì rủi ro cao…
- Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay:
Chỉ số này cho biết một đồng lãi vay đến hạn được che chở bởi bao nhiêuđồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế EBIT Và lãi vay được thanh toán bằng thunhập trước thuế nên khả năng thanh toán lãi vay không bị ảnh hưởng bởi thuế thunhập
Lãi vay là một trong các nghĩa vụ ngắn hạn rất quan trọng của doanhnghiệp.Việc mất khả năng thanh toán lãi vay có thể làm giảm uy tín đối với chủ nợ,tăng rủi ro và nguy cơ phá sản của doanh nghiệp
1.4.3.3 Phân tích khả năng cân đối vốn
Việc phân tích khả năng cân đối vốn phải dựa vào các tài liệu kế toán có liênquan để sắp xếp các chỉ tiêu phân tích theo trình tự nhất định Trình tự này phải thểhiện được nhu cầu thanh toán ngay, chưa thanh toán ngay cũng như khả năng huyđộng để thanh toán ngay và thanh toán trong thời gian sắp tới Vì vậy bảng phântích này có kết cấu gần giống như một bảng cân đối giữa một bên là nhu cầu thanh
Trang 30toán và khả năng thanh toán của DN như thế nào trong thời gian trước mắt và thờigian tới.
Bảng 1.1 Phân tích khả năng cân đối vốn
I.Các khoản phải thanh toán ngay
2 Tiền gửi ngân hàng
- Tiền Việt Nam
- Ngoại tệ
3 Tiền đang chuyển
- Tiền Việt Nam
- Ngoại tệ
Bổ xung công cụ cho việc phân tích, sau khi lập bảng phân tích, cần tính ra và
so sánh hệ số khả năng thanh toán (HK) Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa khảnăng thanh toán và nhu cầu thanh toán của DN
Hệ số khả năng thanh toán (cân đối vốn) HK
Hệ số khả năng thanh toán là cơ sở để đánh giá khả năng cân đối vốn củadoanh nghiệp giữa việc thanh toán và nhu cầu thanh toán
Nếu HK >1 chứng tỏ khả năng thanh toán và tình hình thanh toán ổn địnhhoặc khả quan và như vậy doanh nghiệp có khả năng cân đối vốn tốt
Nếu HK < 1 DN không có khả năng thanh toán, tình hình tài chính gặp khókhăn HK càng nhỏ thể hiện tình hình tài chính càng gặp khó khăn, DN càng mấtdần khả năng thanh toán HK dần đến 0 DN có nguy cơ phá sản và như vậy là khảnăng cân đối vốn kém hoặc không có khả năng cân đối vốn
Trên thực tế chúng ta cần kết hợp thêm với các chỉ tiêu phản ánh khả năngthanh toán để có thể kết luận tốt hơn về khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
Trang 311.4.4 Phân tích tổng hợp tình hình tài chính
Khi tiến hành phân tích tổng hợp tình hình tài chính thì phương pháp phân tíchDupon là phương pháp được sử dụng thường xuyên và khá hiệu quả Đây là công cụđơn giản nhưng lại cho phép các nhà phân tích có cái nhìn khái quát về toàn bộ cácvấn đề cơ bản của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn
+ Tăng ROA thì sẽ tiến hành theo đẳng thức DUPONT thứ nhất
+ Tăng tỷ số tài sản bình quân trên vốn chủ sở hữu bình quân thì cần giảmvốn chủ sở hữu và tăng nợ
Đẳng thức này cho thấy tỷ số nợ càng cao lợi nhuận của chủ sở hữu càng cao.Khi tỷ số nợ tăng thì rủi ro cũng sẽ tăng
Đẳng thức DUPONT tổng hợp:
Trang 32ROE phụ thuộc vào ba nhân tố lợi nhuận trước lãi vay và thuế, vòng quay tổngtài sản và tỷ số Tổng tài sản bình quân/Vốn chủ sở hữu bình quân.Các nhân tố này
có thể ảnh hưởng cùng chiều hoặc trái chiều đối với ROE Phân tích DUPONT làxác định ảnh hưởng của ba nhân tố này đến ROE của doanh nghiệp Bằng việc sửdụng phương pháp thay thế liên hoàn ta sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nhân
tố đến sự tăng giảm của chỉ số này
1.4.5 Đánh giá chung tình hình tài chính của doanh nghiệp
Dựa vào các phần phân tích trên mà đưa ra nhận xét về tình hình tài chính củadoanh nghiệp là tốt hay xấu, nếu xấu thì xấu ở đâu, như thế nào để tìm hiểu nguyênnhân
Khi thực hiện một công việc nào đó nếu biết được trình tự của công việc đểtiến hành, hình dung ra được các việc phải làm thì chắc chắn hiệu quả đạt được nhưmong muốn Phân tích tài chính cũng vậy, có nhiều cách thức khác nhau để đi đếnmục tiêu, một trong những quy trình đó là:
Quy trình phân tích:
1) Thu thập thông tin:
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyếtminh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoántài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài,những thông tin về kế toán và thông tin quản lý khác… Như vậy phải thu thập cácbáo cáo tài chính và các thông tin liên quan khác
là công cụ để doanh nghiệp có thể mạnh dạn cấp tín dụng cho khách hàng vì mụctiêu cạnh tranh
- Bóc tách: Liên quan đến tài sản dài hạn thuê tài chính mà đối ứng sẽ là giá trịnằm trong mục nợ dài hạn Sau mỗi niên độ kinh doanh, việc doanh nghiệp thanhtoán tiền thuê tài sản làm mục nợ dài hạn giảm đi Trong trường hợp chưa phải
Trang 33thanh toán tiền thuê tài sản thì khoản này chỉ là một khoản trong mục nợ ngắn hạn.Việc này làm rạch ròi trạng thái sinh nợ của doanh nghiệp.
- Sắp xếp lại: Liên quan đến các tài sản dài hạn mà thời gian sử dụng sẽ hếttrước khi niên độ kinh doanh kết thúc Lúc đó, do thời gian sử dụng dưới một năm,
nó chỉ có ý nghĩa tương đương tài sản ngắn hạn Đôi khi cũng có sự dịch chuyểnmột loại TSNH thành TSDH do đặc điểm thời hạn duy trì của nó dài hơn 1 năm.Việc sắp xếp lại nhằm đảm bảo yếu tố thời hạn trong phân tích tài chính
- Xử lý khác: Nhằm loại bỏ các giá trị ghi âm bên tài sản gồm khấu hao và cáckhoản dự phòng Thực chất thì các khoản này sẽ là một nguồn tài trợ cho doanhnghiệp nếu doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh khoản dự phòng trong kỳ, còn khấuhao là một phần tích lũy của doanh nghiệp Việc coi các khoản dự phòng như nguồnngắn hạn là do tính chất bất thường trong việc sử dụng các quỹ dự phòng
- Trong các xử lý này thì đối với người ngoài doanh nghiệp chỉ thực hiện đượccác xử lý loại bỏ và xử lý khác, còn các xử lý còn lại phải là người trong doanhnghiệp mới làm được
3) Xác định các chỉ số tài chính: dựa vào các thông tin cần thiết để tính toán các chỉ số của doanh nghiệp.
4) So sánh đối chiếu: dựa vào các chỉ tiêu tính được thực hiện các so sánh cần thiết cho quá trình phân tích.
5) Đánh giá, định hướng và đưa ra giải pháp
Trang 34Hình 1.3: Quy trình phân tích và đề xuất giải pháp cải thiện tình hình tài chính
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tình hình tài chính của doanh nghiệp
o Tình hình nền kinh tế chung
o Các chính sách kinh tế tài chính của chính phủ
o Các chính sách của thị trường tài chính
o Quy mô kinh doanh, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh
o Kế hoạch và chính sách tài chính của doanh nghiệp
o Quyết định của người quản lý: Giám đốc tài chính, tổng giám đốc công ty
o Ta có thể phân chia thành nhân tố mang tính chất khách quan và nhân tố
mang tính chất chủ quan để phân tích:
* Biến động của doanh thu,
CF và lợi nhuận
* Biến động của doanh thu,
CF và lợi nhuận
TÍCH
KHÁI
QUÁT
PHÂN
TÍCH
KHÁI
QUÁT
*Sự biến động của
TS và NV
*Sự biến động của
TS và NV
* Kết quả của hoạt động KD, hoạt động đầu tư, hoạt động TC
* Số dư thuần TM trong kì và
số dư ck
* Kết quả của hoạt động KD, hoạt động đầu tư, hoạt động TC
* Số dư thuần TM trong kì và
số dư ck
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
*Khả năng sinh lời
*Khả năng QLTS
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
*Khả năng sinh lời
*Khả năng QLTS
RỦI RO TÀI CHÍNH
*Khả năng thanh khoản
*Khả năng quản lý nợ
RỦI RO TÀI CHÍNH
*Khả năng thanh khoản
*Khả năng quản lý nợ
PHÂNTÍCH TỔNG HỢP
*Phân tích Du-Pont
*Phân tích các đòn bẩy
PHÂNTÍCH TỔNG HỢP
*Phân tích Du-Pont
*Phân tích các đòn bẩy
CÁC
TỶ SỐ TÀI CHÍN
H hiện nay
CÁC
TỶ SỐ TÀI CHÍN
H hiện nay
BẢN
G CĐK
T sau giải pháp
BẢN
G CĐK
T sau giải
THẾ TÀI CHÍN
H SAU KHI
CÓ GIẢI PHÁP
VỊ THẾ TÀI CHÍN
H SAU KHI
CÓ GIẢI PHÁP
CÁC
TỶ SỐ TÀI CHÍN
H mục tiêu
CÁC
TỶ SỐ TÀI CHÍN
H mục tiêu
BẢNG KQKD sau giải pháp
BẢNG KQKD sau giải pháp
So sánh, nhận xét và
đề xuất biện pháp cải thiện tình hình tài chính
So sánh, nhận xét và
đề xuất biện pháp cải thiện tình hình tài chính
Trang 351.5.1 Nhân tố mang tính chất khách quan
+ Do rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệpgặp phải như: thiên tai, hỏa hoạn mà doanh nghiệp không lường trước được hay sựkhốc liệt trong cạnh tranh trên thị trường làm sức tiêu thụ hàng hóa chậm cũng ảnhhưởng rất lớn đến kết quả tài chính của doanh nghiệp
+ Do tác động trực tiếp của nền kinh tế, sự biến động giá trị đồng tiền khi nềnkinh tế bị lạm phát hay giảm phát Nếu doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời thìgiá trị tài sản của doanh nghiệp bị trượt giá theo giá trị tiền tệ
1.5.2 Nhân tố mang tính chất chủ quan
+ Chu kỳ kinh doanh:(Thời gian luân chuyển của vốn ngắn hạn): Đây là nhân
tố rất lớn tới hiệu quả sử dụng tài sản Nếu chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn, tốc độthu hồi nhanh, doanh nghiệp sẽ hạn chế được rủi ro đồng thời có thể tái tạo mở rộngquy mô vốn được thuận lợi
+ Kỹ thuật trình độ lao động: Trong mọi lĩnh vực sản xuất người lao độngluôn giữ một vai trò trung tâm, sản xuất kinh doanh có thành công hay không phụthuộc rất lớn vào lao động Chính vì vậy đào tạo, nâng cao tay nghề có ý nghĩa rấtlớn
+ Sản phẩm sản xuất ra: Nếu áp dụng được khoa học kĩ thuật vào sản xuất kếthợp với nâng cao tay nghề cho người lao động thì sản phẩm sản xuất giá có giáthành hạ sẽ nhanh chóng chiếm được ưu thế trên thị trường
+ Lựa chọn hướng đầu tư: Nếu lựa chọn được hướng đầu tư dứng đắn thìdoanh nghiệp sẽ là chỗ dựa vững chắc để các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn vào, từ đóquy mô của doanh nghiệp càng được mở rộng và phát triển
+ Trình độ công tác quản lý doanh nghiệp: Nếu trình độ quản lý còn nhiều yếukém, hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị thu lỗ kéo dài và bị thâm hụt vào vốn Để
có được hiệu quả thì bộ máy quản lý của doanh nghiệp phải hoạt động nhịp nhàng
ăn khớp với nhau để chi phí cho quản lý doanh nghiệp thấp nhất
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả tài chínhdoanh nghiệp Các doanh nghiệp cần xem xét từng nguyên nhân để hạn chế nhữnghậu quả xấu có thể xảy ra
1.6 Phương hướng cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp
Tăng doanh thu bằng cách tăng doanh thu sản phẩm chủ yếu: một doanh
nghiệp có thể đưa ra nhiều loại hình sản phẩm dịch vụ để kinh doanh Tuy nhiêntrong đó luôn có một sản phẩm dịch vụ mang lại doanh thu lớn cho doanh nghiệp
Trang 36Sản phẩm dịch vụ này là sản phẩm dịch vụ chủ yếu Việc tăng tỉ trọng sản phẩmnày trong cơ cấu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ làm cho doanh thu củadoanh nghiệp tăng lên Để áp dụng biện pháp này, doanh nghiệp cần có một hệthống dự báo tốt về nhu cầu trong tương lai để có thể đưa ra tỷ trọng hợp lý.
Tăng doanh thu bằng cách tăng chiết khấu hàng bán và giảm giá hàng bán:
việc tăng chiết khấu thanh toán cho đại lý cũng như việc giảm giá hàng bán chokhách hàng sẽ khuyến khích các đại lý kinh doanh sản phẩm, khách hàng lựa chọnsản phẩm để sử dụng qua đó làm tăng doanh thu của doanh nghiệp
Giảm các khoản chi phí trong doanh nghiệp Biện pháp này tỏ ra tương đối
hiệu quả trong tình hình nền kinh tế chung gặp nhiều khó khăn Vì khi đó, tìm kiếmkhách hàng mới, mở rộng sản xuất kinh doanh để tăng doanh thu và lợi nhuận gặpnhiều khó khăn Vì vậy nhiều doanh nghiệp đã chọn biện pháp cắt giảm các chi phíkhông hợp lý trong doanh nghiệp để tăng doanh thu và lợi nhuận
Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ: việc thắt chặt chính sách thu hồi nợ với khách
hàng cũng là một biện pháp hiệu quả trong tình hình nền kinh tế có những biếnđộng xấu gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp Việc doanh nghiệp thắt chặt các khoảnphải thu và phải trả của khách hàng sẽ là tăng lượng tiền trong doanh nghiệp để đầu
tư cho các mục đích khác mang lại lợi nhuận
Nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH, TSDH: TS của doanh nghiệp là phần quan
trọng để tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp Việc nâng cao hiêu quả sử dụng TSDHnhư tính toàn cho máy móc có khả năng chạy hết công suất Lập lịch sử dụng nhàxưởng, kho bãi, các phương tiện vận tải sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng của TSDN,quản lý tốt các TSND như hàng tồn kho, lập lịch kiểm tra định kỳ, kiểm tra trướckhi xuất kho sẽ giảm lượng hàng bán bị trả lại, qua đó làm tăng doanh của củadoanh nghiệp
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CỦA CÔNG TY TNHH TẬP ĐOÀN EVD
2.1 Tổng quan về công ty TNHH Tập đoàn EVD
2.1.1 Qua trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp
o Tên công ty: Công ty TNHH Tập Đoàn EVD
o Tên giao dịch: Equipments and Values Development
o Tên viết tắt: EVD Co.,Ltd
o Trụ sở chính của công ty: Tầng 2- Toà nhà số 10 Lê Quý Đôn – QuậnHai Bà Trưng – Hà Nội
- Năm 1993 văn phòng đại diện của Hãng ESAB bắt đầu hoạt động tạiViệtNam Hãng ESAB được thành lập tại Thụy Điển từ năm 1904 bởi ông OscarKjellberg - Người phát minh ra que hàn có vỏ bọc Từ đó cho đến nay ESABkhông chỉ là hãng lâu năm, kinh nghiệm nhất, mà còn phát triển thành một tậpđoàn dẫn đầu về nhiều mặt trong lĩnh vực hàn- cắt kim loại
- Hầu hết những người làm việc trong ngành hàn tay có sử dụng đến hànđều biết đến nhãn hiệu vật liệu hàn ESAB “OK” (chữ viết tắt để tôn vinh ôngOscarr Kjellberg) – Loại vật liệu hàn quốc tế đa dạng, đầy đủ và đáng tin cậynhất
- Ngày nay tập đoàn ESAB có nhà máy sản xuất thiết bị và vật liệu hàn ởchâu Âu, châu Mỹ và châu á với khoảng 10 000 nhân công Tập đoàn đóng vaitrò hết sức quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm và công nghệ hàn tronghầu hết các ngành công nghiêp,từ công nghiệp vũ trụ, hàng không, giao thông,đóng tàu biển - ô tô, chế tạo máy… cho đến sửa chữa nhỏ lẻ ở xưởng Kháchhàng có thể tin cậy sử dụng sản phẩm của ESAB không chỉ ở những hệ thống
Trang 38máy hiện đại như: dàn cắt CNC ( Laser, plasma khô, plasma dưới nước, tianước…), máy hàn Laser, máy hàn – cắt plasma, thiết bị hàn chuyên dụng – tựđộng, bán tự động… mà còn ở những dụng cụ nhỏ bảo hộ, trợ giúp hay phụtùng thay thế…
- Có thể nói, ESAB là người bạn đồng hành và tin cậy trong mọi công việchàn – cắt Với ESAB, khách hàng được hỗ trợ tốt nhất trong mọi công việc vềhàn – cắt
- Để giới thiệu và đưa sản phẩm của ESAB đến khách hàng được tốt hơn,Công ty Thiết bị và Phát triển chất lượng EVD thành lập theo giấy phép số
3802 GP/TLDN của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 04 tháng 11năm 1998, thay thế cho văn phòng đại diện, trở thành Nhà phân phối chính thứccủa tập đoàn Từ thời điểm này, sản phẩm của hãng ESAB được đưa đến kháchhàng nhanh và phù hợp với yêu cầu kinh tế kỹ thuật hơn Điều đó mang lại rấtnhiều thuận lợi cho khách hàng không chỉ trong sản xuất mà còn trong kinh tế;
và ngược lại công ty EVD cũng phát triển và lớn mạnh không ngừng Là công
ty độc lập có khả năng cung cấp trọn gói đồng bộ hàng hoá và chuyển giaocông nghệ trong lĩnh vực hoạt động, công ty EVD còn được “hãng mẹ” hỗ trợrất nhiều trong hoạt động thương mại, tài chính
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
Tổ chức bộ máy quản lý của công ty thiết bị và phát triển chất lượng đượcthể hiện một cách khái quát qua sơ đồ sau:
VOLVO DIVISION
CÔNG TY EVD
EVD ELECTRIC
ESABDIVIS ION
EVD
TRAINING
EVD PHARMA
PHÒNG BẢO HÀNH SERVICE
PHÒNG XUẤT NHẬP KHẨU
PHÒNG KINH DOANH
PHÒNG KẾ
TRƯỜNG
Trang 39Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy EVD
- Như đã đề cập ở trên, công ty EVD có các mảng kinh doanh hết sức đadạng, do đó hệ thống quản lý của công ty cũng được chia ra các phòng ban khácnhau,theo từng mảng kinh doanh để phục vụ tốt nhất cho quản lý công ty, nhằmmục đích tăng doanh thu, tối đa hoá lợi nhuận
- Công ty có đội ngũ gần 50 cán bộ công nhân viên hết sức năng động,nhiệt tình với nhiều năm kinh nghiệm trong việc tự quản lý, sắp xếp phân côngcông việc hợp lý đã ngày càng nâng cao uy tín của công ty trên thị trường vànhờ đó đưa những mặt hàng của công ty có mặt trên ngày càng nhiều các tỉnh
và thành phố trên toàn quốc
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty bao gồm:
• Cử nhân kinh tế: 14 người
• Kỹ sư các ngành nghề: 20 người
• Nhân viên và công nhân kỹ thuật: 12 người
- Với tổ chức bộ máy công ty khá phù hợp, tương đối gọn nhẹ, quan hệ chỉđạo rõ ràng, quan hệ nghiệp vụ chặt chẽ, khăng khít, nhờ vậy hoạt động củacông ty từ trên xuống dưới luôn luôn thống nhất, góp phần giúp cho hoạt độngkinh doanh của công ty gặp rất nhiều thuận lợi
- Đứng đầu công ty EVD là Giám đốc công ty, giúp việc cho Giám đốc cómột Phó Giám đốc, các trưởng phòng và các phòng ban chức năng
- Giám đốc công ty là ông Trần Đình Khang – là người có quyền quyếtđịnh cao nhất về mọi hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm về tài sản vàcác nghĩa vụ về tài sản khác trong phạm vi số vốn góp vào công ty Giám đốc
có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngàycủa công ty, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư củacông ty, ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cáchchức các chức danh quản lý trong công ty; ký kết các hợp đồng kinh tế nhândanh công ty; kiến nghị các phương án cơ cấu tổ chức công ty; kiến nghịphương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh; tuyển dụng laođộng,…
Trang 40- Phó Giám đốc công ty là ông Đặng Đình Hưng, đồng thời cũng là trưởng
bộ phận ESAB – bộ phận chủ đạo trong công ty Ông là một trong những ngườiđóng vai trò quan trọng nhất trong hỗ trợ cho Giám đốc; quản lý các văn bảntrong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao theo sự uỷ quyền của Giám đốc;
có quyền kiểm tra tất cả các khâu về đảm bảo chất lượng và thoả mãn kháchhàng
- Ngoài ra, còn có trưởng các bộ phận như Trung tâm Điện, Volvo,Service, Pharma cũng là những người giúp việc cho Giám đốc, đóng góp mộtphần rất lớn trong thành công của công ty EVD từ trước đến nay
- Các phòng ban của công ty bao gồm hệ thống các phòng ban là: phòngxuất nhập khẩu, phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng kỹ thuật – thị trường,phòng bảo hành – service Các phòng ban luôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau,nhằm hướng tới một mục đích chung, đó là: tăng doanh thu, mang lại lợi nhuậnngày càng cao cho công ty, và đồng thời đưa công ty EVD có một vị thế ngàycàng cao hơn trên thị trường, không những ở trong nước mà còn được mở rộngtrên tầm quốc tế
o Phòng xuất nhập khẩu: chịu trách nhiệm về nhập khẩu hàng hoá ở bên các
hãng ESAB Singapore, Nhật Bản, phụ kiện Tokin, Phyto,…, giúp chonguồn hàng hoá ở công ty luôn dồi dào, luôn đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng
o Phòng kế toán: giúp cho Giám đốc công ty chỉ đạo và tổ chức thực hiện
công tác kế toán tài chính, thống kê về giá cả của công ty theo đúng các quyđịnh của luật pháp Nhà nước nói chung và của công ty nói riêng
o Phòng kinh doanh: tham mưu cho Giám đốc việc thực hiện quản lý điều
hành hoạt động kinh doanh về các lĩnh vực, đề ra các kế hoạch, chiến lượckinh doanh, chịu trách nhiệm về các khâu vận chuyển, tiêu thụ, kiểm tra chấtlượng sản phẩm trước khi đưa sản phẩm tới tay khách hàng,…
o Phòng kỹ thuật – thị trường: tham mưu cho Giám đốc về tình hình thị
trường, làm công tác nghiên cứu thị trường,…
o Phòng bảo hành – service: không chỉ có chức năng bảo hành sản phẩm cho
khách hàng khi sản phẩm có sự cố hay hư hỏng, mà phòng ban này còn thựchiện các dịch vụ tư vấn kỹ thuật, giải pháp kỹ thuật cho lĩnh vực điện và hàn– cắt Ngoài ra, phòng ban Service còn thực hiện đào tạo, nâng cao tay nghề
và cấp chứng chỉ cho người sử dụng các thiết bị hàn – cắt,…