Bùi Hệ ThốngKhoa Cơ khí, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà NẵngTóm tắt - Nghiên cứu này nhằm xác định sự phân bố áp suấtgiữa các loại ghế ngồi và mông-đùi cơ thể người nhằm đá
Trang 11 HỘI NGHỊ TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ NHÓM SRT NĂM HỌC 2019-2020
MÔ HÌNH HÓA PHÂN PHỐI ÁP LỰC CỦA TẢI TRỌNG CƠ THỂ NGƯỜI
TRÊN GHẾ NGỒI
MODELING OF THE PRESSURE DISTRIBUTION OF THE BODY LOADING ON THE
SEAT
SVTH: Nguyễn Quang Hợp 1 , Trần Xuân Lộc 1 , Nguyễn An 2
1 Lớp 17CTM1, 2 Lớp 18C1, Khoa Cơ Khí, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng
GVHD: TS Bùi Hệ Thống
Khoa Cơ khí, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt - Nghiên cứu này nhằm xác định sự phân bố áp suất
giữa các loại ghế ngồi và mông-đùi cơ thể người nhằm đánh giá,
để cải thiện sự thoải mái và nâng cao năng suất công việc.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình hóa và mô phỏng
phần tử hữu hạn sự tương tác giữa ghế gỗ, ghế đệm và
mông-đùi nhằm xác định các yếu tố có thể gây nên áp lực như là: áp
suất tại bề mặt mông-đùi và đệm, ứng suất bên trong mông-đùi,
phân bố tại bề mặt tương tác Trong nghiên cứu, một mô hình
phần tử hữu hạn cơ y sinh 3 chiều (3D) gồm cơ thể người và các
loại ghế làm từ vật liệu như gỗ và đệm sử dụng Mô phỏng số
được thực hiện bằng phần mềm Abaqus® 6.14 Các kết quả thu
được trong trong nghiên cứu sẽ chỉ ra các trị số về áp lực, ứng
suất bên trong đùi, ứng suất cắt phân bố tại bề mặt
mông-đùi và các loại ghế, nhằm giúp người ngồi có được một tư thế
ngồi thoải mái hơn trong công việc.
Abstract - This study aims to determine the distribution of
pressure between the seat types and the buttocks-thigh tissue of the human body for evaluation, to improve comfort and enhance work productivity The research uses a finite element modeling and simulation of the interaction between wooden chairs, cushioned chairs and buttocks-thigh tissue to identify factors that can cause pressure such as: pressure distribution at the buttocks-thigh tissue surface and cushion surface, stress of buttocks-buttocks-thigh tissue and shear stress distribution at the interaction surface In the study, a 3-dimensional biomedical (3D) biomedical element model composed of the human body and seat types which made from materials like wood and polyurethane foam cushion used The numerical simulation is performed via the Abaqus® 6.14 software The results obtained in the study will indicate the value
of pressure, stress on the buttocks-thigh, shear stress distribution
at the surface of the buttocks-thigh and chairs, to help passengers get a more comfortable posture at work.
Từ khóa - ghế gỗ; ghế đệm; mô mông-đùi; phần tử hữu hạn;
mô hình hóa; mô phỏng element; modeling; simulation.Key words - wooden chairs; sofa; buttocks-thigh tissue; finite
1 Đặt vấn đề
Theo Mayo Clinic, phân tích 13 nghiên cứu đã kết
luận rằng, thời gian ngồi và mức độ hoạt động được tìm
thấy ở những người ngồi hơn 8 giờ mỗi ngày mà không
có hoạt động thể chất nào có nguy cơ tử vong tương tự
như nguy cơ tử vong do béo phì và hút thuốc [1] Do tính
chất công việc nên nhân viên văn phòng thường ngồi
nhiều và liên tục tại vị trí làm việc, điều này dẫn đến cơ
thể mỏi mệt, xuất hiện các triệu chứng đau cổ vai gáy,
lưng và hông cảm giác tê buốt vùng mô đêm phần mô
mông và phần xương chậu Chính vì vậy, việc lựa chọn
ghế ngồi làm việc vừa đảm bảo sự thoải mái, vừa tốt cho
sức khỏe luôn là điều cần thiết đối với mỗi nhân viên văn
phòng nói riêng và cách chọn vật liệu làm ghế cũng như
là tư thế ngồi sao cho thích hợp mạng lại hiệu quả công
việc cũng như sức khỏe cho người sử dụng
Trong bài báo này, mô hình phần tử hữu hạn 3 chiều
(3D) được sử dụng để định lượng các yếu tố phân phối áp
lực do tải trọng cơ thể người tương tác với bề mặt ghế
ngồi và đệm ghế Mục đích chính của nghiên cứu này là
xác định các yếu tố có thể gây ra cảm giác nhức trên phần
mô mông và áp lực tác dụng lên mô cơ tại vùng xương
chậu như: áp suất tại bề mặt mông – đùi, ứng suất von
Mises, áp suất cắt do ma sát gây ra…
2 Cơ sở lý thuyết.
2.1 Mô hình mông- đùi và các loại ghế
Mô hình mô mông-đùi cơ thể người được chọn dựa trên tiêu chuẩn ISO 16840-2: 2007 [2] từ mô hình “cơ thể người” có liên quan đến vị trí ngồi được sử dụng bởi [3-4] Mô hình này được thiết kế bởi phần mềm SolidWorks như hình 1 Do sự phức tạp của cấu trúc hình học của mông-đùi cơ thể người, nên nhóm tác giả sử dụng trong nghiên cứu này một mô hình 3D đồng nhất hóa gồm mô
cơ có thể biến dạng, có khối lượng là 75 kg để thực hiện
mô phỏng số
Hình 1: Mô hình cơ thể người sử dụng ghế đệm
Ghế ngồi được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm hai loại ghế, loại thứ nhất là ghế có tựa lơn cở cao sử dụng một loại đệm bọt ‘‘Polyurethane’’ (PUR), được sử
Trang 2Nguyễn Quang Hợp, Trần Xuân Lộc, Nguyễn An 2 dụng khá phổ biến trên thị trường, với kích thước của ghế
là: Lg x Wg x Hg = 670 x 520 x 822 và của tấm đệm trung
bình là: Lđ x Wđ x Hđ (dài x rộng x cao) = 670 x 520 x 100
mm được đặt cố định trên bề mặt của ghế và tiếp xúc có
ma sát với mông-đùi cơ thể người (Hình 1) Loại ghế thứ
hai được sử dụng trong nghiên cứu là loại ghế gỗ có chất
lượng thường (gỗ thông) không sử dụng đệm lót với bề
dày mặt đáy ngồi là 30 mm, chiều cao toàn ghế là
800mm, chiều rộng phủ bề là 500mm(Hình 2)
Cả hai loại ghế được sử dụng trong nghiên cứu này
được thiết kế trên phần mềm Solidworks®
Hình 2: Mô hình cơ thể người trên ghế gỗ
2.2 Vật liệu sử dụng trong mô hình
Vật liệu của ghế gỗ được sử trong nghiên cứu này (chọn
là gỗ thông) có thuộc tính cơ học là: không tuyến tính,
đẳng hướng, đàn hồi, và nén được với hệ số poisons là:
= 0.25; module đàn hồi E = 8963MPa; và khối lượng
riêng: = 650 kg/m3 Với phương trình năng lượng – biến
dạng đàn hồi W1 được xác định theo Neo-Hookean như
sau:
W1= μ
2 ( I1−3 ) (1) Đối với ghế xoay sử dụng tấm đệm lót bằng vật liệu
Polyurethane foam (PUR) Vật liệu đệm PUR là siêu đàn
hồi, không tuyến tính, đẳng hướng, và nén được
Mối quan hệ giữa sự ứng suất và biến dạng được biểu
diễn bằng phương trình năng lượng-biến dạng đàn hồi W2,
như sau:
i i i
N
el i
J
Trong đó, W – trạng thái năng lượng của vật liệu biến dạng, N – bậc của đa thức năng lượng biến dạng, N=1, 2,
3 tương ứng, μi, αi, βi - các tham số vật liệu phụ thuộc nhiệt độ, i = 1,2, 3; λi - Tỷ lệ co giãn chính, i =1, 2, 3, Jel
-tỷ lệ thay đổi thể tích của biến dạng đàn hồi và biến dạng nhiệt, tương ứng Trong bài báo này, năng lượng biến dạng được sử dụng gồm 2 bậc (N=2) Đặc tính vật liệu PUR được xác định bởi thí nghiệm nén đơn trục và thí
nghiệm cắt đơn giản Thông số hyperfoam của vật liệu
đệm (PUR) [8] được sử dụng trong mô phỏng bởi phần mềm ABAQUS® được tóm gồm các thông số sau: 1
μ =164,861 kPa;α =8,88413 kPa ;1 β =01 và 2
μ =0,023017 kPa; α =-4,818 kPa ; 2 β =0 ;2 Ngoài ra đối với vật liệu PUR còn có đặc tính đàn hồi nhớt, được xác định dựa vào chuỗi Prony theo thời gian cho mô đun cắt được sử dụng Do phụ thuộc thời gian của
mô đun khối lượng thường khá nhỏ (0) đối với loại vật liệu này, nên đặc tính siêu đàn hồi của mô hình vật liệu được giới hạn trong mô đun cắt Trong nghiên cứu này,
mô đun cắt phụ thuộc thời gian, G (t), được định nghĩa theo thuật ngữ của mô đun cắt tức thời, G0, như sau:
1
i
i
t i
(3)
Ở đó
G i
là thời gian và N là thứ tự của chuỗi Prony.
G0 và Gi tương ứng là mô đun cắt tức thời và tương đối, N
là số bậc của chuỗi Prony (N=2, trong nghiên cứu này) Các thông số đàn hồi nhớt được sử dụng trong bài báo này được trích dẫn từ [5, 8] như sau:
Do sự phức tạp lớn tồn tại trong tính chất vật liệu của
cơ thể người Để đơn giản hóa tính chất vật liệu như nhóm tác giả đã trình bày ở trên: một mô hình đồng nhất hóa mô mềm cơ thể người đã được sử dụng, với tính chất vật liệu là không tuyến tính, đẳng hướng, đồng nhất và gần như không nén được, có thuộc tính siêu đàn hồi với phương trình biến dạng lớn cho vật liệu của mô mông-đùi theo các tài liệu tham khảo [3-5, 8] Mô hình siêu đàn hồi Mooney – Rivlin được sử dụng cho hành vi cơ học của mô cơ mông-đùi Mô hình được dựa trên sự biến thiên năng lượng biến dạng như được định nghĩa trong phương trình sau:
2
1
2 ( 3) ( 3) ( 1)
D
(4)
U là năng lượng biến dạng trên một đơn vị thể tích;
C10, C01 - Các tham số vật liệu được sử dụng để mô tả các đặc tính cắt của vật liệu, D1 - Thông số vật liệu được sử dụng để mô tả độ nén của vật liệu, Ī1, Ī2 - Hai bất biến của dạng đẳng động tensors của chủng Cauchy-Green, J – là khối lượng thay đổi tỷ lệ vật liệu sau và trước khi biến dạng ´I1=´ λ12+ ´ λ22+ ´ λ32
Các thông số vật liệu cho mô mông-đùi được lấy từ [3-4, 7] với Poisson 0.495 (Bảng 1)
Bảng 1 Thông số siêu đàn hồi Mooney–Rivlin của
mô mông-đùi
Trang 33 HỘI NGHỊ TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ NHÓM SRT NĂM HỌC 2019-2020
C10 (MPa) C01 (MPa) D1 (MPa -1 )
Tương tự như đặc đàn hồi nhớt của vật liệu mô
mông-đùi được xác định tương tự như vật liệu PUR của đệm
ghế ngồi, bằng cách sử dụng mô hình chuỗi Prony theo
thời gian như phương trình (3) Các thông số đàn hồi nhớt
cho vật liệu của mô mông-đùi được thiết lập là g1 = 0,5,
k1 = 0,5 và τ1 = 0,8 s [5, 8]
2.3 Tương tác giữa mông - đùi vào bề mặt ghế
Sự tương tác giữa mô mông-đùi và đệm xe lăn được
phân tích trong ABAQUS®/ Explicit 6.14 sử dụng thuật
toán cặp tiếp xúc Sự tương tác của cặp tiếp xúc được xác
định bởi bề mặt của mô mông-đùi với bề mặt đệm ghế ngồi
PUR và bề mặt ghế gỗ Trong nghiên cứu này, nhóm tác
giả đã sử dụng một thuật toán liên hệ bằng phương pháp
hình phạt với sự trượt hữu hạn (ma sát Coulomb) cho mô
phỏng số Dạng tiếp xúc là ‘‘bề mặt với bề mặt’’, hệ số ma
sát giữa bề mặt mông đùi và đệm ghế ngồi là 0,5 [6-7] và
bề mặt ghế gỗ là 0,3 được sử dụng nhằm xác định cặp tiếp
xúc của mô hình “mông-đùi” và “đệm ghế/ghế gỗ” Bề mặt
trên của mô mông-đùi được liên kết với một tấm bề mặt
cứng nhắc bằng cách tiếp xúc “dính kết”
Hình 3: Mô hình tương tác –điều kiện biên mông đùi với
ghế gỗ (a) và ghế có đệm (b)
2.1 Tải trọng áp dụng và điều kiện biên
Tải trọng được áp dụng trong bài báo này là một cơ thể
người có khối lượng 75 kg như đã giới thiệu ở trên Do
tính chất sự đối xứng của mô hình tính toán, chúng tôi giả
định rằng trong mô phỏng số mô hình tính toán đối xứng
tuyệt đối, để giảm thời gian tính toán cho mô hình số,
chúng tôi sử dụng một nữa mô hình mông đùi và một nữa
hai loại ghế ngồi (ghế gỗ và ghế có đệm Bề mặt đáy của
ghế có đệm được cố định cứng và không cho di chuyển,
đối với ghế gỗ chân ghế được cố định chặt không cho di
chuyển Mô cơ thể người (mông-đùi) được xét trong
trường hợp ngồi tĩnh tại và tương tác có ma sát với đệm
ghế PUR và ghế gỗ, đồng thời có thể xoay quanh trục X
và tịnh tiến theo trục Y Gia tốc trọng trường g = 9.81
m/s2 được áp dụng cho trường hợp của nghiên cứu
Hình 4: Mô hình lưới phần tử hữu hạn giữa mông-đùi và 2
loại ghế; a) ghế gỗ, b) ghế có đệm
Trong mô hình phần tử hữu hạn hình 4.a, giữa mông – đùi và ghế gỗ, sử dụng loại phần tử tứ diện C3D4 với số phần tử là 80280 phần tử (tetrahedral elements) và 80 phần tử tam giác (triangular elements R3D3) với tổng số nodes là 18569 Tương tự, trong mô hình phần tử hữu hạn hình 4.b, giữa mông-đùi và ghế đệm, sử dụng loại phần tử
tứ diện C3D4 với số phần tử là 132857 phần tử (tetrahedral elements) và 234 phần tử tam giác (triangular elements R3D3) với tổng số nodes là 26579
3 Kết quả và thảo luận.
3.1 Áp lực tiếp xúc.
Hình 5, thể hiện áp lực tiếp xúc lớn nhất là 36,6 kPa được tập trung tại bề mặt mô mông-đùi cơ thể người/ghế
có đệm PUR nơi mà trọng lượng cơ thể tập trung nhiều nhất
Hình 5: Áp lực phân bố tại bề mặt mông-đùi/ghế đệm
Trong cùng điều kiện mô hình hóa ở cùng vị trí ngồi, kết quả của thể hiện ở hình 6 cho thầy giá trị áp lực lớn nhất khi sử dụng ghế gỗ là: 47,3 kPa Điều này cho thấy
sự giảm áp lực tiếp xúc khoảng 1,3 lần trong trường hợp nếu sử dụng ghế ngồi có lớp đệm PUR dày 10mm Chứng
tỏ rằng việc sử dụng vật liệu đệm và cấu trúc đệm cho ghế ngồi là rất quan trọng trọng việc giảm áp lực phân bố Đây là một trong những yếu tố góp cải thiện chất lượng của vị trí ngòi làm việc để nâng cao hiệu quả công việc đối với nhân viên văn phòng
b) a)
b) a)
Trang 4Nguyễn Quang Hợp, Trần Xuân Lộc, Nguyễn An 4
Hình 6: Áp lực phân bố tại bề mặt mông-đùi/ghế gỗ
3.2 Phân bố áp suất cắt
Các kết quả được thể hiện ở hình số 7 và 8, cho thấy
ứng suất cắt trên bề mặt mông – đùi khi sử dụng hai loại
ghế gỗ và ghế có đệm PUR tương ứng với các hệ số ma
sát đã nêu ở trên
Hình 7: Áp suất cắt tại bề mặt tiếp xúc trên mông-đùi/ghế
có đệm PUR
Trong mô hình nghiên cứu, giá trị áp suất cắt phân bố
lớn nhất tại bề mặt mông – đùi khi sử dụng ghế có đệm
PUR là: 7,7 kPa So sánh với áp suất cắt tại bề mặt
mông-đùi trong trường hợp sử ghế gỗ với áp suất cắt là: 10,81
kPa Điều này được giải thích là trong trường hợp nghiên
cứu này, cấu trúc của lớp đệm đệm PUR dày 10mm làm
giảm đáng kể giá trị áp suất cắt tại bề mặt mông – đùi
Đây là cơ sở để cải thiện sự thoải mái khi ngồi liên tục
tại vị trí làm việc của nhân viên văn phòng
Hình 8: Áp suất cắt tại bề mặt tiếp xúc trên mông-đùi/ghế
gỗ
3.1 Ứng suất bên trong mô mông-đùi
Trong nghiên cứu này, ứng suất von Mises tập trung ở
mông-đùi và hai loại ghế được xác định bằng phương
pháp phần tử hữu hạn Hình 9 và hình 10 cho thấy sự
phân bố của ứng suất tương đương von Mises chủ yếu ở
bề mặt tương tác giữa mông-đùi và hai loại ghế sử dụng
(ghế gỗ và ghế có đệm PUR)
Hình 9 Ứng suất von Mises đối với mông-đùi/ghế có đệm
PUR
Giá trị ứng suất von Mises lớn nhất tương ứng với 2 trường hợp này lần lượt là : 1,6 MPa khi sử dụng ghế gỗ
và 150 kPa khi sử dụng ghế có đệm dày 10cm
Hình 10 : Ứng suất von Mises đối với mông-đùi/ghế gỗ
4 Kết luận
Một phương pháp phần tử hữu hạn ba chiều đã được phát triển cho 2 mô hình ghế đệm và ghế gỗ với mông-đùi
cơ thể người Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng đệm loại PUR được sử dụng là thích ứng với khả năng giảm áp lực, ứng suất, áp lực cắt tại bề mặt tương tác so với ghế gỗ, điều này sẽ giúp cải thiện sự thoải mái Bước tiếp theo của nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ tích hợp mô hình 3D có xét đến sự ảnh hưởng của lớp da và hệ xương,
để định lượng áp suất cắt với các hệ số ma sát tiếp xúc thay đổi và áp lực bên trong mô và xương Đồng thời đánh thực hiện mô phỏng đánh giá các tư thế ngồi khác nhau đến sự thay đổi của áp lực bằng mô phỏng số và thực nghiệm trên một số đối tượng
Tài liệu tham khảo
[1] https://www.forbes.com/sites/nicolefisher/2019/03/06/americans-sit-more-than-anytime-in-history-and-its-literally-killing-us/
#37032dfa779d.
[2] Norme ISO, 2007 Wheelchair seating Part 2: Determination of physical and mechanical characteristics of devices intended to manage tissue integrity Seat cushions.
[3] Bui, H.T., Pradon, D., Lestriez, P., Debray, K and Taiar, R.,
2018 The prevention of pressure ulcers: biomechanical modelization and simulation of human seat cushion
ontributions Springer as Lecture Notes in Mechanical
Engineering 80, 1157-1170.
Trang 55 HỘI NGHỊ TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ NHÓM SRT NĂM HỌC 2019-2020 [4] Bui, H.T., Lestriez, P., Pradon, D., Debray, K and Taiar, R.,
2018 Biomechanical modeling of medical seat cushion and
human buttock-tissue to prevent pressure ulcers Russian Journal
of Biomechanics, 22 (1), 37-47.
[5] Tang, C.Y., Chan, W and Tsui, C.P, 2010 Finite element
analysis of contact pressures between seat cushion and human
buttock–thigh tissue Engineering, 2(9), 720–731.
[6] Verver, M.M., Van Hoof, J., Oomens, C.W.J., Wismans, J.S.H.M.
and Baaijens, F.P.T, 2004 A finite element model of the human
buttocks for prediction of seat pressure distributions Computer
Methods in Biomechanics and Biomedical Engineering, 7(4), 193–
203.
[7] Mohanty, P.P and Mahapatra, S.S, 2014 A finite element approach for analyzing the effect of cushion type and thickness on
pressure ulcer International Journal of Industrial Ergonomics,
44(4), 499–509.
[8] Grujicic, M., Pandurangan, B., Arakere, G., Bell, W.C., He, T and Xie, X., 2009 Seat-cushion and soft-tissue material modeling and a finite element investigation of the seating comfort for
passenger-vehicle occupants Materials & Design 30(10), 4273–
4285.
[1]