1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam

121 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Doanh Nghiệp Và Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp: Trường Hợp Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Tác giả Đặng Quốc Huy
Người hướng dẫn TS. Võ Hồng Đức
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (18)
    • 1.1. Lý do nghiên cứu (18)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (20)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (20)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (21)
    • 1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu (21)
    • 1.7. Cấu trúc luận văn (23)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (23)
    • 2.1. Lý thuyết quản trị doanh nghiệp (24)
      • 2.1.1. Lý thuyết về quản trị (25)
      • 2.1.2. Lý thuyết người đại diện (0)
      • 2.1.3. Lý thuyết ràng buộc các nguồn lực (28)
      • 2.1.4. Lý thuyết chuyên quyền quản lý (29)
      • 2.1.5. Lý thuyết các bên liên quan (30)
    • 2.2. Lý thuyết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (31)
      • 2.2.1. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (31)
      • 2.2.2. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và ngân hàng (33)
    • 2.3. Thực trạng thực hiện CSR của các ngân hàng thương mại hiện nay (0)
    • 2.4. Các nghiên cứu trước liên quan (0)
    • 2.5. Giả thuyết nghiên cứu (43)
      • 2.5.1. Quy mô HĐQT và CSR (43)
      • 2.5.2. Giám đốc điều hành và CSR (0)
      • 2.5.3. Thành viên HĐQT độc lập không điều hành và CSR (0)
      • 2.5.4. Thành viên nữ trong HĐQT và CSR (46)
      • 2.5.5. Công dân nước ngoài trong HĐQT và CSR (0)
      • 2.5.6. Quy mô doanh nghiệp và CSR (48)
      • 2.5.7. Tỷ suất lợi nhuận (ROE) và CSR (48)
      • 2.5.8. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (0)
    • 2.6. Mô hình nghiên cứu đề xuất (49)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (54)
    • 3.1. Dữ liệu nghiên cứu (54)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (55)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (23)
    • 4.1. Kết quả thu thập dữ liệu (64)
    • 4.2. Thống kê mô tả biến (0)
    • 4.3. Phân tích tương quan Pearson (84)
    • 4.4. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (86)
    • 4.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu (88)
      • 4.5.1. Các giả thuyết được chấp nhận (88)
      • 4.5.2. Các giả thuyết bị bác bỏ (90)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (93)
    • 5.1. Kết luận (93)
    • 5.2. Hàm ý quản trị (93)
    • 5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (0)
  • Tài liệu tham khảo (96)
  • PHỤ LỤC (106)

Nội dung

VÕ HỒNG ĐỨCHọc viên thực hiện: ĐẶNG QUỐC HUY Lớp: MBA 018Ngàysinh:13/10/1988Nơi sinh: Bình ThuậnTên đề tài: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ TRÁCH NHIỆMXÃ HỘI CỦA DOANHNGHIỆP: TRƯỜNGHỢP CÁC NGÂN

TỔNG QUAN

Lý do nghiên cứu

Thế giới ngày nay chứng kiến sự thay đổi lớn trong nhận thức cộng đồng về vai trò của doanh nghiệp trong xã hội, kinh doanh đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra việc làm và cả sự giàu có Và có nhiều kỳ vọng rằng kinh doanh sẽ đưa ra nhiều giải pháp cho những thách thức của xã hội và môi trường như: sự nóng lên toàn cầu biến đổi khí hậu và khả năng chi trả cho y tế (Blowfield và Murray, 2014) Đứng trước những kỳ vọng thay đổi này, các doanh nghiệp trên toàn thế giới phải đối mặt với những áp lực ngày càng tăng để cải thiện và thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

Trách nhiệm xã hội ngày càng được xem là thiết yếu đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp Báo cáo năm 2008 của Reverte nói rằng hoạt động CSR là mối quan tâm lớn của chính phủ và các tập đoàn Một cuộc khảo sát quốc tế vào năm 2002 được thực hiện bởi Price Waterhouse Coopers đã phát hiện rằng gần 70% các giám đốc điều hành tin rằng thực hiện CSR là rất quan trọng đối với lợi nhuận của công ty họ (Simms, 2002) Tuy nhiên, khi có các vấn đề xã hội do chính công ty tạo ra trong quá trình làm giàu cho cổ đông thì các công ty không thể tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông như đã cam kết (Trang và Yekini, 2014)

Mối quan hệ giữa CSR và quản trị doanh nghiệp (CG) trở thành đề tài nghiên cứu được quan tâm hơn, điều này có thể do chính tầm quan trọng của CSR trong xã hội Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy rằng CSR có thể tác động tích cực đến hiệu suất công ty, giá trị doanh nghiệp, rủi ro của doanh nghiệp và thông qua đó tác động đến lợi nhuận, chi phí vốn và giá cổ phiếu của công ty (Gray, Kouhy, và Lavers, 1995; Simpson và Kohers, 2002; Scholtens, 2008; Godfrey, Merrill và Hansen, 2009; Salama, Anderson, và Toms, 2011; Ghoul, Guedhami, Kwok, và Mishra, 2011; Cormier, Ledoux, và Magnan, 2011; Lourenco, Branco, Curto, và Eugenio, 2012)

Kể từ cuộc khủng hoảng tín dụng năm 2007 – 2008, nhận thức của các bên liên quan về rủi ro và hiệu suất của các công ty đã trở nên đặc biệt quan trọng đối với phát triển bền vững của các ngân hàng vì nguồn thu chính để tài trợ và thanh khoản đến từ những người gửi tiền và các cơ quan chính phủ (Grove và cộng sự, 2011; Veronesi và Zingales, 2010) Do đó, hiểu về mối liên kết giữa quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là các đặc điểm của hội đồng quản trị đối với báo cáo CSR rất quan trọng đối với các ngân hàng (Jizi, Salama, Dixon, và Stratling, 2014) Các nghiên cứu thực tiễn về CSR hầu hết tập trung ở lĩnh vực phi tài chính tại các quốc gia phát triển, trong đó lĩnh vực ngân hàng thường bị bỏ qua do nhiều yếu tố (Deegan et al

2002), hơn nữa các nghiên cứu về CSR ở các nước đang phát triển cũng khá hạn chế (Sharif & Rashid, 2014), Việt Nam cũng không ngoại lệ

Tại Việt Nam, các vấn đề về thực hiện CSR được giới thiệu thông qua chương trình “Tăng cường cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của các nước đang phát triển” bởi Ngân hàng Thế giới năm 2003 (Twose và Rao, 2003) Năm

2007, Việt Nam gia nhập WTO đánh dấu một bước tiến mới thực hiện toàn cầu hóa và CSR Gần đây, một số cải cách về luật lao động đã được thông qua với nỗ lực thực hiện CSR hoạt động tại Việt Nam Bên cạnh đó, Liên minh Châu Âu và Thương mại Việt Nam có hỗ trợ dự án của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc để giúp đỡ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thích nghi và chấp nhận CSR để cải thiện mối liên kết với chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất bền vững (Nguyễn, 2007) Điều này sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển thành một nền kinh tế thị trường định hướng xuất khẩu trong tương lai

Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về các tác động của CSR như: Nghiên cứu của Turker (2009) về ảnh hưởng của CSR đối với sự cam kết với tổ chức; nghiên cứu của Esen (2013) về ảnh hưởng của CSR đến hình ảnh thương hiệu; hay nghiên cứu của Barakat, Isabella, Boaventura, và Mazzon (2016) về ảnh hưởng của CSR đối với sự hài lòng của nhân viên; nghiên cứu của Sharma, Poulose, Mohanta, và Antony (2018) về ảnh hưởng của CSR đối với ý định mua hàng; hoặc nghiên cứu của Chen và Lee (2017) về ảnh hưởng của CSR đối với giá trị doanh nghiệp Một số ít nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố tác động đến CSR: nghiên cứu về ảnh hưởng của các giám đốc phát triển bền vững và ủy ban CSR đến các kết quả liên quan đến CSR của Velte và Stawinoga (2020); nghiên cứu của Jackon, Bartosch, Avetisyan,

Kinderman, và Knudsen (2020) về việc bắt buộc công bố thông tin phi tài chính ảnh hưởng đến CSR; hay nghiên cứu của Kim và Kim (2020) tìm hiều về ảnh hưởng của các giá trị văn hóa đến nhận thức về CSR; hoặc văn hóa quốc gia ảnh hưởng đến CSR của Peng, Dashdeleg, và Chih (2012) Để hiểu thêm về mối quan hệ giữa giữa quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đề tài

“Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” được lựa chọn Với mong muốn cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa CG và CSR trong lĩnh vực ngân hàng, cụ thể là tác động của hội đồng quản trị các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đối với CSR.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này được thưc hiện với kỳ vọng đạt được các mục tiêu sau đây:

▪ Xác định các yếu tố thuộc hội đồng quản trị ảnh hưởng đến CSR trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

▪ Xác định mức độ tác động của từng yếu tố đó đến CSR trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam; và

▪ Đề xuất một số hàm ý quản trị trên cơ sở kết quả đạt được từ nghiên cứu này.

Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nói trên, 3 câu hỏi nghiên cứu sau đây được hình thành:

▪ Các yếu tố nào thuộc hội đồng quản trị ảnh hưởng CSR trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam?

▪ Mức độ tác động của từng yếu tố đó đến CSR trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam như thế nào?

▪ Giải pháp nào có thể thực hiện để cải thiện và nâng cao CSR trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là CSR và các yếu tố thuộc đặc điểm hội đồng quản trị ảnh hưởng đến CSR trong lĩnh vực ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong 30 ngân hàng thương mại được niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2017 đến 2021

Nghiên cứu này thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, và báo cáo quản trị của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam có niêm yết từ năm 2017 đến hết năm 2021 Trên cơ sở các số liệu này, nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu theo từng năm và trung bình trong 5 năm Tiếp theo, nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích tương quan Pearson để kiểm tra có mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc và có mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với nhau hay không Cuối cùng, nghiên cứu sẽ thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu

Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về các tác động của CSR như: Nghiên cứu của Turker (2009) về ảnh hưởng của CSR đối với sự cam kết với tổ chức; nghiên cứu của Esen (2013) về ảnh hưởng của CSR đến hình ảnh thương hiệu; hay nghiên cứu của Barakat, Isabella, Boaventura, và Mazzon (2016) về ảnh hưởng của CSR đối với sự hài lòng của nhân viên; nghiên cứu của Sharma, Poulose, Mohanta, và Antony (2018) về ảnh hưởng của CSR đối với ý định mua hàng; hoặc nghiên cứu của Chen và Lee (2017) về ảnh hưởng của CSR đối với giá trị doanh nghiệp Một số ít nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố tác động đến CSR: nghiên cứu về ảnh hưởng của các giám đốc phát triển bền vững và ủy ban CSR đến các kết quả liên quan đến CSR của Velte và Stawinoga (2020); nghiên cứu của Jackon, Bartosch, Avetisyan,

Kinderman, và Knudsen (2020) về việc bắt buộc công bố thông tin phi tài chính ảnh hưởng đến CSR; hay nghiên cứu của Kim và Kim (2020) tìm hiều về ảnh hưởng của các giá trị văn hóa đến nhận thức về CSR; hoặc văn hóa quốc gia ảnh hưởng đến CSR của Peng, Dashdeleg, và Chih (2012)

Nghiên cứu này đóng góp bằng chứng về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp (quy mô HĐQT, thành viên độc lập không điều hành, giám đốc điều hành, thành viên nữ trong HĐQT, thành viên HĐQT là người nước ngoài), cấu trúc doanh nghiệp (quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu), hiệu suất doanh nghiệp (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) đến chỉ số báo cáo trách nhiệm của ngân hàng, bổ sung vào các khoảng trống nghiên cứu trước đó

Nghiên cứu này có thể sẽ giúp ngân hàng nhìn nhận về trách nhiệm xã hội cũng như vận dụng mối liên hệ giữa quản trị doanh nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp, hiệu suất doanh nghiệp để phát triển ngân hàng một cách bền vững và hoàn toàn tự nguyện công bố các hoạt động trách nhiệm xã hội

Bên cạnh đó, từ kết quả của nghiên cứu dựa trên số liệu thực tế của các ngân hàng đã cho thấy rằng thành viên độc lập không điều hành, thành viên nữ, và thành viên là người nước ngoài trong HĐQT sẽ có tác động đến hoạt động CSR của ngân hàng Vì vậy, ngân hàng mà cụ thể là HĐQT muốn tăng cường hay thu hẹp các hoạt động CSR thì cân nhắc cân nhắc lựa chọn số lượng các thành viên này trong HĐQT Đối với ban điều hành ngân hàng, kết quả của nghiên cứu này cũng có giá trị trong việc mở rộng, đề ra các chương trình CSR phù hợp để dễ dàng được HĐQT thông qua cũng như tiết kiệm được thời gian, giảm những mâu thuẫn không mong muốn trong việc thảo luận các hoạt động CSR giữa ban quản trị và ban điều hành ngân hàng

Cuối cùng, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp tài liệu cho các quỹ đầu tư nước ngoài trong việc dự đoán các động thái CSR trong tương lai của ngân hàng, hoặc các tổ chức hoạt động vì kêu gọi đóng góp cho các chương trình từ thiện trong

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, và báo cáo quản trị của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam có niêm yết từ năm 2017 đến hết năm 2021 Trên cơ sở các số liệu này, nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu theo từng năm và trung bình trong 5 năm Tiếp theo, nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích tương quan Pearson để kiểm tra có mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc và có mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với nhau hay không Cuối cùng, nghiên cứu sẽ thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu.

Ý nghĩa của nghiên cứu

Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về các tác động của CSR như: Nghiên cứu của Turker (2009) về ảnh hưởng của CSR đối với sự cam kết với tổ chức; nghiên cứu của Esen (2013) về ảnh hưởng của CSR đến hình ảnh thương hiệu; hay nghiên cứu của Barakat, Isabella, Boaventura, và Mazzon (2016) về ảnh hưởng của CSR đối với sự hài lòng của nhân viên; nghiên cứu của Sharma, Poulose, Mohanta, và Antony (2018) về ảnh hưởng của CSR đối với ý định mua hàng; hoặc nghiên cứu của Chen và Lee (2017) về ảnh hưởng của CSR đối với giá trị doanh nghiệp Một số ít nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố tác động đến CSR: nghiên cứu về ảnh hưởng của các giám đốc phát triển bền vững và ủy ban CSR đến các kết quả liên quan đến CSR của Velte và Stawinoga (2020); nghiên cứu của Jackon, Bartosch, Avetisyan,

Kinderman, và Knudsen (2020) về việc bắt buộc công bố thông tin phi tài chính ảnh hưởng đến CSR; hay nghiên cứu của Kim và Kim (2020) tìm hiều về ảnh hưởng của các giá trị văn hóa đến nhận thức về CSR; hoặc văn hóa quốc gia ảnh hưởng đến CSR của Peng, Dashdeleg, và Chih (2012)

Nghiên cứu này đóng góp bằng chứng về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp (quy mô HĐQT, thành viên độc lập không điều hành, giám đốc điều hành, thành viên nữ trong HĐQT, thành viên HĐQT là người nước ngoài), cấu trúc doanh nghiệp (quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu), hiệu suất doanh nghiệp (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) đến chỉ số báo cáo trách nhiệm của ngân hàng, bổ sung vào các khoảng trống nghiên cứu trước đó

Nghiên cứu này có thể sẽ giúp ngân hàng nhìn nhận về trách nhiệm xã hội cũng như vận dụng mối liên hệ giữa quản trị doanh nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp, hiệu suất doanh nghiệp để phát triển ngân hàng một cách bền vững và hoàn toàn tự nguyện công bố các hoạt động trách nhiệm xã hội

Bên cạnh đó, từ kết quả của nghiên cứu dựa trên số liệu thực tế của các ngân hàng đã cho thấy rằng thành viên độc lập không điều hành, thành viên nữ, và thành viên là người nước ngoài trong HĐQT sẽ có tác động đến hoạt động CSR của ngân hàng Vì vậy, ngân hàng mà cụ thể là HĐQT muốn tăng cường hay thu hẹp các hoạt động CSR thì cân nhắc cân nhắc lựa chọn số lượng các thành viên này trong HĐQT Đối với ban điều hành ngân hàng, kết quả của nghiên cứu này cũng có giá trị trong việc mở rộng, đề ra các chương trình CSR phù hợp để dễ dàng được HĐQT thông qua cũng như tiết kiệm được thời gian, giảm những mâu thuẫn không mong muốn trong việc thảo luận các hoạt động CSR giữa ban quản trị và ban điều hành ngân hàng

Cuối cùng, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp tài liệu cho các quỹ đầu tư nước ngoài trong việc dự đoán các động thái CSR trong tương lai của ngân hàng, hoặc các tổ chức hoạt động vì kêu gọi đóng góp cho các chương trình từ thiện trong nước có những phán đoán chính xác hơn trong việc kêu gọi đóng góp đóng góp từ ngân hàng.

Cấu trúc luận văn

Chương này bao gồm nền tảng nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu của luận văn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết quản trị doanh nghiệp

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản trị doanh nghiệp mà phần lớn phụ thuộc vào các nhà nghiên cứu, thể chế đặc thù của từng quốc gia hay khuôn khổ pháp lý Cadbury (1992) định nghĩa quản trị công ty là một hệ thống và hệ thống này sẽ giám sát và kiểm soát hoạt động công ty Định nghĩa này nhấn mạnh đến vai trò chính của chủ thể trong công ty bao gồm các cổ đông, hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát Ngoài ra, theo Solomon (2004), quản trị công ty là một khuôn khổ kiểm soát và bảo vệ lợi ích của các bên liên quan Các bên liên quan trong cơ chế quản trị công ty bao gồm các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp, khách hàng, cổ đông, đối tác cung ứng và HĐQT Quản trị công ty tốt có thể củng cố và tăng cường chức năng kiểm soát nội bộ công ty, hạn chế hành vi tư lợi của người thừa hành và làm giảm thông tin bất cân xứng Do đó, theo Li và Qi (2008), quản trị công ty tốt sẽ tác động tích cực đến chất lượng công bố thông tin, gia tăng tính minh bạch cho thị trường và hiệu quả hoạt động công ty

Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) đã xuất bản một tài liệu năm 1999 mang tên Các Nguyên tắc Quản trị Công ty (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra một định nghĩa về quản trị công ty như sau: “Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn” (OECD, 1999) Có thể nói, định nghĩa của OECD về quản trị công ty khá chi tiết và có tính định hướng cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các công ty với mục đích xây dựng cơ chế quản trị công ty theo thông lệ tốt (Đức và Thủy, 2014)

Quản trị công ty (Corporate Governance) chủ yếu tập trung vào cấu trúc công ty, các quy trình, thông lệ nhằm đảm báo tính công bằng, trách nhiệm liên quan, minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình Trong khi quản lý doanh nghiệp (Corporate Management) tập trung vào những công cụ để vận hành hoạt động kinh doanh (Tricker, 1984) Có thể nhận thấy, quản trị công ty được đặt trên tầm cao hơn, hướng đến lợi ích cổ đông và các bên liên quan hơn so với quản lý doanh nghiệp (Đức và Thủy, 2014)

Quản trị doanh nghiệp bao hàm nghĩa rất rộng, vì vậy từng giai đoạn cụ thể, từng đặc điểm quốc gia, cũng như môi trường hoạt động đặc trưng của mỗi doanh nghiệp mà áp dụng chính sách quản trị công ty một cách thích hợp Chính vì vậy, theo thời gian các nhà nghiên cứu tài chính đã đúc kết được 5 lý thuyết nền tảng về quản trị công ty Đó là: Lý thuyết về quản trị, Lý thuyết người đại diện, Lý thuyết ràng buộc các nguồn lực, Lý thuyết chuyên quyền quản lý, Lý thuyết các bên liên quan

2.1.1 Lý thuyết về quản trị

Lý thuyết về quản trị cho rằng người quản lý là những cá nhân có động cơ và nhu cầu thúc đẩy làm việc cụ thể Ví dụ, người quản lý sẽ thể hiện lòng kiêu hãnh của mình khi thực hiện được một cách hoàn hảo công việc kinh doanh nào đó vốn dĩ vô cùng thách thức Đồng thời người quản lý thực thi quyền hạn và trách nhiệm của minh, điều hành tốt hoạt động kinh doanh để ngày càng gia tăng sự công nhận từ đồng nghiệp và ban quản lý cấp cao (Donaldson, 1990; Donaldson và Davis, 1991)

Do đó, các tác giả theo thuyết quản trị nhấn mạnh hiệu quả hoạt động công ty có mối liên hệ với phần lớn các giám đốc trực tiếp điều hành, những người tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông Bới vì các giám đốc trực tiếp điều hành có sự hiểu biết hơn về doanh nghiệp Họ sẽ quản lý công việc kinh doanh và thực thi những quyết định tốt hơn so với các giám đốc độc lập thuê ngoài Hơn nữa, nếu như theo lý thuyết người đại diện cho rằng nên tách bạch quyền kiêm nhiệm giữa chủ tịch HĐQT với tổng giám đốc thì lý thuyết về quản trị có quan điểm trái ngược Theo trường phái quản trị, khi tổng giám đốc cũng là chủ tịch HĐQT, cá nhân đó sẽ sẵn lòng làm việc nhiều hơn cho công ty Công việc quản trị sẽ tối đa hóa những hữu dụng của các nhà quản lý khi họ đạt được mục tiêu cho tổ chức hơn là mục đích tư lợi cá nhân (Davis và Schoorman, 1997) Do đó, cấu trúc HĐQT nên có một tỷ lệ thiết yếu các giám đốc điều hành bên trong để đảm bảo về mặt ảnh hưởng và việc ra quyết định hiệu quả

Về cơ bản, các quan điểm thuộc trường phái lý thuyết quản trị cho rằng những nhà quản lý là những cá nhân thật sự đáng tin cậy (Donaldson, 1990; Donaldson và Davis, 1991) và những nhà quản lý này sẽ tối thiểu hóa chi phí người đại diện vốn dĩ luôn tồn tại trong công ty (Donaldson và Preston, 1995) Lý thuyết quản trị được xem là một lý thuyết thuộc trường phái tích cực và vai trò chiến lược của HĐQT đã đóng góp về mặt tổng thể cho lý thuyết quản trị này (Hung, 1998) Song, lý thuyết về quản trị chủ yếu tập trung vào các cá nhân điều hành bên trong công ty chứ chưa thật sự nhấn mạnh mối liên kết giữa các cá nhân bên trong với bên ngoài doanh nghiệp Mối liên kết này không những tạo ra tính đa dạng trong thông lệ quản trị công ty mà còn gia tăng sự hỗ trợ đến các cấp quản lý Do đó, lý thuyết ràng buộc các nguồn lực được xây dựng để giải thích luận điểm về mối liên kết này

2.1.2 Lý thuyết người đại diện

Một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về lý thuyết người đại diện xuất phát từ Berle và Means (1932), Jensen và Meckling (1976) Jensen và Meckling (1976) định nghĩa lý thuyết người đại diện tập trung vào mối quan hệ tương tự như một hợp đồng theo đó người chủ thuê người thừa hành và người thừa hành sẽ đại diện người chủ thực hiện một số nhiệm vụ và được phép đưa ra những quyết định liên quan Tuy nhiên, người thừa hành không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích cao nhất của người chủ (Eisenhardt, 1989) Do đó, người chủ phải giám sát người thừa hành và phải tốn chi phí giám sát Đồng thời người thừa hành sẽ chấp nhận gánh chịu những chi phí ràng buộc Mâu thuẫn về lợi ích cũng tạo ra những mất mát do phúc lợi không được tối đa hóa Tổng chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và những mất mát được gọi là chi phí người đại diện vì các chi phí này xuất phát từ các mối quan hệ giữa người chủ và người thừa hành

Ngoài ra, một dạng chi phí người đại diện có nguồn gốc từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và các nhà quản lý công ty do sự tách biệt giữa quản lý và quyền sở hữu trong loại hình doanh nghiệp hiện đại Chi phí này được gọi là chi phí người đại diện của vốn cổ phần Khi cổ đông bị giới hạn hoặc mất quyền kiểm soát đối với người quản lý, thì phía quản lý sẽ có động cơ tham gia vào những hoạt động có lợi cho bản thân nhưng có thể phương hại đến quyền lợi cổ đông

Hơn nữa, một hình thức khác là chi phí đại diện của nợ phát sinh từ sự mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và chủ nợ Các nhà quản lý điều hành công việc kinh doanh theo kỳ vọng tối đa hóa lợi ích công ty của cổ đông và điều này đồng nghĩa với rủi ro hoạt động gia tăng Trong khi chủ nợ thật sự chỉ quan tâm đến các dự án đầu tư an toàn, do đó họ giải ngân rất hạn chế để phòng ngừa rủi ro cho chính họ Chính điều này hàm ý tồn tại ba chủ thể cổ đông, người thừa hành và chủ nợ không có cùng mục đích chung với nhau Và một khi trong tình huống vốn cổ phần của một công ty có vay nợ là một quyền chọn mua đối với tài sản của công ty (ví dụ trái phiếu chuyển đổi), thì cổ đông có thể chiếm hữu tài sản của chủ nợ bằng cách gia tăng rủi ro đầu tư (Jensen và Meckling, 1976)

Có nhiều cơ chế để kiểm soát chi phí người đại diện như sử dụng đòn bẩy tài chính, thiết kế hợp đồng khuyến khích dưới dạng sở hữu cổ phần và quyền chọn cổ phiếu để tập trung nỗ lực của người quản lý vào lợi ích của cổ đông (Jensen và Meckling; 1976; Fama, 1980) Jensen và Ruback (1983) cho rằng, mối đe dọa công ty bị thâu tóm thù nghịch cũng có thể có tác dụng như một cơ chế kiểm soát chi phí người đại diện Bởi vì khi đó, các nhà quản lý có khả năng sẽ mất đi những lợi ích vốn có ban đầu Rozeff (1982) và Easterbrook (1984) khuyến nghị cổ tức có thể là công cụ giảm chi phí người đại diện vì chia cổ tức là một dạng khích lệ, đồng thời hạn chế các nhà quản lý lạm dụng dòng tiền tự do

Lý thuyết người đại diện đã được xếp vào hàng kinh điển trong việc ứng dụng để thực thi kiểm soát các nhà thừa hành nhằm gia tăng lợi ích cho cổ đông, nhưng lý thuyết này vẫn bộc lộ những hạn chế và tính tiêu cực vốn dĩ của nó Một khi mức độ kiểm soát quá cao sẽ dẫn đến các hoạt động điều hành trong công ty trở nên cứng nhắc, thiếu linh hoạt và có thể gây hiệu ứng ngược cho kết quả kinh doanh Do đó, cần có một quan điểm tích cực hơn để bổ sung cho lý thuyết người đại diện

2.1.3 Lý thuyết ràng buộc các nguồn lực

Lý thuyết ràng buộc các nguồn lực bắt nguồn từ những nghiên cứu trong kinh tế học và xã hội học, đồng thời tập trung vào vai trò liên kết của các thành viên HĐQT Các thành viên HĐQT này có thể vừa hoạt động trong công ty sở tại, vừa đảm nhiệm vị trí quản lý ở những công ty khác Những thành viên này sẽ làm cầu nối giữa doanh nghiệp với cả đối thủ cạnh tranh và các bên liên quan khác (Zahra và Pearce, 1989) Theo lý thuyết này, HĐQT là một cơ chế bình bầu trong công ty để định hình mối liên kết với các môi trường bên ngoài công ty, đồng thời tiếp nhận các nguồn lực có sức ảnh hưởng, có tầm quan trọng để làm bước đệm cho công ty đương đầu với những thay đổi bất lợi trong môi trường kinh doanh (Pfeffer, 1972; Pfeffer và Salancik, 1978; Pearce và Zahara, 1991)

Không những vậy, lý thuyết này đã cung cấp nền tảng lý thuyết về vai trò của HĐQT như một nguồn lực trong công ty (Johnson và các tác giả, 1996; Hillman và các tác giả, 2000) Ngoài ra, Penrose (2009) cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các nguồn lực trong việc kiểm soát công ty Những nguồn lực này mang tính tổng thể, duy nhất và có tính cốt yếu cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp Cụ thể, các nguồn lực bao gồm tất cả các nguồn hình thành tài sản, vốn kinh doanh, quy trình hoạt động, loại hình doanh nghiệp, khả năng tiếp nhận và phản hồi thông tin cũng như việc doanh nghiệp ứng dụng tri thức nhân loại, từ đó cải tiến hiệu năng và hiệu quả hoạt động (Daft, 2008) Từ những quan điểm trên, cấu trúc quản trị công ty và các thành phần cấu thành HĐQT được xem xét như một nguồn lực có thể làm tăng giá trị doanh nghiệp (Bathula, 2008) Điều then chốt của lý thuyết này cho rằng, công ty nỗ lực cố gắng kiểm soát môi trường kinh doanh bằng cách chọn lọc những nguồn lực cần thiết để tồn tại (Pfeffer và Salancik, 1978) Theo đó, HĐQT giữ vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với các nguồn lực cơ bản Đồng thời doanh nghiệp sẽ tiếp nhận các nguồn lực bên ngoài, từ đó hoạt động hiệu quả hơn Việc bổ nhiệm các thành viên bên ngoài vào HĐQT góp phần gia tăng khả năng tiếp nhận các nguồn lực, quyết định thành công của công ty (Johnson và các tác giả 1996) Với vai trò ràng buộc các nguồn lực, các thành viên HĐQT bên ngoài sẽ đem lại nhiều nguồn lực cho công ty như: việc tiếp nhận và phản hồi thông tin, các kỹ năng và tri thức, khả năng tiếp cận các thành phần then chốt (như các nhà cung cấp, khách hàng, các quyết định chính sách, các nhóm xã hội) và tính hợp pháp trong hoạt động kinh doanh (Hillman và các tác giả,

2.1.4 Lý thuyết chuyên quyền quản lý

Lý thuyết chuyên quyền quản lý liên quan đến công trình có tầm ảnh hưởng của Berle và Means (1932) Tác giả cho rằng, về pháp lý, mặc dù các cổ đông nắm quyền sở hữu và kiểm soát công ty, nhưng trên thực tế, việc kiểm soát này không còn nữa mà đã nhượng lại cho một bộ phận quản lý chuyên nghiệp mới Nói cách khác, theo lý thuyết chuyên quyền quản lý, HĐQT chỉ là cơ quan hợp pháp trong công ty, được lập ra cho có hình thức Mặc dù cơ quan này có quyền quản trị các cấp quản lý theo quy định, nhưng thực tế các cấp quản lý công ty thống trị và lấn áp HĐQT Do đó, HĐQT mất đi tính hiệu quả trong việc giải quyết những xung đột về lợi ích của cấp điều hành và cổ đông (Herman, 1981; Kosnik, 1987)

Lý thuyết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.2.1.Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã được chú ý cả trong học thuật lẫn thực tiễn kinh doanh (Maignan và Ferrell,2004; Sen và Bhattacharya, 2001) Sự chú ý ngày càng tăng của CSR dẫn đến sự phổ biến các định nghĩa cho khái niệm này (Carroll, 1979; Panwar và cộng sự, 2006; Van Marrewijk, 2003)

Theo tài liệu của Ủy ban Châu Âu năm 2002, CSR được định nghĩa là sự kết hợp giữa mối quan tâm các vấn đề xã hội và hoạt động kinh doanh tương tác với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện Vilanova và cộng sự năm 2009 đã đề xuất một định nghĩa khác về CSR rằng CSR bao gồm năm chiều: tầm nhìn, mối quan hệ với cộng đồng, nơi làm việc, trách nhiệm và thương trường Tầm nhìn, bao gồm phát triển khái niệm CSR, và giá trị của CSR trong tổ chức Quan hệ cộng đồng bao gồm quan hệ đối tác với các bên liên quan khác như như khách hàng, nhà cung cấp, v.v Nơi làm việc bao gồm quyền con người và thực hành lao động trong tổ chức Trách nhiệm bao gồm tính minh bạch trong truyền thông và báo cáo tài chính Thị trường bao gồm mối quan hệ giữa CSR và các quy trình kinh doanh cốt lõi như bán hàng, mua hàng, v.v

Theo Van Marrewijk năm 2003, CSR đề cập đến các hoạt động của các doanh nghiệp hòa nhập với xã hội, môi trường và tác động với các bên liên quan theo mức độ tham vọng tiến tới phát triển bền vững của doanh nghiệp đó Trong khi đó, McWilliams và Siegel (2001) định nghĩa CSR là các hành động thực hiện bên ngoài lợi ích của công ty và đó là yêu cầu của pháp luật

Các định nghĩa về CSR hầu hết là khác nhau, nhưng nhìn chung đều hướng đến nhấn mạnh các hoạt động CSR bên ngoài hoạt động kinh tế, pháp lý của doanh nghiệp (Carroll, 2008) CSR được định nghĩa khác nhau có nghĩa là sự đóng góp của các công ty tốt hơn, xã hội công bằng hơn và môi trường trong sạch hơn (Ghazali, 2007; Reverte, 2008; Gamerschlag và cộng sự, 2010)

Sự liên quan của CSR có thể được bắt nguồn từ lý thuyết các bên liên quan Theo lý thuyết các bên liên quan, các công ty nên xem xét lợi ích của các bên liên quan khác ngoài lợi ích cổ đông Các hoạt động của công ty ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi các nhóm khác như cổ đông, nhà quản lý, nhân viên, chủ nợ, nhà cung cấp, người tiêu dùng, chính phủ và cộng đồng (Freeman, 1984) Điều này có nghĩa là các công ty nên theo đuổi mục tiêu rộng hơn thay vì tập trung tối đa hóa sự giàu có cho cổ đông Hơn nữa, Caroll (1979, 1991) lập luận rằng mặc dù các công ty có trách nhiệm kinh tế đối với chủ sở hữu thì họ cũng có nhiều trách nhiệm khác như pháp lý, đạo đức, từ thiện đối với các bên liên quan Theo ông, các trách nhiệm khác không thể tách với trách nhiệm kinh tế vì không có nó, các trách nhiệm khác không thể thực hiện được

2.2.2 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và ngân hàng

Ngành ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế quốc gia (Beck và cộng sự, 1999) và chủ động tham gia vào các hoạt động CSR (Marin và cộng sự 2009; Truscott và cộng sự, 2009) trong khi các ngành công nghiệp khác tham gia CSR là do áp lực từ phản ứng của các bên liên quan (Decker, 2004) Danh tiếng của các tổ chức tài chính phụ thuộc vào các chương trình trách nhiệm xã hội mà họ thực hiện (Poolthong và Mandhachitara, 2009), đây là lý do tại sao các tổ chức ngân hàng có xu hướng xếp hạng CSR cao (Perez và cộng sự, 2013)

Ngày nay, CSR đã trở thành một khái niệm được mở rộng và truyền tải rất tốt trong ngành dịch vụ tài chính do tác động rất lớn đến xã hội (Scholtens, 2009) Các ngân hàng đang tăng chi tiêu CSR của họ (Truscott và cộng sự, 2009; Marin và Ruiz, 2009) bằng cách triển khai các hoạt động CSR vào thực tiễn như các chương trình tín dụng vi mô cho người nghèo (Hermes và cộng sự, 2005; Prior và Argandona,2008)

Thompson và Cowton (2004) đã đề xuất, các ngân hàng có nhiều khả năng chịu ảnh hưởng của rủi ro danh tiếng cao hơn so với các công ty khác và dễ bị tổn thương hơn với các phản ứng tiêu cực từ các bên liên quan Điều này cực kỳ quan trọng đối với ngành ngân hàng, buộc họ phải quan lý danh tiếng tốt để tạo sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh đồng thời duy trì và phát triển tốt niềm tin đối với các bên liên quan (Flavian và cộng sự, 2005) Do đó, các ngân hàng bán lẻ đang chi tiêu hàng triệu đô la cho các chương trình CSR để tăng cường danh tiếng (McDonald và Rundle-Thiele, 2008)

Vì tầm quan trọng của việc xây dựng và quản lý danh tiếng trong lĩnh vực dịch vụ cao và nhu cầu xây dựng niềm tin của các bên liên quan (Perez và cộng sự,

2013), các ngân hàng xem xét hoạt động CSR trong các quyết định chiến lược của mình để cải thiện hình ảnh của họ một cách công khai (McDonald và Lai, 2011) Ngành ngân hàng đã có những thay đổi đáng kể và đã trở thành một trong những nhà đầu tư chủ động chính trong các hoạt động CSR trên toàn thế giới (Marin và cộng sự, 2009; Truscott và cộng sự, 2009)

2.3 Thực trạng thực hiện CSR của các ngân hàng thương mại hiện nay

Tính đến tháng 2/2021, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế là 9.253.071 tỷ đồng, tăng 0,66% so với cuối năm 2020 và với tổng tài sản có (tính đến tháng 10/2020) là 13.175.947 tỷ đồng, ngành ngân hàng giữ vị trí quan trọng, đóng góp phần lớn trong việc cung ứng tín dụng và tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thông qua việc cung ứng tín dụng cho doanh nghiệp và người dân, ngành ngân hàng đã tạo ra những chuyển biến tích cực cho xã hội, trong đó có một phần ảnh hướng rất lớn đến sự phát triển bền vững của hoạt động sản xuất - kinh doanh

Vì vậy, khi ngân hàng không chỉ theo đuổi các mục tiêu kinh tế, mà còn chú trọng đến các vấn đề xã hội, môi trường, thì tác động của ngành ngân hàng đến nền kinh tế, xã hội sẽ mang tính toàn diện và nhân văn hơn

Là một trong những tổ chức tài chính lớn, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) đã thể hiện trách nhiệm đối với khách hàng cũng như cộng đồng, xã hội để vượt qua những khó khăn mà dịch Covid-19 gây ra

Những cái tên tiêu biểu có hoạt động CSR thiết thực, tạo ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng tại Việt Nam, những công ty có hoạt động CSR thiết thực, tạo ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng như HSBC Việt Nam Hơn 20 năm hoạt động tại Việt Nam kể từ ngày mở chi nhánh đầu tiên năm 1995, HSBC Việt Nam cho biết đã cùng các tổ chức NGO quốc tế và địa phương thực hiện hàng trăm dự án về phát triển giáo dục, bảo vệ môi trường, phát triển cộng đồng tại hơn 30 tỉnh, thành phố trên toàn quốc Trong đó tiêu biểu là các dự án Future First mang đến cơ hội học tập cho 19 ngàn trẻ em; dự án JA More Than Money tổ chức các khóa học tài chính cho hơn 1.000 học sinh tiểu học… hay xây thư viện lưu động cho 136 trường… HSBC Việt Nam còn có sáng kiến riêng “nhân viên HSBC hoạt động vì cộng đồng” nhằm khuyến khích nhân viên tham gia hoạt động cộng đồng Chương trình khởi động từ năm 2009 Trong tám năm vừa qua, các nhân viên của HSBC đã thực hiện được gần

Giả thuyết nghiên cứu

2.5.1 Quy mô HĐQT và CSR

Khi xem xét hoạt động của một nhóm nào đó, ta thường thấy nhóm nhỏ dự kiến sẽ hoạt động hiệu quả hơn các nhóm lớn do dễ kiểm soát và dễ quản lý hơn

Do kích thước nhỏ nên dự kiến mức độ phối hợp hiệu quả hơn cam kết, hưởng lợi nhiều hơn và trách nhiệm từng thành viên cũng cao hơn (Ahmed et al., 2006; Dey,

2008) Tuy nhiên, nhược điểm là trong một HĐQT nhỏ thì khối lượng công việc của từng thành viên có xu hướng cao và tăng dần nên họ mất quá nhiều thời gian để giải quyết và hạn chế khả năng giám sát của hội đồng quản trị (John và Senbet, 1998) Hơn nữa, HĐQT nhỏ trên một phạm vi chuyên môn ít đa dạng hơn HĐQT lớn, có thể ảnh hưởng đến chất lượng giám sát được cung cấp (Guest, 2009)

Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng quy mô HĐQT xác định bởi nhiều yếu tố bao gồm ngành công nghiệp, quy mô doanh nghiệp và sự phức tạp trong hoạt động kinh doanh của công ty (Krishnan và Visvanathan, 2009; Pathan, 2009) Các ngân hàng thương mại là các tổ chức phức tạp tuân theo quy định trên phạm vi rộng (Grove et al., 2011), trong bối cảnh ngành nghề có tính chất riêng biệt, việc cân nhắc khối lượng công việc để giảm thiểu rủi ro là rất quan trọng, dó đó nghiên cứu này kỳ vọng quy mô HĐQT lớn sẽ có khả năng quản lý trực tiếp tốt hơn và dẫn đến việc tham gia các hoạt động trách nhiệm xã hội hiệu quả hơn và có thể lan truyền trách nhiệm xã hội tới các bên liên quan ngân hàng Điều này dẫn đến giải thiết đầu tiên là:

H1: Quy mô HĐQT tác động tích cực đến CSR

2.5.2 Giám đốc điều hành và CSR

Lý thuyết cơ quan cho thấy lợi ích riêng tư của người quản lý có khả năng tác động đến mức độ mà họ tham gia vào các hoạt động CSR và báo cáo CSR Trong bối cảnh này CEO có thể xem công cụ của quyền lực quản lý CEO có khả năng được bổ nhiệm làm chủ tịch HĐQT nếu có nhiều thành tích tốt và giữ tỷ lệ lớn cổ phần của công ty (Hermalin và Weisbach, 1998)

Hơn nữa, Chủ tịch HĐQT có khả năng thiết lập chương trình nghị sự của HĐQT cung cấp thông tin cho các thành viên HĐQT khác, CEO đóng vai trò chủ tịch có thể che giấu thông tin quan trọng dễ dàng hơn từ người khác, đặc biệt là thành viên HĐQT độc lập không điều hành (Haniffa và Cooke, 2002; Li và cộng sự, 2008; KRGAN và Visvanathan, 2009) Chủ tịch HĐQT có thể cho phép các CEO ảnh hưởng đến các cuộc hẹn của hội đồng quản trị (Haniffa và Cooke, 2002) Do đó, các thành viên HĐQT độc lập không điều hành có thể dễ chấp nhận các quyết định chống lại sự phán xét của quản lý cấp cao hơn, bởi vì họ cố gắng tránh các cuộc đối đầu với các CEO quyền lực hơn, ví dụ như để củng cố vị trí của họ trong HĐQT (Dey, 2008)

Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng việc giám sát bởi giám đốc điều hành bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tính nhị nguyên CEO (Tuggle, Sirmon, Reutzel và

Bierman, 2010), cũng như mức độ báo cáo một cách tự nguyện (Donnelly và Mulcahy, 2008; Chau và Grey, 2010)

Như đã thảo luận trước đây, trong khi người ta thường cho rằng các CEO của ngân hàng ít gặp rủi ro hơn so với các cổ đông khác, những thay đổi trong thù lao điều hành của các ngân hàng có thể có đã thay đổi điều này Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thù lao điều hành tại các ngân hàng Mỹ ngày càng trở nên nhạy cảm với rủi ro, điều này đã khuyến khích các nhà quản lý chấp nhận nhiều rủi ro hơn để tối đa hóa tiền lương ngắn hạn của họ Nghiên cứu của Bai và Elyasiani

(2013) cho thấy giữa năm 1992 và 2008 độ nhạy cảm rủi ro của việc trả lương cho CEO tại các công ty mẹ của ngân hàng Mỹ tăng đáng kể và điều này có liên quan đến sự gia tăng rủi ro ngân hàng Tương tự, nghiên cứu bởi Hagendorff và Vallascas

(2011) nhận thấy rằng từ năm 1993 đến 2007 các CEO của các ngân hàng Mỹ ngày càng tham gia vào các giao dịch kinh doanh rủi ro hơn, vì tỷ lệ chi trả dựa trên vốn chủ sở hữu trong hợp đồng thực hiện của họ tăng lên Điều này cho thấy xu hướng tiêu biểu của các nhà quản lý rủi ro để bảo vệ vốn nhân lực của họ đã bị xói mòn bởi cấu trúc trả lương Vì sự tham gia CSR và công bố báo cáo CSR có xu hướng làm giảm rủi ro của các công ty (Simpson và Kohers, 2002; Scholtens, 2008; Salama và cộng sự, 2011; Ghoul và cộng sự, 2011), các CEO có thể xem báo cáo CSR là bất lợi để tối đa hóa mức thù lao của họ

Kể từ khi thông tin được cung cấp tăng lên làm tăng hiệu quả của kiểm soát bên ngoài thông qua các nhà đầu tư, các nhà phân tích tài chính và báo chí kinh doanh (Healy và Palepu, 2001; Li et al., 2008; Beyer, Cogen, Thomas và Walther

2010) mà còn bởi các bên liên quan quan trọng khác Đóng vai trò quan trọng trong HĐQT, có ảnh hưởng lớn đến hành vi của HĐQT, nghiên cứu kỳ vọng rằng:

H2: Giám đốc điều hành có liên quan tiêu cực đến báo cáo CSR

2.5.3 Thành viên HĐQT độc lập không điều hành và CSR

Trong một nghiên cứu năm 2014 của tác giả Sharif và Rashid đã báo cáo rằng thành viên HĐQT độc lập không điều hành có một vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt ngành ngân hàng đối với các hoạt động CSR Báo cáo của Tricker (1984) cũng cho rằng thành viên HĐQT độc lập không điều hành là yếu tố chiến lược giúp thu hẹp khoảng cách giữa quản lý và cổ đông, đặc biệt là các cổ đông nước ngoài Đây cũng là thành viên được coi là cơ chế cân bằng và kiểm tra, không chỉ trong việc đảm bảo rằng các công ty hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông, mà còn vì các bên liên quan khác

Ngoài ra, Zahra và Stanton (1988) cũng trình bày trong nghiên cứu của họ rằng thành viên này có khả năng đáp ứng mối quan tâm về danh dự và nghĩa vụ nhiều hơn trách nhiệm xã hội của công ty bởi vì điều này giúp cải thiện uy tín và danh dự Một nghiên cứu khác năm 1983 của Fama và Jensen chứng minh rằng thành viên HĐQT độc lập không điều hành giải quyết hiệu quả xung đột giữa người quản lý và các cổ đông, và tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập không điều hành càng cao sẽ giám sát quản lý tốt hơn (John và Senbet, 1998; Ahmed, Hossain vàAđam, 2006; Cheng và Courtenay, 2006), một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng HĐQT vó thành viên độc lập không điều hành cao có xu hướng minh bạch tương đối cao (Cheng và Courtenay, 2006; Patelli và Prencipe, 2007; Donnelly và Mulcahy, 2008;

Li và cộng sự, 2008; Chau và Grey, 2010) Dựa vào những nghiên cứu trên, giải thiết nghiên cứu H3 được đặt ra như sau:

H3: Thành viên HĐQT độc lập không điều hành có tác động tích cực đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.5.4 Thành viên nữ trong HĐQT và CSR

Nghiên cứu năm 2006 của Huse và Solberg chỉ ra rằng phụ nữ có thể tham gia vào các hội đồng quản trị và tham gia vào việc thảo luận để đưa ra những quyết định quan trọng Adams và Ferreira (2004, p 3) đề xuất rằng các ban quản trị có tỷ lệ giám đốc nữ cao giúp cho hội đồng có đa dạng về ý kiến và quan điểm thảo luận tại các cuộc họp, làm cho các ban quản trị đa dạng thành công hơn các quan quản trị đồng nhất chỉ có nam

Carter và cộng sự (2003) đưa ra bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ phụ nữ trong hội đồng và sự đa dạng giới của HĐQT, Người Mỹ gốc Phi, người châu Á và người gốc Tây Ban Nha trong ban giám đốc và giá trị công ty Ngoài ra, nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng sự đa dạng của HĐQT được đo bằng tỷ lệ giám đốc là nữ giới luôn gắn liền với định hướng trách nhiệm xã hội mạnh mẽ (Ibrahim & Angelidis, 1994), và cao hơn cả mức độ hiệu quả xã hội (Siciliano,

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Dựa trên các mô hình nghiên cứu trước (Khan, 2010; Sharif & Rashid, 2014; Jizi và cộng sự, 2014), căn cứ vào các giả thuyết nghiên cứu đặt ra, mô hình nghiên cứu dự kiến là mô hình hồi quy đa biến và có dạng như sau:

▪ CSRRIj: Chỉ số báo cáo trách nhiệm của ngân hàng j

▪ BSj: Quy mô hội đồng quản trị ngân hàng j, đo bằng tổng số lượng thành viên HĐQT

▪ CEOj: Giám đốc điều hành ngân hàng j, là biến nhị phân, nếu CEO đồng thời là chủ tịch HĐQT thì giá trị là 0, ngược lại CEO được thuê giá trị là 1

▪ BIj: Thành viên độc lập, được đo bằng số lượng thành viên độc lập không điều hành trong HĐQT

▪ WDj: Thành viên nữ trong HĐQT, được đo bằng số lượng thành viên là nữ giới trong HĐQT

▪ FDj: Thành viên người nước ngoài, được đo bằng số lượng thành viên trong HĐQT không phải quốc tịch Việt Nam

▪ DTEj: tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng được đo bằng tổng nợ dài hạn trên tổng vốn chủ sở hữu

▪ STAj: Quy mô ngân hàng, được đo bằng tổng tài sản cố định và tổng tài sản hiện tại

▪ β: hệ số tung độ góc

Hình 2 1: Mô hình nghiên cứu

Bảng 2 3: Bảng tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình

Yếu tố Tên đầy đủ Ký hiệu Mô tả Kỳ vọng

Nghiên cứu tham khảo Biến phụ thuộc

Chỉ số báo cáo trách nhiệm xã hội của ngân hàng

CSRRI Chỉ số thực hiện CSR của ngân hàng trên 7 loại CSR được báo cáo

Habib–Uz–Zaman Khan (2010); Jizi, Salama, Dixon

Quy mô HĐQT Board Size BS Tổng số lượng thành viên

& Stratling (2014) Thành viên độc lập không điều hành

BI Số lượng thành viên độc lập không điều hành trong tổng số thành viên HĐQT

CEO Là biến nhị phân, nếu CEO đồng thời là chủ tịch HĐQT thì giá trị là 0, ngược lại CEO được thuê giá trị là 1

Thành viên nữ trong HĐQT

WD Số lượng thành viên là nữ giới trong HĐQT +

Habib–Uz–Zaman Khan (2010); Barako, D G và Brown, A M (2008)

HĐQT là người nước ngoài

FD Thành viên người nước ngoài, được đo bằng số lượng thành viên trong HĐQT không phải quốc tịch Việt Nam

Habib–Uz–Zaman Khan (2010); Barako, D G và Brown, A M

Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

DTE Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng được đo bằng tổng nợ dài hạn trên tổng vốn chủ sở hữu

Habib–Uz–Zaman Khan (2010) Lợi nhuận Return on

ROE Lợi nhuận được đo bằng tổng lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu

Size based on total assets

STA Quy mô ngân hàng được đo bằng tổng tài sản cố định và tổng tài sản hiện tại

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trình bày các lý thuyết về quản trị doanh nghiệp, lý thuyết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước có liên quan Từ đó, nghiên cứu đề ra các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu gồm có 8 biến độc lập; trong đó có 5 biến độc lập thuộc quản trị doanh nghiệp là quy mô HĐQT, thành viên độc lập không điều hành, giám đốc điều hành, thành viên nữ trong HĐQT, thành viên HĐQT là người nước ngoài; 2 biến độc lập liên quan đến cấu trúc doanh nghiệp là quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu; cuối cùng là 1 biến liên quan đến hiệu suất doanh nghiệp là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu; 8 biến độc lập này tác động đến chỉ số báo cáo trách nhiệm của ngân hàng

Chương tiếp theo sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thu thập dữ liệu thứ cấp cũng như kiểm định các giả thuyết nêu trên.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 27/02/2024, 16:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1: Tóm tắt các nghiên cứu trước - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 2. 1: Tóm tắt các nghiên cứu trước (Trang 40)
Bảng 2. 2: Tóm tắt các biến sử dụng trong nghiên cứu trước - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 2. 2: Tóm tắt các biến sử dụng trong nghiên cứu trước (Trang 42)
Hình 2. 1: Mô hình nghiên cứu - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Hình 2. 1: Mô hình nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 2. 3: Bảng tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 2. 3: Bảng tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình (Trang 52)
Bảng 4. 1: Số liệu năm 2017 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 1: Số liệu năm 2017 (Trang 64)
Bảng 4. 2: Số liệu năm 2018 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 2: Số liệu năm 2018 (Trang 66)
Bảng 4. 3: Số liệu năm 2019 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 3: Số liệu năm 2019 (Trang 67)
Bảng 4. 4: Số liệu năm 2020 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 4: Số liệu năm 2020 (Trang 68)
Bảng 4. 5: Số liệu năm 2021 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 5: Số liệu năm 2021 (Trang 70)
Bảng 4. 6: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 1 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 6: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 1 (Trang 72)
Bảng 4. 7: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 2 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 7: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 2 (Trang 74)
Bảng 4. 8: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 3 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 8: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 3 (Trang 76)
Bảng 4. 9: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 4 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 9: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 4 (Trang 78)
Bảng 4. 10: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 5 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 10: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 5 (Trang 80)
Bảng 4. 11: Trung bình các chỉ số giai đoạn 2017-2021 - Quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trường hợp các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4. 11: Trung bình các chỉ số giai đoạn 2017-2021 (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w