Các tôn giáo, trong đó Phật giáo và Công giáo du nhập vàoViệt Nam và tới Nam Định khá sớm; Đây là quê hương của vị tổ sáng lập Thiềnphái Trúc Lâm Trần Nhân Tông, là điểm đầu tiên các nhà
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ XÃ VỀ TÔN GIÁO
Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Tôn giáo và hoạt động tôn giáo Tôn giáo
Trong quản lý xã hội đối với hoạt động tôn giáo, thì: Tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội Hoạt động tôn giáo Theo Pháp lệnh số: 21/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Về tín ngưỡng tôn giáo quy định: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo” (Điều 3)
Dưới giác độ quản lý xã hội, “mê tín, dị đoan là khái niệm kép dùng để chỉ một niềm tin mù quáng như: bói toán, lên đồng, gọi hồn, những điểm lạ và coi đó là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực xã hội; là những gì trái với lợi ích xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người tin theo mê muội”.
1.1.3 Quản lý xã hội về tôn giáo
Quản lý xã hội về tôn giáo là chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nứớc có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Như vậy, quản lý xã hội về tôn giáo là quá trình tác động,điều hành, điều chỉnh các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra theo dung quy định của pháp luật.
Sự cần thiết quản lý xã hội về tôn giáo
1.2.1 Thực hiện vai trò của xã hội trong quản lý ngành và lĩnh vực
Quản lý xã hội là quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật,… của Đảng và nhà nước nhằm đạt được mục tiêu chung, góp phần tăng trưởng, phát triển xã hội về mọi mặt Hoạt động quản lý xã hội thực chất bắt nguồn từ sự phân công nguồn lực con người nhằm đạt được hiệu quả cao hơn 1.2.2 Ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo trong phát triển kinh tế-xã hội Ảnh hưởng tích cực Tín ngưỡng - tôn giáo là động lực góp phần thúc đẩy phát triển các nhu cầu khác, trong đó có phát triển kinh tế - xã hội Đao đức tôn giáo góp phần tạo niềm tin và tâm lý cho xã hội nói chung và tín đồ tôn giáo nói riêng để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Tín ngưỡng, tôn giáo giúp con người đoàn kết, gắn bó, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trong xây dựng kinh tế, xã hội Ảnh hưởng tiêu cực Bản chất của tôn giáo, tín ngưỡng chỉ là sự sùng bái, tin tưởng của con người trước một hiện tượng, sự vật nào đó nhưng một số bộ phận đã quá đề cao và tuyệt đối hóa, thần thánh hóa lên làm cho một số tôn giáo, tín ngưỡng bị hiểu sai lệch Một số phần tử lợi dụng lòng tin tôn giáo tín ngưỡng của tín đồ, làm mê hoặc các tín đồ nhằm phục vụ mục đích cá nhân hòng trục lợi về kinh tế hoặc mưu đồ chính trị gây mất ổn định tình hình chính trị, xã hội, ảnh hưởng không tốt đến phát triển kinh tế
1.2.3 Đáp ứng nhu cầu chính đáng của một bộ phận đồng bào có đạo Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương luôn quan tâm đến đời sống tôn giáo của đồng bào có đạo và luôn tạo điều kiện để tín đồ các tôn giáo sinh hoạt thuận lợi, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đồng bào có đạo với phâm châm “sống tốt đời đẹp đạo”.
Đối tượng và nội dung quản lý xã hội về tôn giáo
1.3.1 Chủ thể và đối tượng quản lý
Chủ thể quản lý Chủ thể quản lý đối với hoạt động tôn giáo bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp gồm: Chính phủ,UBND các cấp ngoài ra có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và môi trường, Ban Tôn giáo Chính phủ Đối tượng quản lý - Tín đồ tôn giáo - Nhà tu hành, chức sắc, chức việc tôn giáo - Nơi thờ tự - Đồ dùng việc đạo - Các cơ sở vật chất khác - Sinh hoạt tôn giáo
Xây dựng chiến lược, kế hoạch quản lý đối với hoạt động tôn giáo
Xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách đối với hoạt động tôn giáo
Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động tôn giáo
Xét duyệt một số việc thuộc hành chính đạo - Đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo
Quản lý bằng công cụ pháp luật, chính sách
Quản lý bằng tuyên truyền, giáo dục
Quản lý bằng công cụ hành chính - kinh tế
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý xã hội về tôn giáo tại tỉnh Nam Định
2.1.1 Những đặc điểm về tự nhiên
Nam Định là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở phía Nam của châu thổ sông Hồng Phần đất liền của tỉnh nằm trong toạ độ địa lý từ 19 55 đến 20°16 vĩ độ Bắc và từ 106° đến 106°33'kinh độ Đông Phía bắc và Tây Bắc giáp với tỉnh
Hà Nam, phía Đông Bắc giáp với tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp với tỉnh Ninh Bình, phía Đông và Đông Nam giáp với biển đông Với vị trí này tỉnh có nhiều thuận lợi mở rộng giao lưu kinh tế, xã hội với các địa phương khác và thúc đẩy kinh tế phát triển; giải phóng tiềm năng lao động đông đảo của tỉnh và mở rộng các loại hình việc làm cho người lao động.
Về cơ cấu hành chính, Nam Định có 9 huyện và một thành phố loại II trực thuộc tỉnh với 196 xã và 33 phường, thị trấn Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.652,29 km” chiếm 11,12% diện tích đất tự nhiên vùng đồng bằng Sông Hồng, bằng gần 0,5% diện tích toàn quốc Đất nông nghiệp 114.799,25 ha, chiếm 69,47% đất tự nhiên, bình quân đầu người hiện có 694,77 m người Nam Định có 72 km chiều dài bờ biển trên địa phận 24 xã của 3 huyện Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng và Hải Hậu Là tỉnh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt gần trùng với 2 mùa khô và ẩm tất cả những yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ngư nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và du lịch.
Nam Định là một trong những tỉnh có dân số đông trong cả nước, đây là nguồn lực rất quan trọng để phát triển KTXH Quá trình hình thành công đồng cư dân Nam Định gắn liền với quá trình cư dân người Việt từ vùng tiền châu thổ tràn xuống lấn chiếm vùng châu thổ và duyên hải Bắc Bộ Chính vì vậy, Nam Định là nơi hội tụ và là nơi hợp cư của nhiều bộ phận cư dân khác nhau, trong đó chủ yếu từ vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Sự hình thành cộng đồng cư dân ở
Nam Định cũng đồng thời liên kết với quá trình phát triển nông nghiệp thâm canh trên vùng đất phù sa màu mỡ Chính vì vậy, mật độ dân số ở khu vực này là khá cao so với cả nước và đồng bằng Bắc Bộ(trừ các đô thị Hà Nội Hải Phòng)
2.1.2 Những đặc điểm kinh tế.
Nam Định là một trong những tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ sản xuất và cung cấp nguồn lương thực thực phẩm cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh thành phố lớn như Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn Xét về mặt công nghiệp trên giác độ tự nhiên thì Nam Định có điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành vật liệu xây dựng, nội thất, gốm sứ, tơ lụa, bông sợi, may mặc, trên giác độ KTXH, Nam Định có nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền (hiện có 18/94 làng nghề truyền thống), ngành công nghiệp dệt may, ngành tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống trong tỉnh khá phát triển cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hoá đa dạng, chất lượng.
Nền kinh tế của tỉnh trong thời gian qua đã có bước phát triển mới về quy mô và hiệu quả, tạo ra nhiều thay đổi về cơ cấu các thành phần kinh tế Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2020, thời điểm 31/12/2019, toàn tỉnh có 6.193 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước (+534 doanh nghiệp); trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 395 doanh nghiệp, tăng 7%; khu vực công nghiệp và xây dựng 2.590 doanh nghiệp, tăng 11,2%; khu vực dịch vụ 3.208 doanh nghiệp, tăng 8,4% Tổng số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp thời điểm 31/12/2019 là 195.434 người, tăng 2,3% (+4.456 người) so với cùng thời điểm năm trước; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 7.114 người, giảm 0,7%; khu vực công nghiệp và xây dựng 160.137 người, tăng 3,1%; khu vực dịch vụ 28.183 người, giảm 1%
Qua quá trình phát triển, tỉnh Nam Định đã hình thành rõ nét 3 vùng kinh tế bao gồm: vùng kinh tế biển, vùng sản xuất nông nghiệp và vùng kinh tế trung tâm công nghiệp dịch vụ ở thành phố Nam Định Trong 10 năm qua, kinh tế của tỉnh đã có bước chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội(GDP) năm sau cao hơn năm trước Đến năm 2020 ,tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 19.750 tỷ đồng, tăng 2,8% so với năm 2019; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,3% so với năm 2018 Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,5% so với năm 2019; Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của Nam Định đạt trên 2.005 triệu USD, tăng 24,5% so với năm 2019 Đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án đầu tư hạ tầng KCN Dệt may Rạng Đông, CCN Thịnh Lâm (huyện Giao Thủy), CCN Yên Dương (huyện Ý Yên),
Quy mô nền kinh tế tỉnh liên tục được mở rộng trong những năm qua. Mặc dù chịu tác động lớn của đại dịch COVID-19 nhưng đất nước đã thành công trong công tác phòng chống, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Kinh tế vĩ mô ổn định tính đến năm 2020, Nam Định là đơn vị hành chính Việt Nam đứng thứ 13 về số dân, xếp thứ 35 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 31 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 14 về tốc độ tăng trưởng GRDP Với 1.780.300 người dân, GRDP đạt 66,37 nghìn tỉ Đồng (tương ứng với 2,88 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 63,3 triệu đồng (tương ứng với 2.751 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 5,5%.
Cơ cấu kinh tế có chuyển biến tích cực: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 22,46%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,48%; khu vực dịch vụ chiếm 34,93%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,13% Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2020 ước đạt 17.840 tỷ đồng, bằng 125,9% dự toán năm, giảm 4,9% so với năm trước Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 5.729 tỷ đồng, bằng 100,5% dự toán, tăng 1,9% so với năm trước; trong đó, thu nội địa 5.370 tỷ đồng, bằng 101,3% dự toán, tăng 6,3%; thu thuế xuất, nhập khẩu 330 tỷ đồng, bằng 82,5% dự toán, giảm 20,5%. Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2020 ước đạt 15.229 tỷ đồng, bằng 114,6% dự toán năm, tăng 22,5% so với năm trước
2.1.3 Đặc điểm về văn hóa - xã hội.
Nam Định là một vùng văn hoá tiêu biểu và đặc sắc Ăn, mặc, ở, đi lại của người Nam Định vừa là sự thích nghi, hoà đồng của con người với tự nhiên, vừa là sự tận dụng và khai thác của con người đối với môi trường tự nhiên ven sông,gần biển Trên cái nên tín ngưỡng dân gian, của tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thành hoàng tại vùng phía Bắc của Nam Định, được quan niệm là một vùng “không gian thiêng là nơi khởi phát và trở thành trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu và thờ Đức thánh Trần Vùng ven biển Nam Định lại là nơi đầu tiên tiếp nhận và sớm trở thành mảnh đất màu mỡ cho Thiên chúa giáo nẩy mầm, bén rễ, trở thành một trung tâm Thiên chúa giáo lớn Cả Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo và các tín ngưỡng dân gian khác đều song song tồn tại, phát triển, thậm chí có khi hoà đồng trong mỗi làng xã, mỗi gia đình, làm cho đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Nam Định thật nổi trội, phong phú và độc đáo.
Nam Định là một vùng quê văn hiến, một môi trường văn hoá tổng hợp, hoà quyện và đan xen văn hoá biển với văn hoá miền châu thổ, văn hoá bác học với văn hoá dân gian, văn minh đô thị với văn minh thôn dã, giá trị tinh thần truyền thống với tác phong công nghiệp hiện đại Nam Định là một vùng đất học với nhiều trường học nổi tiếng và nhiều thầy giỏi, trò ngoan, nhiều người người đỗ đạt cao, nhiều nhà văn hoá lớn, nhiều thành tựu khoa học, văn học, nghệ thuật ngang tầm quốc gia, quốc tế Điều này ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn lao động của tỉnh.
Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, y tế - giáo dục, thể dục thể thao những năm qua đã có nhiều thay đổi tích cực, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân trong tỉnh được cải thiện, quốc phòng, an ninh được củng cố Ngành giáo dục đạt được nhiều thành tích đáng phấn khởi; các xã, phường, thị trấn đều có trạm y tế, trường học, các phương tiện truyền thông được trang bị đầy đủ, nhiều trung tâm văn hóa được xây dựng, các chính sách xã hội đều thực hiện khá tốt, kết cấu hạ tầng của Nam Định khá phát triển, 100% số xã trong tỉnh đã có điện lưới quốc gia và mạng điện thoại hữu tuyến, trên 80% tuyến đường liên tỉnh, liên huyện được trải nhựa Ngoài thành phố Nam Định nhiều vùng nông thôn, thị trấn thị tứ đã được cung cấp nước sạch.
Khái quát về tình hình tôn giáo và công tác QLXH về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Nam Định có 3 tôn giáo được công nhận và hoạt động, đó là: Phật giáo, Công giáo và Tin lành
Phật giáo: Trên địa bàn tỉnh, Phật giáo có 838 chùa; 848 tăng, ni và khoảng trên 15 vạn tín đồ(nếu kể cả những người chịu ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo, có tới 65% dân số của tỉnh)
Công giáo: Công giáo gồm trọn vẹn Giáo phận Bùi Chu và 1 phần Giáo phận Hà Nội; có 141 xứ - nhà thờ xứ (Giáo phận Bùi chu 119 xứ và Giáo phận
Hà Nội 22 xứ), 521 nhà thờ họ, 513 nhà Nguyện; 02 giám mục, 191 linh mục,
134 chủng sinh đang học tại Đại chủng viện, trên 47 vạn giáo dân (chiếm 25% dân số toàn tỉnh); 6 dòng tu với 39 cơ sở dòng và 1000 nữ tu khấn trọn; có cơ sở
II Đại chủng viện Hà Nội đóng tại Tòa Giám mục Bùi Chu (tháng 9/2010 sẽ khai giảng khóa đầu tiên với 33 chủng sinh)
Tin Lành: Đạo Tin lành có 2 Hội Thánh Tin lành thuộc Tổng Hội thánh
Tin lành Việt Nam (miền Bắc) do 2 mục sư và 1 mục sư nhiệm chức quản nhiệm, có 02 nhà thờ với 670 tín đồ Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có một số điểm, nhóm Tin lành và một số hệ phái chưa được công nhận tư cách pháp nhân.
Tỉnh Nam Định đã thực hiện tốt chính sách về quản lý tôn giáo, góp phần giữ gìn và phát huy những thành quả tốt đẹp của đời sống tôn giáo, đẩy mạnh phong trào sống tốt đời, đẹp đạo” Trong thời gian qua, khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới, công tác vận động chức sắc, nhà tu hảnh và quần chủng tín đồ các tôn giáo ngày càng được quan tâm bằng các cơ chế, chính sách và giải pháp cụ thể hơn Trong công tác tôn giáo, dân tộc, tỉnh luôn quan tâm, tạo điều kiện và hướng dẫn tín đồ tôn giáo và bà con các dân tộc thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, tổ chức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về những quy định mới trên các lĩnh vực có liên quan đến đời sống nhân dân Đồng bào các tôn giáo và bà con các dân tộc đã đồng tình ủng hộ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động ở địa phương Nam Định luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôn giáo hoạt động ổn định theo đúng với nguyên tắc, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo.
Các tôn giáo trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định Các cấp chính quyền đã quan tâm tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo truyền thống dân tộc và nghi thức tôn giáo Nhờ đó, sự huy động tiềm năng và lực lượng của đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng cao hơn Sự đóng góp đó không chỉ về vật chất mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, góp phần tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
Phần lớn các vị chức sắc, nhà tu hành và đồng bào tín đồ tôn giáo đều chấp hành tốt chủ trương, chính sách Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực trong lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ công dân và tham gia các hoạt động từ thiện xã hội phong trào thi đua yêu nước Nổi bậtlà đồng bào Phật giáo tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, các phong trào từ thiện xã hội, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, khuyến học, khuyến tài, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo Ngoài ra, với phương châm sống tốt đời, đẹp đạo, nhiều vị chức sắc, nhà tu hành và đồng bào tín đồ còn tham gia vào hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Ban Chấp hành các đoàn thể, các tổ chức từ thiện xã hội, tự nguyện, nhiệt tình đóng góp thiết thực và hiệu quả cho các hoạt động.
Trong năm qua, với sự nỗ lực của cấp ủy, chính quyền địa phương và các ban, ngành liên quan, công tác đảm bảo An ninh chính trị trên địa bàn tỉnh nói chung và đảm bảo An ninh trong vùng đồng bào các tôn giáo nói riêng luôn được quan tâm, chú trọng, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Thực trạng quản lý xã hội về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định
2.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo
Ban Tôn giáo tỉnh Nam Định (sau đây gọi tắt là Ban) là tổ chức trực thuộc
Sở Nội vụ, chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Sở Nội vụ về tổ chức, biên chế và hoạt động; đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ.
Bạn có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, có trụ sở, biên chế, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp theo quy định của pháp luật.Bạn có chức năng giúp Giám đốc Sở Nội vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Ban giúp Giám đốc Sở Nội vụ thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, xây dựng trình cấp có thẩm quyền các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực tôn giáo.
Hai là, xây dựng trinh Giám đốc Sở Nội vụ ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chương trình, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm về lĩnh vực tôn giáo.
Ba là, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chương trình, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm về lĩnh vực tôn giáo sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bốn là, tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo đối với cán bộ, công chức, viên chức và tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo trong phạm vi quản lý của tỉnh.
Năm là, giải quyết theo thẩm quyền hoặc trinh cấp có thẩm quyền giải quyết những vấn đề cụ thể về tôn giáo theo quy định của pháp luật Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành tham mưu cho Giám đốc Sở Nội vụ trình Ủy ban nhân dân giải quyết những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực tôn giáo; là đầu mối liên hệ giữa chính quyền địa phương với các tổ chức tôn giáo.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thẩm định các yêu cầu của các tổ chức và cá nhân tôn giáo trên các lĩnh vực như: tổ chức đại hội, hội nghị của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh, việc nhập tu, bổ nhiệm, phong chức, phong phẩm, thuyên chuyển các chức sắc, chức việc, nhà tu hành trên phạm vi tỉnh; xem xét việc đề nghị xây dựng, trùng tu các công trình thờ tự, tôn giáo của tổ chức tôn giáo theo qui định của pháp luật; thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động quốc tế của nhà tu hành, chức sắc, nhân sĩ tôn giáo theo qui định của pháp luật.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể quần chúng có liên quan tuyên truyền và vận động quần chúng nhân dân, tín đồ, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo tại địa phương.
Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh chuẩn bị nội dung các buổi làm việc, tiếp xúc các tổ chức tôn giáo nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn tỉnh; xây dựng, bồi dưỡng, lựa chọn những cá nhân điển hình tiên tiễn, có uy tín là chức sắc, tín đồ tôn giáo làm hạt nhân trong các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố quốc phòng an ninh; tiếp đón, thăm hỏi các chức sắc, tín đồ tôn giáo.
Sáu là, thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tổ cáo về lĩnh vực tôn giáo theo quy định của pháp luật.
Bảy là, thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác tôn giáo cho công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Ban; phối hợp thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức làm công tác tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Tám là, thực hiện việc áp dụng chính sách đãi ngộ đối với những tổ chức, cá nhân tôn giáo; Tham gia xây dựng và thực hiện chính sách đối với tổ chức tôn giáo và chức sắc, nhân sĩ tôn giáo theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền.
Chín là, thực hiện việc nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tôn giáo, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực tiễn các chủ trương chính sách đối với tôn giáo; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ, cung cấp số liệu vào công tác quản lý và chuyên môn, nghiệp vụ.
Mười là, tham gia quản lý các khu di tích, danh lam thắng cảnh có liên quan đến tôn giáo.
Mười một, hướng dẫn tổ chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo thuộc Phòng Nội vụ cấp huyện giải quyết những vấn đề cụ thể về tôn giáo theo quy định của pháp luật; hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác tôn giáo đối với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.
Mười hai, quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính, tài sản, thực hiện chế độ tiền lương và các chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc Ban theo phân cấp của Giám đốc Sở Nội vụ và theo quy định của pháp luật.
Mười ba, thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở Nội vụ hoặc cơ quan có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật.
Ban Tôn giáo tỉnh Bình Nam Định những quyền hạn sau đây: Được ban hành các văn bản hướng dẫn và kiểm tra các hoạt động về lĩnh vực tôn giáo thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật, của Ban Tôn giáo Chính phủ và theo phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc ủy quyền của Giám đốc Sở Nội vụ. Được quyết định theo thẩm quyền trong việc thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức thuộc quyền theo sự phân cấp quản lý cán bộ của tỉnh và theo quy định của Nhà nước về công tác cán bộ, Được ban hành quy chế làm việc trong nội bộ cơ quan để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
2.3.2 Thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo
Đánh giá quản lý xã hội về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp của tỉnh Nam Định luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đảm bảo quyền hoạt động, sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật của chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo Cấp ủy, chính quyền các địa phương của tỉnh Nam Định đã vận dụng tốt quan điểm, chính sách của Đảng đối với tôn giáo; lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành thực hiện các quy định của nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo kịp thời, chính xác, hiệu quả và phù hợp với thực tế của địa phương.
Sở Nội vụ là cơ quan tham mưu có hiệu quả cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh về công tác tôn giáo và quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh; Thực sự là cầu nối, giữ mối liên hệ giữa Chính quyền với các tổ chức và cá nhân tôn giáo, tạo ra sự đồng thuận để giữ vững an ninh - chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, góp phần quan trọng cho mục tiêu phát triển kinh tế
Tỉnh Nam Định đã tổ chức bồi dưỡng, nâng cao nhận thức quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Quy định của địa phương đối với tôn giáo và các hoạt động tôn giáo ( cụ thể là: Nghị quyết số 25, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX về công tác tôn giáo; Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị Định 22 CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh của Chính phủ và Quyết định số 3350/2005/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nam Định quy định một số điều trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh) cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp bao gồm các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh uỷ, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Thường trực HĐND, UBND, lãnh đạo các sở, ban, ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội; các đồng chí trong Ban thường vụ Huyện uỷ, thường trực HĐND, UBND và trưởng các ban, ngành, đoàn thể các huyện, thành phố trong tỉnh với số lượng 750 lượt người. Để làm tốt công tác tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, ngoài việc tăng cường củng cố tổ chức bộ máy, Sở Nội vụ đã chủ động tham mưu, phối hợp với các cấp, các ngành tăng cường bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo; truyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo cho chức sắc, nhà tu hành , chức việc, tín đồ các tôn giáo…Trong 8 năm (2005 - 2012) đã mở 65 lớp cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo với 8.750 người tham dự, 14 lớp cho chức sắc, nhà tu hành, chức việc với 1.715 người tham dự; phối hợp tổ chức hơn 50 hội nghị phổ biến chính sách, pháp luật tôn giáo cho trên 4 vạn lượt người là tín đồ các tôn giáo. Ngoài kinh phí đào tạo theo Quyết định 83 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt “Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo và cán bộ, công chức quản lý nhà nước về tôn giáo”giai đoạn 2006-2010; UBND tỉnh Nam Định đã bổ sung hàng trăm triệu đồng để tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác tôn giáo và công tác QLNN về tôn giáo cho 7 chức danh làm công tác tôn giáo cấp xã.
Tỉnh mở các lớp dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo cho đối tượng là cán bộ chủ chốt của tỉnh, cán bộ lãnh đạo các Sở, ban, ngành, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể cấp tỉnh; lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và các phòng, ban làm công tác tôn giáo cấp huyện trong toàn tỉnh và Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND và Phó Chủ tịch UBMTTQ thuộc 229 xã, phường, thị trấn trong tỉnh Sở Nội vụ phối hợp với UBND các huyện, thành phố, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh tổ chức hơn 20 bồi dưỡng kiến thức tôn giáo, quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo cho các trưởng thôn, xóm, hội viên trong tỉnh Phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy bộ đội Biên phòng tỉnh phổ biến chính sách, pháp luật tôn giáo tại các lớp Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh biên giới biển cho hơn 500 chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo trong tỉnh.
Căn cứ nội dung quản lý đối với hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, Sở Nội vụ tỉnh Nam Định đã chủ động, quan tâm giải quyết những đề xuất, kiến nghị của tổ chức và cá nhân tôn giáo; tham mưu UBND tỉnh kịp thời chấp thuận, đáp ứng các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân như việc tổ chức các ngày lễ trọng hàng năm, việc tổ chức các lớp bồi linh, cấm phòng, An cư kiết hạ và các hoạt động như: Xây sửa tôn tạo nơi thờ tự, thành lập tổ chức tôn giáo cơ sở, đào tạo, thuyên chuyển, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc tôn giáo Đặc biệt năm 2007, Nam Định là tỉnh đầu tiên của cả nước thực hiện và hoàn thành việc “Cấp đăng ký cho dòng tu, tu viện”.
Những vấn đề liên quan đến đất đai, tài sản tôn giáo đã có thời gian sử dụng, là việc khó khăn và phức tạp, do lịch sử để lại; Đối với mỗi vụ việc, Ban Tôn giáo tỉnh Nam Định xây dựng kế hoạch thực hiện, có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của cấp ủy, sự điều hành kịp thời của chính quyền và sự phối hợp thống nhất trong triển khai thực hiện giữa các ban, ngành có liên quan và các tổ chức đoàn thể theo chức năng, nhiệm vụ Chính vì vậy, đến nay Nhà thờ Khoái Đồng, Nhà thờ Phụ Long, Nhà 24 Hai Bà Trưng nằm trong nội thành thành phố Nam Định, Đất nhà dòng tu kín Bùi Chu, thuộc huyện Xuân Trường… đã giao lại cho Giáo hội sử dụng vào mục đích tôn giáo.
Về phía Ban chỉ đạo công tác Tôn giáo Việc tổ chức tuyên truyền Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo và Nghị định số: 92/2012/NĐ-CP của chính phủ cho cán bộ và các chức sắc, chức việc và bà con giáo dân chưa thường xuyên, từ đó ý thức chấp hành pháp luật của một số Linh mục còn chưa tốt, tổ chức nghi lễ còn kéo dài thời gian, làm ảnh hưởng đến nhiều hoạt động sản xuất và thời gian học của các em học sinh.
Về phía cấp ủy, chính quyền các xã, thị trấn Một số cấp uỷ Đảng, Chính quyền cơ sở chưa quan tâm đúng mức về công tác Tôn giáo, khi có sự việc xẩy ra còn lúng túng, chưa phát huy hết sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để giải quyết những vẫn đề xẩy ra trên địa bàn Cá biệt một số cán bộ chủ trì còn có biểu hiện tư tưởng né tránh, ngại va chạm, ngại tiếp xúc với các chức sắc, chức việc, ban hành giáo xứ, họ, dẫn đến tạo ra khoảng cách trong mỗi quan hệ, thiếu thông tin trao đổi hợp tác lẫn nhau, hoặc còn đùn đẩy trách nhiệm cho cấp trên.
Về phía các chức sắc, chức việc tôn giáo Một số Linh mục lợi dụng vào các buổi hành lễ tại nhà thờ đã có thái độ kỳ thị, phân biệt những người giáo dân tích cực là đội ngũ cán bộ cốt cán, Đảng viên vùng giáo, nhằm ngăn cản họ không được tham gia các hoạt động tổ chức chính trị xã hội.
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Nguyên nhân khách quan :Tình hình họat động tôn giáo nhất là đạo Công giáo còn có nhiều vấn đề phức tạp, sự tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài vào các chức sắc, tín đồ Một số chức sắc có thái độ chính trị xấu lợi dụng thần quyền, giáo quyền để kích động, lợi dụng tín đồ chống đối, hoạt động vi phạm và cố tình không chấp hành pháp luật
Nguyên nhân chủ quan: Trong một số trường hợp, nhất là giải quyết các nhu cầu hoạt động, vụ việc phức tạp, sự hướng dẫn, chỉ đạo của một số Phòng,Ban, Ngành có liên quan chưa tập trung, thiếu sự khách quan, thiếu kịp thời phương pháp, biện pháp chưa phù hợp, có nơi chưa nhận thức đầy đủ tính chất phức tạp của tôn giáo nên nóng vội trong xử lí, để sơ hở cho phần tử xấu lợi dụng.
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
Quan điểm và mục tiêu công tác tôn giáo
Một là, khẳng định tôn giáo là vấn đề tồn tại lâu dài
Hai là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Ba là, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới
Bốn là, công tác tôn giáo vừa phải quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa phải kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng
Năm là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, công tác đối với con người
Sáu là, làm tốt công tác đối với tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo
Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước về tôn giáo
Tôn trọng quyền tự do tôn giáo của công dân, tạo điều kiện để các tín đồ tôn giáo tham gia các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn trật tự, an ninh
Cán bộ làm công tác tôn giáo cần giữ thái độ ứng xử vừa kiên quyết vừa linh hoạt và thận trọng trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Dự báo xu hướng hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
Tình trạng chuyển nhượng, hiến tặng đất, mở rộng, cơi nới cơ sở thờ tự,xây dựng nhà thờ, nhà nguyện trái pháp luật diễn ra ở nhiều địa phương
Vấn đề mâu thuẫn nội bộ ở một số tổ chức tôn giáo.
Hoạt động phức tạp của các tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Hoạt động chống đối chính quyền của các phần tử phản động trong các tôn giáo.
Các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới, đạo lạ và tà đạo
3.2.2 Xu hướng hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh hiện nay
Tình hình kinh tế, xã hội, tôn giáo trên thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn tình cách chống phá cách mạng Các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bằng nhiều thủ đoạn Dự báo trong thời gian tới ở Việt Nam nói chung tỉnh Nam Định nói riêng, hoạt động tôn giáo sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, các loại tôn giáo mới, tôn giáo lớn có xu hướng phát triển mạnh trên địa bàn.
Giải pháp quản lý xã hội về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, chính sách trong quản lý xã hội đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo các cấp trên địa bàn tỉnh Nam Định Đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền, vận động đối với đồng bào có đạo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào có đạo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý xã hội về công tác tôn giáo với các cớ quan đơn vị trong hệ thống chính trị của tỉnh Nam Định
Hướng dẫn tạo điều kiện, giúp đỡ các chức sắc tôn giáo trong việc thực hiện nghĩa vụ công dân, tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo theo đúng quy định của pháp luật.
Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, chống lợi dụng tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Thanh tra, kiểm tra trong QLXH đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chủ động phòng ngừa, “Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết dân tộc”; hoặc những hoạt động trái quy định của pháp luật.
Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân,củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng,tôn giáo trong giai đoạn mới ở Việt Nam.
Kiến nghị
Với Đảng, Nhà nước, với các cơ quan chức năng ở Trung ương
Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách Nhà nước và điều kiện cụ thể của hoạt động tôn giáo hiện nay Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo Sở Nội vụ tăng cường và thưuờng xuyên hỗ trợ các địa phương trong công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
Bộ Nội vụ phối hợp các cơ quan chức năng xây dựng và ban hành cơ chế chính sách, tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng để có hiệu quả hơn
Với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam Định
Tỉnh ủy, HĐND tỉnh cần có kế hoạch thường xuyên, định kỳ giám sát trong QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện UBND tỉnh cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các huyện, thị xã trong quản lý nhà nước. UBND tỉnh chỉ đạo các Sở như: Nội vụ, Tài nguyên – Môi trường, Xây dựng, Văn hóa – Thông tin – Thể thao – Du lịch, Công an tỉnh hỗ trợ các huyện, thị xã trong QLNN đối với hoạt động tôn giáo Ban Tôn giáo Sở Nội vụ phối hợp UBND huyện, thị xã mở các lớp thức phổ biến chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật chính sách Nhà nước vè tôn giáo; bồi dưỡng kiến chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo của cơ quan cấp huyện, cơ sở xã, thị trấn và các ban, ngành liên quan UBND tỉnh, Sở Tài chính, Sở Nội vụ cần có kế hoạch xây dựng chế độ chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo, đặc biệt là cán bộ cơ sở, cán bộ cốt cán Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Công thương đẩy mạnh việc rà soát, quy hoạch đất đai để giúp UBND huyện, thị xã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cơ sở thờ tự tôn giáo.