Việc học là công việc cả đời dù bạn ở vị trí nào, nhưng không ai có thể tự mình tìm tòi, học hỏi mà không cần tham khảo bất cứ tài liệu nào. Bởi vây, hôm nay mình xin giới thiệu cho các bạn 1 tài liệu vô cùng quý giá và bổ ích. Mong là sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong quá hình học tập cũng như làm việc. Chúc các bạn thành công
Trang 1KTHH : Kinh tế hàng hóaKTNT : Kinh tế nôn thônLLSX : Lực lượng sản xuấtPTBV : Phát triển bền vữngQHSX : Quan hệ sản xuấtSXHH : Sản xuất hàng hóaSXKD : Sản xuất kinh doanhTTCN : Tiểu thủ công nghiệp
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế Thái Lan từ năm 1970 đến 1991 28
Bảng 3.1: Bảng thống kế tình hình sử dụng đất huyện Sông Lô năm 2012 40
Bảng 3.2: Dân số trung bình phân theo giới tính, thành thị nông thôn 42
Bảng 3.3: Lao động việc làm trong các ngành kinh tế 43
Bảng 3.4: Dân số trung bình phân theo giới tính, thành thị, nông thôn 43
Bảng 3.5: Cơ cấu sản phẩm (GDP) của các ngành qua các năm 45
Bảng 3.6: Giá trị sản xuất của các ngành qua các năm 46
Bảng 3.7: Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp thủy sản qua các năm 49
Bảng 3.8: Giá trị sản xuất ngành trồng trọt 50
Bảng 3.9: Diện tích và cơ cấu gieo diện tích trồng cây hàng năm 51
Bảng 3.10: Diện tích trồng cây lâu năm 52
Bảng 3.11: Số lượng gia súc, gia cầm qua các năm 54
Bảng 3.12: Sản lượng thịt hơi xuất chuồng qua các năm 54
Bảng 3.13: Diện tích, sản lượng thủy sản qua các năm 56
Bảng 3.14: Cơ cấu giá trị sản xuất nội ngành lâm nghiệp 57
Bảng 3.15: Giá trị sản xuất của các ngành CN-TTCN-XD qua các năm 58
Bảng 3.16: Tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản 60
Bảng 3.17: Tỷ lệ giá trị sản xuất ngành dịch vụ nông nghiệp 61
Trang 3DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn giai đoạn 2009 - 2012 47Biểu đồ 3.2: Cơ cấu ngành nông nghiệp năm 2009 49Biểu đồ 3.3: Cơ cấu ngành nông nghiệp năm 2012 49
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và đất nước, bởi đây là khuvực sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu nuôi sống con người Mặt khác, đây còn
là lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm tổng hợp các ngành, nghề gồm nhiều hoạtđộng kinh tế - xã hội diễn ra mà nội dung cốt lõi là xác định và hoàn thiện cơ cấukinh tế nông thôn Hiện nay thu nhập bình quân của dân cư nông thôn còn rất hạn
chế, muốn đưa nông thôn theo kịp sự phát triển của đô thị thì không có cách nào
khác là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Một cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý bao gồm các bộ phận, các phân hệ đượckết hợp với nhau một cách hài hoà, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyêncủa đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển, nâng cao thu nhập và đời sống củanông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, đẩy nhanh quá trình đô thị hoá nông thôn,nâng cao, đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của dân cư nông thôn, giữ gìn cácgiá trị văn hoá, tinh thần tích cực, bảo vệ môi trường ở nông thôn Song để đạt đượcmục tiêu này chúng ta phải tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ tư duy phát triển, cơ sở vậtchất, kỹ thuật, công nghệ và phương thức sản xuất tạo ra mức tăng trưởng nhanhhơn, đồng thời tạo ra việc làm với thu nhập cao hơn cho số lao động dôi dư và mớităng thêm ở nông thôn Kinh nghiệm cũng như thực tiễn cho thấy chỉ có bằng conđường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn mới đáp ứng đượcyêu cầu đặt ra
Sông Lô là huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập và đi vào hoạtđộng từ ngày 01/4/2009 Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới củaĐảng và Nhà nước, kinh tế của huyện Sông Lô tăng trưởng khá và liên tục Bộ mặtnông thôn có những biến đổi rõ nét Kết cấu hạ tầng nhất là hệ thống giao thông,thủy lợi, trường học, trạm y tế … được đầu tư xây dựng theo hướng kiên cố hóa Đãhình thành các cụm kinh tế, văn hóa; nhiều giống cây trồng vật nuôi mới có năngsuất cao, chất lượng tốt được đưa vào sản xuất đã tăng thu nhập cho nông dân, gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, đời sống nhândân từng bước được cải thiện
Trang 5Tuy nhiên, tiến trình chuyển dịch cơ cầu kinh tế nông thôn còn chậm, chưabền vững; sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, phân tán, công nghiệp chế biến nôngsản, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề chưa phát triển; chất lượng nguồn nhân lực cònthấp so với yêu cầu; kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội khu vực nông thôn còn bất cậpthiếu đồng bộ; môi trường nông thôn chưa được quan tâm; đời sống của một bộphân nông dân còn nhiều khó khăn; mặt bằng dân trí không đồng đều, tập quán sảnxuất lạc hậu còn tồn tại trong một bộ phận nông dân Tỷ lệ hộ nghèo tuy đã giảmnhiều nhưng vẫn còn cao, tốc độ giảm nghèo chậm và thiếu bền vững Xuất phát từ
tình hình thực tế trên, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở huyện Sông Lô theo hướng phát triển bền vững”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng pháttriển bền vững ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững huyện Sông Lô từ năm 2009 - 2012
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế nông thôn chuyểndịch cơ cấu kinh tế và phát triển bền vững Làm rõ thêm tính tất yếu, khách quan
Trang 6đồng thời đưa ra những giải pháp đẩy nhanh quá trình chuyện dịch cơ cấu kinh tếnông thôn huyện Sông Lô phát triển bền vững Trên cơ sở đó, Luận văn có thể là tàiliệu tham khảo giúp các nhà hoạch định chính sách của huyện đưa ra những giảipháp, định hướng trong phát triển kinh tế huyện Sông Lô.
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 4 chươngChương 1: Cơ sở sở lý luận và thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn theo hướng phát triển bền vững
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôntheo hướng phát triển bền vững
Chương 3: Kết quả nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Sông Lô
theo hướng phát triển bền vững
Chương 4: Những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện
Sông Lô theo hướng phát triển bền vững trong thời gian tới
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển nền kinh tế có hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốcgia Muốn đạt được mục tiêu trên một trong những yếu tố quan trọng đòi hỏi phải
có một CCKT hợp lý xét trên góc độ các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và cácthành phần kinh tế Các yếu tố hợp thành CCKT phải được thể hiện cả về số lượngcũng như chất lượng và được xác định trong những giai đoạn nhất định, phù hợpvới những đặc điểm tự nhiên, KT-XH cụ thể của mỗi quốc gia (vùng, hoặc địaphương) qua từng thời kỳ
Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến, mà luôn vận độngchuyển dịch, thích hợp với những biến động của điều kiện tự nhiên, KT-XH Do đó
sự duy trì quá lâu hoặc thay đổi quá nhanh chóng của CCKT mà không tính đến sựphù hợp với những biến đổi của tự nhiên, KT-XH đều có thể ảnh hưởng đến hiệuquả của nền kinh tế Vì vậy việc duy trì hay thay đổi CCKT không phải là mục tiêu,
mà chỉ là phương tiện của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tếtrong quá trình vận động chuyển dịch nhanh hay chậm không phụ thuộc vào ý muốnchủ quan mà phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết cho sự chuyển đổi, sự vận động
và phát triển của LLSX xã hội, các mục tiêu KT-XH sẽ đạt được như thế nào Nóicách khác CCKT biến đổi chính là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội,CCKT phản ánh mối quan hệ LLSX và QHSX của nền kinh tế
Từ sự phân tích trên có thể hiểu: CCKT là tổng thể các bộ phận hợp thành kết cấu (hay cấu trúc) của nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội Các bộ phận đó gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ
lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện KT-XH nhất định nhằm đạt hiệu quả KT-XH cao.
Khái niệm CCKT như nêu trên là khoa học tương đối toàn diện, đầy đủ các
bộ phận cấu thành, các mối quan hệ khăng khít giữa các bộ phận cấu thành Như
Trang 8vậy CCKT vừa mang tính khách quan, vừa mang tính lịch sử xã hội, đồng thời luônvận động và phát triển không ngừng, gắn với sự phân công lao động, hợp tác kinh tếtrong nước và quốc tế Ta có thể hiểu trực diện hơn, CCKT còn thể hiện mối quan
hệ và tỷ lệ giữa các ngành trong nền kinh tế (hoặc trong GDP), mối quan hệ giữa
các vùng kinh tế, giữa các thành phần kinh tế Từ đó có thể hiểu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng tương đối của các ngành, các bộ phận của mỗi ngành trong nền kinh tế (hoặc trong GDP), sự thay đổi vị trí, vai trò của các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Chuyển dịch CCKT là
việc thay đổi cấu trúc nội tại và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của nềnkinh tế có hướng đến mục tiêu đã xác định
1.1.2 Khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
1.1.2.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nôngnghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội… Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắnliền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung củanền kinh tế về LLSX và QHSX, về cơ chế kinh tế… vừa có những đặc điểm riênggắn liền với nông nghiệp, nông thôn
Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật; KTNT có thể bao gồm nhiều ngành kinh tếnhư: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ … trong
đó nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu Xét về mặt
KT-XH, KTNT cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: KTNN, kinh tế tập thể, kinh tế
tư nhân … xét về mặt không gian và lãnh thổ, KTNT bao gồm các vùng như: vùngchuyên canh lúa, vùng chuyên cánh cây màu, vùng trồng cây ăn quả …
Nói cách khác: KTNT là một phức hợp những nhân tố cấu thành LLSX vàQHSX trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệpchế biến phục vụ cho nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ trên địa bànnông thôn Tất cả các ngành đó đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tếvùng, lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Từ đó có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế nông thôn là quan hệ tỷ lệ giữa các ngành,
Trang 9các lĩnh vực kinh tế trên địa bàn nông thôn có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển trong điều kiện tự nhiên – kinh tế
- xã hội, trong một thời gian nhất định ở nông thôn Cơ cấu kinh tế đó được thể hiện
cả về mặt số lượng và chất lượng Cơ cấu KTNT có vai trò to lớn, ảnh hưởng chiphối đến đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn
Như vậy, giữa các bộ phận của CCKT nông thôn có mối quan hệ chặt chẽkhông tách rời theo những tỷ lệ về lượng cũng như về chất Cơ cấu KTNT tồn tạikhách quan nhưng không bất biến, mà luôn biến đổi thích ứng với sự phát triển củaLLSX và phân công lao động xã hội trong từng thời kỳ Việc xác lập CCKT nôngthôn chính là giải quyết mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố của LLSX và QHSX,giữa tự nhiên với con người trong khu vực nông thôn theo thời gian và những điềukiện KT-XH cụ thể
1.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nóiriêng luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển do yêu cầu phát triển sự vận độngcác yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định Đó là sự thay đổi số lượng cácngành (nông, lâm, ngư nghiệp) hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành,các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc
độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều
Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là sự thay đổi của cơ cấukinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triểnmới Đây không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lượng và chấttrong nội bộ cơ cấu Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải dựa trên cơ sởyêu câu phát triển mới có tính đến cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch
cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu kinh tếmới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu kinh tế cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơcấu mới hiện đại và phù hợp hơn Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là
sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu (ngành, vùng, thành phần)nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội
đã xác định cho từng thời kỳ phát triển
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn thể hiện ở việc đa dạng hoá sản
Trang 10xuất, phát triển nông nghiệp toàn diện để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng lên của xãhội và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp nhằm rút bớt lao động ra khỏi nôngnghiệp và nông thôn, tăng năng suất lao động nông nghiệp và tăng thu nhập của hộnông dân
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn về thực chất là chuyển đổi của cảnền kinh tế nông thôn và phụ thuộc vào việc chuyển đổi cơ cấu của cả nền kinh tế
Vì vậy khi phân tích chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp không thể tách rời khỏi
cơ cấu kinh tế nông thôn Theo nghiên cứu thống kê của nhiều nước trên thế giới,giữa tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp có một tương quanrất chặt chẽ: 1% tăng trưởng nông nghiệp tương ứng với 4% tăng trưởng phi nôngnghiệp Bản chất của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn là sự thay đổi
về chất của nền kinh tế để đảm bảo cho phát triển bền vững
1.1.2.3 Nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, nó tồn tại vàngày càng phát triển gắn liền với những quan hệ kinh tế nhất định Những quan hệkinh tế chứa đựng trong kinh tế nông thôn được gọi là cơ cấu kinh tế nông thôn Xéttrên tổng thể cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm : Cơ cấu ngành, cơ cấu kinh tế lãnhthổ, cơ cấu các thành phần kinh tế Kinh tế nông thôn nói chung và từng loại cơ cấukinh tế nông thôn nói riêng là sản phẩm của phân công lao động xã hội bao gồm:
* Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành trong kinh tế nông thôn thể hiện các mối quan hệ tỷ lệ giữa cácngành trong nông thôn: Nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ nông thôn Trong từng ngành đó lại có các phân ngành Cơ sở để phânchia các ngành kinh tế nông thôn là các đặc điểm tự nhiên, kinh tế kỹ thuật Mộtngành chỉ xuất hiện khi những cơ sở sản xuất kinh doanh của chúng thực hiện cùngmột chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội và độc lập tương đối vớicác ngành khác Việc xác lập những mối quan hệ hợp lý giữa các ngành nôngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có ý nghĩa quan trọng trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, góp phần tích cực vào việc thựchiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung
- Nông nghiệp là ngành có vị trí trọng yếu trong nông thôn nước ta, sự phát
Trang 11triển của nó giữ vai trò quyết định trong phát triển kinh tế nông thôn và là mộttrong những yếu tố cơ bản của nền kinh tế cả nước Nông nghiệp vừa chịu sự chiphối chung của nền kinh tế quốc dân, vừa gắn bó chặt chẽ với các ngành khác trênđịa bàn nông thôn và phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của mộtngành mà đối tượng sản xuất là những thực thể sống.
- Nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, trong trồngtrọt được phân ra: trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ănquả, cây thức ăn gia súc, cây cảnh, cây dược liệu Ngành chăn nuôi gồm có chănnuôi gia súc, đại gia súc, gia cầm, nuôi ong, nuôi tằm những ngành trên đây có thểđược phân ra các ngành nhỏ hơn Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trongquá trình phát triển và tạo thành cơ cấu nông nghiệp Hiện nay, trong cơ cấu nôngnghiệp có 2 vấn đề quan trọng là cơ cấu hợp lý giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữatrồng cây lương thực và cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm
- Công nghiệp nông thôn (công nghiệp trên địa bàn nông thôn): là một bộ
phận công nghiệp của cả nước, đồng thời là một bộ phận cấu thành kinh tế lãnh thổ
Sự phát triển của công nghiệp nông thôn là một đòi hỏi khách quan, một quá trình
có tính quy luật để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Công nghiệp nông thôn gắn
bó chặt chẽ và tác động qua lại với nông nghiệp, cùng với các ngành khác trongkinh tế nông thôn gắn bó với nhau trong quá trình phát triển và tạo thành một cơ cấukinh tế nông thôn thống nhất Phát triển công nghiệp nông thôn có ý nghĩa về nhiềumặt, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phảttriển bền vững và phát triển sản xuất hàng hoá, tạo thêm việc làm cho người lao động
và tăng thu nhập, sử dụng hợp lý và nâng cao hiệu quả của các nguồn lực ở nông thôn;thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; phân bổ hợp lý lực lượnglao động, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn
Công nghiệp nông thôn cũng rất đa dạng, gồm nhiều ngành nghề được phân
bổ ở các vùng nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống trong khu vựcnông thôn, nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Công nghiệp chế biến nông,lâm, thuỷ sản làm tăng giá trị thương phẩm của nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, đáp ứngnhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, nâng
Trang 12cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
- Dịch vụ nông thôn (dịch vụ trên địa bàn nông thôn) xét theo quan điểm hệ
thống là một bộ phận của ngành dịch vụ của cả nước, đồng thời là một bộ phận cấuthành kinh tế lãnh thổ nông thôn Gắn liền với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn bền vững, dịch vụ nông thôn cũngngày càng phát triển với nhiều chủng loại phong phú cả trong dịch vụ sản xuất vàdịch vụ đời sống
Như vậy, dịch vụ nông thôn phát triển là đòi hỏi khách quan của sản xuất vànâng cao mức sống của dân cư nông thôn Sự phát triển dịch vụ nông thôn làm chohoạt động kinh tế ở nông thôn ngày càng phong phú và đa dạng, thúc đẩy sự pháttriển các ngành kinh tế khác ở nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn đạt hiệu quả cao
* Cơ cấu vùng kinh tế
Xét trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nói chung và từng vùng lãnh thổ địaphương nói riêng, đồng thời dựa trên cơ sở những điều kiện tự nhiên kinh tế - xãhội, trong quá trình phát triển các vùng kinh tế sinh thái được hình thành và pháttriển Cơ cấu kinh tế vùng vừa là bộ phận trong kinh tế nông thôn, vừa là nhân tốhàng đầu để tăng trưởng và phát triển bền vững các ngành kinh tế nông thôn đượcphân bổ ở vùng Mục đích của việc xác lập cơ cấu kinh tế vùng một cách hợp lý là
bố trí các ngành sản xuất theo lãnh thổ vùng sao cho thích hợp và sử dụng có hiệuquả tiềm năng, lợi thế của vùng
* Cơ cấu thành phần kinh tế
Tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh ở nông thôn có nhiều thànhphần kinh tế: Quốc doanh, tập thể, tư nhân, cá thể, hộ gia đình Các thành phần kinh
tế ở nông thôn ra đời và phát triển tuỳ thuộc vào đặc thù của mỗi ngành nhằm đápứng yêu cầu của sản xuất và nâng cao đời sống dân cư nông thôn Trên cơ sở yêucầu và khả năng phát triển sản xuất, mở rộng thị trường nông thôn các thành phầnhợp tác với nhau, kết hợp và đan xen với nhau một cách đa dạng với nhiều loại quy
mô, hình thức và trình độ khác nhau
Đối với kinh tế hộ là đơn vị sản xuất cơ bản của nền nông nghiệp, là tế bào
Trang 13của xã hội Vì vậy, kinh tế hộ đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất và mởrộng thị trường nông thôn, còn đối với kinh tế hợp tác: phát triển kinh tế hợp táctrong nông thôn là góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nôngthôn và xây dựng nông thôn mới.
Kinh tế hợp tác ở nông thôn ra đời và phát triển xuất phát từ kinh tế gia đình
và do chính yêu cầu phát triển kinh tế gia đình đòi hỏi, kinh tế hợp tác hoạt động ởnhững khâu tách rời quá trình sinh học của nông nghiệp và phục vụ cho quá trìnhsinh học của nông nghiệp mà ở những khâu đó mỗi gia đình không có khả nănghoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả Hoạt động hợp tác thể hiện các quan
hệ xã hội của sản xuất, nó được hình thành chủ yếu trong điều kiện sản xuất hànghoá Vì vậy, quy luật của sản xuất hàng hoá và quy luật sinh học của sản xuất sẽ chiphối mạnh mẽ quá trình hình thành và phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp,nông thôn
1.1.2.4 Những đặc điểm chung của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu KTNT vừa mang tính khách quan vừa mang tính lịch sử - xã hội, dovậy để chuyển dịch CCKT nông thôn đòi hỏi con người phải nhận thức và nắm bắtđược các quy luật vận động khách quan của chúng để tác động đúng, có như vậymới tạo ra CCKT hợp lý và hiệu quả Chuyển dịch CCKT nông thôn là quá trình tácđộng vào các bộ phận cấu thành của chúng, làm cho chúng chuyển hoá từ cơ cấu cũsang cơ cấu mới tiến bộ hơn Quá trình đó đòi hỏi phải có thời gian và phải trải quanhững nấc thang của sự phát triển từ thấp đến cao Đó cũng là quá trình thay đổi vềlượng để dẫn đến sự thay đổi về chất Quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn diễn
ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người, đặc biệt là cơ chế,chính sách và những giải pháp tác động Vì vậy, cần phải nắm rõ những đặc điểmchung của quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn, mà bất kỳ nước nào từ nền kinh
tế tiểu nông lạc hậu chuyển sang nền kinh tế công nghiệp cũng phải trải qua để cóhướng tác động cho phù hợp
- Một là: Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế của Walt Rostow (còn gọi là lýthuyết về các giai đoạn phát triển kinh tế)
Theo ông quá trình phát triển kinh tế của bất kỳ nước nào cũng đều phải trải
Trang 14qua các giai đoạn tuần tự: Xã hội truyền thống, giai đoạn chuẩn bị cất cánh, giaiđoạn trưởng thành, giai đoạn mức tiêu dùng cao Khi chuyển từ giai đoạn này sanggiai đoạn khác trong quá trình phát triển thì CCKT cũng có sự thay đổi nhất định,
đó chính là sự chuyển dịch CCKT Quá trình phát triển của nền kinh tế luôn gắn với
sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Dưới sự tác động của khoa học, công nghệ mà
xã hội nông nghiệp truyền thống bắt đầu phát triển, nền kinh tế từng bước hiện đạihóa và mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Cùng với sự phát triển của cácngành kinh tế thì cơ cấu lao động cũng thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ lệ laođộng có trình độ chuyên môn tay nghề cao và tỷ lệ dân cư đô thị
- Hai là: Lý thuyết nhị nguyên của A.Lewis (hay còn gọi là mô hình kinh tếhai khu vực của A.Lewis )
Trong lý thuyết của mình, ông chia nền kinh tế thành hai khu vực kinh tếsong song tồn tại:
+ Khu vực truyền thống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp
+ Khu vực kinh tế công nghiệp hiện đại
Trong hai khu vực, thì khu vực truyền thống có đặc điểm là trì trệ, năng suấtlao động thấp, còn khu vực công nghiệp có vốn, có công nghệ và có điều kiện đểtăng trưởng cao Vì thế có thể chuyển một phần lao động từ khu vực nông nghiệpsang khu vực công nghiệp hiện đại Việc di chuyển lao động đã làm cho số lượnglao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, nhưng sản lượng không giảm và sau
đó người lao động trong nông nghiệp có điều kiện đầu tư nâng cao năng suất laođộng Để tăng hiệu quả trong sự tác động qua lại giữa hai khu vực, cần kết hợp việcgiảm tốc độ tăng dân số và quan tâm thích đáng tới nông nghiệp trong quá trìnhchuyển dịch CCKT
- Ba là: Lý thuyết mô hình kinh tế hai khu vực của Harry.T.Oshima.T.Oshima là một nhà kinh tế học Nhật bản, ông đã nghiên cứu mối quan hệ giữa haikhu vực dựa trên những đặc điểm khác biệt của các nước Châu Á, Châu Mỹ Quanghiên cứu ông thấy rằng: Nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao, vào thờigian cao điểm của mùa vụ vẫn có hiện tượng thiếu lao động, nhưng lại dư thừatrong lúc nhàn rỗi
Từ đó T.Oshima cho rằng: Sự phát triển của nền kinh tế bắt đầu bằng việc
Trang 15giữ lao động trong nông nghiệp nhưng cần tạo thêm nhiều việc làm trong nhữngtháng nhàn rỗi Tiếp đó là sẽ sử dụng lao động nhàn rỗi vào các ngành sản xuấtcông nghiệp cần nhiều lao động, khi tạo ra việc làm trong những tháng nhàn rỗi sẽtăng thu nhập cho người nông dân, mở rộng thị trường trong nước cho các ngànhcông nghiệp và dịch vụ Khi thị trường lao động không còn dồi dào thì sản xuấtnông nghiệp sẽ chuyển dần sang cơ giới hoá để tăng năng suất lao động.
Như vậy, các lý thuyết phát triển kinh tế trên đều có điểm chung là đềukhẳng định sự phát triển kinh tế cần phải thông qua quá trình chuyển dịch CCKTngành Sự chuyển dịch CCKT ngành bao giờ cũng bắt đầu từ khu vực sản xuấttruyền thống của xã hội là sản xuất nông nghiệp, theo quy luật tỷ trọng của sản xuấtnông nghiệp trong cơ cấu GDP giảm dần (mặc dù số tuyệt đối vẫn tăng lên), còn tỷtrọng của ngành công nghiệp, thương mại - dịch vụ sẽ tăng dần (cả số tuyệt đối lẫntương đối đều tăng) Cơ cấu lao động cũng sẽ thay đổi phù hợp với xu hướng trên là
tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm dần cả về số tương đối lẫn tuyệt đối, tỷtrọng lao động trong các ngành công nghiệp và thương mại- dịch vụ tăng lên cả về
số tương đối lẫn tuyệt đối
Do vậy, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đốivới việc chuyển dịch phát triển CCKT nông thôn nói riêng và cơ cấu kinh tế quốc dânnói chung Nó là xuất phát điểm của quá trình chuyển dịch CCKT của mỗi quốc gia
Quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn có những đặc điểm chung như sau:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn bắt đầu từ sự chuyển dịch của cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Xét toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quá trình phát triển của ngành nông nghiệp
đã dẫn đến chuyển dịch cơ cầu sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy sự ra đời và pháttriển các ngành khác, đồng thời đây cũng là quá trình hội nhập của ngành nôngnghiệp vào toàn bộ nền kinh tế thông qua các quan hệ thị trường
Nội dung cơ bản của chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là quá trìnhchuyển đổi nền nông nghiệp từ tự túc, tự cấp sang nền sản xuất hàng hóa, tức sangsản xuất chuyên canh gắn với nhu cầu của thị trường Quá trình này được chia thành
Trang 16ba giai đoạn sau:
+ Giai đoạn một: Đó là nông nghiệp sinh tồn, quy mô nhỏ của nông dânchiếm ưu thế Cơ cấu nông nghiệp có tính thuần nông với mục tiêu sản xuất tựcung, tự cấp mà chủ yếu là sản xuất lương thực
+ Giai đoạn hai: Đặc trưng của giai đoạn này là quá trình đa dạng hoá sảnxuất nông nghiệp, nghĩa là ngoài sản xuất lương thực còn phát triển các cây trồngkhác và chăn nuôi Một yếu tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
là việc áp dụng công nghệ mới của nông dân đã xuất hiện
+ Giai đoạn ba: Đặc trưng chủ yếu của nền nông nghiệp trong giai đoạn này
là nền nông nghiệp thương mại, chuyên môn hoá với quy mô sản xuất lớn, với cáctrang trại chuyên môn hoá cao
Như vậy, quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn gắn liền với sự chuyểndịch của cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mà điểm bắt đầu là từ sự chuyển dịch của cơcấu sản xuất nông nghiệp với ba giai đoạn như trên Ba giai đoạn trên gắn liền với
sự phát triển của ngành công nghiệp và quá trình CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân
- Quá trình phát triển của sản xuất nông nghiệp thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn
Quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn diễn ra theo quy luật là tỷ trọng củangành nông nghiệp giảm xuống và tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp tăng lêntrong cơ cấu Chính sự phát triển ngày càng đa dạng hoá trong sản xuất nông nghiệp
là cơ sở thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông thôn Khi năng suất lao động trongngành nông nghiệp tăng lên, ngoài hoạt động trồng trọt và chăn nuôi, con người đãtìm kiếm và làm thêm nhiều công việc khác như phát triển nghề thủ công và đếnmột trình độ nhất định đã tách thành một ngành sản xuất độc lập Quá trình pháttriển của nông nghiệp và công nghiệp, đòi hỏi phải có sự trao đổi lẫn nhau, do đó cómột bộ phận dân cư tách khỏi sản xuất chuyển sang lĩnh vực lưu thông trao đổihàng hoá và hình thành ngành thương mại - dịch vụ ở nông thôn
Như vậy, quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp đã thúc đẩy sự ra đời vàphát triển của các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn Đó cũng chính là quá trìnhchuyển dịch CCKT nông thôn, đồng thời cũng là quá trình CNH, HĐH nông thôn
Trang 17“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình chuyển dịch CCKT nôngthôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành côngnghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp …”
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng: sự phát triển của nông nghiệp chỉ là tiền đề,điều kiện ban đầu cho sự phát triển các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn mà thôi,bởi sự phát triển của các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn còn phụ thuộc và chịu
sự chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như: tính đặc thù của từng địa phương, từngquốc gia hay điều kiện tự nhiên, KT-XH khác chi phối Do vậy chuyển dịch CCKTnông thôn theo hướng tiến bộ hơn, đòi hỏi phải có nhân tố chủ quan của con ngườitác động vào các nhân tố khách quan đó (cải biến điều kiện tự nhiên, KT-XH)
Phát triển các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn đã góp phần quan trọngcho sự phát triển KTNT, tăng thu nhập, tạo việc làm cho lao động nông thôn Điềunày càng có ý nghĩa hơn với điều kiện của Việt Nam khi bình quân đất nông nghiệpthấp, lao động nông thôn dư thừa nhiều, công nghiệp đô thị chưa phát triển…Thực
tế cho thấy: Việc phát triển các ngành nghề ở nông thôn như là một giải pháp hữuhiệu, ngăn chặn làn sóng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị Song vấn đề cơbản là cần phải xem xét kỹ khi lựa chọn phương án phát triển các ngành phi nôngnghiệp ở nông thôn, trong đó có CNNT phải hết sức thận trọng, nhằm đảm bảo pháttriển hài hoà giữa ba yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái, đó cũng chính
là sự phát triển bền vững mà mỗi quốc gia đang hướng tới
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn liền với việc thay đổi tổ chức sản xuất ở nông thôn, thay đổi mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong sản xuất kinh doanh ở nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ giữa hộ nông dân với các chủ thể khác ở nông thôn
Về tổ chức sản xuất ở nông thôn phải theo hướng ngành chuyên sâu Chẳnghạn, trong sản xuất nông nghiệp, sau khi tách thành trồng trọt và chăn nuôi thìhướng hoàn thiện của ngành sản xuất nông nghiệp là ngành trồng trọt giảm dần tỷtrọng trong cơ cấu, còn ngành chăn nuôi tăng dần tỷ trọng, nhưng theo quy luật thì
số tuyệt đối của ngành trồng trọt lẫn ngành chăn nuôi đều phải tăng Sự phát triểntiếp theo là việc thay đổi cơ cấu cụ thể trong từng ngành Trong ngành nông nghiệp
Trang 18ngoài trồng cây lương thực, thực phẩm sẽ xuất hiện thêm những cây trồng phù hợpvới điều kiện từng vùng để đáp ứng nhu cầu của thị trường như cây công nghiệp,cây ăn quả, cây dược liệu… hoặc sản phẩm mà thị trường không có nhu cầu thì cóthể sẽ không tồn tại trong cơ cấu sản xuất Ngành chăn nuôi cũng sẽ thay đổi theohướng đó Nói khác hơn, sự thay đổi tổ chức sản xuất ở nông thôn theo hướng sảnxuất gắn với thị trường
Mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong sản xuất ở nông thôn được mởrộng hơn, không còn bó hẹp ở địa bàn thôn, xóm mà đặt trong quan hệ kinh tế cảvới nước và thế giới, giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong quá trình pháttriển, đặc biệt là sự phối hợp, sự hợp tác của bốn nhà: Nhà nước, nhà nông, nhàkhoa học và nhà doanh nghiệp, làm cho sản xuất có hiệu quả hơn
1.1.2.5 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Cùng với quá trình hình thành và phát triển phong phú, đa dạng của cácngành kinh tế hàng hoá trong nông thôn, cơ cấu kinh tế giữa các ngành đó cũngngày càng phức tạp và luôn biến đổi theo yêu cầu của xã hội, theo đà phát triển củathị trường, phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và khả năng tăng lêncủa con người trong việc chinh phục và sử dụng các tài nguyên, nguồn lực Quátrình đó thể hiện bước chuyển từ chỗ khai thác sử dụng các tài nguyên và nguồn lựcmột cách thực dụng vì mục đích trước mắt sang sử dụng hợp lý, khoa học hơn, gắnhiệu quả trước mắt với lợi ích lâu dài; gắn lợi ích kinh tế với vấn đề xã hội và bảo
vệ môi trường sinh thái
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng và cơ cấu kinh tếnông thôn nói chung như trên là một đòi hỏi khách quan, là một quá trình có tínhquy luật để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Xu hướng biến đổi có tính quy luật
đó là: Từ một nền nông nghiệp độc canh, thuần nông mang tính tự cung, tự cấp sangphát triển đa dạng, bền vững về sinh thái và phát triển sản xuất hàng hoá Từ mộtnền nông nghiệp mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi đến chỗ xây dựng một cơcấu hợp lý giữa hai ngành Từ một nền nông nghiệp theo nghĩa hẹp sang phát triểnnông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, các ngành đó trở thành những ngành sảnxuất hàng hoá ở nông thôn Từ thuần nông sang phát triển kinh tế nông thôn tổng
Trang 19hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp và nông thôn tác động mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế nông thôn, làmthay đổi cơ cấu giữa nông nghiệp và công nghiệp Ngành dịch vụ dần được mởrộng, đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống ở nông thôn Theo đà phát triển của
xã hội, tỷ trọng công nghiệp nông thôn và dịch vụ nông thôn không ngừng lớnmạnh lên, còn tỷ trọng nông nghiệp thì giảm đi tương ứng
1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững
1.1.3.1 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới, khái niệm này hiện đang là mụctiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thùkinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp vớiquốc gia đó Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980
trong tác phẩm Chiến lượng bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên
nhiên quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loạikhông thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầutất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”
Từ đó tới nay, đã có nhiều định nghĩa và khái niệm về phát triển bền vữngđược nêu ra tại các hội nghị và hội thảo quốc tế Tuy nhiên, định nghĩa do Ủy ban
thế giới về môi trường và phát triển đưa ra trong báo cáo “Tương lai của chúng ta”
(1987) dường như nhận được sự tán đồng của đa số quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu
về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại song không xâm hại tới khả năng thỏa mãn của các thế hệ tương lai”.
Nội hàm của định nghĩa trên rất rộng vì gắn với nhu cầu ngày càng cao củacon người, của sự kế tiếp các thế hệ Song, có thể thấy một logic là: cứ những vấn
đề nào quyết định hoặc liên quan đến sự sống, sự tồn tại và phát triển của con ngườihẳn sẽ trực tiếp, hoặc gián tiếp với phát triển bền vững Vào thời điểm đó, người tachỉ nhận thấy ba yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường; còn một thành tố vô cùngquan trọng được tiếp tục nhận thức trong cả quá trình tiếp theo đó là văn hóa
Cách tiếp cận trên thể hiện trong các nội dung cụ thể như sau:
- Cách tiếp cận về kinh tế: Dựa vào luận điểm tối đa hóa thu nhập với chi phí
Trang 20tối thiểu của Hick – Lindahl Bao gồm chi phí nguồn tài sản, tư bản, lao động [21].Ngoài ra, người ta còn dùng cách tiếp cận sử dụng tối ưu và có hiệu quả nhữngnguồn lực khan hiếm Tuy nhiên, có một số vấn đề nảy sinh khi sử dụng cách tiếpcận này Chẳng hạn, dùng phương pháp gì xác định những loại tài sản không đượcđánh giá trên thị trường như: tài nguyên, hệ sinh thái… Mặc dù vậy, luận điểm nàyđược áp dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển Mục tiêu hàng đầu của các nước này
là làm sao để giải được bài toán tăng trưởng và ổn định kinh tế với hiệu quả cao
- Cách tiếp cận xã hội: Với các tiếp cận này, con người được coi là trung tâm
trong những quyết định về chính sách phát triển Bên cạnh mục tiêp phát triển kinh
tế còn có quan điểm phát triển mang tính xã hội, nhằm đảm bảo duy trì sự ổn định
xã hội; giảm bớt những tác động tiêu cực về xã hội của sự phát triển kinh tế; đảmbảo tính công bằng xã hội với mục tiêu giảm tỷ lệ dân số phải sống trong nghèo đói.Đây là một mục tiêu phát triển cơ bản của nhiều nước
- Cách tiếp cận môi trường: Được phổ biến rộng rãi từ đầu những năm 1980,
tập trung vào các vấn đề môi trường đang đang ngày càng trở nên nóng bỏng trênthế giới Quan điểm này lưu ý tới sự ổn định của hệ sinh thái và của môi trường sinhthái Đó cũng chính là những đối tượng đang chịu tác động mạnh của các hoạt độngkinh tế tại tất cả các nước phát triển và đang phát triển
- Cách tiếp cận về văn hóa: Càng ngày người ta càng ý thức được rằng, nếu
một đất nước tăng trưởng nhanh, giàu có, nhưng tệ nạn xã hội vẫn tràn lan, môitrường vẫn bị hủy hoại một cách chủ ý hoặc vô ý thì không thể đảm bảo sự pháttriển bền vững Không phải chỉ do trình độ văn hóa thấp, mà gần đây được cho là
“sự sung đột của các nền văn hóa” Như vậy, quốc gia đó không thể gọi là một nướcphát triển, chứ chưa nói là PTBV Cuối cùng vấn đề văn hóa lâu nay thường khôngđược đề cập nhiều, nay đã dần được nhìn nhận một cách khách quan, được đánh giáđúng với vị trí của nó
Trong bốn vấn đề trên thì kinh tế là nội dung quan trọng nhất, nó tác độnglan tỏa đến cả ba nội dung còn lại Chất lượng tăng trưởng kinh tế có yếu tố quyếtđịnh đến phát triển bền vững của một quốc gia Trong đó tăng trưởng bền vững hayphát triển kinh tế bền vững ngày nay trở thành một thuật ngữ quen thuộc ở nước tacũng như các nước trên thế giới, thậm chí còn trở thành một quan điểm chủ đạo
Trang 21trong hoạch định chiến lược và chính sách phát triển của nhiều quốc gia.
1.1.3.2 Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững
* Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôn thôn lạc hậu sang cơ cấu kinh
tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đây là nội dung cơ bản nhất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, có ýnghĩa chiến lược trước mắt cũng như lâu dài Trước mắt nhằm khai thác, sử dụng cóhiệu quả về lực lượng sản xuất, tiềm năng lớn trong nông thôn, tạo điều kiện chonông dân làm giàu và thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng tích cực, đồng thời còn
là chìa khóa mở ra con đường phát triển nông thôn trong thời kỳ mới
Kinh nghiệm về công nghiệp hóa nông thôn của nhiều nước trên thế giới chothấy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH là bước đi quan trọng,trong đó gắn phương thức truyền thống với phương pháp hiện đại, ứng dụng côngnghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin để phát triển sảnxuất, đẩy mạnh phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biếnnông sản với công nghệ thích hợp, tạo nhiều việc làm cho người lao động Coi trọngcông nghệ chế biến là mắt xích quan trọng nối liền sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, tạođiều kiện để người lao động gắn với trong nước và ngoài nước Nhờ phát triển côngnghệ chế biến, đưa sản phẩm tươi sống hoặc ở dạng thô, thành những sản phẩm hànghóa dưới dạng sơ chế, tinh chế đem lại giá trị kinh tế cao cho người lao động
Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời kỳ đẩymạnh CNH – HĐH đất nước, chuyển dịch cơ cầu kinh tế, cơ cầu lao động, đẩymạnh CNH – HĐH nông thôn là con đường cơ bản để tiến hành phân công lại laođộng, xã hội hóa nền sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra nhiều việc làm,nâng cao thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân Qua đó tác động tíchcực đến phát triển công nghiệp, dịch vụ của nền kinh tế quốc dân “ly nông nhưngbất ly hương”, tích cực tham gia các hoạt động kinh tế nông thôn
* Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa trong các ngành sản xuất nông nghiệp.
Để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện phải gắn với điều kiện bảo đảmcho sản xuất nông nghiệp như: thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa và sinh học
Trang 22hóa, góp phần đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, hạn chế thiên tai ảnh hưởng đến sảnxuất, không ngừng nâng cao năng xuất và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Tuynhiên, đây là một quá trình lâu dài, trước hết phải thực hiện điện khí hóa, cơ giới hóanhững khâu thích hợp và phù hợp với vùng sinh thái trong các khu vực nông thôn.
Thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa là điều kiện quan trọng cho sự thànhcông của CNH kinh tế nông thôn, song phải phù hợp với trình độ kỹ thuật và kỹnăng của người lao động, với đặc điểm ruộng đồng và cơ sở hạ tầng ở nông thôn, cónhư vậy mới phát huy được hiệu quả của thiết bị máy móc, đưa năng xuất lao độnglên cao
Nước ta, đất chật người đông, do đó quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóacần đẩy mạnh cơ giới hóa, điện khí hóa, trước hết tập trung vào khâu làm đất, chămsóc, thu hoạch đảm bảo tính thời vụ và đặc thù của sản xuất nông nghiệp Khác vớinhiều nước có nền kinh tế phát triển, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa để giảiphóng bớt sức lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và các ngành kinh tế khác.Điện khí khóa, cơ khí hóa trong nông nghiệp ở nước ta phải nhằm tạo ra nhiềungành nghề mới như: Cơ khí chế tạo công cụ sản xuất, chế biến nông sản, các ngànhnghề thủ công… để thu hút lao động dư thừa ở nông thôn và tăng thu nhập chongười lao động, thông qua đó để chuyển bớt lao động trong nông nghiệp các hoạtđộng phi nông nghiệp ngay trên địa bàn nông thôn Đây là cách tổ chức sản xuấtmang tính đặc thù của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướngCNH – HĐH ở nước ta, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiệnnay Đẩy mạnh ứng dụng các biện pháp sinh học nhằm tạo ra nhiều cây trồng, vậtnuôi có chủng loại tốt, năng xuất cao, thích ứng với điều kiện thời tiết, khí hậu vàđất đai canh tác
* Đầy mạnh công nghiệp chế biến, nông lâm, thủy sản.
Công nghiệp chế biến giữ vai trò quan trọng trong công nghiệp nông thôn,nhằm nâng cao giá trị của nông sản hàng hóa nhất là đối với các sản phẩm có sốlượng lớn, tiêu dùng rộng rãi trên thị trường như gạo, thịt lợn, hải sản… Do vậy,cần xây dựng, phát triển công nghiệp chế biến với nhiều loại quy mô và công nghệthích hợp, kết hợp giữa khoa học truyền thống với công nghệ hiện đại ở các vùngnông thôn, thị trân, thị tứ liên kết với công nghiệp ở đô thị và công nghiệp tập trung,
Trang 23với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đảm bảo chế biến phần lớn nông, lâm,thủy sản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và không ngừng tăng lên giá trịxuất khẩu nông sản hàng hóa.
* Đầy mạnh phát triển các làng nghề và các ngành nghề mới trong nông thôn.
Các ngành nghề, làng nghề là một hoạt động của kinh tế của nông dân, đượchình thành và phát triển lâu dài trong nông thôn Việt Nam, có vai trò qua trọng đốivới sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Điều quan trọng là phát triển các ngànhnghề, làng nghề ở nông thôn không đòi hỏi phải đầu tư nhiều vốn, sử dụng được lựclượng lao động tại chỗ và với nguồn nguyên liệu dồi dào, phù hợp với khả năng ởnông thôn và nông dân nước ta
Hoạt động kinh tế của các ngành nghề, làng nghề truyền thống và ra đời củacác ngành nghề mới hiện nay có tác dụng tích cực đối với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, làm thay đổi bộ mặtnông thôn theo hướng văn minh, hiện đại
Yêu cầu đối với phát triển làng nghề, ngành nghề là gắn với sản xuất nôngnghiệp, tạo ra sự phát triển ổn định, bền vững Song phải tùy thuộc vào đặc điểm,điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng của từng địa phương để sản xuất, vừa đạt đượcmục tiêu kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm về môi trường sinh thái, giữ gìn văn hóatruyền thống của địa phương Đó là nguồn lực, điều kiện quan trọng để phát triểnkinh tế nông thôn bền vững
* Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại.
Cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm hệ thống đường giao thông, mạng lướiđiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt cho dân cư, trường học,trạm y tế, hệ thống thông tin liên lạc, thủy lợi, hệ thống cung cấp nước sạch và các
cơ sở công nghệ, dịch vụ kinh tế - xã hội khác
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở đây là quá trình tạo ra tiền đề vậtchất, kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế nông thôn, góp phần nâng tầm quản lý
xã hội lên một trình độ mới Đồng thời làm chuyển biến căn bản bộ mặt nông thôn,đưa nông thôn bắt kịp với sự năng động của nền kinh tế thị trường định hướng xã
Trang 24hội chủ nghĩa.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xãhội cơ bản, đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực và bảo vệ môi trường sinhthái: như tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội.Tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề xã hội gắn với
an sinh xã hội mà còn là vấn đề kinh tế cơ bản gắn với sử dụng nguồn lực Hơn nữa,nếu phát triển kinh tế nhưng không bảo đảm được công bằng và tiến bộ xã hội thìkhông thể bền vững được
Phát triển kinh tế cần gắn với việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồnlực Điều này có nghĩa là, việc phát triển và tăng trưởng kinh tế không dựa chủ yếuvào khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm sơ chế, mà cần gắn vớiquá trình giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, giảm chi phí trung gian, tăng tỷ trọngcác yêu tố phi vật chất trong giá thành sản phẩm, tăng giá trị trong sản phẩm… Ngoài
ra, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái theo hướng: bảo vệ rừng vàtrồng rừng, bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đổi mới công nghệ sảnxuất theo hướng sản xuất phải thân thiện với môi trường, kiểm soát ô nhiễm
1.1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững
Quá trình hình thành và phát triển của CCKT nông thôn chịu sự tác động chiphối của nhiều nhân tố khác nhau, điều kiện tự nhiên và KT-XH có vai trò vào tácđộng to lớn đến việc hình thành và phát triển của CCKT nông thôn Do vậy, việcnghiên cứu vai trò và tác động của từng nhân tố có ý nghĩa rất quan trọng, nhầmphát triển huy những nhân tố tích cực và hạn chế những nhân tố kìm hãm để đẩynhanh quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn nước ta theo hướng tiến bộ hơn
- Một là: những nhân tố về điều kiện tự nhiên:
Nhân tố tự nhiên (điều kiện tự nhiên) bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết,
hệ sinh thái, nước, đất đai, rừng, biển, tài nguyên khoáng sản khác… có ảnh hưởngđến sự hình thành vận động và biến đổi của CCKT nông thôn Sự tác động và ảnhhưởng của các nhân tố tự nhiên tới nội dung của CCKT nông thôn không giốngnhau Trong các nội dung của CCKT nông thôn, thì cơ cấu các ngành và cơ cấu
Trang 25vùng chịu ảnh hưởng nhiều bởi nhân tố tự nhiên, còn cơ cấu thành phần kinh tếthường chịu ít hơn Các nhân tố đất đai, thời tiết, khí hậu, vị trí địa lý có ảnh hưởngtrực tiếp đến sự phát triển của nông nghiệp Bởi vì nông - lâm - thuỷ sản là ngànhsản xuất mà đối tượng của nó là thế giới sinh vật, qua đó sẽ ảnh hưởng tới sự pháttriển triển của các ngành khác trong CCKT nông thôn
Mỗi quốc gia, mỗi vùng có vị trí địa lý khác nhau, do đó điều kiện tự nhiêncũng khác nhau, từ đó dẫn đến sự khác nhau từ quy mô, số lượng các ngành kinh tếtrong nông thôn, đặc biệt là ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của cácđiều kiện tự nhiên Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên giữa các vùng, làm cho quy
mô, số lượng của các ngành giữa các vùng cũng khác nhau và chính sự khác nhau
về quy mô, số lượng của các ngành sẽ dẫn đến sự khác nhau về cơ cấu ngành giữacác vùng
Do vị trí địa lý khác nhau, làm cho điều kiện tự nhiên cũng khác nhau Mỗimột vùng có những điều kiện tự nhiên thuận lợi riêng, cho phép phát triển một sốngành sản xuất, tạo ra những lợi thế so với các vùng khác của đất nước Đây là cơ
sở tự nhiên để hình thành các vùng kinh tế nói chung và KTNT nói riêng Các loạivùng này được hình thành do phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, thông qua bốtrí các ngành sản xuất trên các vùng lãnh thổ hợp lý để khai thác các tìm năng và lợithế riêng của từng vùng
Xu hướng phát triển vùng KTNT hiện nay là đi sâu vào chuyên môn hoá, tậptrung sản xuất nông - lâm - thủy sản để từng bước hình thành các vùng trọng điểmSXHH nông - lâm - thủy sản quy mô lớn có hiệu quả kinh tế cao, từ đó tạo điềukiện cho sự phát triển công nghiệp và dịch vụ trên từng địa bàn theo hướng chuyênmôn hoá cao
Ngoài ra các điều kiện tự nhiên còn ảnh hưởng và tác động tới cơ cấu cácthành phần kinh tế ở nông thôn Vị trí địa lý thuận lợi và các tài nguyên thiên nhiênphong phú của mỗi vùng là điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế pháttriển Nhưng tốc độ phát triển của mỗi thành phần kinh tế ở nông thôn nhanh haychậm còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nữa
Tóm lại: CCKT nông thôn, nhất là cơ cấu sản xuất nông nghiệp chịu sự ảnh
Trang 26hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên là một cơ sở quan trọng đểxác định CCKT nông thôn phù hợp với điều kiện của từng vùng Song với cuộccách mạng khoa học, công nghệ hiện đại như ngày nay; đặc biệt là công nghệ sinhhọc, con người có thể từng bước cải tạo điều kiện tự nhiên cho phù hợp với mụcđích sử dụng của mình, nghĩa là vai trò của điều kiện tự nhiên trong việc hình thànhCCKT nông thôn ngày càng giảm đi, con người càng hạn chế được những tác độngtiêu cực của điều kiện tự nhiên đối với sản xuất nông nghiệp hoặc con người lợidụng điều kiện tự nhiên mà tạo ra những giống cây, con mới có năng suất cao, phùhợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, bắt tự nhiên phụ thuộc và phục vụ chocon người.
- Hai là: Những nhân tố về KT-XH.
+ Thứ nhất: Nhân tố thị trường
Trong kinh tế thị trường, thị trường vừa là căn cứ vừa là đối tượng của kếhoạch SXKD của các hộ gia đình và doanh nghiệp, tức sản xuất cái gì? sản xuất choai? Và sản xuất như thế nào? là phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường
Thị trường không chỉ phản ánh và phụ thuộc vào trình độ phát triển của nềnSXHH, mà bản thân nó lại là nhân tố kích thích, là động lực thúc đẩy sản xuất pháttriển, thúc đẩy các chủ thể kinh doanh không ngừng đổi mới kỹ thuật - công nghệ và
tổ chức quản lý để giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường Thị trường cũng có tácđộng điều tiết các quan hệ kinh tế, góp phần vào việc phân bố tư liệu sản xuất vàsức lao động giữa các ngành, các vùng, hình thành những cân đối kinh tế kháchquan trong quá trình phát triển
Như vậy, trong nền KTHH, nhân tố thị trường có vai trò quyết định tới sựphát triển triển kinh tế, sự hình thành và biến đổi CCKT nói chung và CCKT nôngthôn nói riêng
+ Thứ hai: Nhân tố khoa học và công nghệ: Ngày nay khoa học và công nghệtrở thành LLSX trực tiếp, nó có vai trò to lớn đối với sự biến đổi của cơ cấu kinh tếnói chung và CCKT nông thôn nói riêng, đặc biệt là quá trình chuyển dịch CCKTnông thôn Việc phát triển khoa học và công nghệ cùng với khả năng ứng dụngchúng vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn sẽ làm thay đổi chất lượng, năng suất và
Trang 27hiệu quả sản xuất kinh doanh Đặc biệt quá trình CNH, HĐH đang tạo ra sự chuyểnbiến cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp, nổi bật là việc tạo ra các giống câytrồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn Đây chính làđộng lực tạo nên sự phát triển mạnh mẽ KT-XH nông thôn.
Nhờ ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ đặc biệt là công nghệ sinhhọc trong sản xuất như tạo ra giống cây, con mới, công nghệ chế biến vào bảo quảnnông sản hàng hoá … sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất, thực hiện phân công lại laođộng xã hội ở nông thôn, tạo thêm nhiều ngành nghề mới, giải quyết việc làm ởnông thôn Chính sự tác động của khoa học, công nghệ sẽ thúc đẩy quá trình đadạng hoá cơ cấu sản xuất nông nghiệp, hình thành nhiều ngành nghề phi nôngnghiệp ở nông thôn, làm biến đổi CCKT nông thôn theo hướng hiện đại và có hiệuquả hơn
+ Thứ ba: Nhân tố con người ( nguồn lao động) Nguồn lao động là một bộphận của dân số, trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và nhữngngười không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm Đây là nhân tố quyếtđịnh trong việc hình thành và biến đổi CCKT nông thôn
Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, nhưng sự hình thành và biến đổinhanh hay chậm, hợp lý hay không hợp lý lại do tác động của con người Chính conngười tạo ra những điều kiện cần thiết thúc đẩy sự hoàn thiện và CDCCKT nóichung và CCKT nông thôn nói riêng Do vậy CCKT hoàn thiện đến đâu, CCKTnông thôn chuyển dịch nhanh hay chậm phụ thuộc vào trình độ học vấn, trình độchuyên môn kỹ thuật của con người Ở những vùng người lao động có trình độ taynghề cao, có trình độ canh tác cao hơn thì sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để chuyểndịch CCKT nông thôn nhanh hơn và đặc biệt nó sẽ có điều kiện thuận lợi cho sựchuyển dịch cơ cấu KTNT theo hướng hiện đại Ngoài ra mật độ dân số và số lượnglao động của từng vùng nhiều hay ít cũng ảnh hưởng tới CCKT nông thôn Nhữngvùng có mật độ lao động cao sẽ tạo điều kiện để lựa chọn các ngành sản xuất đòihỏi nhiều lao động Nếu mật độ dân số, mật độ lao động quá cao đòi hỏi CCKTnông thôn phải chuyển đổi nhanh nhằm giải quyết việc làm và khai thác, sử dụng cóhiệu quả hơn các nguồn lực khác ở nông thôn Ngược lại, ở những vùng mật độ lao
Trang 28động thấp thì thường chọn những ngành đòi hỏi sử dụng ít lao động.
+ Thứ tư: Nhân tố vốn đầu tư và kết cấu hạ tầng ở nông thôn
Nếu như con người là nhân tố quyết định, thì vốn giữ vai trò đặc biệt quantrọng trong việc hình thành và biến đổi CCKT nông thôn Trong quá trình chuyểnđổi, CCKT nông thôn sẽ chuyển dịch theo hướng: phát triển ngành nông nghiệphiện đại, các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn ngày một tăng lên Việcphát triển và mở rộng các ngành mới ở nông thôn đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tưkhá lớn và sử dụng có hiệu quả cao Nguồn vốn nhà nước đầu tư để phát triển KT-
XH ở nông thôn, nguồn tín dụng giành cho phát triển sản xuất nông nghiệp vàngành nghề mới ở nông thôn là cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lẽhiện nay thu nhập của cư dân nông thôn còn thấp, chưa đủ sức tích lũy để tự đầu tưcho sự phát triển, mà rất cần sự giúp đỡ của nhà nước Tuy nhiên nguồn vốn tự tíchlũy từ nội bộ ngành nông nghiệp, nông thôn cũng có ảnh hưởng rất lớn đến chuyểndịch CCKT nông thôn
Kết cấu hạ tầng nông thôn có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và pháttriển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, chi phối trình độ kỹ thuật và côngnghệ,… do đó nó là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng và chi phối
sự hình thành, vận động và biến đổi của CCKT nông thôn
Thực tiễn đã chứng minh, ở những vùng có kết cấu hạ tầng phát triển, đặcbiệt là các công trình hạ tầng kỹ thuật phát triển thì ở đó có điều kiện phát triển cácngành chuyên môn hoá, là điều kiện để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiêntiến vào các ngành kinh tế Ngược lại, những vùng có kết cấu hạ tầng kém phát triểnthì quá trình hình thành và phát triển của các ngành sản xuất, các vùng chuyên mônhoá cũng như quá trình đưa tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất vì thế cũng
bị kìm hãm
+ Thứ năm: Nhân tố phát triển công nghiệp và đô thị
Sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị là một nhân tố quan trọng ảnhhưởng tới CCKT nông thôn Bởi lẽ phát triển các khu công nghiệp và đô thị sẽ làmtăng nhu cầu và làm nẩy sinh những nhu cầu mới về các loại sản phẩm, dịch vụ kéotheo sự phân bố lại sản xuất để đáp ứng nhu cầu cung cấp sản phẩm cho sản xuất và
Trang 29đời sống ở đô thị Đây là nhân tố kích thích phát triển nông nghiệp đa dạng và cácngành nghề mới trong nông thôn, Chẳng hạn ngành công nghiệp chế biến đòi hỏikhối lượng nguyên liệu lớn, hay tốc độ xây dựng đô thị sẽ tác động làm phát triểnngành công nghiệp vật liệu xây dựng nông thôn (gạch, ngói, cát, đá …) Từ đó kéotheo ngành vận tải, thương nghiệp, dịch vụ khác ở nông thôn cũng phát triển, làmbiến đổi CCKT nông thôn theo hướng tiến bộ.
Mặt khác, sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị tạo ra khả năng cungcấp kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến, cùng với đội ngũ trí thức, các chuyên gia
kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư ngày càng dồi dào cho khu vực KTNT, góp phần thúcđẩy quá trình hình thành và biến đổi CCKT nông thôn nhanh hơn và hoàn thiện hơn
+ Thứ sáu: Nhân tố ngoài nước:
Thời đại ngày nay, toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, nó lôi cuốn hầuhết tất cả các nước, buộc các nước có nấc thang kinh tế khác nhau phải mở cửa thịtrường, tham gia hội nhập Toàn cầu hoá bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ củaLLSX, đặc biệt là sự xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,
đã tạo bước ngoặt trong sự phát triển LLSX, làm cho phân công lao động xã hội đãvượt biên giới quốc gia, hình thành phân công lao động quốc tế Trong điều kiện ấycác quốc gia, các khu vực có sự vừa hợp tác, vừa phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tănglên trong quá trình phát triển Cùng với quá trình ấy là sự hình thành mạng lưới sảnxuất quốc tế và vai trò ngày càng tăng của các công ty xuyên quốc gia (TNC) - lựclượng chi phối toàn cầu hoá, với việc cấm nhánh (công ty con) khắp nơi trên thếgiới, làm cho mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ là một bộ phận (một xí nghiệp) củanền kinh tế thế giới (công ty mẹ) Trong xu hướng hội nhập, sức mạnh của mỗi địaphương, mỗi ngành là biết phát huy những tiềm năng và lợi thế cảu minh trong quan
hệ đa phương
Như vậy, toàn cầu hoá, thực chất và trước hết là toàn cầu hoá về kinh tế, nó
mở ra cho các quốc gia cơ hội có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồnlực bên ngoài để tăng tốc cho sự phát triển kinh tế của đất nước Do vậy, hội nhậpkinh tế quốc tế và khu vực là một giải pháp thực tế của các quốc gia, để tham giavào sự hợp tác và phân công lao động quốc tế, nhằm khai thác tốt các tiềm năng và
Trang 30lợi thế so sánh của đất nước, đồng thời có thể khai thác nguồn vốn, công nghệ vàkinh nghiệm quản lý tốt của các nước tiên tiến để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐHđất nước và CDCCKTNT theo hướng hiện đại và có hiệu quả
+ Thứ bảy: Nhân tố vai trò của nhà nước:
Nhà nước thông qua chính sách kinh tế vĩ mô của mình tác động vào nềnkinh tế, tạo điều kiện để các quy luật của thị trường phát huy tối đa mặt tích cực,hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, nhằm tạo cho nền kinh tế tăng trưởng và pháttriển với tốc độ cao Để đạt được mục tiêu trên, một trong những tác động quantrọng của chính sách kinh tế là tác động vào CCKT nói chung và CCKT nông thônnói riêng
Nền kinh tế nói chung và CCKT nông thôn nói riêng, nếu chỉ có sự tác độngcủa các quy luật thị trường thì CCKT nông thôn chỉ hình thành và biến đổi một cách
tự phát, làm lãng phí việc sử dụng các nguồn lực Do vậy, để CCKT nông thônchuyển dịch đúng hướng về sử dụng có hiệu quả các nguồn lực ở nông thôn, nhànước buộc phải can thiệp vào thông qua việc ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô
để thúc đẩy việc hình thành CCKT nông thôn một cách hợp lý và có hiệu quả
Các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát triển nông nghiệp và KTNT, cùngvới hệ thống thể chế kinh tế, sẽ tạo môi trường kinh tế thuận lợi và kích thích lợi íchkinh tế để các chủ thể SXKD theo định hướng của nhà nước Hệ thống chính sáchkinh tế như: chính sách đất đai, chính sách về vốn tín dụng, chính sách đầu tư xâydựng kết cấu hạ tầng nông thôn, chính sách khuyến nông, chính sách tiêu thụ sảnphẩm, chính sách xoá đói, giảm nghèo… nếu ban hành kịp thời, đồng bộ và phùhợp với từng giai đoạn phát triển nhất định, sẽ có tác dụng làm chuyển biến mạnh
mẽ CCKT nông thôn Ngược lại, sẽ giảm động lực, không phát huy hết mọi tiềmnăng, thế mạnh của từng vùng cho sự phát triển, sẽ hạn chế và làm chậm quá trìnhchuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Qua phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và chuyển dịchCCKT nông thôn, chúng ta thấy rằng các nhân tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,cùng tác động tới quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn Do vậy quá trình chuyểndịch CCKT nông thôn có thành công hay không, không chỉ phụ thuộc vào sự lựa
Trang 31chọn ngành ưu tiên hợp lý, mà còn phụ thuộc rất lớn vào những điều kiện tự nhiên
và đặc điểm KT-XH của từng vùng nông thôn Cho nên, các chủ thể kinh tế nông thôncần nhận thức đầy đủ để tác động vào nó, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để đẩynhanh quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng hợp lý và hiệu quả
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở một số nước khu vực Châu Á
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, có diện tích canh tác19,62 triệu ha, gấp 2,68 lần nước ta Dân số có 58 triệu người, bình quân đất canh tácgấp 4 lần nước ta (3.756 m2/người), thuộc diện cao nhất các nước trong khu vực
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, Thái Lan đã là một nước xuất khẩu gạo,sắn, cao su thuộc hàng đầu thế giới và đứng thứ 3 về xuất khẩu đường Cơ cấu kinh
tế đã chuyển biến rõ rệt trong khoảng 20 năm
Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế Thái Lan từ năm 1970 đến 1991
Năm
GDP nông lâm ngư nghiệp
GDP công nghiệp chế biến
GDP ngành xây dựng
GDP ngành dịch vụ
GDP ngành khai thác mỏ
Trang 32Có được thành công trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá nông sản phải kể đến
sự đóng góp to lớn của công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm mà Thái Lan đã đầu
tư ứng dụng trước một bước so với các nước trong khu vực Vì thế, các sản phẩmcủa họ có sức cạnh tranh cao lại khá ổn định như chất lượng gạo xuất khẩu năm
1990 tốt hơn so với năm 1986 làm cho giá tiêu thụ tăng từ 220 USD/tấn lên 300USD/tấn Nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả xuất khẩu, Thái Lan không chỉ cóđầu tư xây dựng công nghiệp chế biến nông sản, mà còn quan tâm phát triển đồng
bộ các ngành công nghiệp cơ khí, điện, giao thông, công nghệ sinh học và thịtrường phục vụ phát triển kinh tế nông thôn Có thể nói Chính phủ đã mạnh dạn đitrước một bước về điện khí hoá nông thôn bằng nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới(WB) nên đến năm 1991 đã có 94% số làng, xã nông thôn có điện, đồng thời hạ giáđiện tiêu dùng của nông dân thấp hơn thành phố nên đã khuyến khích mạnh mẽ cáchoạt động sản xuất và đời sống xã hội nông thôn
Cuối những năm 50 máy móc công nghiệp đã được đưa vào các vùng trọngđiểm để phục vụ các khâu sản xuất nặng nhọc như làm đất, tưới tiêu nhằm tăngnăng suất lao động, tạo ra một khối lượng nông sản phẩm hàng hoá lớn, tập trungthuận lợi cho chế biến sản phẩm xuất khẩu Cơ cấu kinh tế Thái Lan chuyển dịchđược như vậy cũng một phần nhờ vào chính sách phát triển ngành nghề thủ côngtruyền thống và công nghiệp nông thôn Nhiều ngành sản xuất thủ công được duy trìphát triển mạnh, tạo ra nhiều sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu như chếtác vàng bạc, đá quý, nghề gốm sứ cổ truyền Còn công nghiệp nông thôn Thái Lan
là các xí nghiệp vừa và nhỏ có từ 10- 30 công nhân sản xuất các máy nông cụ vàđộng cơ cỡ nhỏ Ưu tiên chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôncủa Thái Lan trong những năm qua đều hướng vào xuất khẩu, vì thế các vùng trọngđiểm nông nghiệp đã tạo ra một khối lượng nông sản xuất khẩu khá lớn Tỷ trọng hànghoá nông sản của các trang trại nước này từ những năm 80 đã chỉ ra điều đó:
- Lúa gạo sản xuất 20 triệu tấn/năm, trong đó xuất khẩu 5 triệu tấn/năm
- Cao su sản xuất ra 850.000 tấn/năm, trong đó xuất khẩu 760.000 tấn/năm,bằng 89,4%
- Tôm sản xuất ra 107.000 tấn/năm, trong đó xuất khẩu 28.000 tấn/năm,bằng 26,1%
Trang 33Ngoài ra phải kể đến sự hỗ trợ của Nhà nước bằng các biện pháp quản lý vĩ
mô thông qua các công cụ kinh tế nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Mặc
dù Chính phủ đã chủ trương thực hiện cơ chế thị trường với mọi loại sản phẩm hànghoá nhưng vẫn quan tâm đến sự ổn định giá vật tư nông nghiệp và lương thực, thểhiện là có thành lập một Uỷ ban Nhà nước về giá gạo và được vay vốn ưu đãi đểmua lúa gạo với giá cao hơn giá thị trường để dự trữ hoặc nông dân được vay vốnđầu tư sản xuất với lãi suất thấp khi giá thóc rẻ, đến khi thóc đắt họ sẽ bán thóc đểhoàn lại vốn vay (Năm 1990 Ngân hàng Nông nghiệp Thái Lan đã cho nông dânvay 1,3 tỷ USD với lãi suất thấp để đầu tư phát triển sản xuất Chính phủ coi khoảnđầu tư đó là then chốt để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn)
Từ nghiên cứu thực tế công nghiệp hoá nông nghiệp nhằm chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn của Thái Lan trong 40 năm qua có thể rút ra bài học kinhnghiệm sau đây:
- Thực hiện đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp trên cơ sở ưu thế về tàinguyên thiên nhiên để phục vụ cho xuất khẩu, trong đó vẫn đảm bảo ổn định sảnxuất lương thực
- Đầu tư kịp thời công nghệ chế biến nông sản hiện đại bằng nguồn vốn vayhay hợp tác nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu, đảm bảo quyềnlợi và trách nhiệm rủi ro cho nông dân, giữ được chữ tín với khách hàng
- Cho đến giai đoạn phát triển kinh tế ở mức độ cao, trọng tâm của chínhsách hiện đại hoá đất nước đã chuyển sang sản xuất sản phẩm công nghệ cao nhưngChính phủ vẫn quan tâm đến phát triển nông nghiệp, nông thôn như đổi mới côngnghệ sinh học, bảo quản và tiêu thụ nông sản (gạo, rau quả, thịt, tôm ) và hỗ trợnông dân đầu tư phát triển dưới nhiều hình thức
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt ở mức cao nhất tronglịch sử ở 5 năm đầu tiên chính thức thực hiện các cam kết với Tổ chức Thương mạithế giới WTO (2001-2005), hiện nay có nền kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới,thu nhập bình quân trên đầu người tăng gấp đôi so với giai đoạn trước đó, đặc biệthầu hết các nguy cơ cảnh báo trước khi gia nhập WTO đều không xảy ra
Trang 34Qua 20 năm cải cách nông nghiệp, Trung Quốc đã xây dựng một nền nôngnghiệp theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững, đã thu được những bài họckinh nghiệm quý báu về lý luận lẫn thực tiễn, đó là bảo đảm quyền tự chủ, phát huytính tích cực của nông dân; phát triển nhiều loại sở hữu kinh tế trong đó công hữu làchủ thể, thực hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán gia đình, táchquyền sử dụng với quyền sở hữu; cải cách theo hướng thị trường, tạo sức sống mớicho kinh tế nông thôn; khuyến khích nông dân phát triển sản xuất hàng hóa theohướng thị trường; tôn trọng tinh thần sáng tạo của nông dân, thúc đẩy sự nghiệp cảicách, khoán chế độ trách nhiệm đến hộ gia đình và phát triển các xí nghiệp, coitrọng cao độ nông nghiệp kết hợp cải cách nông thôn và cải cách thành thị Nềnnông nghiệp của Trung Quốc đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh cổ truyềnvới một hệ thống công cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồnlao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm sản xuất công nghiệp tự túc, tự cấp có hiệuquả cao Nhờ phát triển công nghệ sinh học, tạo ra các giống lúa lai “ thế hệ 1”, “thế hệ 2”, “ thế hệ 3” dẫn đến bước nhảy vọt về năng suất lúa, sản lượng lương thực
và năng suất lao động Nhờ vậy sản lượng lương thực của Trung Quốc vượt mức
435 triệu tấn và mức bình quân lương thực đạt 390kg/người đứng vào loại cao nhấtchâu Á Chính sách khoa học - kỹ thuật phục vụ nông nghiệp của Trung Quốc tậptrung vào những vấn đề như giống, đào tạo cán bộ chuyên môn kỹ thuật cao, tổchức tốt các mô hình triển khai công nghệ sản xuất nông nghiệp và gửi nhiều người
đi du học ở những nước có nền nông nghiệp công nghiệp hoá cao (như Anh, Mỹ)nhằm tiếp thu tinh hoa khoa học - công nghệ hiện đại Ước tính trong thập kỷ 90của thế kỷ 20 tiến bộ khoa học - công nghệ đóng góp tới 30% tổng số giá trị giatăng của nông nghiệp Trung Quốc
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ấn Độ là nước đông dân nhất vùng Nam Á và đứng thứ hai thế giới (sauTrung Quốc) Tuy có truyền thống sản xuất nông nghiệp nhưng thời kỳ đầu mớigiành độc lập, đất nước này thường xuyên bị nạn đói đe dọa Sớm nhận thấy vai tròcủa nông nghiệp trong phát triển kinh tế đất nước nên từ kế hoạch 5 năm lần thứnhất Chính phủ đã đề cập đến vấn đề công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn
Trang 35Năm 1977 Chính phủ Ấn Độ cụ thể hoá danh mục sản phẩm công nghiệp nông thôn
và chủ trương phát triển các ngành nghề phù hợp với yêu cầu thiết thực sau:
- Ngành nghề đó phải nhằm vào khai thác sử dụng nguyên vật liệu tại chỗhoặc có trong nước, hạn chế các ngành phải sử dụng nguyên vật liệu nhập ngoại
- Các ngành nghề có yêu cầu thiết bị đơn giản, công nghệ phù hợp với trình
độ tay nghề của nông dân, thu hút rộng rãi các tầng lớp lao động ở nông thôn
- Những ngành nghề đòi hỏi không nhiều vốn đầu tư mà cần nhiều lao động
- Quy mô sản xuất thích hợp với gia đình về lao động, tiền vốn, nhà xưởng
và trình độ quản lý
Những yêu cầu đặt ra trên đây là xuất phát từ điều kiện kinh tế nói chung,nông nghiệp, nông thôn Ấn Độ nói riêng Do vậy, thế mạnh các ngành tiểu thủ côngtruyền thống được khơi dậy ở các địa bàn nông thôn như chế biến nông sản, thựcphẩm, sản xuất các hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, nguyên liệu cho sảnxuất công nghiệp, công cụ cho sản xuất nông nghiệp Có tới 73% số xí nghiệp sảnxuất các sản phẩm công nghiệp nông thôn và thu hút tới gần 70% lao động làm việctrong các xí nghiệp này Nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn,Chính phủ Ấn Độ đã lồng ghép các chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp(bằng các cuộc cách mạng xanh rồi cách mạng trắng) với chương trình công nghiệpnông thôn thành chương trình phát triển nông thôn tổng hợp Thời gian thực hiệnchương trình tổng hợp này trong 10 năm (1980 - 1990) đã tạo việc làm cho 15 triệu
hộ gia đình và cải thiện đời sống nghèo đói của gần 100 triệu người
Đồng thời với các chương trình của nông thôn, Chính phủ còn quan tâm pháttriển các ngành công nghiệp nặng nhằm hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn phát triểntheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoánhằm vào sinh học hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá trongnông nghiệp Công nghiệp hoá nông nghiệp đã làm cho sản phẩm lương thực tăngbình quân 3%/năm trong những năm 80 Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thônkhông chỉ nhằm vào tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm mà cònkhông ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường trong vàngoài nước Nhiều nông sản chế biến của Ấn Độ như gạo, lúa mì, sữa, da, lông được thị trường thế giới ưu chuộng
Trang 36Trong nửa thế kỷ qua Ấn Độ đã đạt được những kỳ tích trong lĩnh vực giảiquyết lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng khác thông qua các chương trìnhphát triển kinh tế của Chính phủ Một trong những chương trình luôn được chínhphủ và nhân dân Ấn Độ quan tâm thực hiện là chương trình tạo việc làm, xóa đói,giảm nghèo ở khu vực nông thôn, coi nông nghiệp nông thôn là cơ sở phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước Tuy rằng các ngành nghề truyền thống và công nghiệpnông thôn hiện vẫn chưa thu hút được nhiều lao động như các nước khác trong cùngchâu lục nhưng cũng có thể coi đó là một bài học khá điển hình trong công cuộcphát triển kinh tế nông thôn của một nước đông dân như Ấn Độ.
1.2.2 Những vấn đề rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn của các nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững
Qua phân tích, nghiên cứu kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn ở các nước đã cho chúng ta thấy được những nội dung hết sức quan trọng cơbản để lựa chọn, học tập và áp dụng vào quá trình phát triển, chuyển dịch cơ cấukinh tế nông thôn ở huyện Sông Lô cụ thể như sau:
- Thứ nhất: Cần quan tâm, đầu tư thích đáng cho nông nghiệp, nông thôn.
Việc đầu đầu tư cho khu vực nông nghiệp là yếu tố cần thiết để phát triển một nềnnông nghiệp hiện đại Để nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành nông nghiệp cần đầu
tư xây dựng hệ thống thủy lợi, nghiên cứu cây trồng, vật nuôi có năng xuất và hiệuquả cao …
- Thứ hai: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải thực hiện
phân công và phân công lại lao động xã hội cho phù hợp Đặc biệt là phát triển côngnghiệp nông thôn, phát triển các ngành nghề nông thôn đa dạng, phong phú, giải quyếthàng tiêu dùng cho thị trường nông thôn, tạo việc làm cho lực lượng lao động dư thừa,góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường nông thôn
- Thứ ba, phát triển nền nông nghiệp phải phù hợp với quy luật của thị
trường Ngành nông nghiệp được coi là một ngành kinh tế trong nền kinh tế quốcdân Thực tiễn đã chứng minh, Trung Quốc và Thái Lan đã thương mại hóa các sảnphẩm nông nghiệp rất thành công Việc đưa sản phẩm nông nghiệp ra thị trường sẽgóp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Với nền nông nghiệp tự cung, tự
Trang 37cấp các sản phẩm làm ra chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu của bản thân người sản xuất.Nhưng đối với nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm sản xuất ra đều phải tuân theoquy định của thị trường sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất và lưu thông cácsản phẩm nông nghiệp
- Thứ tư, Kinh tế hộ, kinh tế trang trại là tiền đề để thực hiện phát triển kinh
tế nông thôn Kinh tế hợp tác xã có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế hộ và tạo điềukiện rất lớn cho kinh tế hộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Sự kết nối giữacông nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình thực hiệnphát triển kinh tế nông thôn
Trang 38Chương 2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG THÔN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Tại sao phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững? Làmthế nào để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững?
- Những kết quả đạt được trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôncủa huyện Sông Lô trong những năm qua, nguyên nhân, tồn tại cần phải giải quyết?
- Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vữngtrước yêu cầu thực tiễn cần phải làm gì? Có những giải pháp nào?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Dựa trên những nguồn số liệu sẵn có để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.Nguồn số liệu này có thể được thu thập từ các nguồn sau:
- Từ các địa phương trong huyện
- Từ các phòng, ban, ngành của huyện có liên quan
- Từ các công trình nghiên cứu
- Từ các nguồn tài liệu khác như: Niên giám thống kê Việt Nam; niên giámthống kê của tỉnh, tạp chí, sách, báo, báo điện tử…
2.2.2 Phương pháp phân tích
2.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc mô tả thôngqua các số liệu thu thập được Phương pháp này được sử dụng để phân tích tình hìnhchuyển dịch cơ câu kinh tế - xã hội của huyện
Nguồn dữ liệu thống kê, cũng như việc kế thừa kết quả nghiên cứu trước đó
là những thông tin cơ sở quan trọng cho đề tài này
2.2.2.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu kinh tế;trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp này để xác định mức độ chuyển dịch cơcấu kinh tế của huyện thông qua các năm 2009, 2010, 2011, 2012 Phương pháp này
Trang 39dùng để đối chiếu các chỉ tiêu, hiện tượng kinh tế khách quan đã được lượng hóacùng nội dung và tính chất tương tự thông qua các tỷ số, so sánh các nguồn khácnhau về thời gian, không gian để có nhận xét đúng đắn về sự chuyển dịch cơ cấukinh tế nông thôn huyện Sông Lô.
2.2.2.3 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp nghiên cứu xem xét đánhgiá những kết quả, thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ, từ đó rút ra kếtluận bổ ích cho hoạt động thực tiễn hiện tại và tương lai, cho nghiên cứu khoa học.Thường nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm đi vào nghiên cứu các diễn biến và nguyênnhân của các sự kiện, ở đây tác giả nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôncủa huyện Nghiên cứu các giải pháp mà trước đó đã áp dụng trong giải quyết việcnâng cao hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bềnvững để từ đó tìm ra giải pháp có tính khả thi, tương đối hoàn hảo đối với việc nângcao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vữnghuyện Sông Lô
2.2.3 Phương pháp sử lý thông tin
Sau khi thu thập, toàn bộ những thông tin thứ cấp được kiểm tra ở ba khíacạnh: đầy đủ, chính xác kịp thời và khẳng định độ tin cậy Toàn bộ thông tin số liệuđều được kiểm tra, và tính toán, xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu thông qua phầnmềm Microsoft Office Excel Sau đó, dùng để so sánh, đánh giá và rút ra kết luậncần thiết
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững
2.2.4.1 Chỉ tiêu về phát triển kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Tỷ trọng ngành lĩnh vực (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) ở nông thôn
- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Trang 402.2.4.2 Các chỉ tiêu phát triển xã hội
- Cơ cấu lao động trong các ngành ở nông thôn (nông nghiệp, công nghiệp,dịch vụ)
- Tỷ trọng lao động nông nghiệp, lao động di cư đi làm việc nơi khác
- Chỉ tiêu về giáo dục, đào tạo (tỷ lệ học sinh tiểu học nhập học, số trườnghọc, tỷ lệ lao động qua đào tạo…)
- Chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe (số giường bệnh/1 vạn dân, số trạm y tế có bác
sỹ, tỷ lệ người dân có bảo hiểm y tế)
- Tỷ lệ hộ nghèo
2.2.4.3 Chỉ tiêu về môi trường
- Tỷ lệ rác thải được thu gom
- Tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch
- Tỷ lệ sử dụng phân hữu cơ
- Tỷ lệ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
2.2.4.4 Các chỉ tiêu về điều kiện bảo đảm phát triển bền vững
- Vốn đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn
- Lao động qua đào tạo nghề ở nông thôn
- Quy mô đất canh tác bình quân/1 hộ
- Năng lực cơ sở hạ tầng ở nông thôn (điện, giao thông, thủy lợi…)
- Cơ sở sản xuất giống (trạm, trại)
- Chợ nông thôn
- Quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật