1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết học vấn đề con người trong triết học mác lênin, phát triển nguồn nhân lực ở việt nam hiện nay

34 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Mác - Lênin, Phát Triển Nguồn Nhân Lực Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học trường đại học
Chuyên ngành triết học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 206 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (3)
  • B. NỘI DUNG (5)
    • I. KHÁI LƯỢC MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC (5)
      • 1. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông (5)
      • 2. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây (6)
    • II. QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI (8)
      • 1. Triết học Mác – LêNin tiếp cận con người trong lịch sử sản xuất vật chất. 6 2. Quan điểm của triết học Mác – LêNin về bản chất con người (8)
      • 3. Quan điểm của triết học Mác – LêNin về vai trò của con người (16)
    • III. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (18)
      • 1. Đặc điểm hình thành con người Việt Nam trong lịch sử (18)
      • 2. Vấn đề phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay (19)
    • III. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY (27)
      • 1. Thực trạng nguồn nhân lực trong quân đội hiện nay (27)
      • 2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới (28)
  • C. KẾT LUẬN (33)

Nội dung

Trong bối cảnh tình hình hiện nay trước sựtan rã của hệ thống chủ nghĩa xã hội XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, phongtrào cộng sản lâm vào thoái trào, chủ nghĩa tư bản CNTB có những sự điềuchỉ

NỘI DUNG

KHÁI LƯỢC MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC

1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông

Phương Đông cổ đại là vùng đất rộng lớn, một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại có nhiều trung tâm triết học lớn, các quan niệm về con người xuất hiện rất sớm trong đó điển hình là triết học Phật giáo và Nho giáo Đã bàn về những nội dung hết sức đa dạng những vấn đề thuộc nguồn gốc, bản tính của con người, đạo làm người và mẫu hình con người lý tưởng a) Quan niệm về con người trong triết học Phật giáo

Khi bàn tới nguồn gốc con người: Phật giáo phủ nhận quan điểm của kinh Vêda, Upanisad cho rằng con người là sản phẩm của đấng sáng tạo và con người là nguyên nhân của chính mình, con người quá khứ là nguyên nhân của con người hiện tại, con người hiện tại là nguyên nhân của con người tương lai.

Phật giáo cho rằng con người có hai thành phần: phần sinh lý và phần tâm lý, phần hình chất và tâm thần Con người là sự hội tụ bởi sắc và danh, hai thành phần trên được tạo nên từ ngũ uẩn, do nhân duyên hợp thành, mà thế giới bản chất của nó là vô thường nên sự hội tụ của sắc và danh cũng chỉ diễn ra trong thời gian nhất định, vì vậy không có cái tôi vĩnh hằng Đời sống trên trần gian chỉ là hư ảo, chỉ có cõi niết bàn, thiên đường mới là vĩnh viễn.

Trong mỗi người, người nào cũng có trần tục tính và Phật tính Trần tục tính là tính tham, sân, si; là vô minh, ái dục Phật tính là tính giác ngộ về cõi niết bàn, về cõi chân như Qua đây Phật giáo thừa nhận bản tính con người vừa thiện vừa ác b) Quan niệm về con người trong Nho giáo

Nho giáo cho rằng muôn vật do trời đất sinh ra thì con người cũng do trời đất sinh ra Sinh ra người cũng như sinh ra muôn vật, đó là đức của trời đất Nho giáo cho rằng con người sinh ra thì con người cùng với đất hợp thành ba ngôi tiêu biểu cho sự vật trong thế giới vật chất và tinh thần Kinh dịch chỉ rõ: Trời, đất, người là tam tài Nho giáo cho rằng trời là gốc của người, trời với người là một, do đó chủ trương thiên nhân hợp nhất.

Nho giáo coi tu than và thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất, luôn được đặt vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Mục tiêu xây dựng con người của Nho giáo là xác định được năm mối quan hệ và làm tròn trách nhiệm trong năm mối quan hệ đó Con đường để đạt tới mục tiêu đó là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Đồng thời Nho giáo cũng rất coi trọng năm đức (ngũ thường) thường xuyên phải trau dồi là nhân, nghĩa, lễ, trí Tín.

Nhìn chung quan điểm triết học về con người thể hiện trong các học thuyết triết học phương Đông thể hiện sự đa dạng, phong phú nhưng còn mang nặng tính duy tâm Tất cả những tư tưởng đó đều tồn tại lâu dài trong lịch sử, luôn giữ vai trò nền tảng trong suốt xã hội trung cổ Đây là cơ sở để các triết gia Phương đông sau này củng cố và hoàn thiện, phát triển.

2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây

Quan điểm về con người trong triết học phương Tây thể hiện phong phú theo dòng chảy của lịch sử từ thời cổ đại đến nay Mỗi thời đại lịch sử cụ thể những tư tưởng về con người mang những nội dung khác nhau a) Triết học phương Tây cổ đại

Cả triết học duy vật và triết học duy tâm đều có quan niệm khác nhau về con người Với các triết gia theo chủ nghĩa duy vật, họ giải thích nguồn gốc, bản chất con người theo quan điểm duy vật chất phác, mộc mạc Phái nguyên tử luận, tiêu biểu là Đêmôcrít cho rằng mọi sinh vật đều cấu tạo từ nguyên tử

Những người theo chủ nghĩa duy tâm, họ coi con người có hai phần thể xác và linh hồn, trong đó linh hồn là bất tử Aritxtốt cho rằng, con người là một động vật chính trị, qua đó ông đã đặt vấn đề nghiên cứu cả mặt tự nhiên và mặt xã hội của con người từ rất sớm. b) Triết học phương Tây thời kỳ trung cổ

Quan niệm con người bị chi phối bởi quan diểm duy tâm của tôn giáo. Theo Kito giáo con người do Chúa sáng tạo ra, con người có thể xác và linh hồn, thể xác mất đi, linh hồn sẽ còn lại Họ cho rằng Chúa trời là lực lượng siêu nhiên, định đoạt mọi số phận của con người, ban phước hoặc trừng phạt con người Mọi mặt cuộc sống con người, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do thượng đế sắp đặt Mọi sự vật là do chúa trời sắp đạt chính vì vậy con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống, nhưng đành bằng lòng, an phận với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cửu là ở thiên đường Đây là quan niệm duy tâm về bản chất con người nó kìm hãm, triệt tiêu ý chí đấu tranh vươn lên của con người. c) Triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng - cận đại Ở giai đoạn này nhận thức về nguồn gốc và bản chất con người đã có một bước tiến đáng kể, triết học duy vật và duy tâm đều phản ánh những vấn đề mới mẻ do thực tiễn đặt ra Tuy nhiên, chưa có một trường phái nào nhận thức đầy đủ cả về mặt sinh học và mặt xã hội, thống nhất trong con người Họ chỉ nhấn mạnh mặt cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội của con người d) Trong triết học cổ điển Đức

Hai đại biểu xuất sắc nhất là Hêghen và Phoiơbắc quan niệm về con người đã phát triển mạnh mẽ ở cả hai khuynh hướng duy tâm và duy vật. Hêghen tuyệt đối hoá con người lý tính, cho rằng ý niệm tuyệt đối tha hoá thành tự nhiên, xã hội và con người Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc trong lúc phê phán chủ nghĩa duy tâm, đã khẳng định ý thức là sản phẩm của bộ óc, tinh thần là sản phẩm của vật chất và tuyệt đối hoá con người tự nhiên, sinh vật, không thấy được bản chất xã hội - lịch sử của con người; không thấy vai trò hoạt động thực tiễn của con người do vậy cả hai ông đều chưa giải quyết đúng đắn vấn đề con người.

Như vậy, các quan điểm triết học trước Mác về con người chưa thoát khỏi tính chất duy vật siêu hình hoặc duy tâm thần bí Tuy nhiên lịch sử triết học đã để lại những quan niệm, nguồn gốc, bản chất quý giá về con người, làm cơ sở, tiền đề, điều kiện cho triết học Mác – LêNin kế thừa, phát triển đưa ra quan điểm khoa học về con người.

QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

1 Triết học Mác – LêNin tiếp cận con người trong lịch sử sản xuất vật chất a) Khái niệm con người

Với phương pháp luận duy vật biện chứng, triết học Mác - LêNin cho chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải được “nhân hóa” để mang giá trị văn minh con người và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau tạo thành con người tự nhiên - xã hội.

Nói chung, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội Vì vậy con người chính là một thực thể sinh học - xã hội gọi là thực thể sinh học vì nó là một cơ thể sống, gọi là một thực thể xã hội vì nó mang bản chất xã hội Tự nhiên và xã hội trong con người có mối quan hệ biện chứng với nhau C.Mác cho rằng “con người không phải là một tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới” 1 Đó là những con người sống trong một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định. b) Triết học Mác-LêNin tiếp cận con người trong lịch sử sản xuất vật chất

Từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội, các nhà kinh điển đã tiếp cận sự hình thành, phát triển con người từ trong lịch sử sản xuất vật chất Từ đó, khẳng định: lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình

1 C.Mác và Ph.ăngghen, tuyển tập, tập I NXB Sự thật Hà Nội- 1981, trang 13,14. thành, phát triển của con người, sự hình thành con người có cơ sở trực tiếp và gắn với môi trường tự nhiên – xã hội.

Lao động-điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triển con người.

Trong lao động, thông qua lao động con người biến đổi điều kiện tự nhiên bên ngoài; đồng thời làm biến đổi bản chất tự nhiên, cải tạo bản năng sinh học của mình và hình thành, phát triển những phẩm chất xã hội.

Con người có trình độ cải tạo bản năng sinh học, phát triển phẩm chất xã hội của con người là biểu hiện tập trung ở sự hình thành đặc tính sáng tạo. Con người khác con vật ở chỗ, con vật sống dựa hoàn toàn vào tự nhiên, còn con người phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất, thoả mãn nhu cầu bản thân

Qua lao động, con người đảm bảo phương thức quan hệ giữa con người với tự nhiên Lịch sử sản xuất vật chất cũng là lịch sử con người cải tạo tự nhiên phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình

Sự hình thành con người có cơ sở trực tiếp và gắn với môi trường tự nhiên - xã hội.

Hoàn cảnh tự nhiên – xã hội được thu hút vào quá trình đời sống xã hội Triết học Mác - LêNin khẳng định, thông qua lịch sử sản xuất vật chất và nhờ lao động mà một loài sinh vật mới ra đời Lao động đã biến đổi bản chất tự nhiên của tổ tiên loài người C.Mác khẳng định: “trong con người, ý thức thay thế bản năng hoặc bản năng con người là bản năng đã được ý thức” 2 Lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành phát triển phẩm chất xã hội của con người Trong lao động tất yếu hình thành quan hệ xã hội, thông qua hoạt động giao tiếp hình thành ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, ý chí và cả phương pháp tư duy của con người… Chính vì vậy, Ph.Ăngghen khẳng định: “trên ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động sáng tạo ra bản thân con người” Con người trực tiếp tồn tại trong môi trường xã hội, thông qua xã

2 C.Mác và Ph.ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 641 hội mà thích nghi với tự nhiên Bởi vì, xã hội là một bộ phận của giới tự nhiên, một kết cấu vật chất đặc thù của giới tự nhiên C.Mác khẳng định:

“Chừng nào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” 3 Thông qua lao động mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hoà nhập với tự nhiên trở thành một thực thể sáng tạo

2 Quan điểm của triết học Mác – LêNin về bản chất con người

C.Mác viết trong Luận cương về PhoiơBach (1845): “PhoiơBach hoà tan bản chất tôn giáo và bản chất con người Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hợp những quan hệ xã hội.” 4 như vậy thông qua luận cương này là tiền đề quan trọng chỉ đạo quá trình xem xét nghiên cứu con người Cụ thể bản chất con người được thể hiện trên những nội dung: a) Con người – một thực thể thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội

Kế thừa quan niệm đúng đắn về con người trong lịch sử triết học, với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, C Mác đã phân biệt rõ hai mặt sinh vật và xã hội thống nhất trong con người hiện thực

Mặt sinh học, đó là một cá thể xét trên góc độ sinh học con người tồn tại ở cấp độ cơ thể, biểu hiện trong các hiện tượng sinh lý, di truyền, thần kinh, điện - hoá và các quá trình khác của cơ thể Về mặt này, con người phục tùng các quy luật của tự nhiên, sinh học nhưng cấu tạo cơ thể có những đặc biệt khác xa động vật đặc biệt là bộ não

Mặt xã hội, con người tham gia vào các quan hệ xã hội tạo nên các giá trị xã hội - nhân cách, biểu hiện trong những quá trình ý thức, tính cách, tính khí…là chủ thể các quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp, tinh thần…Về mặt này, con người phục tùng các quy luật xã hội.

Con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự tiến hóa lâu dài

3 C.Mác và Ph.ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, t 3, tr 25

4 C.Mác và Ph.ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, H., 1995, t 3, tr 11 của giới tự nhiên Sinh giới phát triển thông qua nhiều giai đoạn, nhiều quá trình khác nhau, từ vật chất sống ban đầu là hạt Coaxecva đến sinh vật đơn bào, đến sinh vật đa bào, đến thực vật, đến động vật và sự phát triển cao nhất là con người Con người mang bản tính sinh vật, “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật” Chẳng hạn đó là con người thì ai cũng phải trải qua các giai đoạn sinh trưởng, tử vong; ai cũng phải có nhu cầu ăn, mặc, ở, sinh hoạt văn hóa, tình cảm, hiểu biết,… Song con người không phải là động vật thuần túy, mà là động vật có tính chất xã hội Bởi vì, con người chỉ có thể tồn tại khi được thỏa mãn các nhu cầu sinh học, nhưng những vật phẩm để thỏa mãn các nhu cầu đó không có sẵn trong giới tự nhiên Cho nên để duy trì sự tồn tại của mình, con người phải lao động Chính lao động là yếu tố quyết định sự hình thành bản chất xã hội của con người.

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện trên tất các lĩnh vực, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì vấn đề con người, phát triển nguồn nhân lực là một vấn đề đặc biệt quan trọng, được quan tâm hơn bao giờ hết bởi vì nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia, để chúng ta có đủ nguồn nhân lực, có những con người có trình độ, trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, hoàn thành công cuộc đổi mới đất nước xây dựng thành công CNXH ở nước ta Chính vì vậy chúng ta phải nắm chắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – LêNin về vấn đề con người, trung thành và vận dụng sáng tạo trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay Để thực hiện tốt mục tiêu trên theo tôi chúng ta cần phải hiểu, nắm chắc và làm tốt một số vấn đề sau.

1 Đặc điểm hình thành con người Việt Nam trong lịch sử.

Với chiều dài lịch sử hơn 4000 năm và bề dày truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước cùng với một nền văn minh lúa nước, đất nước ta có điều kiện địa lý riêng nên con người Việt Nam sớm có thói quen chịu đựng gian khổ, siêng năng, chịu khó nhưng trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, mang tính tự cung, tự cấp nên năng xuất lao động thấp, là cơ sở hình thành xã hội nông nghiệp truyền thống với đơn vị hạt nhân là “làng” Làng chính là thực thể “kinh tế – xã hội – chính trị - văn hóa” thu nhỏ của xã hội Chính nền văn minh này đã quy định, tác động và ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển tâm lý, tình cảm, tính cách, tư duy và lối sống của con người Việt Nam truyền thống.

Ngay từ khi dựng nước dân tộc ta đã phải trải qua nhiều cuộc đấu tranh, trong lịch sử chúng ta phải đương đầu với nhiều kẻ thù lớn để bảo vệ đất nước, quá trình đó đã hun đúc lên truyền thống yêu nước nồng nàn, đoàn kết, tương thân, tương ái, trọng nghĩa tình…, truyền thống đó cùng với ý chí quật cường và nghệ thuật đánh giặc tài ba của ông cha ta, chúng ta đã đánh bại bè lũ giặc ngoại xâm Nền văn hóa của nước ta là nền văn hóa lâu đời giàu bản sắc truyền thống được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm thăng trầm với nhiều cuộc giao lưu văn hóa thế giới Trong tất cả các cuôc giao lưu văn hóa ấy, nền văn hóa Việt Nam không chỉ giữ gìn, phát huy được bản sắc văn hóa của mình mà còn tiếp thu làm giàu hơn, tinh hoa hơn, phong phú hơn những tinh hoa văn hóa của mình Đến thế kỷ thứ XX, Chủ nghĩa Mác – LêNin được truyền bá vào Việt Nam trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của con người và dân tộc Việt Nam, đồng thời là điều kiện và tiền đề cho sự phát triển con người và xã hội Việt Nam hiện đại.

Như vậy từ điều kiện địa lý, nền văn minh lúa nước, truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước chống giắc ngoại xâm, nền văn hóa lâu đời giàu bản sắc dân tộc cùng với tinh hoa văn hóa nhân loại và giá trị cách mạng, khoa học, nhân văn của chủ nghĩa Mác – LêNin là cơ sở hình thành con người Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Từ đó chúng ta có thể rút ra những ưu điểm và hạn chế chung nổi bật của con người Việt Nam được hình thành trong lịch sử làm cơ sở để phát huy nhân tố con người phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và công cuộc đổi mới hiện nay.

2 Vấn đề phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay. Để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay đầu tiên chúng phải hiểu rõ khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực. a) Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

- Khái niệm nguồn nhân lực.

Nguồn lực là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất và tinh thần đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Nguồn nhân lực là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động, có những phẩm chất nhất định (sức khỏe, học vấn, chuyên môn, chính trị, đạo đức, kỹ năng hoạt động, kinh nghiệm…) đang và sẽ tham ra vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước.

- Khái niệm phát triển nguồn nhân lực.

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển, tạo ra sự tăng trưởng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực; đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng chúng để đáp ứng tốt hơn sự phát triển của đất nước. Ở nước ta hiện nay Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Hiện nay, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế.

Từ Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực (NNL) nhất là NNL chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển NNL với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” Đại hội XII của Đảng xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một trong mười ba định hướng phát triển lớn để hiện thực hoá mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nội dung quan điểm của Đại hội là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về giáo dục và đào tạo. Đại hội XII khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học – công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động”.

Tại Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh về phát triển NNL một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn và chính xác hơn Báo cáo Chính trị Đại hội XIII bổ sung ưu tiên “Phát triển NNL cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở chú trọng nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” “Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực và các tệ nạn xã hội Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hoá Việt Nam Đẩy mạnh giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá, dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” 8 b) Tình hình phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê dân số nước ta có khoảng 96,2 triệu người, trong đó lực lượng lao động từ

15 tuổi trở lên chiếm khoảng 55,16 triệu người Tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2018 khoảng 54 triệu người, bao gồm 20,9 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản (chiếm 38,6%); khu vực công nghiệp, xây dựng 14,4 triệu người (chiếm 26,7%); khu vực dịch vụ 18,7 triệu người (chiếm 34,7%) Lực lượng lao động đã được thu hút vào làm việc trong nền kinh tế là khá cao Theo báo cáo của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIII, nền kinh tế đã tạo ra trong năm 2019 khoảng 2 triệu việc làm mới; tỷ lệ thất nghiệp là 2,18% (trong đó thành thị là 3,59%, nông thôn là

8 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Tập 1 H NXB Chính trị quốc gia sự thật, năm 2021.

1,54%), tỷ lệ thiếu việc làm là 2,75% (trong đó thành thị là 1,48%, nông thôn là 3,31%) Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 17,9%, trong đó ở thành thị là 33,7%, gấp 3 lần tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 11,2%, phân theo giới tính tỷ lệ này là 20,3% đối với nam và 15,4% đối với nữ; tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ hiện chiếm 21,8% lực lượng lao động, bằng 1/3 các nước và các nền công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapore Ở nhiều nước, tỷ lệ này phổ biến là 50% Lực lượng lao động có trình độ cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số lao động có bằng cấp Tuy nhiên, số lao động có trình độ cao đẳng trở lên ở Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 30 người/1.000 dân, trong khi con số tương ứng của Hàn Quốc là 52 và Nhật Bản 70

Chất lượng lao động từng bước được nâng lên Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp (DN) và thị trường Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam cơ bản đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài

Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh Điều này có thể được xem như là một thành tựu quan trọng trong lĩnh vực đào tạo nhân lực Theo số liệu năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có khoảng 1,1 triệu sinh viên đại học và cao đẳng, chia cho trung bình bốn năm học, mỗi năm có gần 300.000 sinh viên ra trường Tuy nhiên, chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương, chưa đồng nhất, chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội Kể từ năm 2015 trở lại đây, số lượng người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên khoảng 200.000 người Song đáng lo ngại là có đến 60% sinh viên ra trường làm việc không đúng chuyên ngành.

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

1 Thực trạng nguồn nhân lực trong quân đội hiện nay

Nguồn nhân lực trong quân đội có thể hiểu là toàn bộ lực lượng cán bộ, nhân viên, HSQ-BS, công nhân viên chức quốc phòng được tuyển dụng và đang công tác, thực hiện nhiệm vụ trong quân đội

Quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau” trong xây dựng lực lượng vũ trang và chủ trương xây dựng, phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế của Đảng; những năm qua công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong Quân đội nói riêng được lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, triển khai bằng nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, đạt kết quả tích cực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Công tác quy hoạch, tạo nguồn được tiến hành chặt chẽ; công tác đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật được đổi mới theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa”; thực hiện đa dạng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng; gắn đào tạo với bố trí, sử dụng, v.v Nhờ đó, hầu hết cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong toàn quân được đào tạo, bồi dưỡng chính quy, cơ bản đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng ngày càng cao Qua khảo sát, đội ngũ cán bộ các cấp trong toàn quân hoàn thành tương đối tốt chức trách, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống Tuy nhiên thực tế hiện nay đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực, chuyên ngành cho thấy năng lực, kỹ năng hoạt động thực tiễn, tư duy độc lập, sáng tạo của cán bộ, nhất là cán bộ trẻ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới…

Nguyên nhân những hạn chế được xác định có cả khách quan và chủ quan, trong đó khách quan là sự tác động của cuộc cách mạng Công nghiệp

4.0, sự phát triển mạnh của khoa học, công nghệ, đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi toàn diện và sâu sắc đời sống kinh tế - xã hội và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; dần làm thay đổi căn bản cách thức quản lý, nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học Theo đó, phương pháp quản lý giáo dục và đào tạo truyền thống sẽ dần được chuyển sang “quản lý thông minh”; các hình thức dạy học trực tuyến, trên mạng internet, có sử dụng công nghệ cao,… sẽ dần thay thế cho các hình thức, phương pháp dạy học truyền thống.

Nguyên nhân chủ quan chủ yếu là do công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong Quân đội còn chưa đồng đều, cân đối; nội dung, chương trình đào tạo còn chậm đổi mới, việc cập nhật kiến thức, khoa học công nghệ quân sự mới vào đào tạo chưa nhiều, chưa kịp thời; phương pháp nghiên cứu khoa học, quản lý, dạy - học có đổi mới nhưng chuyển biến chưa tích cực Do đó, chất lượng đào tạo cán bộ có mặt còn hạn chế; vẫn còn những tiêu cực trong công tác tuyển dụng, tuyển sinh vào các vị trí công tác trong quân đội (còn hiện tượng lợi dụng các mối quan hệ để chạy chức, chạy quyền…)

2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Từ những những nghiên cứu về thực trạng và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong phát triển nguồn nhân lực trong quân đội, để thực hiện tốt chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong quân đội đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới cần làm tốt một số nội dung, giải pháp sau: a) Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo cân đối, toàn diện; gắn đào tạo với sử dụng đội ngũ cán bộ Đây là nội dung, giải pháp quan trọng hàng đầu, việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải bảo đảm khoa học, có tính thực tiễn, tính dự báo cao, cân đối giữa các chuyên ngành và gắn kết chặt chẽ với thực hiện Đề án điều chỉnh tổ chức Quân đội đến năm 2021, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ về số lượng, có cơ cấu, thành phần hợp lý, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài.

Song song với việc đào tạo thì cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, nhất là cơ quan cán bộ cần hết sức coi trọng việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ bảo đảm đúng chuyên ngành, kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch với đào tạo, sử dụng và luân chuyển cán bộ Đồng thời, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao vào phục vụ Quân đội, chú trọng nhân lực ở những lĩnh vực, chuyên ngành đặc thù Quân đội chưa đào tạo được. b) Nâng cao chất lượng nguồn đào tạo, bồi dưỡng và chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ nghiên cứu, quản lý giáo dục Đối với tuyển chọn nguồn đào tạo sĩ quan cơ bản cấp phân đội, cơ quan tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương tổ chức tuyển chọn chặt chẽ, bảo đảm đủ điều kiện, tiêu chuẩn chính trị, văn hóa, sức khỏe theo quy định; kiên quyết loại bỏ những trường hợp gian lận, tiêu cực, kết quả không trung thực trong thi tốt nghiệp trung học phổ thông kết hợp xét tuyển đầu vào các trường sĩ quan, đảm bảo sau khi đào tạo phải đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra Đối với tuyển chọn nguồn đào tạo, bồi dưỡng nâng cao, chuyên sâu, nên tập trung vào đội ngũ cán bộ trẻ còn độ tuổi trong quy hoạch, có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe, trình độ, năng lực toàn diện, khả năng ngoại ngữ và công nghệ thông tin tốt, v.v Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo hướng cơ bản, chuyên sâu, đồng bộ với vũ khí, trang bị của Quân đội; ưu tiên cán bộ, nhân viên chuyên môn nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, quản lý, khai thác, sử dụng vũ khí, trang bị mới, hiện đại Đội ngũ nhà giáo, cán bộ nghiên cứu, quản lý giáo dục là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo Do đó, cần kiện toàn, phát triển đội ngũ này một cách toàn diện, cả trình độ chuyên môn, kiến thức thực tiễn, năng lực ngoại ngữ, công nghệ thông tin, kỹ năng sư phạm, nghiên cứu khoa học, đạo đức nghề nghiệp,… theo tiêu chuẩn của Nhà nước, quy định của

Bộ Quốc phòng c) Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình đào tạo cán bộ các cấp

Cần nghiên cứu, đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình đào tạo cán bộ các cấp theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, chuyên sâu; trong quá trình đào tạo, chú trọng cập nhật, bổ sung nội dung, chương trình mới, nhất là các nội dung về sự phát triển của khoa học công nghệ, nghệ thuật quân sự, trang bị, vũ khí thế hệ mới và thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của đơn vị; tập trung triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 89/CT-BQP, ngày 04-4-2018 của Bộ Quốc phòng “Về việc tăng cường tổng kết thực tiễn công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu gắn với công tác giáo dục, đào tạo của các nhà trường Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới” Thực hiện hiệu quả Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ trong Quân đội giai đoạn 2015

- 2020 và định hướng những năm tiếp theo”; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật mô phỏng trong dạy học, tăng cường thực hành, thực tập, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động quân sự, nhất là khai thác, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại và tiếp cận công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực quân sự d) Tăng cường đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất đào tạo cho các nhà trường và mở rộng liên kết, hợp tác trong đào tạo

Trước hết, cần tiếp tục đầu tư chiều sâu, nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, trang, thiết bị phục vụ đào tạo theo hướng đồng bộ, hiện đại; ứng dụng những thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin, mô phỏng,… vào quá trình dạy - học và quản lý đào tạo của các nhà trường; chú trọng ưu tiên đầu tư ngân sách cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật chất lượng cao Làm tốt việc khảo sát và định hướng đầu tư trang, thiết bị đào tạo ở các học viện, nhà trường trong quân đội theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận Cuộc cách mạng Công nghiệp

4.0”; đẩy mạnh huy động các nguồn lực và tận dụng thành tựu khoa học, công nghệ để nâng cấp, xây mới các trung tâm học liệu, tài liệu, mô hình, học cụ, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy; nghiên cứu các biện pháp hạn chế sự tác động từ mặt trái của khoa học công nghệ cao, bảo đảm an toàn thông tin, tài liệu bí mật quân sự.

Cùng với đó để quân đội nhanh chóng tiếp thu tri thức hiện đại, tiếp cận các mô hình đào tạo tiên tiến trên thế giới, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, liên kết đào tạo với các nước Theo đó, các nhà trường tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2007

- 2015 và những năm tiếp theo”; chú trọng mở rộng hợp tác đào tạo với các nước có quan hệ truyền thống, có nền khoa học quân sự tiên tiến, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tổng thể của các học viện, nhà trường trong Quân đội, phấn đấu bằng tốt nghiệp các cấp đào tạo đạt tiêu chuẩn quốc tế. e) Tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách thu hút và đãi ngộ xứng đáng đối với nguồn nhân lực chất lượng cao, kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, tiêu cực trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển Để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao có đủ năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của của cách mạng trong tình hình mới đòi hỏi Đảng, Nhà nước, Quân đội cần có những chính sách ưu tiên đặc biệt đối với nguồn lực này Trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các chế độ, chính sách về quân hàm, lương, phụ cấp, nhà ở,… khắc phục tình trạng “cào bằng” trong đãi ngộ để khuyến khích họ phát huy vai trò, trách nhiệm trong các nhiệm vụ.

Cùng với đó đẩy mạnh kiện toàn tổ chức biên chế Quân đội theo hướng

“tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”; kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế,tiêu cực trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển Cần có những biện pháp mạnh, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm Đưa ra khỏi biên chế những người không còn đủ năng lực, phẩm chất để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

Trên đây là một số nội dung, giải pháp nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực trong Quân đội đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, bảo vệ

Tổ quốc trong tình hình mới.

Ngày đăng: 15/03/2024, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w