WHO ước tính ởbất cứ thời điểm nào cũng có hơn 1.4 triệu người trên thế giới mắc N.K.B.V.Một số nghiên cứu đã đưa ra 5 hậu quả N.K.B.V đối với người bệnh là:- Tăng ngày điều trị;- Tăng c
Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vệ sinh tay thường quy Nhiễm khuẩn bệnh viện (hospital infection): Theo T.C.Y.T.T.G, Nhiễm khuẩn bệnh viện là “Các nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện cũng như không có ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện”;
Vệ sinh tay là quá trình làm sạch tay bằng nước và xà phòng, có thể kèm theo chất sát khuẩn, hoặc sử dụng dung dịch sát khuẩn chứa cồn Theo T.C.Y.T.T.G (2009), vệ sinh tay là yếu tố quan trọng trong việc phòng chống nhiễm trùng và kiểm soát sự lây lan của bệnh.
Rửa tay (Hand washing): Là rửa tay với nước và xà phòng.
Rửa tay khử khuẩn (Antiseptic handwash): Là rửa tay với nước và xà phòng khử khuẩn
Chà tay khử khuẩn là phương pháp sử dụng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn để làm sạch và giảm vi khuẩn trên bàn tay mà không cần nước Các sản phẩm này thường chứa từ 60% đến 90% cồn ethanol hoặc isopropanol, hoặc kết hợp các loại cồn với chất khử khuẩn khác để đạt hiệu quả tối ưu trong việc diệt khuẩn.
Xà phòng khử khuẩn (Antimicrobial soap): Là xà phòng ở dạng bánh hoặc dung dịch có chứa chất khử khuẩn.
Xà phòng thường (Normal/Plain soap): Là hợp chất có hoạt tính làm sạch, không chứa chất khử khuẩn.
Dung dịch vệ sinh tay chứa cồn là sản phẩm vệ sinh dạng dung dịch, gel hoặc bọt, bao gồm các thành phần như isopropanol, ethanol hoặc n-propanol, có thể kết hợp với chất khử khuẩn và được bổ sung chất làm ẩm, dưỡng da Sản phẩm này được sử dụng bằng cách chà tay cho đến khi cồn bay hơi hoàn toàn, không cần sử dụng nước.
Vệ sinh tay ngoại khoa là quá trình rửa tay khử khuẩn hoặc chà tay khử khuẩn mà đội ngũ phẫu thuật thực hiện trước mỗi ca phẫu thuật Mục đích của việc này là loại bỏ vi khuẩn vãng lai và định cư trên tay, từ bàn tay đến khuỷu tay, nhằm đảm bảo an toàn và giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng cho bệnh nhân.
Phổ vi khuẩn vãng lai là các vi khuẩn tồn tại trên bề mặt da tay, chủ yếu do ô nhiễm từ việc tiếp xúc với người bệnh và môi trường xung quanh Những vi khuẩn này có thể dễ dàng được loại bỏ bằng việc sử dụng vệ sinh tay đúng cách.
Phổ vi khuẩn định cư là các vi khuẩn sống và phát triển trong tế bào biểu bì da tay, đồng thời hiện diện trên bề mặt da Những vi khuẩn này có thể bị loại bỏ thông qua các biện pháp diệt khuẩn bằng V.S.T ngoại khoa.
Vùng kề cận N.B (Patient zone) là khu vực xung quanh bệnh nhân, bao gồm giường bệnh, bàn, ga trải giường và các dụng cụ thiết bị phục vụ trực tiếp cho bệnh nhân Khu vực này thường bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật từ bệnh nhân, do đó việc duy trì vệ sinh là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.
Tuân thủ vệ sinh tay là rất quan trọng, bao gồm việc rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc sử dụng dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn vào những thời điểm cần thiết.
1.1.2 Sự liên quan về thực hành vệ sinh tay và nhiễm khuẩn bệnh viện
Năm 1938, Price P.B chia vi khuẩn trên da bàn tay làm 2 nhóm: Vi khuẩn vãng lai và vi khuẩn định cư.
Vi khuẩn định cư trên da bao gồm các cầu khuẩn gram dương như S epidermidis, S aureus, S hominis và các vi khuẩn gram âm như Acinetobacter, Enterobacter Đặc biệt, vi khuẩn gram âm thường chiếm tỷ lệ cao ở tay nhân viên y tế trong đơn vị hồi sức cấp cứu, nhất là ở những người rửa tay dưới 8 lần mỗi ngày Những vi khuẩn này thường cư trú ở lớp sâu của biểu bì da Mặc dù việc vệ sinh tay không thể loại bỏ hoàn toàn các vi khuẩn này, nhưng việc rửa tay thường xuyên có thể giúp giảm mức độ định cư của chúng.
Vi khuẩn vãng lai là loại vi khuẩn có mặt trên da bệnh nhân hoặc trên các bề mặt trong môi trường bệnh viện, như chăn, ga giường và dụng cụ y tế Chúng có thể gây ô nhiễm bàn tay trong quá trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân Mức độ ô nhiễm bàn tay phụ thuộc vào loại thao tác sạch hay bẩn, thời gian thực hiện thao tác và tần suất vệ sinh tay của nhân viên y tế.
Phổ vi khuẩn vãng lai là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện (N.K.B.V), nhưng có thể được loại bỏ hiệu quả thông qua vệ sinh tay thường quy Việc rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc sử dụng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn trong 20 giây sẽ giúp ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn này.
Vệ sinh tay trước phẫu thuật (V.S.T) là biện pháp quan trọng nhất trong việc phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện (N.K.B.V) Quy trình này cần loại bỏ cả vi khuẩn vãng lai và định cư để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân, đặc biệt là trước và sau khi tiếp xúc với người bệnh (N.B).
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng dung dịch có chứa cồn là biện pháp quan trọng nhất để ngăn ngừa sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế.
Từ năm 1994 đến 1997, tại Thụy Sỹ, hơn 20.000 cơ hội V.S.T của N.V.Y.T tại bệnh viện Geneva đã chứng minh rằng khi tỷ lệ tuân thủ V.S.T của N.V.Y.T tăng từ 48% lên 66%, thì tỷ lệ N.K.B.V giảm đáng kể từ 16,9% xuống còn 6,9%.
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình chung thực hiện quy định vệ sinh tay trong lâm sàng Tuân thủ V.S.T phòng tránh được N.K.B.V, có ý nghĩa trong chăm sóc và điều trị bệnh tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ V.S.T của N.V.Y.T còn rất thấp, đây là một trong những nguyên nhân chính gây lên tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện.
•Định nghĩa nhiễm khuẩn bệnh viện:
Theo T.C.Y.T.T.G, N.K.B.V, nhiễm khuẩn bệnh viện được định nghĩa là các nhiễm khuẩn phát sinh sau 48 giờ kể từ khi bệnh nhân nhập viện, và không có mặt trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện.
•Tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện:
Tất cả các vi sinh vật, bao gồm vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng, đều có khả năng gây nhiễm khuẩn bệnh viện Chúng có thể xuất phát từ môi trường, bệnh nhân, hoạt động chăm sóc và điều trị, cũng như từ việc sử dụng kháng sinh không đúng cách.
•Đường lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện
Có 3 đường lây truyền chính trong cơ sở y tế là lây qua tiếp xúc, giọt bắn và qua không khí Trong đó lây qua đường tiếp xúc là đường lây nhiễm quan trọng và phổ biến nhất trong N.K.B.V (chiếm 90% các N.K.B.V) và được chia làm hai loại khác nhau là lây nhiễm qua đường tiếp xúc trực tiếp (trực tiếp với các tác nhân gây bệnh) và lây qua tiếp xúc gián tiếp (tiếp xúc với vật trung gian truyền bệnh). Nhiễm khuẩn huyết cũng được coi là một dạng đặc biệt của lây truyền qua tiếp xúc bởi các phương tiện dụng cụ có chứa vi khuẩn xâm nhập vào đường máu.
•Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề với người bệnh cũng như các N.V.Y.T Các hậu quả của N.K.B.V bao gồm:
Tăng chi phí và tăng ngày điều trị:
Theo thông tin từ Đại hội Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Hà Nội năm 2008, mỗi nhiễm khuẩn bệnh viện (N.K.B.V) làm tăng thời gian nằm viện trung bình từ 9,4 đến 24,3 ngày và chi phí điều trị trung bình tăng từ 2 đến 32,3 triệu đồng.
Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật
Nhiễm khuẩn bệnh viện không chỉ gây ra hậu quả nghiêm trọng về lâm sàng và kinh tế, mà còn góp phần làm gia tăng tình trạng kháng thuốc của vi sinh vật Sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tử vong cao trong các cơ sở y tế.
•Mối liên quan giữa vệ sinh tay và nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiều nghiên cứu gần đây tại các khu vực lâm sàng đã chỉ ra rằng việc tuân thủ thực hành vệ sinh tay (V.S.T.T.Q) của nhân viên y tế có liên quan chặt chẽ đến việc giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện (N.K.B.V), đặc biệt ở những khu vực có nhiều thủ thuật xâm lấn như cấp cứu, ngoại khoa và nhi khoa.
Bàn tay đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự lây lan của nhiễm khuẩn bệnh viện (N.K.B.V) Việc sử dụng vệ sinh tay (V.S.T) giúp loại bỏ hầu hết vi sinh vật trên bàn tay, từ đó ngăn chặn sự truyền nhiễm giữa bệnh nhân (N.B), giữa bệnh nhân và dụng cụ y tế, cũng như giữa các vị trí khác nhau trên cùng một bệnh nhân V.S.T.T.Q là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất để phòng ngừa N.K.B.V, đồng thời đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế (N.V.Y.T) trong quá trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân.
1.2.2 Phân tích, đánh giá và các giải pháp tuân thủ quy định V.S.T của một số công trình vệ sinh tay đã nghiên cứu tại Việt Nam
Một số bệnh viện N.V.Y.T vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc tuân thủ các thời điểm vệ sinh tay (V.S.T), dẫn đến tỷ lệ V.S.T còn thấp Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Ly năm 2008 tại viện Lão khoa quốc gia cho thấy chỉ có 27,9% nhân viên y tế có kiến thức đúng về V.S.T trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, trong khi chỉ 56,8% điều dưỡng nhận thức rằng bàn tay là yếu tố quan trọng trong việc lan truyền nhiễm khuẩn bệnh viện (N.K.B.V).
Nghiên cứu năm 2013 về kiến thức và sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện Quân Y 103 cho thấy 30,81% nhân viên cho rằng việc mang găng tay có thể thay thế vệ sinh tay, trong khi 57,7% không xác định đúng 5 thời điểm cần vệ sinh tay Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay ở các thời điểm quan trọng là 15,78% trước khi tiếp xúc bệnh nhân, 47,32% sau khi tiếp xúc bề mặt, 70,86% sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, 81,42% trước thủ thuật vô khuẩn, và 93,65% sau khi tiếp xúc dịch tiết Nghiên cứu năm 2015 cho thấy 94,5% bác sĩ và điều dưỡng hiểu đúng về vệ sinh tay, 98% cho rằng đây là biện pháp quan trọng để ngăn ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, tuy nhiên 29% vẫn có kiến thức sai về thời gian vệ sinh tay.
Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ vệ sinh tay (V.S.T) trong nhân viên y tế (N.V.Y.T), bao gồm sự thiếu hụt phương tiện, kiến thức, và nhân lực do quá tải Ngoài ra, việc lạm dụng găng tay, thiếu kiểm tra giám sát, và thiếu các biện pháp khuyến khích thói quen V.S.T cũng góp phần làm giảm hiệu quả tuân thủ.
Tầm quan trọng của vệ sinh tay thường quy
Bàn tay là một trong những yếu tố chính trong việc lây lan vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện và các tác nhân kháng kháng sinh Trong quá trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân, bàn tay dễ dàng bị ô nhiễm do vi khuẩn sống sâu trong lớp da và khu vực xung quanh móng tay.
N.V.Y.T hàng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh và chăm sóc người bệnh, do đó bàn tay của N.V.Y.T thường xuyên tiếp xúc với da, máu, dịch tiết sinh học, dịch tiết của người bệnh Các vi khuẩn gây bệnh từ bệnh nhân truyền qua tay của N.V.Y.T, làm cho bàn tay của N.V.Y.T là nguồn chứa các vi khuẩn gây bệnh tiềm năng, 5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh gồm: Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật; Mầm bệnh bám vào da tay của N.V.Y.T; Mầm bệnh sống trên da tay; Vệ sinh tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn; Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh, đồ vật.
Theo quy định, tất cả những người chăm sóc N.B cần rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc sử dụng dung dịch V.S.T chứa cồn vào năm thời điểm quan trọng sau đây.
- Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi N.B.
- Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn.
- Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể.
- Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi N.B.
- Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh Ngoài ra, các thời điểm chăm sóc sau cũng cần V.S.T:
- Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sóc sạch trên cùng người bệnh.
- Trước khi mang găng và sau khi tháo găng.
- Trước khi vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng bệnh.
Tất cả nhân viên y tế trong buồng phẫu thuật, bao gồm phụ mê, người chạy ngoài và học viên, đều phải thực hiện vệ sinh tay (V.S.T) trước khi vào buồng phẫu thuật Ngoài ra, bất kỳ khi nào tay chạm vào bề mặt thiết bị trong buồng phẫu thuật, cần phải V.S.T ngay lập tức bằng dung dịch V.S.T chứa cồn.
N.V.Y.T khi làm việc trong buồng xét nghiệm cần tuân thủ nghiêm thời điểm 3 và 5 về V.S.T để phòng ngừa lây nhiễm cho bản thân.
Thực hiện kỹ thuật V.S.T với nước và xà phòng khi tay nhìn thấy vấy bẩn bằng mắt thường hoặc sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết.
Vệ sinh tay bằng dung dịch có chứa cồn khi tay không thấy bẩn bằng mắt thường.
Phải đảm bảo tay luôn khô hoàn toàn trước khi bắt đầu hoạt động chăm sócN.B.
Phương tiện vệ sinh tay thường quy
• Hóa chất vệ sinh tay
Các loại sản phẩm vệ sinh tay:
Xà phòng thường: Dạng bánh hoặc dạng dung dịch không chứa tác nhân diệt khuẩn.
Dung dịch V.S.T chứa cồn (isopropanol, ethanol, n-propanol hoặc kết hợp hai trong các thành phần này hoặc kết hợp với 1 chất khử khuẩn).
Mô tả vấn đề cần giải quyết
Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa Huyện Kiến Xương, thành lập năm 1965, là bệnh viện đa khoa hạng II tuyến huyện, đã khẳng định vị thế và vai trò quan trọng trong việc điều trị và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong và ngoài huyện suốt 56 năm qua.
Hiện nay, Bệnh viện đã đang triển khai được một số kỹ thuật mới tại Bệnh viện:
Phẫu thuật nội soi viêm ruột thừa, sỏi thận, niệu quản, tiết niệu… Chạy thận nhân tạo
Phối hợp với bệnh viện K trung ương để siêu âm chọc u chẩn đoán tầm soát ung thư.
Bệnh viện chú trọng phát triển kỹ thuật chuyên môn và trang bị kiến thức cho nhân viên y tế, đặc biệt trong việc dự phòng nhiễm khuẩn bệnh viện (N.K.B.V) và thực hành rửa tay thường quy Mặc dù đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, nhưng vẫn còn một số nhân viên không tuân thủ quy trình rửa tay, điều này có thể dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn trong bệnh viện.
Khảo sát kiến thức của nhân viên, đặc biệt là trong khối N.V.Y.T lâm sàng, là cần thiết để lãnh đạo khoa phòng và bệnh viện xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể cho những năm tiếp theo Điều này không chỉ đảm bảo an toàn trong chăm sóc người bệnh mà còn nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc tại bệnh viện.
Thông tin chung của đối tượng, thời gian, địa điểm và các biến số nghiên cứu
Khảo sát đã được thực hiện nhằm đánh giá khách quan về thực trạng tuân thủ quy định rửa tay thường quy khi tiêm cho bệnh nhân, với sự tham gia của 43 điều dưỡng từ 4 khoa: Khoa Nội Tổng hợp, Hồi sức tích cực – Chống độc, Khoa Ngoại – Chấn thương và Khoa Lâm sàng nhiệt đới tại Bệnh viện đa khoa huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2023.
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang;
2.2.4 Cách thức tiến hành nghiên cứu: Áp dụng phương pháp đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ về V.S.T của N.V.Y.T được thực hiện bằng bộ câu hỏi thiết kế có sẵn (theo quyết định 3671/BYT) trong thời gian tối đa là 20 phút Sau 20 phút, tất cả các điều dưỡng được khảo sát cũng phải nộp bài Thống kê số liệu theo điểm và các khoa; Đối với việc đánh giá tỷ lệ tuân thủ rửa tay của Điều dưỡng được thực hiện bằng phương pháp quan sát điều vào bảng kiểm Cách thức đánh giá sự tuân thủ vệ sinh tay được xây dựng dựa trên bộ công cụ và cách tiến hành đánh giá tuân thủ rửa tay đã được chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Y Tế.
Vị trí quan sát cần được lựa chọn một cách khéo léo để đảm bảo tính khách quan, không gây chú ý cho điều dưỡng Việc theo dõi các điều dưỡng thực hiện quy trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân nên được thực hiện tại các phòng thủ thuật và giường bệnh Thời gian quan sát sẽ linh hoạt, tùy thuộc vào từng thao tác chăm sóc và điều trị cho đến khi quy trình hoàn tất.
Xác định tỷ lệ tuân thủ rửa tay
Tỷ lệ tuân thủ rửa tay (%) = Số cơ hội có rửa tay x 100
Các biến số và chỉ tiêu nghiên cứu chuyên đề
Thực hiện nghiên cứu trên 43 điều dưỡng trong 4 khoa lâm sàng với 1848 cơ hội vệ sinh tay.
Bảng 2.1: Các nội dung giám sát vệ sinh tay
TT sinh tay Nội dung thực hiện Tính tỷ lệ % pháp thường quy khảo sát
Sau xung quanh người bệnh
Phương pháp vệ sinh tay
Cơ hội vệ sinh tay vào thời điểm trước khi thực hiện các thủ thuật sạch, vô khuẩn
Cơ hội vệ sinh tay vào thời điểm sau khi tiếp xúc với N.B
Cơ hội vệ sinh tay vào thời điểm sau khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể người bệnh.
Cơ hội vệ sinh tay vào thời điểm sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung quanh người bệnh.
Loại dung dịch dùng để V.S.T: bằng nước và xà phòng, bằng cồn/dung dịch chứa cồn
Tỷ lệ % cơ hội tuân thủ vệ sinh tay trước khi thực hiện các thủ thuật sạch, vô khuẩn
Tỷ lệ % cơ hội tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với N.B
Tỷ lệ % cơ hội tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể người bệnh.
Tỷ lệ % cơ hội tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với bề mặt, đồ dùng xung quanh người bệnh
Tỷ lệ % cơ hội tuân thủ vệ sinh tay bằng 2 phương pháp: bằng nước và xà phòng, bằng cồn/dung dịch chứa cồn
Cơ hội vệ sinh tay có sử dụng găng.
Cơ hội vệ sinh tay có sử dụng găng đúng chỉ định
Tỷ lệ % cơ hội có đeo găng Bảng kiểm
Tỷ lệ % cơ hội đeo găng đúng chỉ định Bảng kiểm
2.6.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu
Qua quan sát thực hành vệ sinh tay của điều dưỡng tại 4 khoa lâm sàng của bệnh viện, bao gồm Khoa Ngoại – Chấn thương, Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, Khoa Nội và Khoa Lâm sàng Nhiệt đới, chúng tôi đã ghi nhận các lần rửa tay quan trọng Cụ thể, điều dưỡng thực hiện rửa tay trước khi tiếp xúc với người bệnh, trước khi tiến hành thủ thuật, sau khi tiếp xúc với người bệnh, sau khi chạm vào đồ vật và bề mặt xung quanh người bệnh, cũng như sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết.
Biểu đồ 2.1: Phân bố cơ hội vệ sinh tay của điều dưỡng tại bệnh viện Điều dưỡng nam 6,97 % Điều dưỡng nữ Điều dưỡng Điều dưỡng nam nữ 93,03%
Thông tin chung về giới, chức danh và thâm niên công tác của Đ.D nghiên cứu
Ngoại – Hồi sức tích Nội Lâm sàng Tổng
Chấn cực - Chống tổng hợp nhiệt đới
Khoa số thương độc lâm sàng
Số Số Số Số Số
% % % % % lượng lượng lượng lượng lượng
Nghiên cứu được thực hiện với 43 điều dưỡng, bao gồm 3 điều dưỡng nam và 40 điều dưỡng nữ Trong số đó, 11 người có thâm niên công tác dưới 5 năm, chiếm 25,58% Phần lớn điều dưỡng có thâm niên từ 5-10 năm với 20 người, tương đương 46,52% Ngoài ra, có 8 điều dưỡng có thâm niên từ 11-15 năm, chiếm 18,60%, và 4 người có thâm niên trên 15 năm, chiếm 9,30%.
2.6.2 Thực trạng kiến thức vệ sinh tay
Bảng 2.3: Nhận thức phải thực hiện 5 thời điểm vệ sinh tay
Kết quả trả lời Số lượng Tỷ lệ %
Tỷ lệ trả lời đúng của 34 điều dưỡng đạt 79,06%, cao hơn so với các tỷ lệ khác Tuy nhiên, vẫn có 5 điều dưỡng không tham gia trả lời, chiếm 11,62%, điều này cần được khắc phục trong thời gian sớm nhất.
Bảng 2.4: Đánh giá kiến thức về tác dụng của găng tay trong chăm sóc N.B
Kết quả trả lời Số lượng Tỷ lệ % Đeo găng tay không thể thay thế được vệ sinh tay 37 86,04 Đeo găng thay thế được vệ sinh tay 06 13,96
Nhận xét: Tỷ lệ điều dưỡng trả lời đúng tác dụng của găng tay chăm sóc người bệnh đạt 37 người tương đối cao (86,04%) so với chưa đúng là 06 người (13,96%).
Bảng 2.5: Đánh giá kiến thức về thời gian cần thiết để vệ sinh tay với hóa chất
Kiến thức Đúng Tỷ lệ % Sai Tỷ lệ %
Thời gian khuyến cáo vệ sinh tay với xà 23 53,48 20 46,52 phòng/cồn là 20 – 30s
Tỷ lệ điều dưỡng thực hiện đúng thời gian vệ sinh tay bằng xà phòng hoặc hóa chất chỉ đạt 53,48% Điều này cho thấy sự cần thiết phải cập nhật và bổ sung kiến thức cho đội ngũ điều dưỡng về quy trình vệ sinh tay.
Kết quả trả lời Số lượng Tỷ lệ %
Vệ sinh tay bằng nước – xà phòng 30 69,78
Vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn 13 30,22
Nhận xét: 69,78% N.V.Y.T cho rằng V.S.T bằng nước và xà phòng hiệu quả tốt hơn V.S.T bằng dung dịch chức cồn.
2.6.3 Thực trạng điều dưỡng tuân thủ vệ sinh tay tại bệnh viện
Bảng 2.7: Tỷ lệ tuân thủ thực hành vệ sinh tay theo thời điểm
Có vệ sinh tay Không
Bằng cồn/D.d Bằng nước Tổng
VỆ SINH TAY chứa chất cồn và xà phòng
Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ lượng (%) lượng (%) lượng (%) lượng (%)
Trước khi tiếp xúc với người bệnh
Trước khi thực hiện các thủ thuật sạch, vô khuẩn
Sau khi tiếp xúc với người bệnh
Sau khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể N.B
Sau khi tiếp xúc với các bề mặt, đồ dùng xung quanh người bệnh
Vệ sinh tay bằng cồn hoặc dung dịch chứa cồn (trên 57,79%) hiệu quả hơn so với nước và xà phòng (8,49%) Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao nhất ghi nhận sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể (61,10%), và trước khi thực hiện các thủ thuật sạch, vô khuẩn (53,03%) Tỷ lệ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với người bệnh đạt 33,62%, trong khi tỷ lệ thấp nhất là trước khi tiếp xúc với người bệnh (20,17%) và sau khi tiếp xúc với bề mặt xung quanh người bệnh (25,69%) Găng tay chủ yếu được sử dụng trước các thủ thuật sạch, vô khuẩn.
Bảng 2.8: Khảo sát các đối tượng sử dụng phương thức vệ sinh tay
Phương thức V.S.T Số lượng Tỷ lệ
Nhận xét: Tỷ lệ vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn chiếm tỷ lệ 87,18% cao hơn xà phòng và nước.
Bảng 2.9: Tỷ lệ tuân thủ thực hành vệ sinh tay theo giới
Chức Tuân thủ Không tuân thủ Tổng số danh N Tỷ lệ % N Tỷ lệ % N Tỷ lệ %
Nhận xét: Tỷ lệ tuân thủ thực hành vệ sinh tay ở nữ 70% cao hơn nam là 66,67% so với số lượng người theo giới.
Chức danh Tuân thủ Không tuân thủ Tổng số
N Tỷ lệ % N Tỷ lệ % N Tỷ lệ % Điều dưỡng 31 72,09 12 27,91 43 100
Nhận xét: Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ V.S.T.T.Q là 31 người chiếm 72,09% cao hơn không tuân thủ V.S.T.T.Q là 12 người chiếm 27,91%
Bảng 2.11: Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay chung
Vệ sinh tay thường quy Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay 66,28% nhiều hơn không tuân thủ là33,72%.
Bảng 2.12: Phân bố tuân thủ vệ sinh tay thường quy theo nơi làm việc
Kết quả Tuân thủ Không tuân thủ Tổng
Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ
Tỷ lệ tuân thủ V.S.T.T.Q của nhân viên y tế tại các khoa khác nhau cho thấy sự khác biệt rõ rệt Khoa Nội tổng hợp dẫn đầu với tỷ lệ cao nhất là 71,72%, tiếp theo là khoa Lâm sàng nhiệt đới với 68,43% Khoa Ngoại – Chấn thương ghi nhận tỷ lệ tuân thủ đạt 61,84%, trong khi khoa Hồi sức tích cực – Chống độc có tỷ lệ thấp nhất là 61,19%.
Bàn luận
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên 1848 cơ hội vệ sinh tay tại Bệnh viện đa khoa huyện Kiến Xương, với sự tham gia của 43 nhân viên y tế từ 4 khoa lâm sàng: Hồi sức tích cực, Ngoại – Chấn thương, Nội tổng hợp, và Lâm sàng nhiệt đới Trong số này, 40 nữ giới chiếm 93,02% và 3 nam giới chiếm 6,98% Về thâm niên công tác, 46,52% nhân viên có từ 5 – 10 năm kinh nghiệm, 25,58% có dưới 5 năm, 18,60% có từ 11 – 15 năm, và một tỷ lệ nhỏ hơn là trên 15 năm.
Trong nghiên cứu kéo dài 15 năm, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế đạt 9,30% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh (2020) về thực trạng tuân thủ vệ sinh tay trong chăm sóc bệnh nhân tại Bệnh viện E Nghiên cứu cũng được hỗ trợ bởi các tác giả Hoàng Thăng Tùng, Võ Thị Thanh, Lưu Lan Anh và Đinh Ngọc.
Sỹ (2016), Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2016.
Thực trạng kiến thức và tuân thủ vệ sinh tay thường quy của Điều dưỡng
3.2.1 Về kiến thức vệ sinh tay
Vệ sinh tay là phương pháp hiệu quả và đơn giản nhất để ngăn ngừa sự lây lan của các tác nhân gây nhiễm khuẩn trong bệnh viện Tuy nhiên, việc tuân thủ quy định về thời gian và kỹ thuật vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các cơ sở y tế vẫn còn hạn chế.
Nghiên cứu của chúng tôi đã quan sát thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế tại 4 khoa phòng trong bệnh viện, tập trung vào các thời điểm rửa tay như trước khi tiếp xúc với người bệnh, trước khi thực hiện thủ thuật, sau khi tiếp xúc với người bệnh, sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết, cũng như sau khi tiếp xúc với đồ dùng bề mặt xung quanh người bệnh Kết quả cho thấy rằng việc tuân thủ quy định vệ sinh tay của nhân viên y tế vẫn còn nhiều hạn chế.
Vẫn còn 13,96% nhân viên y tế cho rằng việc mang găng tay có thể thay thế cho việc rửa tay, điều này có thể dẫn đến lạm dụng và hiểu lầm về tầm quan trọng của vệ sinh tay Trong thực tế, nhiều nhân viên y tế chỉ sử dụng một đôi găng tay trong suốt buổi thăm khám và chăm sóc bệnh nhân, điều này không đáp ứng yêu cầu về vệ sinh và chỉ đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế mà không đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Một nghiên cứu cho thấy có đến 25,72% nhân viên y tế không nêu chính xác được 5 thời điểm vệ sinh tay, cho thấy họ chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc vệ sinh tay Hơn nữa, 69,78% nhân viên y tế vẫn tin rằng vệ sinh tay bằng nước và xà phòng thông thường hiệu quả hơn so với dung dịch chứa cồn, mặc dù dung dịch chứa cồn cũng là một phương pháp nhanh chóng và hiệu quả Thói quen này cho thấy nhân viên y tế thường đánh giá cao việc sử dụng nước và xà phòng, nhưng việc tuân thủ quy trình vệ sinh tay này gặp khó khăn do thiếu trang thiết bị và tính thực tiễn.
Trong thực hành chăm sóc người bệnh, không phải lúc nào cũng có sẵn lavabo và xà phòng để vệ sinh tay Ngay cả khi có đầy đủ trang thiết bị, nhân viên y tế cũng không thể rửa tay mỗi lần sau khi khám hoặc tiêm truyền Do đó, bên cạnh việc sử dụng xà phòng và nước, cần tăng cường việc vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn để đạt tỷ lệ cao theo quy định về vệ sinh tay trong thực hành lâm sàng.
3.2.2 Về tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay
Tại Bệnh viện đa khoa huyện Kiến Xương, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của điều dưỡng ở 4 khoa lâm sàng đạt 66,28%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2012 (90,9%), nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang và Lê Thị Anh Thư (25,7%) Tỷ lệ này cũng tương đương với báo cáo của Piter năm 2000 tại một bệnh viện ở Thụy Sỹ, nơi có tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế từ 48-66%.
Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Kiến Xương cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay rất thấp, chỉ đạt 20,17% trước khi tiếp xúc với người bệnh và 25,69% sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của WHO, trong đó tỷ lệ tuân thủ trước tiếp xúc người bệnh là 55,10% và sau tiếp xúc môi trường là 67,86% Tương tự, nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2010 cũng ghi nhận tình trạng này.
Theo nghiên cứu của Lê Kiến Ngãi tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay chung là 58,6%, với 56,8% trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn và 65,6% sau khi tiếp xúc với bệnh nhân Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao hơn sau khi tiếp xúc với bệnh nhân so với trước đó và khi tiếp xúc với vật dụng xung quanh Điều này cần được chú ý vì có thể dẫn đến việc lây nhiễm vi sinh vật từ tay không sạch của nhân viên y tế sang bệnh nhân, góp phần gia tăng tỷ lệ lây chéo trong bệnh viện.
Tỷ lệ tuân thủ thực hành vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn đạt 87,18%, cao hơn so với việc vệ sinh tay bằng nước và xà phòng, cho thấy N.V.Y.T chủ yếu lựa chọn V.S.T với sát khuẩn tay nhanh.
Một số tồn tại, khó khăn
Kết quả giám sát cho thấy tỷ lệ không tuân thủ vệ sinh tay tại các khoa lâm sàng của bệnh viện vẫn còn cao Cụ thể, khoa Ngoại – Chấn thương có tỷ lệ tuân thủ là 61,19%, khoa Hồi sức tích cực – Chống độc đạt 61,84%, khoa Lâm sàng nhiệt đới là 68,43%, và khoa Nội tổng hợp là 71,72% Tổng tỷ lệ vệ sinh tay thường quy chung của bốn khoa này chỉ đạt 66,28%, cho thấy cần có biện pháp cải thiện đáng kể.
Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện có thể dẫn đến cỡ mẫu nghiên cứu không đại diện cho toàn bộ quần thể nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Kiến Xương.
Trong nghiên cứu đánh giá tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế, phương pháp quan sát trực tiếp được áp dụng có thể dẫn đến việc đối tượng cảm thấy mình đang bị theo dõi, từ đó có thể cải thiện ý thức tuân thủ vệ sinh trong thời gian quan sát Điều này tạo ra một sai số quan trọng trong việc đánh giá chính xác tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay.
Một số nguyên nhân
Ý thức về vệ sinh tay và trang thiết bị y tế của điều dưỡng vẫn còn hạn chế, thiếu sự giám sát chặt chẽ từ khoa, phòng Điều này cần được cải thiện để nâng cao trách nhiệm của điều dưỡng trong việc thực hiện vệ sinh tay và trang thiết bị, nhằm bảo vệ sức khỏe bản thân và ngăn ngừa lây nhiễm chéo cho bệnh nhân.
Việc không thường xuyên cập nhật kiến thức và thông tin về vệ sinh tay, cũng như thiếu tham gia các lớp tập huấn liên quan, có thể dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong việc thực hiện các biện pháp vệ sinh tay đúng cách.
Thiếu trang thiết bị lọ chứa, giỏ đựng, khăn lau tay, dung dịch sát khuẩn, khô da…
Tình trạng quá tải người bệnh một số các khoa, phòng.
Các thủ tục hành chính rườm rà gây mất thời gian chăm sóc của điều dưỡng.
Năm 2023, tại Bệnh viện đa khoa Huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, tình hình tuân thủ vệ sinh tay của điều dưỡng trong quá trình tiêm ở các khoa lâm sàng đã được khảo sát Kết quả cho thấy mức độ tuân thủ quy định vệ sinh tay còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế và an toàn cho bệnh nhân Việc nâng cao nhận thức và thực hành vệ sinh tay là cần thiết để cải thiện tình hình này.
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay:
Tỷ lệ vệ sinh tay bằng sát khuẩn tay nhanh là 87,18% và rửa tay bằng xà phòng là 12,82%;
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay chung của điều dưỡng là 66,28%, không tuân thủ là 33,72%;
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trong các tình huống khác nhau cho thấy sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, trước khi tiếp xúc với người bệnh chỉ đạt 20,17%, trong khi sau khi tiếp xúc với bề mặt xung quanh người bệnh là 25,69% Tỷ lệ này tăng lên 33,62% sau khi tiếp xúc với người bệnh, và đạt 53,03% trước khi thực hiện các thủ thuật sạch, vô khuẩn Đặc biệt, tỷ lệ cao nhất là 61,10% sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể người bệnh.
Đánh giá kiến thức của N.V.Y.T một số khoa lâm sàng về vệ sinh tay thường quy còn chưa đầy đủ
Theo nghiên cứu khảo sát tại Bệnh viện đa khoa Huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2023, có 13,96% điều dưỡng cho rằng việc mang găng tay có thể thay thế cho vệ sinh tay Bên cạnh đó, 1,90% không trả lời đủ 5 thời điểm vệ sinh tay, trong khi 11,90% không thể trả lời Đặc biệt, 69,78% nhân viên y tế cho rằng vệ sinh tay bằng nước và xà phòng hiệu quả hơn so với dung dịch chứa cồn Để nâng cao hiệu quả tuân thủ quy trình rửa tay thường quy, cần đề xuất một số giải pháp cho điều dưỡng tại các khoa lâm sàng.
Tỷ lệ không tuân thủ vệ sinh tay tại nơi làm việc vẫn còn cao, với các khoa như Ngoại – Chấn thương 38,81%, Hồi sức tích cực – Chống độc 38,16%, Lâm sàng nhiệt đới 31,57% và Nội tổng hợp 28,28% Để cải thiện tình hình, cần tăng cường giám sát và phản hồi nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay Ngoài ra, cần đầu tư thêm các phương tiện vệ sinh tay cho các khoa, đặc biệt là cung cấp dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn tại các buồng bệnh, ưu tiên cho những khoa có nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện cao.
Bố trí nhân lực một cách hợp lý để giảm quá tải công việc cho điều dưỡng trong bệnh viện.
Tổ chức tập huấn nhằm nâng cao kỹ năng giám sát tuân thủ quy trình vệ sinh tay cho mạng lưới viên kiểm soát nhiễm khuẩn Chương trình sẽ đánh giá kiến thức của các viên sau khi kết thúc tập huấn, đảm bảo sự hiểu biết và thực hiện đúng quy định về vệ sinh tay trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn.
Để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc vệ sinh tay, cần tăng cường công tác truyền thông thông qua việc treo băng rôn và poster khuyến cáo 5 thời điểm quan trọng để vệ sinh tay, cũng như quy trình vệ sinh tay thường quy.
Tổ chức lễ phát động vệ sinh tay vào ngày vệ sinh bàn tay thế giới là ngày
Hàng năm vào ngày 05 tháng 5, bệnh viện tổ chức các đợt giám sát định kỳ về tỷ lệ vệ sinh tay Các nhân viên y tế sẽ tham gia phản hồi về quy trình này nhằm nâng cao hiệu quả vệ sinh tay trong cơ sở y tế.
Dựa trên kết quả giám sát hàng năm, Giám đốc bệnh viện sẽ đề xuất khen thưởng cho cá nhân và tập thể có thành tích tốt trong việc tuân thủ quy trình vệ sinh tay thường quy.
Báo cáo phương tiện vệ sinh tay thường quy, tác dụng phụ của hóa chất vệ sinh tay thường quy theo quý và theo năm.
Đối với nhân viên y tế
Nhân viên y tế phải tham dự đầy đủ các buổi tập huấn về V.S.T và kiểm soát nhiễm khuẩn của Bệnh viện.
Tuân thủ nghiêm quy trình V.S.T đặc biệt là tuân thủ đầy đủ các cơ hội V.S.T.
Đối với các khoa lâm sàng
Tham dự đầy đủ các buổi tập huấn về V.S.T.T.Q và kiểm soát nhiễm khuẩn do bệnh viện tổ chức.
Tuân thủ nghiêm quy trình V.S.T.T.Q đặc biệt là tuân thủ đầy đủ các cơ hội V.S.T.
Phối kết hợp lãnh đạo khoa và điều dưỡng trưởng khoa tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Tăng cường kiểm tra giám sát việc thực hiện vệ sinh tay của các điều dưỡng.