Khái niệm và tầm quan trọng của đạo đứca Khái niệm đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức đạo đức của HCM có gìkhác so với đạo đức của chế độ trước-chế độ phong kiến:Khái niệm đạo đứ
Nội dung
Tổng hợp word+mở+kết Hoàng Thu Trang
Thuyết trình (2) Mai Thị Thuý, Đỗ Phương Thảo
Cơ sở lý luận
Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.1.1 Khái niệm và tầm quan trọng của đạo đức a) Khái niệm đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức (đạo đức của HCM có gì khác so với đạo đức của chế độ trước-chế độ phong kiến):
Khái niệm đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không” Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.
Từ Hồ Chí Minh, nền đạo đức Việt Nam đã mang bản chất mới và đã được Người gọi là đạo đức mới, đạo đức cách mạng Đạo đức mới đã lật ngược lại các kiểu đạo đức cũ của các giai cấp thống trị, áp bức bóc lột nhân dân lao động Đạo đức mới xóa bỏ những chuẩn mực đạo đức phong kiến vẫn luôn luôn trói buộc nhân dân lao động vào những lễ giáo hủ bại, phục vụ cho chế độ đẳng cấp tôn ti trật tự hết sức hà khắc của giai cấp phong kiến Đạo đức mới hoàn toàn trái ngược với đạo đức cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ cực đoan của giai cấp tư sản Nó cũng xa lạ với đạo đức của giai cấp tiểu tư sản, kìm hãm con người trong những lợi ích riêng tủn mủn, cục bộ, hẹp hòi, cũng như trong vòng gia
Kinh tế thương mại đại cương
KIẾN THỨC TÓM TẮT CHƯƠNG 1 TRIẾT…
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Những điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ… trưởng nhỏ bé Nó càng xa lạ với đạo đức tôn giáo luôn khuyên con người khắc kỷ, cam chịu, chấp nhận số phận trong chốn trần tục, để hướng về một cuộc sống tốt đẹp hơn sau khi chết ở nơi thiên đàng hay chốn niết bàn.
Quan niệm của chế độ phong kiến về đạo đức
Tư tưởng về đạo đức cũ ở Việt Nam theo lời chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời” (Bài nói chuyện tại trường Chính trị trung cấp quân đội).Đạo đức cũ mà Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây là đạo đức thực dân, phong kiến là thứ đạo đức ích kỷ, nó kìm hãm trói buộc con người, tàn phá con người Chế độ phong kiến dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất lớn Khác với nô lệ, người nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào lao động cá nhân và đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết Bọn địa chủ vẫn có quyền điều nông dân ra khỏi lãnh địa của mình, nhưng không có quyền giết họ.
=> Đó là một bước tiến của đạo đức xã hội, thật ra địa vị người nông dân cũng chẳng hơn bao nhiêu so với nô lệ Sự phụ thuộc về kinh tế và sự cưỡng ép trực tiếp đã buộc họ phải cày cấy ruộng đất của địa chủ và làm trăm nghìn công việc có lợi cho giai cấp phong kiến. Ở đây, tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức, có cả đạo đức của chính giai cấp phong kiến lại có đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động. Đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến trước hết và đạo đức học của giai cấp phong kiến Tuy nhiên, tư tưởng đạo đức học ở phương Tây thường xuất phát từ những tín điều của tôn giáo. Ở phương Đông đạo đức học không hoàn toàn lệ thuộc vào tôn giáo mà thường xuất phát từ quan hệ giữa người và người được nhìn qua lăng kính của học thuyết nho giáo Yêu cầu chung của đạo đức thống trị là bầy tôi phải trung với vua, chư hầu phải trung với thiên tử, nông dân phải trung với địa chủ.
Phong kiến ngày xưa nêu cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng =>> Đây là minh chứng rõ ràng cho thấy đạo đức cũng như hệ thống quản trị thối nát của xã hội này và nó gây ra hậu quả nghiêm trọng Tạo nên sự phẫn nộ của nhiều tầng lớp và điển hình là công nhân và nông dân
=> Qua đây, chúng ta hoàn toàn có thể kết luận rằng đạo đức cũ là thứ đạo đức cần bác bỏ và đổi mới ngay lập tức vì nó quá tàn nhẫn, quá ích kỉ tạo nên những hình ảnh xót xa
Hồ Chí… 100% (10)81 trong quá khứ Đúng vậy, đạo đức cũ cũng như người đầu ngược xuống đất còn chân chổng lên trời, người như vậy là trái với lẽ thường, là không thể tồn tại cũng như đạo đức cũ trái với đạo lý, trái với lẽ trời và không thể tồn tại lâu dài Tóm lại, cần bác bỏ và đổi mới đạo đức cũ để xã hội có nhận thức cũng như lối đi đúng đắn, phát triển như Hồ Chí Minh mong muốn và thực hiện ở đạo đức mới.
Quan điểm của Khổng Tử về đạo đức:
Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử là tổng hợp các nội dung: tư tưởng về vai trò của đạo đức; tư tưởng về các quan hệ đạo đức và các chuẩn mực đạo đức cơ bản Khổng
Tử cho rằng, trong xã hội có năm mối quan hệ đạo đức cơ bản gọi là “ngũ luân”, gồm quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn bè Mỗi quan hệ có những tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng, như cha hiền, con thảo; anh tốt, em ngoan; chồng biết tình, vợ nghe lẽ phải; bề trên từ hiếu, bề dưới kính thuận; vua nhân từ, tôi trung thành Vào thời mình, Khổng Tử đã đề cập đến những mối quan hệ và các tiêu chuẩn này, song ông nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ vua tôi và cha con Khổng Tử cũng cho rằng để thực hiện tốt các mối quan hệ đạo đức trên, con người cần phải lấy các chuẩn mực đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng, hiếu, kính để để điều chỉnh hành vi của mình Các chuẩn mực đạo đức này tồn tại trong mối tương quan sâu sắc lẫn nhau, trong đó, nhân được xem là trung tâm
Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu thê (chồng vợ) Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trên những nguyên tắc
1 Quân thần: ("Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp dưới không trung với vua)Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ.
2 Phụ tử: ("phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con không chết thì con không có hiếu)").
3 Phu thê: ("phu xướng phụ tùy" nghĩa là: chồng nói, vợ phải nghe theo).
Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
1 Nhân: (tính người) Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
2 Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải
3 Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
4 Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
5 Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo
Tam tòng: tam là ba; tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử".
1 Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.
2 Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng.
3 Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con.
Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công - dung - ngôn - hạnh.
1 Công: làm giỏi, khéo léo trong việc làm.
2 Dung: (phải trau chuốt sắc đẹp) hòa nhã trong sắc diện.
3 Ngôn: dịu dàng, mềm mại trong lời nói.
4 Hạnh: nhu mì trong tính nết.
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.2.1 Đạo đức là gốc, Là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng thế giới, là một tấm gương mẫu mực về đạo đức, giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, lãnh tụ
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan trọng của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người. Người khẳng định đạo đức là nền tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của người cách mạng; nó cũng giống như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối Người viết:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Việc chăm lo cho cái gốc, cái nguồn ấy là trách nhiệm, là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình, mỗi một cá nhân trong xã hội Đặc biệt, người làm cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Bởi “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.”
Người quan niệm đạo đức trở thành nhân tố quyết định của sự thành bại của mọi công việc, phẩm chất mỗi con người Trong Người cán bộ cách mạng (1955), Hồ ChíMinh yêu cầu “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng… Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không” TheoNgười, chiến sĩ cách mạng là những người “cả đời hết lòng phục vụ nhân dân, sinh hoạt ngày thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công…” Và cán bộ, đảng viên muốn dân tin, dân phục thì cần phải nhớ “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức” Vậy nên không phải chỉ cần viết hai chữ “cộng sản” lên trán thì dân sẽ tôn trọng, quý mến mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải trở thành một người làm cách mạng chân chính, một lòng vì Đảng, vì dân, vì Tổ quốc thân yêu, luôn hướng đến chí công vô tư, những tính tốt đẹp: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm
+ Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào, kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân, sẵn lòng chịu cực khổ, không ham giàu sang, không sợ oai quyền.
+ Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan Làm cần thận, chu toàn với việc được giao, không sợ bị phê bình.
+ Trí là không để việc tư làm mù quáng, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc, biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian.
+ Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng Nếu cần, thì có gan hi sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.
+ Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng mà luôn quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Đây chính là đạo đức cách mạng, là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.Đạo đức cách mạng là chỗ dựa giúp con người vững vàng trong mọi thử thách.Bởi theo Hồ Chí Minh “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước.” Đạo đức cách mạng giúp mỗi người khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không lo kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa… Đạo đức không chỉ là chỗ dựa mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người Thực hành tốt đạo đức cá nhân không chỉ có tác dụng nâng cao giá trị bản thân mà còn tạo ra sức mạnh nội sinh giúp con người vượt qua mọi thử thách.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người trăn trở với nguy cơ xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của Đảng Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” Người thường nhắc lại tinh thần của V.I.Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại Trong Di chúc Người căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Hơn hết, Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên vì đây là thế hệ không ngại khó khăn, luôn hăng hái, có chí tiến thủ, là những người thừa kế tương lai của đất nước, là những mảnh ghép để hợp thành một chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo Chính vì vậy Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiểu quả trên thực tế Nếu đạo đức là tiêu chuẩn cho mục đích hành động thì tài là phương tiện thực hiện mục đích đó Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó Cho nên, đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chất và năng lực phải thống nhất làm một Trong đó: đức là gốc của tài, hồng là gốc của chuyên; phẩm chất là gốc của năng lực Tài là thể hiện cụ thể của đức trong hiệu quả hành động. Chính vì vậy, cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết, chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm giáo dục đạo đức cho mọi người, đặc biệt chú trọng trong việc giáo dục toàn diện về đức - trí - thể - mỹ của học sinh, sinh viên Tùy theo từng thời kỳ, Người đề ra những yêu cầu đạo đức sát hợp để mọi người phấn đấu rèn luyện nhằm hoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề, khó khăn phức tạp hơn, từ đó, giành thắng lợi ngày càng to lớn cho sự nghiệp cách mạng.
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng a) Trung với nước, hiếu với dân Đây là phẩm chất bao trùm quan trọng nhất và chi phối các phẩm chất khác Trung và hiếu là những khái niệm đạo đức cũ đã có từ lâu trong tư tưởng đạo đức truyền thống
Việt Nam và phương Đông, phản ánh mối quan hệ lớn nhất và cũng là bao trùm nhất: “ Trung với vua, hiếu với cha mẹ” Phẩm chất này được Hồ Chí Minh sử dụng với những nội dung mới, rộng lớn: “Trung với nước, hiếu với dân” đã tạo nên một cuộc cách mạng sâu sắc trong lĩnh vực đạo đức
Tư tưởng “trung với nước, hiếu với dân” của Hồ Chí Minh không những kế thừa giá trị yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó Trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước Khi Hồ Chí Minh đặt vấn đề “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Nói tóm lại , quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
Liên hệ thực tiễn quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương Mại
Thực tiễn quá trình tu dưỡng đạo của đức sinh viên Đại học Thương Mại hiện nay
2.1.1 Những đạo đức tốt đẹp của sinh viên
Thế hệ trẻ hiện nay đang không ngừng phấn đấu, thực hiện những điều Bác dạy trong Di chúc mà Người để lại, đó luôn là động lực to lớn để sinh viên trường Đại học Thương mại phát triển bản thân, tích cực tu dưỡng phẩm chất.
Sinh viên Thương mại có đức tính “yêu thương con người, sống có tình nghĩa” Có rất nhiều hoạt động nhân nghĩa đã được diễn ra do sinh viên Đại học Thương mại tổ chức và vận động Tiêu biểu như đoàn thanh niên trường Đại học Thương mại, kết hợp với Viện huyết học máu Trung ương, đã tổ chức nhiều hoạt động hiến máu tại trường Hành động ấy là hành động vô cùng thiết thực, mang tính nhân văn sâu sắc, ý nghĩa Bên cạnh đó, trường cùng các câu lạc bộ trực thuộc, đội thanh niên xung kích, đội tình nguyện của các khoa cũng có nhiều hoạt động quyên góp ủng hộ những hoàn cảnh khó khăn trong và ngoài trường, với mong muốn đem yêu thương, sự ấm áp đến với những cuộc sống khó khăn hơn Trực thuộc khoa Quản trị Nhân lực, câu lạc bộ Nhân sự Đại học Thương mại có chương trình “Hành trình Yêu thương - Gom nhỏ bé, Góp lớn lao” quyên góp trang phục giữ ấm, thực phẩm tới người khuyết tật, người vô gia cư, trẻ em mồ côi, thông qua các hình thức khác nhau, trong đó tâm điểm là buổi thiện nguyện offline tại trung tâm Quỳnh Hoa, Thanh Trì, Hà Nội
Tư tưởng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” được rất nhiều bạn sinh viên Đại học Thương mại thực hiện Các sinh viên cùng thi đua đạt danh hiệu, thành tích tốt trong học tập và rèn luyện, đạt học bổng trong các kỳ học Đó là biểu hiện của sự siêng năng, làm việc và sinh hoạt có kế hoạch Không chỉ vậy, ý thức giữ gìn cơ sở vật chất, môi trường sạch đẹp tại trường học được nhiều bạn sinh viên đề cao, tiêu biểu như một số bạn thấy rác bị rơi ở hành lang liền nhặt lên bỏ vào thùng rác, sử dụng điều hòa tiết kiệm, ra vào phòng điều hòa luôn đóng cửa,
Sinh viên trường Đại học Thương mại “giàu ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, gian lao để thực hiện được mục đích sống” Khi đại dịch
Covid 19 diễn ra, sinh viên Thương mại phải học tập với hình thức online Thời đại công nghệ mới đã tạo điều kiện tốt cho sinh viên học tập Tuy vậy nhưng cũng có nhiều sinh viên sinh sống trong điều kiện khó khăn, sóng mạng kém, thiếu thiết bị học tập, dù vậy nhưng các bạn ấy vẫn cố gắng học tập chăm chỉ miệt mài, quyết tâm vượt khó để đạt thành tích cao trong học tập.
Sinh viên Đại học Thương mại có “tinh thần quốc tế trong sáng” Tại trường Đại họcThương mại có rất nhiều du học sinh và các giáo viên quốc tế Trong môi trường đa văn hóa, sinh viên tại trường luôn vui vẻ, hòa đồng, thực hiện tốt các hoạt động của trường, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập
2.1.2 Tồn tại những lối sống, đạo đức chưa tốt
Tư tưởng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” chưa được nhiều bạn sinh viên chú trọng Tình trạng lười học, nghỉ học không phép vẫn còn diễn ra rất nhiều Suy nghĩ
“đi học để thi” khiến nhiều bạn không tận dụng được những kiến thức thực tế của môn học vào cuộc sống thường nhật, các bạn chỉ học lấy lệ, hay là đi cho đủ điểm chuyên cần, không có sự ứng dụng kiến thức Việc thi cử cũng trở thành gánh nặng đối với một bộ phận sinh viên, các bạn sử dụng “phao thi” ở nhiều hình thức dù bị giảng viên ngăn Và có rất nhiều cá nhân không biết giữ gìn của công, vứt rác bừa bãi tại khuôn viên trường.
Có những sinh viên thiếu ý chí học tập, có ý định bỏ học đi làm thêm kiếm tiền.
Giải pháp nâng cao đạo đức cho sinh viên Đại học Thương Mại theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong tình hình hiện nay, còn một bộ phận thanh niên đang mải mê theo đuổi những giá trị vật chất thấp kém, tầm thường mà quên đi trách nhiệm, nghĩa vụ lớn lao của mình đối với Tổ quốc, với non sông đất nước Vì vậy, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết và quan trọng.
Một là tạo môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, nhân văn ; mỗi thầy cô giáo là tấm gương sáng về giáo dục đạo đức Môi trường giáo dục là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc giáo dục hành vi đạo đức của học sinh đặc biệt là môi trường tâm lý - xã hội Những bài học về đạo đức chỉ thực sự có giá trị và sức thuyết phục khi người giảng là tấm gương Trong khi truyền thụ kiến thức, giáo viên phải khơi dậy, khơi dậy tinh thần Các giá trị văn hóa, tiếp thu liên tục và có chọn lọc các giá trị văn hóa mới.
Thứ hai là: xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo, giáo trình chi tiết, để một số môn học có sự lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Để giáo dục toàn diện cho học sinh, các nhà trường cần lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức lối sống vào một số môn học phù hợp Mặt khác, cần đa dạng hóa các hình thức, phương pháp dạy học, kích thích học sinh lĩnh hội kiến thức chuyên môn, cung cấp cho học sinh những nội dung giáo dục đạo đức, lối sống.
Thứ ba là đề cao việc học sinh tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống Giáo dục, nêu cao vai trò tự học, tự tu dưỡng đạo đức Quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống sẽ hình thành ở học sinh nhu cầu, động cơ, rèn luyện đúng đắn, năng lực làm chủ, ham học hỏi, tự khẳng định mình Chú trọng tạo môi trường lành mạnh, thân thiện để học sinh nhận thức mỗi ngày đến trường là một ngày vui, tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện.
Thứ tư là phát huy hết vai trò của tổ chức Công đoàn do nhà trường tổ chức trong việc rèn luyện giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh Hội thanh niên, hội sinh viên, câu lạc bộ và các tổ chức, đoàn thể khác… có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh Các tổ chức, công đoàn giúp sinh viên hiểu biết sâu sắc về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tiếp thu kiến thức mới; trau dồi lý tưởng sống; hình thành và nâng cao trình độ cần thiết kỹ năng sống.
Thứ năm là, giáo dục đạo đức cho sinh viên bằng cách nêu gương Để học sinh không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, phát huy năng lực của bản thân, một mặt nhà trường cần coi trọng và tạo môi trường học tập, rèn luyện tích cực, mặt khác thường xuyên biểu dương vai trò của sinh viên hình mẫu Hội viên tiêu biểu có trách nhiệm với xã hội trong học tập, nghiên cứu và thái độ.Bởi sự ảnh hưởng, lây lan từ những tấm gương người tốt, việc tốt đối với sinh viên là rất quan trọng Những thành tích học tập, rèn luyện tốt của sinh viên này sẽ là động lực để sinh viên khác phấn đấu.
Thứ sáu, tôn trọng và phát huy sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc hình thành và giáo dục nhân cách, lý tưởng sống của học sinh Gia đình là cái nôi văn hóa hình thành và nuôi dưỡng nhân cách của học sinh Bởi gia đình là nơi truyền thụ những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc như lòng yêu nước, yêu đồng bào, tình cảm gia đình Những đạo đức tốt đẹp đó nuôi dưỡng và hun đúc những tình cảm cao quý cho các thế hệ mai sau Xã hội văn minh cũng là môi trường tốt để sinh viên phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành.
Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tư tưởng đạo đức đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Việt Nam và là một tài sản quý giá của dân tộc ta Với tư tưởng đạo đức của mình,
Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của nhân dân và đặt con người lên hàng đầu, giúp tạo ra một cộng đồng có tính chất nhân văn, với đạo đức là nền tảng của mọi hoạt động của xã hội.
Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức không chỉ là sự thể hiện của tâm hồn mỗi cá nhân mà còn là một nguyên tắc cơ bản của xã hội, một tiêu chuẩn để đánh giá và định hướng hành vi của con người Người đã luôn khuyến khích mọi người thực hành đạo đức trong cuộc sống hàng ngày, từ việc giữ gìn vệ sinh cho đến hành động tốt đẹp trong quan hệ với người khác.
Ngoài ra, tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh còn thể hiện qua việc ông luôn coi trọng sự công bằng, sự đoàn kết và sự tự do, đồng thời chống lại sự bất công, tham nhũng và chia rẽ trong xã hội Những giá trị này đã được ông vận dụng và xây dựng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội cho dân tộc Việt Nam.
Tổng kết lại, tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng một xã hội với tính cách nhân văn, phát triển bền vững và giữ vững độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam Các giá trị đạo đức mà ông tôn vinh đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa và tư tưởng của người dân Việt Nam, đóng góp vào việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
1 TS Lê Thị Hằng (2022) Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh (https://www.pvn.vn/Pages/detail.aspx?
NewsIDd500b-a43f-4acd-803e-be7ea540dd42)
2 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Phạm Thị Dinh.(2019) Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử(Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử - NCS Phạm Thị Dinh (vnuhcm.edu.vn))
Cơ sở lý luận: Các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng tìm đường cứu nước mới
1.1 Ảnh hưởng từ quê hương
Thời kỳ 1911 - 1920: hình thành tư tưởng cứu nước, Giải phóng dân tộc Việt
2.1 Người xác định đúng bản chất, thủ đoạn, tội ác của chủ nghĩa thực dân và tình cảnh nhân dân các nước thuộc địa
2.2 Bước nhận thức mới về quyền tự do, dân chủ của nhân dân
2.3 Hồ Chí Minh đã tìm thấy và xác định rõ phương hướng đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản qua nghiên cứu Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa
Thời kỳ 1920 - 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
3.1 Hoạt động thực tiễn a) Tại Pháp 1921-1923
Thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa
Xuất bản Báo Người cùng khổ b) Liên Xô 1923-1924
Tham dự các đại hội quốc tế lớn
Tham dự ĐH V của QTCS c) Tại Trung Quốc (1924-1927)
Sáng lập Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng (6/1925)
Xuất bản báo “Thanh niên” bằng tiếng Việt
Mở lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên yêu nước tại Quảng Châu (1925-1927) 3.2 Hoạt động lý luận
Trong thời gian này HCM viết nhiều tác phẩm có giá trị: Đông Dương (1923-1924), Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường kách mệnh (1927), Công tác quân sự của Đảng trong nông dân (1928), Chính cương tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt (1930)
Mục tiêu, phương hướng cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam từng bước được cụ thể hóa, thể hiện rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSVN.
3.3 Những tư tưởng lớn của HCM về con đường CMVN:
Mục tiêu và con đường CM là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mang để đi tới xã hội cộng sản”. Đối tượng CM: “đánh đổ đế quốc Pháp, PK An Nam và GCTS phản cách mạng”. CMGPDT và CMVS có quan hệ khăng khít; CMTĐ trước hết là một cuộc “dân tộc cách mệnh”, đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành ĐL tự do.
Lực lượng lãnh đạo: CM muốn thành công phải do Đảng lãnh đạo Nền tảng tư tưởng của Đảng là CNM-LN
Lực lượng tham gia của CMGPDT là toàn thể DT, trong liên minh công nông là lực lượng nòng cốt.
Cách mạng VN là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Thời kỳ 1930 - 1941: vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo
Một số người trong QTCS và ĐCSVN có những nhìn nhận sai lầm về HCM do chịu ảnh hưởng quan điểm giáo điều tả khuynh xuất hiện trong Đại hội VI của QTCS.Hội nghị Trung ương Đảng (10-1930) ra nghị quyết: “thủ tiêu chánh cương, sách lược và điều lệ Đảng”; đổi tên ĐCSVN thành ĐCSĐD, hoạt động theo chỉ thị củaQTCS.
Từ 1934-1938, HCM vẫn bị QTCS hiểu lầm về một số hoạt động thực tế và quan điểm cách mạng.
NAQ-HCM kiên trì bảo vệ quan điểm của mình (thực tiễn đã chứng minh quan điểm của Người hoàn toàn đúng đắn).
Tháng 1/1941 NAQ-HCM về nước trực tiếp lãnh đạo CMVN.
Tháng 5/1941, Người triệu tập HNTƯ8, thực hiện hoàn chỉnh thêm một bước sự chuyển hướng chiến lược đối với CMVN, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Sự chuyển hướng thực chất là sự trở lại với quan điểm của HCM đã nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (3/2/1930)
* Như vậy: Trải qua sóng gió, thử thách những quan điểm cơ bản nhất về đường lối CMGPDT Việt Nam của NAQ-HCM đã được Đảng ta khẳng định và đưa vào thực tiễn đấu tranh CM của đất nước để giành thắng lợi năm 1945.
Thời kỳ 1941 - 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta
5.1 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Mình đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VN dân chủ cộng hòa
5.2 Từ ngày 2-9-1945 đến ngày 19-12-1946, HCM đề ra chiến lược sách lược cách mạng sáng suốt:
Củng cố chính quyền cách mạng
Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm
Khắc phục nạn tài chính thiếu hụt.
Thực hiện chính sách đối ngoại mềm dẻo, khôn khéo, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, tranh thủ khả năng hòa bình để chuẩn bị thế và lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp.
5.3 Từ năm 1946 đến năm 1954, HCM là linh hồn của cuộc kháng chiến - chống thực dân Pháp Đường lối chiến tranh nhân dân: toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh; kháng chiến kiến quốc.
HCM lãnh đạo, tổ chức, chỉ đạo kháng chiến chống thực dân Pháp.
HCM hoàn thiện lý luận CM-DTDCND, từng bước hình thành tư tưởng về xây dựngCNXH ở VN.
* Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam giành thắng lợi. 5.4 Từ năm 1954 đến năm 1969:
Chủ trương thực hiện hai chiến lược CM ở hai miền.
Tư tưởng về CNXH và con đường quá độ lên CNXH
Tư tưởng về Nhà nước của dân, do dân, vì dân; xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.
Phát triển kinh tế - văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.
CHƯƠNG 2: Liên hệ thực tiễn sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản giai đoạn hiện nay
Thực trạng vận dụng
1.1 Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân
1.2 Các chính sách nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế (hoặc các chính sách giữ gìn, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập)
1.3 Đường lối, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Ý nghĩa vận dụng
2.2 Đề xuất các biện pháp
Kinh tế thương mại đại cương
KIẾN THỨC TÓM TẮT CHƯƠNG 1 TRIẾT HỌC
Tư Tưởng Hồ Chí Minh