1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài ''''sự phân hoá giàu nghèo tại việt nam''''

25 696 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phân hoá giàu nghèo tại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 192,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn đổi mới ở nước ta 20 năm qua cho thấy, với sự chuyển đổi, xây dựng, và phát triển kinh tế hang hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước

Trang 1

Luận văn

Đề tài: "Sự phân hoá giàu nghèo tại

Việt Nam"

Trang 2

KTTT : Kinh tế thị trường

CNH,HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

PHGN: Phân hoá giàu nghèo

BHNN: Bảo hiểm nông nghiệp

Trang 3

Mục lcuj

ChươngI: LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO.

1.1Các khái niệm về sự phân hoá giàu nghèo

1.1.1Khái niệm "nghèo", chuẩn mực "nghèo"

1.1.2 Phân hoá giàu nghèo, khái niệm và chỉ tiêu đánh giá

1.2Tác động của PHGN đối với nền KT-XH ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Mặt tích cực

1.2.2 Mặt tiêu cực

Chương II: THỰC TRẠNG CỦA SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

2.1 Thực trạng của sự PHGN ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nguyên nhân chủ quan

2.2.1 Nguyên nhân khách quan

Chương III: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO

3.1 Những giải pháp chủ yếu giải quyết vấn đề PHGN ở nước ta hiện nay

Trang 4

3.1.1 Những giải pháp cơ bản, lâu dài nhằm hạn chế sự PHGN 3 1.2 Những giải pháp cấp bách nhằm hạn chế sự PHGN

KẾT LUẬN

Trang 5

1.Tính cấp thiết của đề tài.

Thế giới đang bước vào thế kỷ mới với kỳ vọng một cuộc sống mới phồn vinh hạnh phúc Làn song toàn cầu hoá đang lan nhanh là động lực thôi thúc các quuốc gia dân tộc vào một cuộc đua tranh vì sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Chính vì vậy nền kinh tế thế giới đã đạt tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, nhưng bên cạnh đó nó cũng tạo ra hố ngăn giữa các quốc gia, các tầng lớp trong xã hội ngày càng sâu Vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt hết sức quan trọng và cấp thiết đối với Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực tiễn đổi mới ở nước ta

20 năm qua cho thấy, với sự chuyển đổi, xây dựng, và phát triển kinh tế hang hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN, cùng các chính sách mở cửa, hội nhập, đã đem lại nhiều thành tựu to lớn về kinh tế , xã hội, đời sống của mọi tầng lớp dân cư không ngừng được nâng cao Đồng thời quá trình này cũng kéo theo những biến động về cơ cấu xã hội, trong đó phân hoá giàu nghèo diễn ra ngày càng rõ nét, nổi lên như một vấn đề thời sự cấp bách Vì nó cũng mang tính hai mặt: bên cạnh mặt tích cực là làm người dân giàu hợp pháp còn mặt tiêu cực là lien quan đến bất bình đẳng XH Nếu để quá trình bất bình đẳng diễn ra một cách tự phát thì nó dẫn đến những bất ổn định không chỉ về kinh tế, văn hoá, xã hội mà trên cả lĩnh vực chính trị, thậm chí dẫn đến nguy cơ chệch hướng XHCN

Chính vì vậy chúng ta phải có một giải quyết đúng đắn để giải quyết vấn đểp hân hóa giàu nghèo sao cho xây dựng đất nước công bằng dân chủ văn minh

2.Tình hình nghiên cứu.

Trong những năm gần đây, trước những đòi hỏi bức bách của thực tiễn, vấn

đề về phân hoá giàu nghèo được rất nhiều nhà học giả, nhà báo quan tâm

Trang 6

và đã được nhà nước, chính phủ, các cơ quan chức năng nghiên cứu Tuy nhiên hầu hết các hình thức nghiên cứu chỉ dừng lại ở những bài báo, những bài nghiên cứu nhưng chỉ đề cập tới một số mặt của sự phân hoá giàu nghèo như: xoá đói giảm nghèo, giảm

bất bình đẳng xã hội, hoặc các giải pháp nhằm hạn chế sự PHGN được đăng trong báo Nhân Dân , Xã hội học Một số cuốn sách ngiên cứu về sự PHGN đã được xuất bản như: Phân hoá giàu nghèo ở một quốc gia khu Châu á – Thái Bình Dương – Vũ Văn Hà, Đồng tham gia giảm nghèo đô thị

- Nguyễn Minh Hoà Theo hướng đó, đề tài tiếp tục khảo sát sự phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế nước ta hiện nay trên những mặt lý luận , thực trạng, giải pháp dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển công trình của các tác giả đã nghiên cứu trước

3 Mục đích nghiên cứu.

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, mục đích đề tài làm rõ thực trạng

và xu hướng phân hoá giàu nghèo trong quá trình chuyển đổi, xây dựng và phát triển nền kinh tế nước ta, từ đó đề xuất ra những giảip háp, phương hướng giải quyết phân hoá giàu nghèo nhằm đảm bảo xây dựng đất nước công bằng, dân chủ, văn minh

4 Giới hạn đề tài

Do thời gian có hạn và kiến thức chưa đủ sâu để nghiên cứu về toàn bộ sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam nên đề tài chỉ đề cập đến sự phân hoá giàu nghèo chủ yếu ở nông thôn và thành thị

CHƯƠNG I :

Trang 7

LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO

1.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO.

1.1.1 Khái niệm, "nghèo" và chuẩn mực "nghèo"

Trong một thời gian dài, các nhà kinh tế và nhiều nhà nghiên cứu đã điịnh nghĩa giàu nghèo theo quan điểm định lượng, tức là đưa ra một chỉ số để đo lường chủ yếu nhằm đơn giản hoá việc hoạch định chính sách

Một số quan điểm về "nghèo": Hội nghị vềchống nghèo ở khu vực Châu á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 – 1993 tại Bang kok , Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: "Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độp hát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi làn ghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực "Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa

về nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một

đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để muan hững sản phẩm cần thiết để tồn tại "Còn nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam - 1995" đã đưa

ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế "Vậy tiêu chí để xác định nghèo ở nước ta là:

Các mức nghèo ở Việt Nam (Nguồn: Tổng cục Thống kê 1994, 1996,

UNDP1999, Bộ lao động, thương binh và xã hội 1999)

Cơ quan Định nghĩa về mức nghèo Định nghĩa Mức tối thiểu

Trang 8

về mức nghèo (VNĐ/tháng) Lao động

thương

binh

Xã hội

Mức nghèo tính bằng gạo: Mức nghèo được xác định là mức thu nhập để mua được 13kg, 15kg, 20kg, hoặc 25 kg gạo mỗi tháng (theo giá năm 1995)

Đói 45.000 (13kg

gạo) Nghèo (nông thôn

miền núi)

55.000 (15kg gạo) Nghèo (nông thôn

đồng bằng)

70.000 (20kg gạo) Nghèo (thành thị) 90.000 (25kg

Nghèo về Lương thực, thực phẩm

66.500 (1992/1993

- Ngân Hàng thế giới) 107.000 (1997/98- Ngân hang thế giới/ Tổng cục thống kê)

Ngân hàng

thế giới

Mức nghèo chung: Kết hợp mức nghèo về lương thực, thực phẩm như trên (tương đương với 70% chỉ tiêu và phần chi lương thực để có thể chi tiêu cho những nhu cầu phi lương thực cơ bản (50%)

Nghèo 97.000 (1992/93)

149.000(1997/98)

UNDP Chỉ số nghèo về con người: Nghèo

là tình trạng thiếu thốn ở 3 khía cạnh của cuộc sống, tuổi thọ, kiến thức và mức sống hợp lí Chỉ số này được hình thành bởi 3 tiêu chí: tình trạng mù chữ, tuổi thọ, trẻ em thiếu cân và mức độ sử dụng dịch vụ y tế

nước sạch

Nghèo về con người không qui thành Chỉ số tổng hợp

Trang 9

có thu nhập bình quân đầu người của loại hộ này quy ra gạo dưới 25kg/tháng

ở thành thị, 20kg/tháng ở nông thôn đồng bằng và trung du, dưới 15kg/tháng

ở nông thôn miền núi)

Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo đói, không có hoặc có rất ít những cơ sở hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí theo tỉ lệ mù chữ cao

Còn đối với thế giới, để đánh giá tương đối đúng đắn về sự phát triển, sự tiến

bộ của mỗi quốc gia, Liên Hợp Quốc đưa ra chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chỉ số phát triển con người (HDI)

1.1.2 "Phân hoá giàu nghèo "khái niệm và chỉ tiêu đánh giá:

Trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kém phát triển sang nền kinh

tế thị trường, xu hướng biến động của cơ cấu xã hội ở nước ta hiện nay, ngày càng trở nên rõ nét Từ thực trạng đó, đã có một số luận điểm có quan hệ đến quan niệm sự phân hoá giàu nghèo

+ PHGN gắn liền với bất bình đẳng xã hội và phân công lao động

+ PHGN giàu nghèo là sự phân cực về kinh tế

+ PHGN là kết quả tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế và đến lượt mình sự phân hoá đó lại trở thành nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển kinh tế

+ PHGN là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế khác biệt nhau PHGN là phân tầng xã hội về mặt kinh tế, thể hiện trong xã hội có nhóm giàu tầng đỉnh, nhóm nghèo tầng đáy Giữa nhóm giàu và nhóm nghèo là khoảng cách về thu nhập

và mức sống

Vậy PHGN là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế và chất lượng sống khác biệt nhau; là sự phân tầng xã hội chủ yếu về mặt kinh tế, thể hiện sự chênh lệch giữa các nhóm này về tài sản, thu nhập, mức sống Vậy tiêu chí để đánh giá

sự phân hoá giàu nghèo là dựa trên cơ sở nào?

Trang 10

Trên thế giới người ta thường dung 2 tiêu chí hay hai phương pháp để đánh giá sự phân hoá giàu nghèo:

Theo công thức 1/n: trong đó n là % dân cư để so sánh

Vídụ: nếu theo cột dọc giữa người giàu và người nghèo ta lấy 5% người thu nhập thấp nhất ở cột thấp nhất so với 5% người thu nhập cao nhất thì tỷ lệ là 1/5, tức chênh lệch nhau 20 lần

Đây là độ an toàn của sự phân hoá giàu nghèo .Hệ số tập trung Gini là hệ số thay đổi từ 0 đến 1 cho biết mức độ công bằng phân chia trong thu nhập thấp Nếu hệ số này càng thấp thì mức công bằng càng cao Hệ số Gini cũng

đã được sử dụng để đánh giá mức độ phân tầng, phân hoá, phân cực giữa các vùng, miền hay nhóm xã hội

Theo hệ số Gini này (hay theo nhà kinh tế học người Mỹ Kuznet) trong thời

kỳ nền kinh tế mới đi vào tăng trưởng: Sự bất bình đẳng sẽ tăng lên là tất yếu Khi nền kinh tế tăng trưởng đến mức độ nhất định sẽ giải quyết được vấn đề xã hội đó, công bằng sẽ được thực hiện

Từ việc phân tích những khái niệm "nghèo", "sự phân hoá giàu nghèo" ta cũng thấy được tính hai mặt của sự phân hóa giàu nghèo đối với nền kinh tế

Từ đó cũng có thể thấy sự tác động nhất định của nó đối với kinh tế - xã hội Việt Nam

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

1.2.1 Mặt tích cực:

PHGN đã góp phần khơi dậy tính năng động xã hội trong con người ở nhiều nhóm xã hội, kích thích họ tìm kiếm và khai thác cơ may, vận hội để phát triển vượt lên

Kích thích sự sang tạo của con người, nhằm tạo môi trường cạnh tranh quyết liệt, qua đó sang lọc và tuyển chọn những thành viên vượt trội, tạo động lực cho sự phát triển của mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực hay mỗi địa phương Đặc biệt là số nhóm và nhóm người xã hội giàu lên do làm ăn đúng pháp luật Và những hộ đã giàu hướng dẫn cách làm ăn cho người nghèo làm cho

Trang 11

nền kinh tế phát triển với năng suất lao động cao, tăng phúc lợi xã hội cho người dân (ytế, giáodục ) thong qua thuế thu nhập của người giàu

1.2.2 Mặt tiêu cực:

- Sự PHGN trên thực tế dẫn đến làm trầm trọng hơn những bất bình đẵng xã hội Đó là: Sự cách biệt giữa người giàu và người nghèo ngày càng rộng Những người giàu ngày càng có cơ hội phát triển do có những điều kiện về vốn và kỹ thuật còn người nghèo phải làm thuê và bị bóc lột Họ rất ít có

cơ hội tiếp cận và được đảm bảo những điều kiện sống cơ bản, tối thiểu Môt mặt vì họ quá nghèo không đủ tài chính trang bị vốn, tri thức, kĩ thuật mặt khác trong cơ chế thị trường hoạt động dịch vụ cơ bản có xu hướng phục vụ người giàu là chính ở nông thôn người nghèo thường thiếu vốn làm ăn, muốn có vốn họ phải thế chấp nhà cửa ruộng vườn nên không có khả năng đảm bảo tài chính nếu thiên tai xảy ra, chính vì vậy họ không dám đầu tư nên không thoát khỏi tình trạng nghèo thâm niên Chính vì vậy trong xã hội

sự bất bình đẳng ngày càng trầm trọng

- Trong các hộ gia đình nghèo phụ nữ, trẻ em, người già lại là những người thiệt thòi nhất, đặc biệt hộ nghèo thường rơi vào những gia đình là đối tượng quan tâm của xã hội (gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công với nước ) thì vấn đề này càng trở nên phức tạp hơn

- Với nền kinh tế thị trường như hiện nay, thì phân phối không thể công bằng: Đối với một số người giàu, giàu lên nhanh chóng nhờ một số hoạt động siêu lợi nhuận như kinh doanh địa ốc, bất động sản, một số loại hình hoạt động thương mại nhưng họ phải có vốn có tri thức tuy nhiên bên cạnh đó có một số người làm giàu bất hợp pháp (buôn lậu, trốn thuế, tham nhũng ) Đặc biệt là tình trạng tham nhũng, quan lieu và các tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng tới sự ổn định chính trị -xã hội và không tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

-Về hành vi, lối sống:

PHGN góp phần tạo sự đa dạng trong các hình mẫu lối sống Sự phát triển của lối sống tiêu dung xa hoa, lãng phí trong bộ phận dân cư khá giả có ảnh hưởng xấu tới các nhóm dân cư khác Đặc biệt một số bộ phận gia đình mới

Trang 12

phất lên (nhờ gặp may, hoặc do kế thừa ) sử dụng tiền theo lối sống buông thả, bất chấp các chuẩn mực giá trị, đạo đức, hoặc không quan tâm đến con cái, để chúng hư hỏng với cuộc sống xa đoạ, đồi truỵ mà không biết

Đây là một trong những nguồn gốc của tệ nạn ma tuý xã hội mại dâm và tình trạng tội phạm gia tăng như hiện nay

Và chính sự tiêu xài hoang phí này cũng làm ảnh hưởng tới những người nghèo, hoặc những ngưòi thuộc tầng lớp trung lưu Những người nghèo thì

họ cảm thấy không còn gì để mất vì vậy họ hành động không như xã hội mong đợi là ăn cắp, trung gian trong những con đường buôn lậu, vận chuyển

ma tuý, bán dâm nhằm mục đích giàu lên nhanh chóng, còn người khá giả, trung lưu dựa trên cơ sở sẵn có của mình (của cải, vốn, mối quan hệ ) moắc ngoặc với nhau làm ăn phi pháp

- Ảnh hưởng của PHGN còn lệch lạc các định hướng giá trị và chuẩn mực đạo đức, lối sống của xã hội nhất là đối với thế hệ trẻ: PHGN gây tình trạng thiếu hụt văn hoá trong phát triển

Những thanh niên được sinh ra trong những gia đình khá giả, có quyền lực thường có tư tưởng "con ông cháu cha" coi thường luân lý, đạo đức xã hội, không chịu củng cố kiến thức

Còn những gia đình nghèo lại không đủ điều kiện để cho con ăn học chính vì vậy nó gây nên tình trạng thiếu hụt văn hoá trong xã hội Nếu không sớm phát hiện và nhận thức đầy đủ tác động tiêu cực của xu hướng này để sớm

có giải pháp khắc phục thì xã hội không thể đạt được sự phát triển bền vững

Như vậy , trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo có xu hướng ngày càng tăng lên và nó có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với xãhội

Vì vậy chúng ta phải nhận diện rõ ảnh hưởng của nó để phát huy mặt tích cực, và giải quyết mặt tiêu cực của sự PHGN Nếu không giải quyết được mặt tiêu cực thì nó sẽ làm lệch hướng đường lối xây dựng đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta và lây nhiễm nặng dần bệnh "nany" của

CNTB

Trang 13

CHƯƠNGII : THỰC TRẠNG SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO Ở

NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 THỰC TRẠNG SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bảng thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2001 – 2002 theo giá thực tế phân theo 5 nhóm thu nhập, phân theo thành thị, nông thôn, phân theo giới tính chủ hộ và phân theo vùng (nghìn đồng)

Bình Quân chungNhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5

Cả nước 356.1 107.7 178.3 251.0 370.5 872.9 Phân theo thành thị

Thành thị 62201 184.2 324.1 459.8 663.6 1479.2 Nông thôn 275.1 100.2 159.8 217.7 299.4 598.6 Phân theo giới tính

chủ hộ

Nam 332.6 104.9 171.9 237.9 345.4 803.4

Nữ 446.2 123.3 215.8 317.0 473.9 1101.5 Phân theo vùng

Đồng bằng sông

Hồng

353.1 120.7 190.5 258.4 368.1 828.3

Đông bắc 268.8 95.1 151.1 211.9 297.4 588.0 Tây bắc 197.0 75.0 110.9 145.9 206.6 446.6 Bắc trung bộ 235.4 88.9 135.7 185.5 250.4 518.7 Duyên Hải Nam

Trung Bộ

305.9 112.9 182.1 244.2 333.4 656.9

Tây Nguyên 244.0 85.5 140.4 185.6 262.1 546.7 Đông Nam Bộ 619.7 165.4 303.0 452.3 684.6 1493.2 Đồng Bằng Sông

Cửu Long

371.3 126.2 203.8 277.3 389.3 860.1

Nguồn: Tổng cục thống kê – 2005

Như vậy dựa theo bảng thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2001 –

2005 trên ta có thấy thực trạng PHGN ở nước ta hiện nay được xem xét trên nhiều mặt:

Ngày đăng: 26/06/2014, 21:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2001 – 2002 theo giá  thực tế phân theo 5 nhóm thu nhập, phân theo thành thị, nông thôn, phân  theo giới tính chủ hộ và phân theo vùng (nghìn đồng) - đề tài   ''''sự phân hoá giàu nghèo tại việt nam''''
Bảng thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2001 – 2002 theo giá thực tế phân theo 5 nhóm thu nhập, phân theo thành thị, nông thôn, phân theo giới tính chủ hộ và phân theo vùng (nghìn đồng) (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w