Thực trạng công tác chuẩn bị tâm lý và vệ sinh cá nhân cho người bệnh của Điều dưỡng trước phẫu thuật có kế hoạch tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí………...282.Đề xuất một số giải
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Phẫu thuật : là một kỹ thuật y tế được thực hiện với mục đích để chẩn đoán bệnh, điều trị, chỉnh hình, ghép tạng, giảm đau… được tiến hành phổ biến trong chăm sóc NB [6].
1.1.1.2 Công tác chuẩn bị người bệnh phẫu thuật:
Việc lờn kế hoạch và ủỏnh giỏ tỡnh trạng NB trước phẫu thuật dựa trờn tuổi tác, giới tính và tình trạng bệnh giúp cho NB có trạng thái tốt nhất, yên tâm sẵn sàng phẫu thuật [25] Chuẩn bị trước phẫu thuật là chuẩn bị trên hai phương diện: tinh thần và thể chất cho NB [23] Sự thành công của cuộc phẫu thuật phần lớn nhờ vào chuẩn bị trước phẫu thuật, do vậy rất cần ủến sự chuẩn bị chu ủỏo trước phẫu thuật ủặc biệt là chuẩn bị NB trước phẫu thuật [19].
1.1.1.3 Phân loại phẫu thuật theo thời gian
Bệnh ngoại khoa luôn được phân loại phẫu thuật tuỳ vào tình trạng bệnh lý, từng hoàn cảnh NB, yêu cầu NB và tình huống NB cần được phẫu thuật cấp cứu hay phẫu thuật chương trình:
-Phẫu thuật cấp cứu phải giải quyết trong vòng vài giờ, hoặc nếu tối khẩn thỡ phải giải quyết ngay như trong chảy mỏu ủộng mạch…
- Phẫu thuật trì hoãn khi NB có bệnh lý cần phẫu thuật cấp cứu nhưng do bệnh lý cần phải chờ một khoảng thời gian để thầy thuốc theo dõi, điều trị, hồi sức, chăm sóc trước khi phẫu thuật.
- Phẫu thuật có kế hoạch: tuỳ vào bệnh lý không cần phẫu thuật ngay, tuỳ từng
NB muốn phẫu thuật lúc nào Thường NB chọn ngày, giờ phẫu thuật và có sự chuẩn bị trước Người bệnh có thể nhập viện để chuẩn bị trước phẫu thuật hoặc chỉ nhập viện một ngày trước phẫu thuật….nhưng tất cả đều có sự chuẩn bị chu đáo [1]
1.1.1.4 Thời kỳ trước phẫu thuật:
Thời kỳ trước phẫu thuật là thời kỳ được tính từ khi BN vào viện đến khi được phẫu thuật.
Thời kỳ trước phẫu thuật được chia ra 2 giai đoạn:
-Giai đoạn chẩn đoán: chẩn đoán xác định bệnh, đánh giá chức năng của các cơ quan trong cơ thể và chỉ định phẫu thuật.
-Giai đoạn chuẩn bị trước phẫu thuật:
+Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn phụ thuộc vào mức độ phẫu thuật: phẫu thuật cấp cứu hoặc phẫu thuật phiên, vào tình trạng NB, mức độ và tính chất của cuộc phẫu thuật (đại phẫu, trung phẫu, hoặc tiểu phẫu).
+ Khi đó quá trình chuẩn bị phải tiến hành nhanh chóng, phẫu thuật càng nhanh càng tốt vì tính mạng NB đang bị đe dọa Với những bệnh lý ác tính thì việc chuẩn bị NB và thăm khám trước phẫu thuật cần phải khẩn trương hơn nữa [27]. 1.1.2 Nhiệm vụ của thời kỳ trước phẫu thuật:
Nhiệm vụ chủ yếu của thời kỳ trước phẫu thuật là làm giảm tối đa các biến chứng nguy hiểm của cuộc phẫu thuật Chuẩn bị phẫu thuật một cách có hệ thống, đánh giá tình trạng NB để đề phòng các biến chứng trong phẫu thuật và sau phẫu thuật.
Phẫu thuật viên cần nhớ: phải chuẩn bị phẫu thuật chu đáo trong phạm vi có thể để hạn chế thấp nhất các rủi ro của cuộc phẫu thuật.
Trước khi phẫu thuật cần tính xem lượng máu mất trong phẫu thuật và khả năng bù trừ thích nghi của cơ thể NB Mức độ thiếu máu cấp tính cũng như sự rối loạn lượng máu lưu hành do mất máu phụ thuộc vào số lượng máu mất [27].
1.1.3 Các bước tiến hành trước phẫu thuật
Cần thận trọng và tiến hành các biện pháp đề phòng các biến chứng và rủi ro, bao gồm các bước cụ thể sau:
- Chẩn đoán xác định bệnh, chỉ định phương pháp phẫu thuật đúng, chọn phương pháp phẫu thuật và phương pháp vô cảm phù hợp.
- Xác định các biến chứng có thể xảy ra và các bệnh lý kèm theo của NB.
- Đánh giá tình trạng chung của NB, đánh giá chức năng và tổn thương thực thể của các cơ quan Tiến hành các biện pháp điều trị nâng cao thể trạng, điều trị các bệnh kèm theo và các biến chứng có thể xảy ra.
- Nâng cao khả năng thích nghi của hệ thống miễn dịch của cơ thể.
- Áp dụng các biện pháp làm giảm nguy cơ các biến chứng phẫu thuật, giảm nguy cơ nhiễm trùng. Để giải quyết các nhiệm vụ trên phải dựa vào đặc điểm cụ thể từng NB, triệu chứng của bệnh và thời gian kéo dài của cuộc phẫu thuật Do đó phải chuẩn bị phẫu thuật cụ thể cho từng trường hợp với từng loại phẫu thuật và với từng loại bệnh lý Ví dụ: phải rửa dạ dày đối với NB hẹp môn vị, thụt tháo đối với phẫu thuật đại tràng… Với tình trạng chung của NB phải tiến hành theo nguyên tắc chung: chuẩn bị tâm lý trước phẫu thuật, cho thuốc ngủ, vệ sinh cá nhân và vệ sinh vùng phẫu thuật, ăn những thức ăn dễ tiêu và giàu vitamin ngay trước hôm phẫu thuật… Có thể dùng đa sinh tố với NB suy mòn, đối với NB hẹp môn vị phải truyền dịch, truyền đạm nâng đỡ cơ thể trước phẫu thuật [27]. 1.1.4 Vai trò của Điều dưỡng trong chuẩn bị người bệnh phẫu thuật [1, 7] Điều dưỡng có vai trò rất quan trọng trong công tác chuẩn bị trước phẫu thuật Điều dưỡng là người trực tiếp thực hiện công tác chăm sóc, hướng dẫn, gần gũi và động viên tinh thần cho NB Có rất nhiều yếu tố góp phần vào sự lo lắng của
NB sắp phải phẫu thuật, họ có nhiều những băn khoăn cần được giải đáp, đối tượng mà NB hay tìm đến và dễ tìm thấy nhất chính là Điều dưỡng [1, 7].
+ Tư trang của người bệnh: Điều dưỡng thông báo cho NB cởi và gửi tư trang cho người nhà vì những vật này vừa gây trở ngại, vừa gây nhiễm khuẩn vùng phẫu thuật Tốt nhất nên hướng dẫn NB cởi cất tư trang để lại nhà trước khi nhập viện.
+Tháo răng giả: là yêu cầu tuyệt đối vì răng giả gây trở ngại trong việc đặt nội khí quản; gãy hay sứt răng giả dễ trở thành dị vật đường thở khi rơi vào khí quản.
+ Tóc: cần thắt bím hay buộc gọn gàng Tóc giả cần được lấy cất vì đây là nguyên nhân gây nhiễm trùng cho vùng phẫu thuật.
+ Móng tay, móng chân : cắt móng tay, chân gọn gàng, rửa sạch sẽ trước phẫu thuật tim; Cần lau chùi sạch móng tay, móng chân có sơn màu giúp quan sát, theo dõi màu sắc da, móng chính xác và theo dõi SpO2 ở đầu ngón tay, chân được chính xác.
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới:
Theo các thông kê từ các nước trên thế giới được đánh giá cao về mức độ tin cậy như nghiên cứu tại Bồ Đào Nha được thực hiện bởi các tác giả Berendina ElsinaBouwman Christóforol và Denise Siqueira Carvalh cho thấy một số thủ tục trước phẫu thuật được thực hiện thường xuyên hơn so với các thủ tục khác Trong nghiên cứu này, 41% NB không được tắm rửa, 30% NB có sử dụng răng giả trong khi chỉ73% trong số đó được yêu cầu tháo răng trước phẫu thuật; 64% mặc áo choàng phẫu thuật; 30% mặc đồ ngủ, và 6% mặc áo choàng thông thường [18]
Nghiên cứu của M.E Pettersson về chuẩn bị cho phẫu thuật - Giao tiếp trong tư vấn trước phẫu thuật của Điều dưỡng với NB phẫu thuật ung thư đại trực tràng sau can thiệp Thời gian trung bình cho các cuộc tư vấn là 27 phút (13-64 phút) Các Điều dưỡng đã sử dụng hai phần ba không gian riêng trong các cuộc tư vấn với NB. Tài liệu giáo dục NB được sử dụng như một sự hỗ trợ để cấu trúc cuộc tư vấn và thảo luận các vấn đề nhạy cảm, khó khăn Bảy chủ đề đã được thảo luận trong cuộc tư vấn Hai cách tiếp cận khác nhau để giao tiếp đã được xác định: Nói chuyện với
NB, Trò chuyện với NB được định nghĩa là: lắng nghe tường thuật và xác nhận lẫn nhau, nêu ra những chủ đề khó, coi nhau là người, xây dựng điểm mạnh và nguồn lực, chuẩn bị cho cuộc phẫu thuật và đặt câu hỏi mở [24].
Nghiên cứu của Chi-Kong Lee về hướng dẫn NB trước phẫu thuật: thực hành và nhận thức của ĐD khu vực phẫu thuật Tổng số 86 ĐD trả lời bằng bảng câu hỏi về nội dung chuẩn bị trước phẫu thuật Nghiên cứu cho thấy, giải thích trực tiếp là cách phổ biến nhất để cung cấp thông tin và internet là phương pháp ít được áp dụng nhất Sự khác biệt giữa nhận thức của ĐD và thực tế đã được tìm thấy trong nghiên cứu này Hơn nữa, thời gian sẵn có của ĐD, rào cản ngôn ngữ và lịch trình hoạt động chặt chẽ được coi là những yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến việc cung cấp hướng dẫn trước phẫu thuật Hơn nữa, sự hài lòng của ĐD đối với việc hướng dẫn NB như vậy có liên quan đáng kể đến việc đào tạo chuyên môn và khối lượng công việc hàng ngày của họ trong môi trường lâm sàng [20].
Một nghiên cứu định tính của Kritin Harris về các khuyến nghị với NB và nhân viên y tế về danh sách kiểm tra an toàn cho NB phẫu thuật Các yếu tố nguy cơ an toàn được phân loại thành thông tin trước phẫu thuật: chuẩn bị trước phẫu thuật, thông tin hậu phẫu, kế hoạch và theo dõi hậu phẫu Các danh mục phụ dưới thông tin và chuẩn bị trước khi phẫu thuật là: thông tin liên lạc, an toàn thuốc, tình trạng sức khỏe, tối ưu hóa sức khỏe, tình trạng răng miệng,đọc thông tin, chuẩn bị hai tuần trước khi phẫu thuật, thông báo cho khoa phẫu thuật của bạn, lập kế hoạch xuất viện, chuẩn bị nhập viện trước khi phẫu thuật.Các danh mục phụ dưới thông tin hậu phẫu, các kế hoạch và theo dõi tiếp theo là: phòng ngừa và biến chứng, hạn chế và hoạt động, an toàn thuốc, giảm đau,chức năng dạ dày, chăm sóc thêm và các cuộc hẹn Cả nhân viên y tế và NB đều bày tỏ sự cần thiết phải có danh sách kiểm tra an toàn cho NB phẫu thuật [22].
Nghiên cứu của S Hoermann, thông thường trước khi phẫu thuật, NB được cung cấp thông tin để đáp ứng các yêu cầu của pháp luật và bệnh viện, nhưng không tính đến nhu cầu tâm lý của họ Để tìm hiểu cách cải thiện tình trạng này, nghiên cứu này đã được thực hiện Bằng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc bao gồm một hệ thống thẻ mới được xây dựng, nhằm tránh cung cấp cho NB những thông tin ngầm không được đáp ứng và có thể có hại, nhu cầu thông tin của 60 NB trước khi phẫu thuật thay khớp háng hoặc đầu gối đã được điều tra rất chi tiết Kết quả cho thấy 83,3% NB muốn được phẫu thuật viên chuẩn bị, tốt nhất là bằng phương pháp truyền miệng (75,0%) Thông thường nhất là ngày quyết định phẫu thuật và ngày nhập viện được ưu tiên làm thời điểm chuẩn bị (30% mỗi ngày). Người bệnh quan tâm đến thông tin về cuộc phẫu thuật và phục hồi (43,3% mỗi người) hơn là về rủi ro (33,3%) Chỉ 11,7% muốn chuẩn bị tâm lý trước khi phẫu thuật Chúng tôi kết luận rằng tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ tin cậy với bác sĩ phẫu thuật, người thực hiện ca phẫu thuật là nhu cầu quan trọng nhất của NB phẫu thuật Anh ta nên cung cấp thông tin phẫu thuật theo nhu cầu của NB, thường không tập trung vào rủi ro, như các quy định pháp luật Bằng cách chuẩn bị tâm lý cho một số ít bệnh nhân có nhu cầu, các chuyên gia tâm lý có thể góp phần cải thiện sự hài lòng và kết quả của NB phẫu thuật [26].
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước:
Năm 2011, tác giả Lê Tuyên Hồng Dương và cộng sự làm nghiên cứu tại bệnh viện Giao thông vận tải cho thấy có tới 16,7% NB bị nhiễm trùng sau phẫu thuật cấp cứu so với 4,4% nhiễm trùng sau phẫu thuật phiên Như vậy có sự khác biệt rất lớn về tỷ lệ nhiễm trùng sau phẫu thuật giữa nhóm người bệnh phẫu thuật có chuẩn bị và phẫu thuật không chuẩn bị [11].
Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2011 qua nghiên cứu của tác giả Đặng Hồng Thanh đã chỉ ra: có 18 NB nhiễm trùng vết phẫu thuật trên 281 NB được phẫu thuật cấp cứu Trong khi đó chỉ có 8 NB nhiễm trùng vết phẫu thuật trong tổng số 225 NB được phẫu thuật phiên tại đây [9] Điều này một lần nữa lại nói đến tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác chuẩn bị NB trước phẫu thuật.
Tác giả Đoàn Quốc Hưng và các cộng sự năm 2009 đã thực hiện nghiên cứu ở bệnh nhân phẫu thuật tim hở có chuẩn bị ở người trưởng thành tại Khoa Phẫu thuật Tim mạch - Lồng ngực - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho thấy có 63,7% NB và 36,3% NNNB được bác sĩ giải thích trước phẫu thuật; 36,3% NB không được bác sỹ gây mê khám trước phẫu thuật Nghiên cứu này cũng cho thấy 100% hồ sơ Điều dưỡng ghi chép đầy đủ công tác chuẩn bị trước phẫu thuật nhưng trên thực tế khảo sát cho thấy chỉ có 83,5% NB được hướng dẫn cắt móng tay, móng chân và 33% NB được hướng dẫn tháo tư trang, răng giả… [10], như vậy không có sự tương đồng giữa việc ghi chép hồ sơ bệnh án và công tác thực tế chuẩn bị
Năm 2015, Dương Quốc Nhật khảo sát thực trạng công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật tim hở ở người trưởng thành, tại đơn vị phẫu thuật tim mạch - viện Tim mạch Việt Nam - bệnh viện Bạch Mai cho thấy 100%
NB đều được đảm bảo công tác về chăm sóc: thụt tháo, vệ sinh, thay quần áo, ủộng viờn tinh nhần, hướng dẫn chế độ ăn 98,9% NB được đeo vũng tay ghi thông tin NB và 100% đều được đưa đến phòng phẫu thuật [8].
Nghiên cứu của Bùi Thị Thu và cộng sự (2015) cho thấy, đa số người bệnh đó ủược tư vấn về tỡnh trạng bệnh, phương phỏp phẫu thuật trước phẫu thuật thì vẫn còn 69,86% người bệnh vẫn còn sợ, điều này cho thấy công tác tư vấn đạt hiệu quả chưa cao Có tới 82,5% người bệnh sợ đau, có 80,6% người bệnh sợ lâu hồi phục, 68,1% người bệnh sợ bị tái phát lại, 65,6% người bệnh sợ bị lây nhiễm bệnh khác, 63% người bệnh sợ bị rủi ro trong khi phẫu thuật [5].
Nghiên cứu của Bùi Thị Huyền (2015) “Đánh giá thực trạng chuẩn bị và bàn giao người bệnh trước phẫu thuật tại khoa phẫu thuật – gây mê hồi sức tại Bệnh viện Quân Y 354 năm 2015” nghiên cứu đã tiến hành trên 150 người bệnh được phẫu thuật theo kế hoạch, quan sát trực tiếp quá trình bàn giao, phỏng vấn người bệnh đối chiếu các nội dung chuẩn bị trước phẫu thuật trên phiếu bàn giao người bệnh theo mẫu có sẵn Chuẩn bị trước phẫu thuật chưa thực sự đầy đủ: Cam kết phẫu thuật, phiếu khám trước phẫu thuật, vẫn còn thiếu 1,3 - 2% Chưa vệ sinh toàn thân hay tại chỗ 58%, chưa thụt tháo 66,7%, chưa băng vô trùng để xác định vùng phẫu thuật 84,7% Công tác chuẩn bị và bàn giao người bệnh của Điều dưỡng trước phẫu thuật tuy đã có quy định cụ thể nhưng vẫn xảy ra sai sót do không tuân thủ đầy đủ quy trình Có 42 NB (28%) là tự vệ sinh tắm trước phẫu thuật một ngày chứ không phải là Điều dưỡng hướng dẫn, hay tắm cho người bệnh Việc khụng ủược vệ sinh toàn thõn và tại vị trớ phẫu thuật chiểm tới 72% Khi kiểm tra thực tế, vệ sinh toàn thân và tại chỗ có tỷ lệ thấp hơn so với kết quả trong phiếu chuẩn bị NB trước phẫu thuật (28% so với 42%) Như vậy việc ghi phiếu chuẩn bị trước phẫu thuật có một số trường hợp chưa trung thực, có thể do Điều dưỡng hoặc do NB vì muốn được phẫu thuật mà đã nói không đúng tình trạng vệ sinh của mình Có 28 NB (18,7%) không được thay quần áo trước phẫu thuật Việc không thay quần áo sạch cũng như là là vệ sinh toàn thân và vị trí phẫu thuật sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến vết phẫu thuật của người bệnh và làm tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện Có 1,3% là không phát hiện ra người bệnh có răng giả để tháo ra Còn 9,4% người bệnh nhịn ăn nhưng vẫn uống nước, điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình vô cảm Băng vô trùng vùng phẫu thuật hay xác định vùng phẫu thuật chưa được Điều dưỡng khối ngoại thực hiện, còn 84,7% mặc dù trong phiếu chuẩn bị có nội dụng này Để đảm bảo an toàn người bệnh trong phẫu thuật thì việc xác định vùng phẫu thuật trước phẫu thuật phải được tuân thủ nghiêm túc [4].
Phạm Đăng Chính và cộng sự (2014) đã đánh giá công tác chuẩn bị trước phẫu thuật của Điều dưỡng gây mê hồi sức cho người bệnh phẫu thuật tim tại bệnh viện Trung ương Huế Kết quả cho thấy: 100% người bệnh được các Điều dưỡng kiểm tra, thăm khám và chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị gây mê trước khi đưa người bệnh vào phũng phẫu thuật Tuy nhiờn, cú 5,32% người bệnh khụng ủược khỏm để tiờn lượng đặt nội khí quản khó và 8,52% người bệnh không được kiểm tra thuốc đang dùng, đã dùng trước phẫu thuật và có 38 trường hợp không tham vấn ý kiến bác sĩ (40,42%) Các Điều dưỡng phòng phẫu thuật chuẩn bị đầy đủ về thuốc và phương tiện hồi sức trước phẫu thuật tim, một số Điều dưỡng chưa khám người bệnh để tiên lượng ủặt nội khớ quản khú, chưa kiểm tra cỏc thuốc người bệnh [15]
Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của Điều dưỡng các khoa thuộc khối Ngoại, bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn
La năm 2017 trên 451 người bệnh có chỉ định phẫu thuật theo kế hoạch cho thấy hầu hết các nội dung phải chuẩn bị cho NB trước phẫu thuật như: tiếp đón; hỏi bệnh; hướng dẫn làm xét nghiệm; vệ sinh các nhân trước phẫu thuật…được Điều dưỡng viên các khoa Ngoại đã chuẩn bị rất tốt (100%), có 3 khoa thực hiện tốt là: Ngoại tổng hợp, Chấn thương, U bướu (82.5%) Nội dung Điều dưỡng viên các khoa làm chưa tốt: Vệ sinh, sát khuẩn vùng sẽ phẫu thuật [14].
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Giới thiệu về Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí
Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh quản lý với nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân khu vực Đông Bắc của Việt Nam Bệnh viện có tổng số 1160 giường thực kê với 43 khoa/phòng/trung tâm và gần 1000 cán bộ, nhân viên, cụ thể: Bác sỹ: 191, ĐD/HS/KTV: 480, kỹ sư, công nhân: 51, nhân viên hành chính: 49; hộ lý, bảo vệ: 100 người [3].
Mỗi ngày bệnh viện có trung bình trên 2000 lượt người bệnh, khách hàng khám và điều trị mỗi ngày Ngoài ra, bệnh viện còn là cơ sở thực hành cho học sinh, sinh viên các trường y trong và ngoài nước, chỉ đạo kỹ thuật, chuyên môn cho tuyến trước Mỗi năm có khoảng 2000 sinh viên đến bệnh viện thực tập Bệnh viện cũng được thừa hưởng văn hóa làm việc “Chính quy, kỷ cương, khoa học” từ các chuyên gia Thụy Điển đã từng làm việc tại bệnh viện trước đây Bệnh viện đã xây dựng Chính sách chất lượng lấy “An toàn người bệnh” là then chốt hàng đầu Do vậy việc báo cáo sự cố y khoa chính là việc NVYT bệnh viện “Lên tiếng vì sự an toàn của người bệnh” nên đây là hành động mà bệnh viện đánh giá là một việc làm cao thượng, có đạo đức, có trách nhiệm với NB vì chính NVYT dám nói ra cái sai của mình để chia sẻ cho đồng nghiệp rút kinh nghiệm nên mọi NVYT được rút kinh nghiệm, để phòng ngừa sự cố lặp lại cho NB khác, để tất cả NB được an toàn Năm
2013 ngay khi thông tư 19/2013/TT-BYT ban hành bệnh viện đã triển khai hệ thống báo cáo sự cố y khoa và các sự cố liên quan đến phẫu thuật cũng được NVYT báo cáo và đều được phân tích tìm nguyên nhân và có các giải pháp cải tiến, việc đánh giá mức độ an toàn phẫu thuật đều được đánh giá định kỳ và đột xuất.
Khoa Phẫu thuật - Gây mê hồi sức có 09 phòng phẫu thuật, 10 giường hồi tỉnh, 20 giường hồi sức, 50 nhân viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, bệnh viện đã ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: Phẫu thuật tim mở với tuần hoàn ngoài cơ thể, giảm đau bằng morphin tủy sống; hồi sức sốc Cấp cứu, phẫu thuật cho khoảng 25.000 ca mỗi năm.
Bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí đã tiến hành áp dụng thí điểm Bảng kiểm ATPT trong năm 2010 theo khuyến cáo của WHO và cho kết quả tốt.
Và sau đó bệnh viện triển khai áp dụng từ năm 2011 đến nay Đánh giá chung là Bảng kiểm phù hợp, đơn giản và dễ thực hiện, tạo điều kiện kiểm soát phẫu thuật an toàn và hiệu quả.
2.2 Thực trạng chuẩn bị tâm lý và vệ sinh cá nhân cho người bệnh của Điều dưỡng trước phẫu thuật có kế hoạch tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông
2.2.1 Đối tượng và phương pháp khảo sát
Người bệnh điều trị nội trú tại các khoa Ngoại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, có chỉ định và được phẫu thuật có kế hoạch tại bệnh viện.
Thời gian: từ 20/8/2023- 20/9/2023 Địa điểm: tại 6 khoa Ngoại, Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông
Bí * Phương pháp khảo sát
-Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
-Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 117 người bệnh đủ tiêu chuẩn được lựa chọn khảo sát trong thời gian từ 20/8/2023- 20/9/2023.
+ Thông tin chung về đối tượng khảo sát:
-Công cụ và phương pháp thu thập thông tin
+ Công cụ: bảng kiểm công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật, được thiết kế sẵn.
+Phương pháp thu thập thông tin: quan sát, phỏng vấn người bệnh, thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án.
+ Thông tin chung về đối tượng khảo sát: tuổi, giới, trình độ học ván, tình trạng hôn nhân, phân loại bệnh lý.
+Thực trạng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật: chăm sóc tinh thần, công tác hành chính, công tác vệ sinh, chuẩn bị ngày phẫu thuật.
-Kỹ thuật thu thập số liệu được tiến hành theo trình tự sau:
+Tập huấn điều tra viên
+Điều tra thử trước khi chính thức thu thập số liệu.
+ Lập danh sách người bệnh nghiên cứu: Lập danh sách người bệnh vào viện, ra viện hàng ngày sau đó xác định những người bệnh đủ tiêu chuẩn nghiên cứu để đưa vào giám sát.
+ Căn cứ vào danh sách người bệnh nghiên cứu tiến hành: Hỏi người bệnh, quan sát Điều dưỡng chăm sóc, xem hồ sơ bệnh án để lấy thông tin vào bản thu thập số liệu.
Trong thời gian làm nghiên cứu từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2023 có tất cả 117 NB được chuẩn bị trước phẫu thuật theo kế hoạch tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, thu được kết quả sau:
2.2.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n = 117) Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Phổ thông trung học (10 -12 )/ Trung cấp nghề 47 40,2
Từ Cao đẳng trở lên 51 43,6
Tình trạng hôn nhân 117 100 Đã kết hôn 75 64,1
Chưa kết hôn 22 18,8 Đã ly dị 6 5,1
Tai mũi họng- Răng hàm mặt 34 29,1
- Về độ tuổi: 117 đối tượng tham gia khảo sát có độ tuổi từ 50 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 40,2%, nhóm tuổi từ 40 – 49 tuổi chiếm 17,9 %, nhóm tuổi < 18, 18-
29 và 30-39 tuổi lần lượt chiếm tỷ lệ là 13,7%, 15,4% và 12,8%.
-Về giới tính: đối tượng là nữ giới chiếm tỷ lệ 53%, nam giới là 47%.
-Về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu: Các đối tượng không đi học và tiểu học chiếm 8,6%, đối tượng đã tốt nghiệp trung học cơ sở là 7,7% và trung học phổ thông là 40,2% Nhóm có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm tỷ lệ 43,6%.
- Về tình trạng hôm nhân: Nhóm đối tượng đã kết hôn chiếm 64,1%, nhóm chưa kết hôn là 18,8%, đối tượng đã ly dị, góa hoặc ly thân 17,1%.
- Về nhóm bệnh lý: Nhóm người bệnh Tai Mũi Họng – Răng Hàm Mặt chiếm tỷ lệ 29,1%, nhóm người bệnh ung biếu là 25,6%, nhóm người bệnh tim mạch – Lồng ngực là 2,6%
Sinh hoạt bình thường Hoạt động giảm sút, vẫn tự phục vụ bản thân Hoạt động yếu, cần người phục vụ
Biểu đồ 2.1: Đặc điểm tình trạng sức khỏe người bệnh trước khi vào viện
Biểu đồ 2.1 cho thấy 60% người bệnh phẫu thuật có kế hoạch hoạt động giảm sút những vẫn có khả năng tự phục vụ bản thân, người bệnh hoạt động yếu, cần người phục vụ chiếm 7,6%, người bệnh phụ thuộc hoàn toàn vào nhân viên y tế chiếm 2,7%, người bệnh có khả năng sinh hoạt bình thường chiếm 29,7%; NB. 2.2.2.2 Thực trạng công tác chuẩn bị tâm lý và vệ sinh cá nhân cho người bệnh của Điều dưỡng trước phẫu thuật có kế hoạch:
Bảng 2.2: Chăm sóc tinh thần cho người bệnh trước phẫu thuật
1 Khi vào viện chuẩn bị phẫu thuật, Điều dưỡng tiếp đón, giải thích, động viên và thông báo về các nội dung cần chuẩn bị trước mổ với NB và NNNB
Thực trạng công tác chuẩn bị tâm lý và vệ sinh cá nhân cho người bệnh của Điều dưỡng trước phẫu thuật có kế hoạch tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2023
3.1 Thực trạng chuẩn bị tâm lý và vệ sinh cá nhân cho người bệnh trước phẫu thuật có kế hoạch tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2023 3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.1 cho thông tin chung của đối tượng nghiên cứu Trong 117 người bệnh nhóm tuổi từ 50 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,2%, nhóm tuổi từ 40 – 49 tuổi chiếm 17,9 %, nhóm tuổi < 18, 18- 29 và 30-39 tuổi lần lượt chiếm tỷ lệ là 13,7%, 15,4% và 12,8% Kết quả này có sự khác biệt với khảo sát của tác giả Nguyễn Văn Hiếu tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, theo đó nhóm tuổi từ 50 tuổi trở lên chỉ chiếm 24,8% và nhóm tuổi 40 – 49 chiếm 40,6% [12] Kết quả này cũng có sự khác biệt với nghiên cứu của Nguyễn Trọng Duynh với người bệnh từ 25-39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 81,4% [13] Sự khác biệt này có thể là do đặc điểm dân cư của mỗi tỉnh, mỗi khu vực và đối tượng nghiên cứu của các nghiên cứu này là khác nhau.
Về giới tính, đối tượng là nữ giới chiếm tỷ lệ 53%, nam giới là 47% Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Tống Thị Minh Nhung tại bệnh viện đa khoa Lạng Sơn (51,0%), cao hơn kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Hiếu (33,6%) [6, 11].
Về trình độ học vấn, số lượng người bệnh không đi học và tiểu học chỉ chiếm 8,6%, người bệnh đã tốt nghiệp trung học cơ sở là 7,7% và trung học phổ thông là 40,2% Nhóm người bệnh có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất là 43,6% Kết quả có sự khác biệt với nghiên cứu Nguyễn Văn Hiếu khi tỷ lệ người bệnh có trình độ phổ thông trung học trở lên là 61,8% [12].
Về tình trạng hôn nhân, 64,1% người bệnh đã kết hôn chiếm tỷ lệ cao nhất, nhóm người bệnh chưa kết hôn là 18,8%, nhóm người bệnh đã ly dị, góa hoặc ly thân là 17,1% Kết quả này tương đồng với kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Hiếu với nhóm người bệnh đã kết hôn là 65,2% [12] Điều này gợi ý đến sự ảnh hưởng đối tượng người chăm sóc và yếu tố chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật.
Về nhóm bệnh lý, nhóm người bệnh Tai Mũi Họng – Răng Hàm Mặt chiếm tỷ lệ 29,1%, nhóm người bệnh ung biếu là 25,6%, nhóm người bệnh tim mạch – Lồng ngực là 2,6%
BÀN LUẬN
Một số khó khăn
có kế hoạch tại khoa các khoa Ngoại, bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, tôi đưa ra một số kết luận như sau:
1 Thực trạng công tác chuẩn bị tâm lý và vệ sinh cá nhân cho NB của Điều dưỡng trước phẫu thuật có kế hoạch tại BV Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí
Hầu hết các nội dung trong công tác chuẩn bị tâm lý và vệ sinh cá nhân cho người bệnh của điều dưỡng trước phẫu thuật có kế hoạch tại bệnh viện được thực hiện khá tốt, nhưng một số nội dung tỷ lệ còn thấp Cụ thể:
- 100% người bệnh và người nhà người bệnh khi vào viện chuẩn bị phẫu thuật được Điều dưỡng, NVYT tiếp đón, động viên và thông báo đầy đủ các nội dung cần chuẩn bị trước mổ.
- 100% người bệnh/người nhà người bệnh được Điều dưỡng, NVYT giải thích đầy đủ về tình trạng bệnh, phương pháp phẫu thuật, các nguy cơ ro có thể xảy ra trong phẫu thuật.
- 100% người bệnh/người nhà người bệnh được Điều dưỡng giải thích, hướng dẫn viết giấy cam đoan trước khi mổ.
-100% người bệnh được Điều dưỡng giải thích/hướng dẫn NB nhịn ăn uống trước phẫu thuật ít nhất 6 giờ/theo y lệnh bác sĩ; được thay quần áo sạch và được làm sạch đại tràng trước mổ
-100% người bệnh được đo lại dấu hiệu sinh tồn; được thông báo thời gian dự kiến phẫu thuậT và được Điều dưỡng vận chuyển đi mổ;
-98,3% người bệnh được Điều dưỡng tìm hiểu tâm lý, giải thích, động viện trước mổ; 99,1% Người bệnh được thay trang phục bệnh viện gọn gàng, sạch sẽ và không mặc đồ lót ở trong.
- 92,3% người bệnh tập được hướng dẫn phục hồi chức năng, phòng biến chứng sau phẫu thuật.
-70,1% người bệnh được cắt và vệ sinh móng tay, móng chân trước mổ
-89,7% người bệnh được vệ sinh răng miệng trước phẫu thuật
- 81,2% người bệnh có tóc gọn gàng và được gội đầu tối hôm trước hoặc sáng ngày phẫu thuật.