Phạm Thị Thu Hà và cộng sự đồng Trang 4 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thiện đề tài luận văn thạc sỹ “Quản lý chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh Hà Tĩn
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU NGÀNH Y TẾ
TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU
1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập có thu Đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước
Các ĐVSN công lập hoạt động trong các lĩnh vực như: hành chính công, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, nông lâm ngư nghiệp và các ĐVSN công lập kinh tế khác ĐVSN công lập hoạt động có thu được gọi tắt là Đơn vị sự nghiệp công lập có thu Đây là ĐVSN công lập có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán
1.1.2 Phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập có thu
Căn cứ vào quan hệ tài chính với ngân sách nhà nước (NSNN), ĐVSN công lập được chia thành 03 loại như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm chi phí hoạt động)
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên do NSNN bảo đảm toàn bộ (gọi tắt là ĐVSN do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
Với cả ba mô hình ĐVSN công lập nêu trên, thì NSNN đều bảo đảm toàn bộ kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản
Sự khác nhau cơ bản giữa cơ quan nhà nước với ĐVSN công lập là:
- Về chức năng nhiệm vụ: Cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước Còn ĐVSN công lập thực hiện nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công trong các lĩnh vực như hành chính công, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội…
- Về kinh phí hoạt động: Cơ quan nhà nước được Nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động và kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản Còn ĐVSN công lập tùy theo mô hình quản lý có thể được Nhà nước đảm bảo toàn bộ, một phần hoặc Nhà nước không phải trang trải kinh phí hoạt động Tùy thuộc vào cơ chế quản lý tài chính mà Nhà nước có thể hỗ trợ dịch vụ công thông qua nhiều hình thức: cấp kinh phí, mua dịch vụ công theo đơn đặt hàng, thanh toán theo kết quả đầu vào, đầu ra của dịch vụ công.
CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU
SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU
Theo Điều 1, Luật ngân sách nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2002
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước” Như vậy NSNN có thể hiểu là một bảng cân đối ghi chép các khoản thu chi của Nhà nước trong đó phần thu bao gồm tất cả các nguồn tài chính được huy động cho NSNN như: thuế, lệ phí, các khoản thu từ các cơ sở kinh tế của nhà nước…, còn nguồn chi là việc sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách cho việc thực hiện các mục tiêu KT-XH trong một năm, được Quốc hội phê chuẩn
Chi NSNN gồm các khoản chi cho phát triển KT-XH, chi cho an ninh quốc phòng, chi cho bộ máy nhà nước, chi cho trả nợ và viện trợ và các khoản chi khác theo qui định của pháp luật Nội dung của chi NSNN có thể dựa trên các tiêu thức trong đó chi thường xuyên nằm trong mục đích chi cho kinh tế - xã hội
Chi thường xuyên là một bộ phận của chi NSNN, nó phản ánh quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về quản lý KT-
XH Ngày nay trong điều kiện hội nhập và phát triển, nền kinh tế nhìn chung có tốc độ tẳng trưởng cao vì vây, chi thường xuyên NSNN cũng phong phú hơn về nội dung Chi thường xuyên có đặc điểm cơ bản đó là: khoản chi có tính chất liên tục, mang tính tiêu dùng , phạm vi và mức độ hoạt động còn phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và quy mô các hàng hóa công cộng mà nhà nước cung ứng
1.2.2 Các khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu
Trong công tác quản lý các khoản chi tiêu thường xuyên của NSNN cho ĐVSN công lập được phân chia theo 4 nhóm chính sau :
Nhóm 1 : Chi Bộ máy Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như: Tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và các khoản khác Trong đó:
Tiền lương bao gồm: Lương ngạch bậc, lương tập sự, lương hợp đồng
Tiền phụ cấp gồm: Phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm thêm, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại nguy hiểm và phụ cấp đặc biệt
Tiền thưởng gồm: Thưởng thường xuyên, thưởng đột xuất và thưởng khác
Phúc lợi tập thể gồm: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, trợ cấp khó khăn đột xuất, tiền tàu xe, phúc lợi khác
Các khoản đóng góp: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Nhóm 2 : Chi quản lý hành chính
Nhóm này bao gồm các khoản chi: Chi thanh toán dịch vụ công cộng (tiền điện, tiền nước, nhiên liệu, vệ sinh môi trường và dịch vụ công cộng khác); Chi vật tư văn phòng (gồm văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ và vật tư văn phòng khác); Chi thông tin liên lạc (gồm điện thoại, fax, tuyên truyền, ấn phẩm truyền thông ); Chi công tác phí (tiền vé máy bay, tàu xe, phụ cấp công tác phí, thuê phòng ngủ, khoán công tác phí và công tác phí khác); Chi hội nghi phí (gồm tài liệu, bồi dưỡng giảng viên, thuê phòng ngủ, thuê hội trường, chi bù tiền ăn và các chi phí khác)
Nhóm 3 : Chi nghiệp vụ chuyên môn Đây là khoản chi quan trọng nhất tác động trực tiếp đến công tác khám chữa bệnh Khoản chi này bao gồm: Chi cho vật tư dùng cho chuyên môn, thiết bị chuyên dụng, in ấn chỉ, trang phục, bảo hộ lao động, sách, tài liệu, mua súc vật dùng cho hoạt động chuyên môn, thanh toán hợp đồng với bên ngoài, thuốc khám và điều trị
Nhóm 4 : Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản
Như mua ô tô, đồ gỗ, mây tre, máy tính, máy điều hoà nhiệt độ, các tài sản cố định có độ bền cao , sửa chữa ô tô, xe chuyên dụng, đường điện, nước Đây là nhóm chi không thể thiếu được của toàn ngành y tế Hàng năm, do sự xuống cấp của các tài sản cố định dùng cho hoạt động y tế, đòi hỏi phải có kinh phí để đầu tư mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại và từng bước hiện đại hoá trang thiết bị ngành y tế ở những đơn vị y tế được Nhà nước bao cấp Chính nhờ nhóm chi này đã góp phần nâng cao năng lực hiện có của tài sản cố định, nâng cao chất lượng của các bệnh viện, phòng khám, qua đó giúp cho hoạt động khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao về chất lượng cũng như về quy mô
1.2.3 Đặc điểm chi thường xuyên cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu
Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao;
Chi hoạt động phục vụ cho thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí;
Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả các khoản chi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật)
Chi thường xuyên cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, những hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập có thu mang tính chất xã hội, khác với những loại hình dịch vụ thông thường, nó phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã hội để đảm bảo cho cuộc sống được bình thường Những loại dịch vụ thông thường được hiểu là những hoạt động phục vụ ko tạo ra sản phẩm mang hình thái hiện vật, còn dịch vụ mà các đơn vị sự nghiệp cung cấp là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật
Thứ hai, việc trao đổi dịch vụ công giữa các đơn vị sự nghiệp và các tổ chức, cá nhân không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ, nghĩa là nó không giống với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Có những dịch vụ mà người sử dụng chỉ phải đóng phí hoặc lệ phí, có những dịch vụ thì phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí Tuy nhiên, cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận
Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu không trực tiếp phục vụ cho quản lý hành chính nhà nước, không mang tính quyền lực pháp lý như hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Nó được phân biệt với hoạt động quản lý nhà nước
Thứ tư, đơn vị sự nghiệp có thu có nguồn thu thường xuyên từ hoạt động sự nghiệp bởi vậy nó khác với cơ quan quản lý hành chính ở chỗ mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước và được tự chủ về mặt tài chính, không phụ thuộc vào cơ chế xin cho như trước.
TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU NGÀNH Y TẾ
Đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước ĐVSN công lập có thu ngành y tế là ĐVSN công lập có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán
1.3.2 Đặc điểm chi thường xuyên cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Đối với ngành y tế, chi NSNN được hiểu là sự thể hiện quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị, từ một bộ phận quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm duy trì, phát triển sự nghiệp y tế theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp, hay đó là khoản chi để duy trì sự tồn tại và hoạt động của hệ thống Y tế từ trung ương xuống cơ sở nhằm thực hiện chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế là khoản chi thường xuyên thuộc lĩnh vực văn xã, có những đặc điểm sau :
Thứ nhất, chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp có thu ngành y tế là khoản chi vừa mang tính chất tiêu dùng hiện tại, vừa mang tính chất tích luỹ đặc biệt
Xét về hình thức bên ngoài và theo từng niên độ ngân sách thì đây là khoản chi mang tính tiêu dùng xã hội, nhằm thoả mãn nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội ở mỗi năm đó Song khoản chi này gián tiếp tác động đến việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, nâng cao sức khỏe, tri thức con người, tạo điều kiện cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng, tăng tích luỹ ngân sách
Vì vậy, nếu xét về bản chất bên trong và xét về tác dụng lâu dài thì khoản chi này tác động mạnh mẽ tới yếu tố con người, tác động đến sự sáng tạo ra của cải vật chất và văn hoá tinh thần, là nhân tố tác động đến sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế xã hội trong tương lai
Thứ hai, chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp có thu ngành y tế là khoản chi chứa đựng nhiều yếu tố xã hội
Chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp có thu ngành y tế quyết định mức độ ưu đãi đối với các tầng lớp giai cấp trong xã hội mà đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn, những đối tượng thuộc diện ưu tiên, những gia đình chính sách, những người có công với cách mạng, những đối tượng thuộc vùng sâu vùng xa và những vùng thường xuyên xảy ra dịch bệnh; Qua đó để thực hiện công bằng xã hội Mặt khác, chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội (phong tục, tập quán, mức sống ) Chính những yếu tố này sẽ quyết định tới quan điểm hoạt động của sự nghiệp y tế
Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu ngành y tế không trực tiếp phục vụ cho quản lý hành chính nhà nước, không mang tính quyền lực pháp lý như hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Nó được phân biệt với hoạt động quản lý nhà nước
Thứ tư, đơn vị sự nghiệp có thu ngành y tế có nguồn thu thường xuyên từ hoạt động sự nghiệp bởi vậy nó khác với cơ quan quản lý hành chính ở chỗ mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước và được tự chủ về mặt tài chính Đối với ĐVSN công lập có thu ngành y tế, hoạt động của ngành có tính chất xã hội, khác với những loại hình dịch vụ thông thường, nó phục vụ các lợi ích cần thiết của xã hội trong lĩnh vực khám chữa bệnh để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được tốt nhất Nguồn thu thường xuyên của ngành từ hoạt động sự nghiệp y tế Nguồn kinh phí của các đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế gồm:
- Nguồn NSNN: đây là kinh phí đảm bảo cho hoạt động thường xuyên tại các đơn vị, cơ sở y tế để thực hiện các nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, kinh phí nghiên cứu khoa học trong phạm vi dự toán ngân sách địa phương đảm bảo, kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình mục tiêu y tế, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, chương trình mục tiêu HIV/AIDS …
- Nguồn thu sự nghiệp, gồm: Viện phí, các khoản thu từ các hoạt động của đơn vị như thu từ hợp đồng khoa học, liên kết đào tạo của các bệnh viện cho các trường y, kinh phí trông giữ xe
- Nguồn tài trợ: Tiền viện trợ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, tiền ủng hộ của các cơ quan, đơn vị, các doanh nghiệp để đầu tư cho y tế, tiền ủng hộ của các tổ chức Việt kiều, các khoản được biếu tặng bằng hiện vật (trang thiết bị y tế, máy móc, thuốc chữa bệnh )
Yêu cầu đối với quản lý chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị nghiệp y tế: Đối với ngành y tế, chi NSNN được hiểu là sự thể hiện quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị, từ một bộ phận quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm duy trì, phát triển sự nghiệp y tế theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp, hay đó là khoản chi để duy trì sự tồn tại và hoạt động của hệ thống Y tế từ trung ương xuống cơ sở nhằm thực hiện chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị nghiệp y tế phải đảm bảo nguyên tắc về tài chính
Chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị nghiệp y tế phải gắn với mục tiêu phát triển của ngành y tế Hà Tĩnh, mục tiêu phát triển của xã hội
Chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị nghiệp y tế phải đảm bảo tính công khai, minh bạch từ khâu lập dự toán, tổ chức thực hiện, quyết toán, báo cáo, kiểm toán.
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ
1.4.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp có thu ngành y tế
Quản lý chi NSNN là việc nhà nước sử dụng quyền lực của mình để tổ chức và điều chỉnh quá trình chi thường xuyên NSNN nhằm đảm bảo các khoản chi thường xuyên NSNN được thực hiện theo đúng chế độ chính sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước trong từng thời kỳ
NSNN được phân bổ cho rất nhiều lĩnh vực như phần trên đã đề cập, trong đó chi thường xuyên cũng là một khoản chi của NSNN Các khoản chi thường xuyên mang tính chất là các khoản chi cho tiêu dùng xã hội và gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà nước Hàng năm, NSNN phải chi một số lượng khá lớn các nguồn tài chính cho lĩnh vực này Chi NSNN cho sự nghiệp y tế vì sức khỏe của cộng đồng vì vậy, chi thường xuyên cho ĐVSN công lập có thu ngành y tế nhằm các mục tiêu sau:
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế để tạo điều kiện cho ngành y tế phát triểt bền vững và nâng cao sức khoẻ cho mọi người, mà sức khoẻ con người là tiền đề cần thiết để tạo ra trí tuệ - tài sản quý nhất của mọi tài sản NSNN cung cấp chủ yếu nguồn tài chính để duy trì, định hướng sự phát triển của hệ thống y tế theo đúng đường lối, chủ trương của Nhà nước Mục tiêu này được thiết lập phù hợp với chiến lược, nhiệm vụ phát triển KT-XH của đất nước trong từng thời kỳ
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là cần thiết vì sự nghiệp y tế có vai trò quan trọng quá trình phát triển KT-XH của mọi quốc gia Chất lượng, hiệu quả của các hoạt động y tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng Thực tế cho thấy, quá trình phát triển kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn của con người Do vậy, mục tiêu của quản lý NSNN là làm sao mang lại một kết quả tốt nhất về phát triển KT-XH
Mặc dù chi NSNN cho y tế không mang lại lợi ích bằng tiền nhưng ngân sách nhà nước góp phần vào việc đảm bảo công bằng xã hội Bởi vì trong nền kinh tế thị trường thì khoảng cách chênh lệch giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp là rất rõ rệt Do vậy, người nghèo thường bị thiệt thòi, không đủ khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế khi ốm đau Do đó, chi NSNN cho sự nghiệp y tế góp phần hỗ trợ cho những đối tượng nghèo khi ốm đau tham gia khám chữa bệnh, góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Mục tiêu của quản lý chi NSNN cấp tỉnh cho y tế là với một ngân sách cấp tỉnh nhất định làm sao mang lại một kết quả tốt nhất cho hoạt động y tế; đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa một bên là các cơ sở y tế công lập và một bên là người bệnh đáp ứng được nhiệm vụ lớn lao của ngành y tế là chăm lo sức khỏe cho người dân nói riêng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước nói chung
1.4.2 Nguyên tắc chi ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế
- Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách Lập dự toán sẽ giúp chủ thể quản lý chủ động trong phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính Đối với chi thường xuyên cho y tế, lập dự toán còn là căn cứ quan trọng để quản lý và kiểm soát các khoản chi trong quá trình điều hành ngân sách Ngoài ra, quản lý theo dự toán cũng là cơ sở để đảm bảo cân đối ngân sách, tạo điều kiện chấp hành ngân sách Tuy nhiên, để nguyên tắc này phát huy tác dụng thì việc lập dự toán từ các đơn vị, cở sở y tế thụ hưởng ngân sách phải khoa học, định mức và chính sách chế độ phải phù hợp với từng nhiệm vụ chi
- Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, đòi hỏi tất cả các khoản chi thường xuyên NSNN cho y tế đều phải được thực hiện theo đúng định mức, đúng kế hoạch Các khoản chi đều phải được ghi sổ đầy đủ vào kế hoạch NSNN và được quyết toán rành mạch rõ ràng Nguyên tắc này được đưa ra nhằm hạn chế tình trạng để ngoài ngân sách của các khoản chi thuộc NSNN, dẫn đến tình trạng lãng phí trong sử dụng vốn NSNN
- Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Hiệu quả là yêu cầu của mọi quá trình quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính Tính hiệu quả xuất phát từ thực tế nguồn lực tài chính nói chung, nguồn kinh phí chi thường xuyên cho lĩnh vực y tế nói riêng có giới hạn, nên việc phân bổ và sử dụng cần đảm bảo nguyên tắc hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Để nguyên tắc này được tôn trọng, quản lý chi thường xuyên của NSNN cho ngành phải làm tốt một số nội dung sau:
+ Phải xây dựng định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời phải có tính thực tiễn
+ Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị hoặc phù hợp với yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi
+ Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo các nhóm mục chi sao cho tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao
- Nguyên tắc công khai hoá:
Nguyên tắc này được thể hiện suốt trong chu trình NSNN (lập, chấp hành và quyết toán NSNN) và phải được áp dụng cho các cơ quan tham gia vào chu trình NSNN Việc chi NSNN cho y tế phải được công khai để mọi người biết Nguyên tắc này xuất phát từ những lý do: Y tế là lĩnh vực nhạy cảm, có liên quan đến lợi ích của toàn dân Hơn nữa, nguồn tài chính chi cho nhiệm vụ này được thực hiện phần lớn bằng nguồn vốn NSNN - một nguồn vốn được đóng góp chủ yếu bởi nhân dân, do đó việc công khai hoá các khoản chi để mọi người dân được biết là một nguyên tắc không thể thiếu
- Nguyên tắc cân đối ngân sách: Cân đối được hiểu là các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp Việc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi: chỉ những khoản chi nào đã có trong dự toán chi ngân sách nhà nước cho y tế và đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì mới được phép chi
- Nguyên tắc đảm bảo chi trả trực tiếp qua KBNN: Với chức năng quản lý quỹ NSNN, KBNN kiểm soát mọi khoản chi ngân sách và có quyền từ chối thanh toán các khoản chi không đúng quy định, không phù hợp với chế độ Hiện nay, các đơn vị dự toán phải mở tài khoản tại KBNN Mọi khoản thanh toán đều phải có kiểm soát chi từ kho bạc trước khi nguồn vốn ngân sách được thanh toán chi trả
1.4.3 Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế
Chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế được phân ra dưới một số tiêu thức chủ yếu sau:
1.4.3.2 Quản lý theo nhóm mục các khoản chi
Chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong nội dung chi NSNN cho y tế Quản lý chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế theo các nhóm mục chi chủ yếu sau:
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẾN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU NGÀNH Y TẾ
- Tổ chức bộ máy quản lý: Tổ chức bộ máy quản lý có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý chi NSNN cho ĐVSN công lập nói chung và ngành y tế nói riêng Nếu bộ máy quản lý chi được tổ chức khoa học, gọn nhẹ, hiện đại sẽ tạo nên một sự thống nhất, đồng bộ trong quản lý chi NSNN
- Trình độ cán bộ quản lý: Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc sử lý các thông tin để đưa ra các quyết định kịp thời, chính xác của các quyết định quản lý Đối với các đơn vị cơ sở đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán đòi phải có đủ số lượng, chất lượng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, phải có kinh nghiệm công tác để đưa công tác tài chính kế toán của đơn vị đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ tài chính kế toán của nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả hệ thống quản lý chi NSNN
- Ý thức chấp hành ngân sách của các đơn vị: Việc các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chấp hành đúng pháp luật, sử dụng kinh phí ngân sách cấp tiết kiệm, đúng mục đích, đúng chế độ Định mức, tiêu chuẩn là nhân tố quan trọng, tạo điều kiện thận lợi cho công tác quản lý chi NSNN
- Cơ sở vật chất cho hoạt động y tế: Đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chi NSNN cho sự nghiệp y tế Nếu cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh tốt, hiện đại, không những bảo đảm được công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân mà còn giúp cho ngành y tế giảm được chi phí mua trang thiết bị của ngành, tiết kiệm được ngân sách cho địa phương và Trung ương
Ngày nay so với các nước trong khu vực và trên thế giới, trang thiết bị của ngành Y tế Việt Nam còn ít và lạc hậu Các trang thiết bị hiện đại mới được đầu tư ở các bệnh viện lớn tuy nhiên vẫn còn thiếu về chủng loại và số lượng Chính vì vây đòi hỏi nhà nước chi nhiều hơn nữa cho mua sắm trang thiết bị y tế đặc biệt là ở các bệnh viện tuyến cơ sở
1.5.2 Các yếu tố bên ngoài
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Chỉ tiêu tốt nhất đánh giá tăng trưởng của một quốc gia là thu nhập bình quân theo đầu người Khi nền kinh tế có năng suất lao động cao hay thu nhập quốc dân cao thì nguồn thu cho ngân sách sẽ cao sẽ làm tăng nguồn tài chính đảm bảo cho chi tiêu của các hộ gia đình nói chung và ngành y tế nói riêng
Với nguồn tài chính trong tay, nhà nước sẽ phân bổ nguồn lực này cho các lĩnh vực trong nền kinh tế Tùy vào từng thời kỳ mà nguồn chi cho các lĩnh vực nào đó có thể cao hay thấp trong cơ cấu chi của nhà nước Trong thực tế với nguồn ngân sách nhất định, nếu NSNN mà tập trung nhiều cho một lĩnh vực nào đó thì nguồn NSNN giành cho sự nghiệp y tế sẽ giảm ảnh hưởng đến công tác nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh của nhân dân
- Hệ thống văn bản, chế độ, chính sách pháp luật: Một hệ thống các văn bản, thống nhất, đầy đủ với các qui định rõ ràng, cụ thể, vừa là yếu tố quan trọng vừa là điều kiện quyết định đến chất lượng hoạt động quản lý NSNN Chức năng chủ yếu của hệ thống các văn bản, chế độ chính sách pháp luật là điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục để đảm bảo phát triển xã hội theo mục tiêu và phương hướng nhất định Trong điều kiện hiện nay, nhà nước không thể can thiệp trực tiếp vào mọi hoạt động trong nền kinh tế vì vậy, hệ thống văn bản chính sách pháp luật giúp cho nhà nước quản lý nền kinh tế hiệu quả theo định hướng Đối với ngành y tế, các văn bản, chính sách pháp luật giúp cho ngành quản lý chi NSNN nói riêng theo định hướng của nhà nước
- Tốc độ tăng dân số và tỷ lệ mắc bệnh trong dân: Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến chi NSNN cho sự nghiệp y tế trong dân Nếu dân số trong nền kinh tế tăng nhanh trong khi NSNN eo hẹp và còn phải phân bổ cho nhiều ngành, điều này sẽ gây sức ép lớn cho xã hội trong đó có ngành Y tế Dân số tăng nhanh trong khi cơ sở vật chất còn thiếu, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh tăng nhanh và diễn biến phức tạp kéo theo bệnh tật ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Để đẩy lùi bệnh tật và nâng cao sức khỏe của người dân đòi hỏi ngành y tế phải đổi mới cả về số lượng và chất lượng Điều này cũng đã ảnh hưởng tới nội dung và cơ cấu chi NSNN
- Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán và thanh toán: Việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, toàn diện, thống nhất và chuyên nghiệp trong công tác quản lý bệnh viện, kế toán và thanh toán, giúp tiết kiệm biên chế, thời gian xử lý công việc, đảm bảo chất lượng thông tin, báo cáo, đồng thời tạo tiền đề cho cải cách về thủ tục hành chính và qui trình nghiệp vụ quản lý tài chính
- Qui trình, nghiệp vụ quản lý: Thủ tục thanh toán gọn nhẹ, sự đơn giản trong qui trình luân chuyển chứng từ, nội dung kiểm soát thanh toán chi tiết rõ ràng và cụ thể của các bộ phận có liên quan sẽ tạo điều kiện để các cơ quan Tài chính, Kho bạc quản lý chi NSNN chặt chẽ hơn, nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐÔI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU NGÀNH Y TẾ
1.6.1 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế của Nghệ An
Trong những năm vừa qua, tình hình kinh tế của tỉnh Nghệ An đạt mức tăng trưởng cao và ổn định Tỉnh Nghệ An cũng đã đầu tư rất nhiều cho y tế từ nguồn ngân sách của nhà nước, nên công tác chi thường xuyên đã được điều hành chủ động từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách
Coi việc công khai tài chính là biện pháp để tăng cường giám sát của cán bộ trong việc quản lý sử dụng NSNN, đơn vị sử dụng ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Đẩy mạnh việc khoán biên chế và quỹ lương, coi đây là biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác của bộ máy hành chính, tăng cương trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong thực thi nhiệm vụ đồng thời tăng thu nhập cho cán bộ công chức
1.6.2 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế của Hải Dương
Trong thời gian qua hiệu quả sử dụng NSNN cho y tế tỉnh Hải Dương được nâng cao Việc lập kế hoạch và phân bổ NSNN cho y tế được thực hiện theo đúng Luật NSNN Hải Dương đã dựa trên khả năng cân đối ngân sách của tỉnh để xây dựng các định mức phân bổ cụ thể cho từng cơ sở y tế và có tính tới đặc thù đã tạo chủ động cho các đơn vị căn cứ vào khả năng cân đối của NSNN để khai thác nguồn thu để trang trải kinh phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, nhân viên
Qua nghiên cứu chi thường xuyên NSNN cho đơn vị y tế của Hải Dương ta nhận thấy, trong công tác tổ chức thực hiện phải sát với dự toán đầu năm, tránh tình trạng điều chỉnh, bổ sung, ảnh hưởng đến sự nghiệp của ngành y tế và ảnh hưởng đến công tác khám chữa bệnh cho nhân
Trên đây là hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị dự nghiệp công lập nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế nói riêng Nêu rõ các khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập, chi ngân sách, quản lý chi ngân sách và đã nêu nội dung cơ bản về công tác quản lý chi ngân sách nhà nước Việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là một vấn đề các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, nhất là trong điều kiện hiện nay, quản lý chi ngân sách nhà nước nhằm tránh sự lãng phí thất thoát; hạn chế những yếu kém về quá trình sử dụng nguồn ngân sách nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cho ngành y tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh
Trong chương 2 tiếp theo luận văn sẽ vận dụng các lý thuyết này để phân tích thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế trên điạ bàn tỉnh Hà Tĩnh và đề cập đến các tồn tại, nguyên nhân để từ đó có các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế có thu trên địa bàn tỉnh.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU NGÀNH
KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HỆ THỐNG Y TẾ TỈNH HÀ TĨNH
HỆ THỐNG Y TẾ TỈNH HÀ TĨNH
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh và hệ thống y tế tỉnh Hà Tĩnh
2.1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là tỉnh ven biển thuộc khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung, được tái lập tỉnh từ tháng 9 năm 1991 (tỉnh Nghệ Tĩnh được tách thành tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) Phía Bắc giáp Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Tây giáp tỉnh Khăm-muộn và tỉnh Bô-ly-khăm-xay nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (với đường biên giới 145km), phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài hơn 137 km Diện tích toàn tỉnh là 5.997,2 km2, chiếm 1,8% tổng diện tích cả nước
Hà Tĩnh có 3 loại địa hình đặc trưng, bao gồm: Khu vực miền núi, vùng đồng bằng và đồng bằng ven biển Phần lớn đất đai trong tỉnh thuộc địa hình đồi núi và đất cằn, bạc màu, là thách thức lớn đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Hà Tĩnh có vị trí chiến lược rất thuận lợi trong phát triển hợp tác, trao đổi và thương mại, dịch vụ với các tỉnh trong vùng và một số quốc gia trong khu vực như: Lào, Campuchia, Thái Lan Tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường quốc lộ như: Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 8A, đường 12A chạy sang Lào Hà Tĩnh cũng có cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo và cụm cảng nước sâu Sơn Dương - Vũng Áng là những cửa khẩu giao thương thuận lợi với các nước trong khu vực và trên thế giới
Khu kinh tế Vũng Áng có trên 100 dự án đã và đang chuẩn bị đi vào hoạt động với hàng vạn lao động trong đó phần đông là người nước ngoài là bước mở đầu cho chặng đường từng bước xây dựng Hà Tĩnh trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn của đất nước Do đó, công tác phòng bệnh, chữa bệnh khá phức tạp Việc khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh không chỉ là khám cho nhân dân trong tỉnh mà còn khám chữa bệnh cho các bệnh nước ngoài ở khu công nghiệp Vũng Áng, bệnh nhân vùng biên giới Lào, Camphuchia
Hà Tĩnh có 13 đơn vị hành chính gồm 10 huyện, 01 thành phố loại 3 trực thuộc tỉnh và 2 thị xã Trong đó, có 3 huyện miền núi là Hương Sơn, Vũ Quang và Hương Khê Toàn tỉnh có 262 xã/phường/thị trấn (235 xã, 12 thị trấn và 15 phường)
Dân số trung bình của Hà Tĩnh năm 2015 là 1.238.829 người, chiếm 11% dân số vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và chiếm 1,41% dân số cả nước Trong khu vực Bắc Trung Bộ, Hà Tĩnh là tỉnh có dân số cao thứ 3 trong các tỉnh của khu vực
Tỷ lệ sinh của dân cư vẫn đang ở mức cao, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm
2015 là 9,07‰ Hà Tĩnh hiện đang là một trong số 10 tỉnh/TP có tỷ lệ sinh con thứ ba cao nhất của cả nước Tuổi thọ trung bình trong toàn tỉnh năm 2015 đạt khoảng gần 73 tuổi, tương đương tuổi thọ trung bình của toàn quốc (73 tuổi)
Mật độ dân số trung bình của tỉnh là 211người/km2 song phân bố dân cư không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các huyện đồng bằng Thành phố Hà Tĩnh có mật độ dân số cao nhất là 1719 người/km2, các huyện miền núi có mật độ dân số thấp như Hương Khê 80 người/km2, Vũ Quang 46 người/km2 Cơ cấu dân số của tỉnh thuộc cơ cấu dân số trẻ, tỉ lệ trong độ tuổi lao động chiếm 57,73% và tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn (chiếm tỷ lệ 80,37%) Nguồn: Cục Thống kê Hà Tĩnh, năm 2015
Năm 2015 số giường bệnh đạt 18,8 giường bênh/1 vạn dân (cả nước 23,5),
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 14%, Tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt 70% (Nguồn báo cáo tổng kết ngành y tế Hà Tĩnh năm 2015)
2.1.1.2 Thực trạng hệ thống Y tế tỉnh Hà Tĩnh
Sở Y tế: Có 6 bộ phận chuyên môn, bao gồm: Văn phòng, Thanh tra Sở, phòng Tổ chức cán bộ, phòng Quản lý Dược, phòng Nghiệp vụ Y, phòng Kế hoạch - Tài chính; Các đơn vị Y tế thuộc Sở Y tế:
Lĩnh vực Y tế Dự phòng: Hà Tĩnh có 10 đơn vị thuộc lĩnh vực Y tế dự phòng tuyến tỉnh và 13 Trung tâm Y tế dự phòng tuyến huyện
Mạng lưới các cơ sở KCB: Tuyến tỉnh có 01 bệnh viện đa khoa, 04 Bệnh viện chuyên khoa tuyến huyện có 12 bệnh viện đa khoa tuyến huyện và bệnh viện đa khoa khu vực cửa khẩu quốc tế Cầu Treo Quy mô giường bệnh của các bệnh viện công lập năm 2015: Tổng số gường bệnh 2340, trong đó Bệnh viện tuyến tỉnh
900 gường bệnh, bệnh viện tuyến huyện 1.440 giường bệnh
Trạm y tế xã/phường/thị trấn: có 262 trạm y tế xã, phường, thị trấn với 1.310 giường lưu
Dân số KHHGĐ: Tuyến tỉnh: Chi cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là đơn vị quản lý nhà nước thuộc Sở Y tế; Tuyến huyện/thị: Trung tâm Dân số - KHHGĐ
(13 trung tâm); Tuyến xã: Mỗi xã có 01 cán bộ phụ trách công tác Dân số - KHHGĐ và mạng lưới cộng tác viên Dân số - KHHGĐ tại các thôn/bản
Trường Cao đẳng y tế trực thuộc UBND tỉnh Hiện Trường có đủ năng lực đào tạo các ngạch: Cử nhân điều dưỡng, Điều dưỡng trung cấp, Cử nhân hộ sinh,
Hộ sinh trung cấp, Y sỹ đa khoa, Dược sỹ trung cấp và kỹ thuật viên xét nghiệm,…
Các cơ sở Y tế ngành: Hà Tĩnh hiện không có bệnh viện tuyến trung ương và bệnh viện ngành đóng trên địa bàn Các cơ sở Y tế ngành thường có quy mô nhỏ lẻ, gồm một vài đơn vị y tế của công an, quân đội và công ty cao su Hà Tĩnh Các cơ sở Y tế ngoài công lập
Mạng lưới các cơ sở Y tế ngoài công lập của Hà Tĩnh trong thời gian qua chưa phát triển Trên địa bàn tỉnh hiện chỉ có 01 bệnh viện tư nhân Sài Gòn – Hà Tĩnh, một số bệnh viện tư nhân khác đang triển khai xây dựng như Bệnh viện An
Hòa phát – Thành phố Hà Tĩnh, bệnh viện Thành An Fomusa – Thị xã Kỳ Anh nhưng đang gặp một số vấn đề khó khăn về vốn và bộ máy nên chưa đi vào hoạt động Các phòng khám nhỏ lẻ tập trung chủ yếu ở thành phố Hà Tĩnh và trung tâm của một số huyện/thị Theo số liệu thống kê, năm 2011 toàn tỉnh có 502 cơ sở Y - Dược tư nhân, đến cuối năm 2015 có 687 cơ sở (các phòng khám chủ yếu là các phòng khám Nội, Ngoại, Răng - hàm - mặt, Da liễu )
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NSNN ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU NGÀNH Y TẾ TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015
2.2.1 Thực trạng chi thường xuyên NSNN đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Hà Tĩnh
2.2.1.1 Tỷ trọng chi ngân sách nhà nước cho đơn vi sự nghiệp công lập ngành y tế Hà Tĩnh
Trong những năm gần đây Hà Tĩnh là tỉnh có nguồn thu NSNN đạt khá cao so với các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ (nhờ sự thu hút vốn đâu tư vào Khu công nghiệp Vũng Áng – Thị xã Kỳ Anh), nên cấp uỷ và chính quyền địa phương quan tâm đầu tư cho lĩnh vực y tế
Bảng 2.2: Tình hình chi NSNN địa phương cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2015 Đơn vị: Tỷ đồng
4 Chi quản lý hành chính 1.144 1.439 1.492 1.713 1.982
5 Chi sự nghiệp các ngành khác, 718 1.132 1.251 1.177 1.499
B Tỷ trọng so với tổng chi NSĐP
4 Chi quản lý hành chính 6% 7% 8% 8% 9%
5 Chi sự nghiệp các ngành khác, 6% 7% 8% 8% 9%
C Tỷ trọng so với chi thường xuyên
4 Chi quản lý hành chính 27% 24% 21% 23% 26%
5 Chi sự nghiệp các ngành khác, 17% 19% 18% 16% 20%
Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Hà Tĩnh năm 2011 - 2015
Bảng 2.2 cho thấy: Từ năm 2011 - 2015, chi NSĐP cho các ĐVSN công lập ngành y tế đã tăng lên qua các năm Chi NSNN năm 2015 là 463 tỷ đồng, gấp 1,36 lần mức chi NSNN của ngành vào năm 2011 So sánh với lĩnh vực kinh tế, giáo dục đào tạo và quản lý hành trong giai đoạn này, chi cho sự nghiệp y tế là 2% đến 3% tổng chi ngân sách địa phương, và 6% đến 8% tổng chi thường xuyên, như vậy, chi cho sự nghiệp y tế đảm bảo tương đối cho hoạt động của ngành Với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tỉnh Hà Tĩnh mấy năm trở lại đây, thì chi ngân sách cho ngành y tế ngày càng được quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của ngành y tế tỉnh
Theo Niên giám Thống kê, giai đoạn 2011 - 2015, tăng trưởng GDP của tỉnh đạt cao và ổn định, trung bình hàng năm là 13,5% Nhưng chi thường xuyên NSNN cho y tế chiếm tỷ trọng 1,03% GDP vào năm 2011 và đã giảm 0.66% vào năm 2015 (chi cho y tế được tỉnh quan tâm và được cấp tăng hàng năm nhưng so với tỷ trọng vẫn giảm do nguồn thu của tỉnh ngày càng cao) So với các ngành khác, vốn chi ngân sách nhà nước cho y tế mặc dù có được tăng nhưng vẫn chưa được ưu tiên (lý do trong thời gian này ngành Y tế Hà Tĩnh được Trung ương đầu tư nguồn vốn TPCP theo Quyết định 47/2008/QĐ-TTg ngày 02/4/2008 về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện, bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ và Quyết định 930/QĐ-TTg ngày 30/06/2009 về việc phê duyệt Đề án “Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các bệnh viện chuyên khoa lao, tâm thần, ung bướu đầu tư các Bệnh viện tuyến tỉnh của Thủ tướng Chính phủ)
2.2.1.2 Cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế Hà Tĩnh
Bảng 2.3: Cơ cấu chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp ngành y tế tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 – 2015 Đơn vị: Tỷ đồng
1 NSNN cấp sự nghiệp y tế 341 368 390 421 463
2 NSNN cấp đào tạo y tế 6,5 7,0 8,2 8,5 8,0
1 NSNN cấp sự nghiệp y tế 49,53 44,55 44,66 42,89 42,01
2 NSNN cấp đào tạo y tế 0,94 0,85 0,94 0,87 0,73
4 Nguồn mua sắm trang thiết bị, XDCB 2,32 4,60 3,78 5,71 5,63
II Ngân sách Trung ương 120 133 84 123 142
1 Chương trình mục tiêu QG 33 38 27 16 17
2 Vốn trái phiếu Chính Phủ 87 95 57 107 125
1 NSNN cấp sự nghiệp y tế 42,18 38,37 40,74 38,12 37,22
2 NSNN cấp đào tạo y tế 0,80 0,73 0,86 0,77 0,64
II Ngân sách Trung ương 14,84 13,87 8,78 11,14 11,41
1 Chương trình mục tiêu QG 4,1 4,0 2,8 1,4 1,4
2 Vốn trái phiếu Chính Phủ 10,76 9,91 5,95 9,69 10,05
Nguồn: Sở Tài chính Hà Tĩnh năm 2011 - 2015
Bảng 2.3 cho thấy, giai đoạn 2011-2015 tổng nguồn kinh phí chi cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh là 5.073 tỷ đồng, trong đó: nguồn vốn chi từ NSNN là 2.828 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 56% tổng nguồn vốn đầu tư cho y tế Đây là nguồn lấy từ NSNN hàng năm cung cấp chủ yếu trong hoạt động của khu vực y tế nhà nước NSNN là nguồn kinh phí có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động chăm sóc sức và bảo vệ sức khoẻ nhân dân mà nguồn khác không thể thay thế được Nguồn NSNN đầu tư cho hoạt động y tế được phân chia ra làm 3 mảng do hai phòng chức năng của Sở Tài chính quản lý, theo dõi và cấp phát là: Nguồn NSNN cấp cho hoạt động chi thường xuyên của sự nghiệp y tế và chi thường xuyên của các nguồn vốn Ngân sách Trung ương hỗ trợ do phòng Tài chính Hành chính sự nghiệp (Sở Tài chính) cấp phát và quản lý; Nguồn NSNN cấp cho đầu tư phát triển y tế (vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn hỗ trợ có mục tiêu để đầu tư hạ tầng y tế, vốn mục tiêu quốc gia có tính chất đầu tư) do phòng Tài chính Đầu tư (Sở Tài chính) quản lý và cấp phát
Giai đoạn 2011-2015 tổng nguồn ngân sách địa phương chi cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh là 4.471 tỷ đồng, trong đó: nguồn vốn chi từ NSNN là 2.226 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng gần 50% tổng nguồn cấp cho sự nghiệp y tế Đây là nguồn lấy từ NSNN hàng năm cung cấp chủ yếu trong hoạt động của khu vực y tế nhà nước NSNN là nguồn kinh phí có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động chăm sóc sức và bảo vệ sức khoẻ nhân dân mà nguồn khác không thể thay thế được
Nguồn NSNN chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế là nguồn mang tính ổn định khá rõ nét và mang tính tiêu dùng chung cho toàn xã hội Trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp, nhà nước cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí thì tất yếu, phạm vi và mức độ chi cho sự nghiệp y tế phải trải rộng Còn trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, hoạt động y tế có sự chăm lo của cả nhà nước và nhân dân, nhờ đó mà nhà nước có thể từng bước thu hẹp và hạ thấp mức chi cho lĩnh vực này, tuy nhiên, nguồn NSNN cấp vấn chiếm phần chủ yếu trong tổng chi tiêu cho sự nghiệp y tế Điều này chứng tỏ là ngân sách nhà nước vẫn luôn là nguồn kinh phí chủ yếu đầu tư cho sự nghiệp y tế trên địa bàn Hà Tĩnh vì vẫn giữ tỷ trọng cao trong các nguồn nhưng tỷ trọng đã giảm dần, thay vào đó, có nhiều nguồn lực khác đang chia sẻ nguồn kinh phí cho sự nghiệp y tế với nhà nước, thực hiện được đúng mục tiêu nhà nước và nhân dân cùng làm
Mặc dù tổng nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp y tế ngày càng tăng (năm 2011 là 809 tỷ đồng thì đến năm 2015 là 1.224 tỷ đồng) nhưng do sự đòi hỏi nhu cầu ngày càng phát triển của ngành y tế nói chung, cũng như y tế Hà Tĩnh nói riêng nên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân
Vì vậy, phải đặc biệt quan tâm đến các nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp này, đặc biệt là đối với nguồn vốn từ NSNN bởi dịch vụ y tế là một dịch vụ không thuần tuý hoạt động theo cơ chế thị trường, do đó, muốn đảm bảo mục tiêu công bằng thì nguồn NSNN có vai trò đặc biệt quan trọng Vì vậy, trong quản lý và sử dụng các khoản chi NSNN cho sự nghiệp y tế cần phải theo một cơ chế và thủ tục chặt chẽ để đảm bảo các khoản chi ngân sách cho sự nghiệp y tế ngày càng tiết kiệm và có hiệu quả Điều này cũng tạo ra sức ép đối với ngân sách địa phương trong việc cân đối nguồn chi ngân sách cho ngành y tế
Bên cạnh nguồn vốn NSNN, tỉnh đã chủ trương huy động nguồn thu sự nghiệp: Bảo hiểm y tế, viện phí, các khoản thu dịch vụ khác để đầu tư cho y tế Tuy nhiên, nguồn viện phí trong giai đoạn hiện nay vẫn còn một số hạn chế sau :
- Viện phí đang áp dụng là viện phí tính một phần chứ chưa được tính đầy đủ giá trị của dịch vụ y tế, do đó, nhà nước vẫn phải bao cấp thay thế Như vậy, nhà nước phải bao cấp cho cả người giàu lẫn người nghèo, mà ngưòi giàu sẽ được bao cấp nhiều hơn vì họ có khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế kỹ thuật cao mà người nghèo thì ngược lại
- Do không tính đủ giá viện phí cho nên người dân không ý thức được hết sự miễm giảm đó làm cho họ dễ coi thường lao động nghề nghiệp y tế và dẫn đến những khó khăn trong việc miễn giảm viện phí
- Việc trích một phần viện phí làm quỹ phúc lợi cho các cơ sở thu viện phí, tuy có giảm bớt khó khăn cho các cán bộ công chức ở đó nhưng nó cũng gây ra một sự bất công bằng trong các cán bộ công chức ngành y tế, giữa nơi thu được nhiều viện phí với nơi thu được ít viện phí hoặc không thu được viện phí, trong đó có các chuyên khoa như tâm thần, lao phổi, phong,
Hình 2.2: Cơ cấu chi ngân sách địa phương cho ngành y tế tỉnh Hà Tĩnh năm 2011
Hình 2.3: Cơ cấu chi ngân sách địa phương cho ngành y tế tỉnh Hà Tĩnh năm 2015
Hình 2.2 cho thấy Nguồn ngân sách Nhà nước cấp sự nghiệp y tế chiếm tỷ trọng gần 50% năm 2011, Hình 2.3 cho thấy đến năm 2015 giảm còn 42%, nguyên nhân là do nguồn thu y tế ngày càng tăng
Trên địa bàn tỉnh, nguồn thu sự nghiệp chủ yếu là khoản thu viện phí (chiếm hơn 90% tổng số thu sự nghiệp) Tổng nguồn kinh phí thu sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh là 2.245 tỷ đồng chiếm tỷ trọng khá lớn trên 50% tổng chi thường xuyên cho y tế trong giai đoạn 2011-2015 Năm 2011 nguồn thu sự nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 47% tổng chi thường xuyên cho y tế, đến năm 2015 nguồn thu chiến gần 52% tổng chi thường xuyên cho y tế Như vậy nguồn thu ngày càng được nâng cao đáng kể và đây là nguồn lực chủ yếu hỗ trợ cho địa phương để đảm bảo sự nghiệp y tế phát huy được hiệu quả các hoạt động ngành y tế
Về nội dung chi, thì chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế bao gồm 4 nhóm mục chi:
Bảng 2.4: Chi NSNN cho sự nghiệp y tế Hà Tĩnh theo 4 nhóm mục chi ĐVT: Triệu đồng
Tổng chi NSNN cho sự nghiệp y tế 341.238 368.235 390.392 421.349 463.340
2 Chi quản lý hành chính 27.299 29.459 31.231 37.921 41.701
Chi hoạt động chuyên môn 46.067 47.871 50.751 50.562 50.967
Chi mua sắm và sửa chữa, xây dựng nhỏ 17.062 18.412 19.520 29.494 46.334
Nguồn: Sở Y tế tỉnh Hà Tĩnh (năm 2011 - 2015)
Thứ nhất, các khoản chi cho con người, bảng số liệu 2.4 cho thấy các khoản chi cho lĩnh vực này chiếm tỷ trọng trong khoảng 70% đến 74% tổng chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế Tổng chi cho con người tăng hàng năm nguyên nhân tăng chủ yếu do thay đổi chính sách tiền lương của Nhà nước, tăng số lượng biên chế và các văn bản quy định hỗ trợ cán bộ theo chính sách đặc thù của ngành y tế, số giường bệnh tăng từng năm
MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN
Quá trình phát triển đi lên của ngành Y tế tỉnh Hà Tĩnh trong những năm tới đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN Quản lý chi NSNN cho ngành y tế phải đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, góp phần tạo ra sự ổn định về kinh tế - xã hội, để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2016- 2020
3.1.1 Mục tiêu phát triển y tế của tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020
Xuất phát từ đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, thực trạng của ngành và nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong giai đoạn mới, để hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân; công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân tỉnh Hà Tĩnh được phát triển theo tinh thần Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiển lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011- 2020, tầm nhìn đến năm 2030, với 6 quan điểm cơ bản sau:
- Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội; dịch vụ y tế công là dịch vụ xã hội đặc biệt, không vì mục tiêu lợi nhuận; đầu tư cho y tế là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của xã hội
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế tỉnh Hà Tĩnh theo hướng công bằng - hiệu quả - phát triển; bảo đảm mọi người dân, đặc biệt người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nhóm người dễ bị tổn thương được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản có chất lượng
- Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng; là trách nhiệm của các các cấp, các ngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội nghề nghiệp, trong đó ngành Y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật
- Định hướng phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân thông qua hệ thống pháp luật và chính sách; điều tiết, phân bổ nguồn lực; quản lý chất lượng dịch vụ y tế và giá dịch vụ y tế
- Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính trong các đơn vị y tế gắn với việc thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân để nhanh chóng thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong các hoạt động của ngành y tế
- Kết hợp hài hòa giữa củng cố mạng lưới y tế cơ sở với phát triển y tế chuyên sâu; giữa phát triển y tế công lập với y tế ngoài công lập; giữa y học hiện đại với y học cổ truyền
Về mục tiêu tổng quát:
Phát triển sự nghiệp y tế; Nâng cao năng lực hiệu quả quản lý nhà nước; tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe; giảm tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công tác xã hội hóa về y tế nằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân trong các hoạt động của Ngành, khuyến khích, thu hút đầu tư xã hội hóa y tế Góp phần cùng với các ngành, các cấp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Về mục tiêu cơ bản:
Từng bước khống chế cơ bản các bệnh về nhiễm trùng và dinh dưỡng; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, chủ động phòng chống các bệnh trong mô hình bệnh tật do phát triển kinh tế-xã hội, như: ung thư, cao huyết áp, bệnh tim mạch, tai nạn, ngộ độc, tâm thần, bệnh nghề nghiệp đặc biệt chủ động phòng chống nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng
+ Phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cả về số lượng và chất lượng, nhất là các dịch vụ về khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển của y học hiện đại trong cả nước Ưu tiên phát triển mạng lưới chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân theo hướng gần dân; tiến tới đưa các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đến từng hộ gia đình
+ Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe và đưa dịch vụ y tế đến mọi người dân, nhất là đối với người nghèo, người có công với nước, người trong diện chính sách Tăng cường công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ - trẻ em-kế hoạch hóa gia đình
Thực hiện Chương trình hành động số 2426/CTr-SYT ngày 25/12/2015 của
Sở Y tế Hà Tĩnh về thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2015-2020) của ngành y tế Các chỉ tiêu thực hiện chủ yếu đến năm 2020, cụ thể: Cải thiện nhanh chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe, giảm nhanh tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, giảm tỷ lệ trẻ em < 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 10,2%, đảm bảo dinh dưỡng và cơ cấu dinh dưỡng hợp lý; Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ: > 90%; Tỷ lệ xã, phường đạt Tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020: >80%; Đạt 22 giường bệnh/1 vạn dân; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên7%o;
Tỷ lệ tham gia Bảo hiểm y tế toàn dân đạt >90%; Tăng tuổi thọ trung bình ở mức 73-74 tuổi đến năm 2020
- Chủ động phòng chống dịch bệnh, tiến tới giải quyết căn bản các bệnh nhiễm khuẩn, đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm, an toàn lao động
- Ưu tiên củng cố và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe cấp cơ sở, tiến tới đưa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến từng hộ gia đình; tăng cường chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ; nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NSNN ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU NGÀNH Y TẾ TỈNH HÀ TĨNH
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu chi thường xuyên ngân sách cho sự nghiệp y tế phù hợp cơ chế tự chủ hiện nay
Hoàn thiện cơ cấu chi thường xuyên ngân sách nhà nước:
Cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp y tế hợp lý sẽ tạo điều kiện để ngành y tế phát triển theo định hướng của Nhà nước Một cơ cấu chi hợp lý sẽ phát huy được hiệu quả đầu tư từ nguồn NSNN và các biện pháp quản lý chi cũng được áp dụng sát hơn Do vậy, trong thời gian tới, cần có một cơ cấu chi hợp lý hơn nên cần có hai điều chỉnh:
Thứ nhất, Tăng dần tỷ trọng chi cho y tế dự phòng trong tổng chi NSNN của tỉnh cho sự nghiệp y tế để đảm bảo nguồn kinh phí cho y tế dự phòng đạt ít nhất 30% ngân sách y tế theo tinh thần Nghị quyết 18/2008/NQ-QH12 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Thứ hai, Hoàn thiện cơ cấu theo 4 nhóm mục chi Bởi vì, trong giai đoạn
2011 - 2015 phần lớn các khoản chi NSNN liên quan đến con người Phần chi cho hoạt động chuyên môn, mua sắm sửa chữa chiếm tỷ trọng rất nhỏ ảnh hưởng đến chất lượng y tế, nên Hà Tĩnh cần phải xây dựng một cơ cấu chi theo 4 nhóm mục chi một cách hợp lý hơn Do vậy, trước mắt, phải đáp ứng đủ mức chi thường xuyên cho con người đảm bảo điều kiện tái tạo sức lao động Sở Y tế cần có kế hoạch sắp xếp, củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy; sắp xếp tinh giảm đầu mối theo tinh thần Kết luận số 05-KL/TU ngày 29/6/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về một số chủ trương nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị và Đề án thực hiện Thông tư Liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 11/12/2015 của liên Bộ Y tế - Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Y tế Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; quản lý theo Ngành dọc Xây dựng kế hoạch đào tạo chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế có trình độ sơ, trung cấp lên trình độ cao đẳng, đại học phù hợp chuẩn viên chức hạng IV theo lộ trình Tăng cường đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực các tuyến về quản lý y tế, quản lý bệnh viện, hạn chế tình trạng thừa thiếu cán bộ chuyên môn ở các các đơn vị y tế tuyến cơ sở Đồng thời, nâng dần tỷ trọng chi cho chuyên môn, để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Giảm dần tỷ trọng các khoản chi quản lý hành chính, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi hội nghị, tiếp khách
Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị:
Quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị, do đơn vị xây dựng phù hợp với các hoạt động đặc thù của đơn vị để thực hiện các nhiệm vụ được giao Đây là một nét mới trong cơ chế quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp, theo đó đơn vị được quyền chủ động xây dựng các nội dung chi, mức chi để sử dụng kinh phí có hiệu quả thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao
Tuy nhiên, do những biến động kinh tế xã hội, biến động trong nội bộ đơn vị, cũng như những thay đổi về cơ chế, chính sách, nên quy chế chi tiêu nội nộ của đơn vị cần phải luôn được hoàn thiện, bổ sung đảm bảo yêu cầu chi tiêu của đơn vị đạt hiệu quả
Do vậy các đơn vị sự nghiệp y tế phải rà soát lại các tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị xây dựng, banh hành và điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời cho phù hợp với tình hình đặc thù của đơn vị
3.2.2 Hoàn thiện định mức chi thường xuyên từ NSNN phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
Theo Nghị quyết 46/NQ-TW tỷ trọng nguồn tài chính công phải giữ vai trò chủ đạo để đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Do vậy, cần phải có ngân sách để phân bổ và có định mức phân bổ phù hợp
Hiện nay, Hà Tĩnh vẫn đang thực hiện phân bổ ổn định ngân sách cho sự nghiệp y tế Trong thời gian tới, tỉnh phải xây dựng được hệ thống tiêu chí và mô hình lập dự toán, phân bổ dự toán NSNN theo kết quả đầu ra và chất lượng của bệnh viện Có thể nghiên cứu 2 phương thức phân bổ chính như sau:
Phương thức 1: Phân bổ trực tiếp cho bệnh viện và người cung cấp dịch vụ gồm:
- Phân bổ theo giường bệnh, đây là hình thức đang thực hiện trong giai đoạn này những ưu nhược điểm như đã phân tích tại chương 2
- Phân bổ theo số lượng dịch vụ đã cung cấp, đây là hình thức chi trả mới từ ngân sách nhưng về bản chất thì giống hình thức cho trả của BHYT đối với các bệnh viện hiện nay và 2 loại chi trả như sau:
Thứ nhất, nhà nước chi trả cho các bệnh viện theo số lượng dịch vụ bệnh viện đã cung cấp và giá từng loại dịch vụ Hình thức này có ưu điểm là đảm bảo được kinh phí hoạt động của bệnh viện Tuy nhiên cũng có một số nhược điểm là: do bệnh viện thực hiện dịch vụ nào sẽ được thanh toán dịch vụ đó nên có thể sẽ tạo ra sự lạm dụng dịch vụ y tế, đặc biệt là lạm dụng các dịch vụ có lợi cho bệnh viên và lạm dụng thuốc Do vậy, không những không khuyến khích tiết kiệm chi tiêu, mà còn phải chi thêm cho việc hình thành bộ máy giám sát các dịch vụ đã cung cấp có đúng với thực trạng bệnh tật hay không
Thứ hai, chi chọn gói dịch vụ theo chuẩn đoán bệnh tức là chi trên cơ sở số lượng người bệnh đã điều trị và mức giá của từng loại bệnh được cơ quan có thẩm quyền ban hành Hình thức này có ưu điểm là đáp ứng được chi phí hoạt động của bệnh viện và khuyến khích bệnh viện tiết kiệm chi, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến, có chi phí thấp để nâng cao hiệu quả hoạt động Tuy nhiên có một điểm khó khăn là phải xây dựng giá của các gói dịch vụ để làm cơ sở thanh toán
Phương thức 2 : Phân bổ theo hình thức hỗ trợ người sử dụng dịch vụ Tức là nhà nước sẽ cấp kinh phí cho người thứ 3 để giám sát và thanh toán cho bệnh viện các chi phí bệnh viện đã cung cấp cho người bệnh Hình thức này có 2 loại như sau:
Thứ nhất, nhà nước sẽ thành lập một quỹ khám chữa bệnh và quỹ sẽ thanh toán cho bệnh viện theo hình thức từng dịch vụ cụ thể hoặc trọn gói theo chuẩn đoán bệnh Hình thức này có ưu điểm là Nhà nước sẽ kiểm soát tiến độ chi tiêu của Quỹ để điều tiết cho phù hợp, nhưng có nhược điểm là phải xây dựng giá thanh toán và NSNN có thể phải tăng thêm để đảm bảo khả năng chi trả
Thứ hai, nhà nước sẽ hỗ trợ người bệnh thông qua mua thẻ BHYT, cơ quan
BHXH sẽ thanh toán cho các bệnh viện theo phương thức hiện hành Hiện nay hình thức này đã được thực hiện nhưng chưa bao phủ toàn dân Hình thức này có ưu điểm là đảm bảo được tính công bằng trong phân bổ ngân sách, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế ngay tại nới cư trú, thực hiện chủ trương BHYT toàn dân theo Nghị quyết của Đại hội Đảng IX Tuy nhiên, nhà nước phải hỗ trợ cho nhiều đối tượng trong thời gian tới mới đảm bảo được tinh thần của Nghị quyết, điều này gây sức ép rất lớn về nhu cầu ngân sách
3.2.3 Hoàn thiện quy trình lập, phân bổ dự toán, cấp phát, quyết toán nguồn kinh phí
Nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế là yêu cầu cấp bách trong điều kiện hiện nay, để nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN cần tập trung vào một số giải pháp:
Về khâu lập và phân bổ dự toán