Do đó kéo theo sự thay đổi của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khácnhư lạm phát, tăng trưởng thất nghiệp...Bên cạnh đó lãi suất cònđược xem như là một công cụ để điều hoà mối quan hệ lợi ích
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
DIỄN BIẾN LÃI SUẤT Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2010
Giảng viên: Nguyễn Hồ Phương Thảo
Nhóm sinh viên thực hiện:
1 Võ Thị Hương Hải
2 Nguyễn Thị Thanh Xuân
3 Lưu Thị Vân Anh
4 Nguyễn Châu Quỳnh Trang
5 Tạ Thị Hân
6 Đặng Thị Thúy
7 Hồ Văn Tình
Trang 21 Khái niệm về lãi suất
2 Các loại lãi suất chủ yếu
3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
II Diễn biến lãi suất ở nước ta từ năm 2007 đến 2010
1 Lãi suất cơ bản
2 Lãi suất ngoại tệ
3 Lãi suất liên ngân hàng
III Ảnh hưởng của lãi suất đến nền kinh tế
1 Ảnh hưởng của lãi suất đến thị trường chứng khoán
2 Ảnh hưởng của lãi suất đến thị trường bất động sản
C Kết luận
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Lãi suất là một trong những biến số kinh tế vĩ mô hết sức quan trọngtrong nền kinh tế thị trường, một công cụ trong việc điều hành chính sáchtiền tệ của quốc gia Mỗi sự thay đổi của lãi suất đều tác động trựctiếp hay gián tiếp đến các hoạt động của nền kinh tế như các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hành vi tiết kiệm vàđầu tư của công chúng, hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nướcngoài Do đó kéo theo sự thay đổi của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khácnhư lạm phát, tăng trưởng thất nghiệp Bên cạnh đó lãi suất cònđược xem như là một công cụ để điều hoà mối quan hệ lợi ích giữacác chủ thể trong nền kinh tế, mỗi sự tăng hay giảm của lãi suất sẽkéo theo sự khuyến khích lợi ích vật chất đối với chủ thể kinh tế nàyđồng thời hạn chế lợi ích của chủ thể kinh tế khác Lãi suất có thể sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành, lĩnh vực này đồng thời kiềm chế sựphát triển của các ngành lĩnh vực khác, tăng lợi ích của nhóm ngườinày, giảm lợi ích của nhóm người kia Lãi suất còn là công cụ tạo racác kênh chu chuyển nguồn lực xã hội từ ngành lĩnh vực này, sangngành lĩnh vực khác, từ vùng này sang vùng khác Do đó tạo ra sựthay đổi cơ cấu vùng, cơ cấu ngành của nền kinh tế
Chính vì lãi suất có một vai trò hết sức quan trọng như vậy vì thếtình hình biến động lãi suất là một vấn đề mà hầu hết mọi người đềurất quan tâm và được theo dõi hằng ngày
Trang 4A KHÁI NIỆM VỀ LÃI SUẤT,CÁC LOẠI LÃI SUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
I KHÁI NIỆM VỀ LÃI SUẤT
-Lãi suất: là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong
một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả đểđược sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay cóđược đối với việc trì hoãn chi tiêu
II CÁC LOẠI LÃI SUẤT CHỦ YẾU
-Lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản (prime rate), còn gọi là prime được các ngân hàng
thương mại tầm cỡ tại các trung tâm tài chính chủ lực của một nền kinh tếcông bố và áp dụng đối với các khoản nợ dành cho các doanh nghiệp làkhách hàng lớn
-Lãi suất tiết kiệm
Lãi suất tiết kiệm (passbook rate): là lãi suất được xác lập bởi hoạt động
tiết kiệm giữa khách hàng ký thác với ngân hàng hoặc các tổ chức phát triểngia cư Các định chế tài chính này được lập ra chủ yếu huy động vốn để chovay phục vụ cho mục đích phát triển bất động sản
-Lãi suất huy động nóng
Lãi suất huy động nóng hay có thể gọi là lãi suất qua đêm (federal funds
rate): là loại lãi suất được xác lập bởi thị trường cho vay tạm thời các khoản
nợ để đáp ứng cân đối dự trữ theo luật định mà các ngân hàng thương mạiphải duy trì tại Ngân hàng Trung ương Những ngân hàng có cân đối dự trữvượt yêu cầu có thể sử dụng khoản vượt này để cho các ngân hàng bị hụtvay tạm
-Lãi suất chiết khấu của Ngân hàng Trung ương
Lãi suất chiết khấu (discount rate): là lãi suất được thu trên các khoản
tiền mà Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng thành viên trong hệ thốngvay
-Lãi suất danh nghĩa
Lãi suất danh nghĩa, là thuật ngữ tài chính và kinh tế học để chỉ tỷ lệ lãi
trên giá trị danh nghĩa của một khoản tiền vay hoặc đầu tư với hàm ý nó là
tỷ lệ lãi chưa được điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát hoặc ảnh hưởng củaviệc tính lãi kép
III.VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
Trang 51.Lãi Suất với quá trình huy động vốn
Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy để phát triển kinh tế cần phải có vốn
và thời gian Các nước tư bản phát triển phải mất hàng trăm năm phát triểncông nghiệp và quá trình lâu dài tích tụ vốn từ sản xuất và tiêu dùng Đối vớiViệt Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và sử dụngvốn có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo thựctiễn Vì vậy chính sách lãi suất có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy
động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và định các tổ chức kinh tế đảm bảo
đúng định hướng vốn trong nước là quyết, vốn ngoài nước là quan trọngtrong chiến lược CNH-HĐH nước ta hiện nay
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suấtphải bảo tồn được giá trị vốn vay, đảm bảo tích luỹ cho cả người cho vay vàngười đi vay
Cụ thể:
+Tỷ lệ lạm phát lãi suất tiền gửi ( lãi suất tiền vay) tỷ suất lợi nhuận bìnhquân
+Lãi suất ngắn hạn lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay)
2.Lãi suất với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi
họ dự tính lợi nhuận thu được từ taì sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trảcho các khoản đi vay để đầu tư Do đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinhdoanh có điều kiện tiến hành mở rộng đâu tư và ngược lại Trong môi trườngtiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư
có kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào
mở rộng sản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngânhàng nếu lãi suât của nó cao
Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và xuốnggiá, có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vìnguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư,
sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy môđầu tư
Mối quan hệ giữa đầu tư và lãi suất được thể hiện qua đồ thị sau:
Trang 6Hình 1
3.Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêudùng và tiết kiệm Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thunhập, vấn đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệmtrong đó lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó
4.Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ
Sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danhnghĩa Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng (lãi suất thựckhông đổi) thì tỷ giá giảm Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tếtăng (tỷ lệ lạm phát không đổi) thì tỷ giá tăng khi tỷ giá đồng ngoại tệ tăngđồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngược lại
+Vai trò của lãi suất trong nước với quá trình Xuất Nhập Khẩu: khi lãisuất thực tế tăng lên làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên tỷ giá hối đoái cao hơnlàm hàng hoá của nước đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn lên và hàng hoánước ngoài ở nước đó sẽ trở nên rẻ hơn, dẫn đến giảm xuất khẩu ròng Mốiquan hệ này được biểu thị bởi đồ thị sau:
Trang 7Hình 2
+Vai trò của lãi suất nước ngoài với xuất khẩu ròng:
Khi lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ tăng lên, đường lợi tức dự tính củađồng ngoại tệ dịch chuyển sang phải làm giảm tỷ giá hối đoái Hàng xuấtkhẩu trở nên rẻ hơn so với các quốc gia khác
5.Lãi suất với lạm phát
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất vàlạm phát Fishes chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát, do đólãi suất được sử dụng để điều chỉnh lạm phát cụ thể tăng lãi suất, thu hẹpđược lượng tiền trong lưu thông, lạm phát được kìm chế
6.Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực
Tất cả các nguồn lực đều có tính khan hiếm Vấn đề là xã hội phải phân
bổ và sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả Nghiên cứu trong nền kinh tếthị trường cho thấy giá cả đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân bổcác nguồn lực giữa các ngành kinh tế Như ta đã biết, lãi suất là một loại giá
cả, nghĩa là lãi suất có vai trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của
xã hội Để quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế một dự án hay một tàisản nào đó chúng ta đều phải quan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suấtlợi tức thu được với chi phí ban đầu Có nghĩa là phải xem việc đầu tư này
có mang lại lợi nhuận hay không và có đảm bảo hiệu quả kinh doanh để trảkhoản tiền lãi của số tiền vay cho chi phí ban đầu hay không Khi quyết địnhđầu tư vào một ngành kinh tế, một dự án hay một tài sản ta phải quan tâm tới
Trang 8chênh lệch giữa lợi nhuận đem lại và số tiền vay phải trả Khi chênh lệchnày là dương, thì nguồn lực sẽ được phân bổ tới đó và là sự phân bổ hiệuquả.
7.Lãi suất vai trò của nó đối với Ngân Hàng Thương mại
NHTM với hai nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh của mình làhuy động vốn và sử dụng vốn đã phản ánh quy mô hoạt động của cácNHTM Với phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM huy động vốn tạmthời nhàn rỗi trong các doanh nghiệp và dân cư để cho vay phát triển kinh tế
và các nhu cầu tiêu dùng khác của nhân dân Để huy động vốn và cho vay cóhiệu quả, NHTM phải xác định lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay một cáchhợp lý Nếu lãi suất huy động tiền gửi quá thấp thì không khuyến khích cácdoanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào, dẫn đến NHTM không đủ vốn cho vay
để đáp ứng yêu cầu khách hàng Lãi suất Ngân hàng là nhân tố quan trọngquyết định kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM và khách hàng Nếu lãisuất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoáphát triển và ngược lại
B DIỄN BIẾN LÃI SUẤT Ở NƯỚC TA TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010
I Lãi suất cơ bản
Năm 2007
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra Thông báo số 11359/TB-NHNN về một số mức lãi suất bằng đồng Việt Nam, áp dụng từ ngày 1-1-2007 Theo
đó, lãi suất cơ bản bằng VND là 0,6875%/tháng (8,25%/năm)
Như vậy, lãi suất cơ bản của VND trong năm 2006 không thay đổi, vàtiếp tục được giữ ổn định trong tháng đầu tiên của năm 2007
Lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tíndụng từ ngày 1-1-2007 cũng được giữ ổn định ở mức 6,5%/năm; lãi suấtchiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng là4,5%/năm
Tính đến thời điểm cuối năm, mức lãi suất huy động cao nhất đối vớiVND được các ngân hàng thương mại áp dụng là 0,82%/tháng đối với kỳhạn 1 năm
Trang 9Năm 2008
Năm 2007, lãi suất cơ bản được giữ ở mức ổn định không biến độngnhiều Đến năm 2008, do nền kinh tế thế giới khủng hoảng đã tác độngmạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ảnh hưởng đến lãi suất
Thị trường ngân hàng trong nước đã trải qua những biến động chưa
từng có về lãi suất, tỷ giá
Đây cũng là một năm đáng nhớ trong hoạt động của các ngân hàng, khiphải trải qua những khó khăn không nhỏ
Chính sách tiền tệ từ định hướng thắt chặt và linh hoạt nửa đầu năm 2008chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng những tháng cuối năm Đicùng với quá trình này là tần suất điều chỉnh các công cụ điều hành chưatừng có của Ngân hàng Nhà nước, tập trung ở các lãi suất chủ chốt, tỷ lệ dựtrữ bắt buộc và biên độ tỷ giá
Tính chung cả năm, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãisuất cơ bản Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điềuchỉnh tương ứng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có 1 lần tăng trong tháng 2, 4 lầngiảm trong 3 tháng cuối năm (2 lần giảm đối với dự trữ bằng ngoại tệ) Lãisuất tiền gửi dự trữ bắt buộc có 5 lần điều chỉnh (3 lần tăng, 2 lần giảm)
Cơ chế điều hành tỷ giá cũng ghi nhận những điều chỉnh chưa từng cótrong lịch sử Biên độ có 3 lần nới rộng, từ +/-0,75% lên +/-3%; tỷ giá bìnhquân liên ngân hàng có 2 lần điều chỉnh mạnh, vào tháng 6 và cuối tháng 12
Một công cụ được Ngân hàng Nhà nước sử dụng đến, cũng là một sựkiện nổi bật trong năm 2008, là đợt phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắtbuộc (17/3) Đi cùng với kế hoạch này, nhà điều hành đã 2 lần điều chỉnh lãisuất cho tín phiếu, 1 lần tăng từ 7,8% lên 13%, tháng 12 giảm xuống còn4,5%
Nếu chỉ nhìn đơn giản thì lãi suất cơ bản chỉ tăng nhẹ từ 8,25% vào tháng12/2007 lên 8,5% cuối năm 2008 Tuy nhiên nhìn biểu đồ lãi suất cơ bảnnăm 2008 thì rõ ràng đây không phải sự điều chỉnh "cơ học" giản đơn nhưvậy
Trang 10Diễn biến lãi suất năm 2008
Năm 2008 có thể được coi là năm của lãi suất khi lãi suất biến động tráichiều với một biên độ lớn chỉ trong vòng 12 tháng Diễn biến lãi suất trongnăm 2008 gồm 2 giai đoạn chính: Cuộc đua tăng lãi suất của các ngân hàngvào nửa đầu năm 2008 và một cuộc đua khác theo chiều hướng ngược lại,đua giảm lãi suất, dù mức độ quyết liệt kém hơn Những sự kiện lớn đối vớidiễn biến lãi suất năm 2008 diễn ra như sau:
6 tháng đầu năm 2008, lãi suất tăng mạnh :
Từ mức lãi suất tháng 1 là 8,5%, các ngân hàng bắt đầu vào cuộc đua lãisuất, khởi đầu là các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh
Cuối tháng 4, đầu tháng 5/2008 một loạt ngân hàng gặp khó khăn thanhkhoản Cùng với việc nâng lãi suất cơ bản từ 8,75% (ngày 1/2) lên 12%(ngày 19/5), NHNN đã ấn định lãi suất kinh doanh bao gồm lãi suất huyđộng vốn và lãi suất cho vay bằng VNĐ không vượt quá 150% của lãi suất
cơ bản mà NHNN công bố áp dụng cho từng thời kỳ
Đến ngày 20/5, đã có 100% ngân hàng thương mại tăng lãi suất Trongngày 19/5, ngày đầu tiên thực hiện cơ chế mới, như dự báo trước đó, đỉnh lãisuất liên tục bị đánh đổ
Đỉnh đầu tiên phổ biến ở mức 14%/năm, tập trung ở khối ngân hàng cổphần có quy mô lớn Đỉnh nối tiếp là 15%/năm, phổ biến trên thị trường lúc
đó và tập trung ở phần lớn các ngân hàng cổ phần, nhiều thành viên đồng
Trang 11loạt đẩy mức huy động trong dân cư lên tới trên 19%/năm, cá biệt có trườnghợp áp tới 20%/năm Các ngân hàng quốc doanh còn lại chủ yếu áp13,8%/năm là mức cao nhất.
Lãi suất tăng cao đến đỉnh điểm vào tháng 6 năm 2008 là 18,5% Hiệntượng người dân rút tiền từ ngân hàng có lãi suất thấp chuyển sang ngânhàng có lãi suất cao xuất hiện Đây là lý do để có ngân hàng buộc phải cấp
tốc điều chỉnh lãi suất Có nhiều nguyên nhân khác nhau:
Nguyên nhân: Do rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường… do
lạm phát trong nước cao 19.39% vào 1/2008 Ảnh hưởng khủng hoảng tàichính Mỹ làm khả năng trả nợ của khách hàng giảm sút khiến các NH khôngmuốn đẩy mạnh cho vay mà chú trọng vào việc bảo đảm an toàn hoạt động.Mặc khác kinh tế Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên vậtliệu thế giới Cú sốc giá lương thực thực phẩm, giá dầu, giá phôi thép, giáphân bón… khiến hàng nội địa tăng giá chóng mặt trong nửa đầu năm 2008.Trước tình hình đó NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ bằng cách tăng tỷ lệ
dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11%/năm và nâng lãi suất cơ bản từ 8.25% lên8.75%/năm kể từ 01/02/2008 lãi suất huy động có lúc lên trên 20%, lãi suấtcho vay cũng tăng lên ở mức tương ứng, rút tiền khỏi thị trường thông quaviệc phát hành 20,300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc 17/03/2008, đồng thờibuộc Kho bạc rút 50.000 tỷ từ các Ngân hàng Thương mại làm cho tínhthanh khoản của các ngân hàng bị chặn đột ngột điều này gây ra tình trạngthiếu vốn trầm trọng thể hiện rõ qua làn sóng đua nhau tăng lãi suất huyđộng vốn trong toàn hệ thống ngân hàng
Mặc dù tùy thuộc vào chiến lược của từng ngân hàng nhưng nhìn chungcác ngân hàng đều gặp phải sự mất cân đối giữa các kỳ hạn vốn huy động vàcho vay Trong tổng số dư tiền gửi tại các ngân hàng, có tới 80% là tiền gửi
có kỳ hạn ngắn (dưới 6 tháng) Nhưng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh
và đầu tư phát triển lại rất lớn với kỳ hạn thường kéo dài từ 1 năm trởlên Trong khi đó, thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu chưa pháttriển nên gánh nặng về nguồn vốn trung và dài hạn chủ yếu dồn lên vai các
Trang 12ngân hàng thương mại Để thu hút nguồn vốn các ngân hàng đã tăng lãi suất
để thu hút vốn
Thêm vào đó, sự ấm lên của thị trường chứng khoán và thị trường bấtđộng sản cũng có tác động nhất định đến nguồn vốn huy động của các ngânhàng “Một nguồn vốn không nhỏ đã dịch chuyển từ ngân hàng sang cáckênh đầu tư này” Và cũng không phải ngẫu nhiên có những khoản vay trongcác chương trình cho vay tiêu dùng của các ngân hàng với lãi suất khá cao
đổ vào thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản Đó là chưa kểnhững đợt sóng trên thị trường vàng và thị trường ngoại hối cũng khiến nhàđầu tư “sốt sắng” tham gia
Không chỉ vậy vào cuối năm 2007 đầu năm 2008 nhằm phục vụ cho cácnhu cầu tiêu dùng và nhu cầu kinh doanh mùa cuối năm của khách hàng, nếucác ngân hàng cổ phần không tăng lãi suất sẽ khó thu hút được nguồn vốnnhàn rỗi trong dân chúng, vì lạm phát tăng cao đã khiến người gửi tiết kiệmphải chịu lãi suất âm
6 tháng cuối năm lãi suất giảm mạnh:
Bắt đầu từ tháng 7 trở đi, các ngân hàng lại bước vào cuộc đua lãi suấtmới nhưng với xu hướng ngược lại so với 6 tháng đầu năm Cuộc đua banđầu chỉ mới nhích nhẹ từ 18,5% xuống còn 17,5% và bắt đầu giảm mạnh từtháng 10 năm 2008
Đặc biệt từ tháng 9 đến cuối năm, gắn với những điều chỉnh các lãi suấtchủ chốt của Ngân hàng Nhà nước, cả lãi suất huy động và cho vay dồn dậpgiảm; ít nhất có 8 đợt điều chỉnh trên diện rộng Từ đỉnh điểm trên19%/năm, lãi suất huy động VND rút về quanh mốc 8%/năm; lãi suất chovay tối đa từ 21%/năm về còn 12,75%/năm
Tín hiệu tích cực từ lạm phát và chuyển biến kinh tế vĩ mô cũng là cơ sở
để có được sự điều chỉnh này Lạm phát có chiều hướng giảm - Do dư nợtăng thấp nên vốn khả dụng VND dư thừa tương đối nhiều, cộng thêm tìnhhình kinh tế có dấu hiệu giảm phát, các Ngân hàng đã liên tục hạ Lãi suấttiền gửi VND Từ 16,5%- 17,5%/năm giảm về từ 10,5%-14,5%/năm
Trang 13Trên cơ sở xem xét các nhu cầu tín dụng, cân đối khả năng huy độngcũng như yêu cầu quản trị…, các ngân hàng đã có quyết định phù hợp vớitrường hợp của
Năm 2009
Năm 2009, lãi suất huy động và cho vay bằng VNĐ có xu hướng tăng.Trong đó, lãi suất huy động tăng cao hơn so với mức tăng lãi suất cho vay,dẫn đến chênh lệch giữa lãi suất huy động-cho vay có xu hướng bị thu hẹpLãi suất huy động VNĐ trong 2 tháng đầu năm 2009 có xu hướng giảmkhoảng 1-2%/năm so với cuối năm 2008 Tuy nhiên, từ cuối tháng 2-2009,lãi suất huy động VNĐ luôn có xu hướng tăng, chủ yếu do nhu cầu vay vốntín dụng lớn để triển khai các cơ chế hỗ trợ lãi suất, các doanh nghiệp và hộsản xuất thực hiện các phương án sản xuất-kinh doanh, dự án đầu tư theochương trình kích thích đầu tư của chính phủ, các NHTM khó khăn trongviệc cân đối vốn huy động từ thị trường để cho vay Đến 31/12/2009 mặtbằng lãi suất huy động của các kỳ hạn một tháng trở lên ở mức10-10,49%/năm
Lãi suất cho vay VNĐ trong 2 tháng đầu năm 2009 giảm khoảng 2.5%/năm so với cuối năm 2008 và tương đối ổn định đến hết tháng 11-
1,5-2009, nhưng luôn sát mức lãi suất cho vay tối đa là 10,5%/năm Từ ngày1/12/ 2009, sau khi NHNN điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên8%/năm, các tổ chức tín dụng điều chỉnh lãi suất cho vay lên mức tối đa12%/năm Đối với các nhu cầu phục vụ vốn, đời sống và cho vay thông quanghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, lãi suất cho vay ở mức cao hơnlãi suất cho vay thông thường khoảng 3-5%/năm Đến 31/12/2009, lãi suấtcho vay thông thường phổ biến ở mức 12%/năm, lãi suất cho vay các nhucầu vốn phục vụ đời sống cho vay thông qua thẻ tín dụng phổ biến ở mức15-17%/năm