Tác giả chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên nhiên vật liệu, các bạn có thể phát triển thêm phần hiệu quả kinh tế khi áp dụng các công nghệ sản xuất sạch hơn trong sản xuất công nghiệp
Trang 1có khoảng 10% doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép, còn lại cácnhà máy đều không có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng chưa đạt yêucầu nên gây ra những vấn nạn về môi trường Cụ thể, nước thải của ngànhgiấy của Việt Nam có độ pH trung bình 9 – 11; chỉ số nhu cầu oxy sinh hóa(BOD) và nhu cầu oxy hóa học (COD) cao, có thể lên đến 700 mg/l và 2.500mg/l; Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép, đặcbiệt nước thải có chứa nhiều kim loại nặng và phẩm mầu, xút Nguyên nhânchủ yếu là hiện nay ngành công nghiệp giấy Việt Nam đang sử dụng côngnghệ sản xuất ở trình độ thấp, quy mô tương đối nhỏ bé so với khu vực vàtoàn cầu Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất theo phương pháp kiềm không
có thu hồi hóa chất nên khó có thể cải thiện được chất lượng và gây ô nhiễmmôi trường, hiệu quả sử dụng năng lượng và nguyên liệu chưa cao
Công nghiệp giấy thực chất là ngành sản xuất đa ngành và tổng hợp, sửdụng một khối lượng khá lớn nguyên, nhiên liệu đầu vào (tre, nứa, các hóachất cơ bản, nhiên liệu, năng lượng, nước v.v ) so với khối lượng sản phẩmtạo ra thì tỷ lệ bình quân vào khoảng 10/1 Vì vậy, đổi mới công nghệ sảnxuất và cải tiến thiết bị trong ngành này nhằm làm tăng hiệu suất sử dụngnguyên vật liệu và giảm thiểu lượng phát thải là việc làm có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn cao cho ngành sản xuất giấy nói riêng và các ngành công nghiệpnói chung
Trang 2Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp là một trong những chiến lượcquan trọng của nhiều quốc gia Thực hiện công nghệ sản xuất sạch hơn là mộttrong những phương án mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp về mặt kinh
tế, đồng thời góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cho phép cácdoanh nghiệp tiếp cận tốt các yêu cầu về bảo vệ môi trường Ngoài ra, ápdụng sản xuất sạch hơn cũng sẽ giúp cho các doanh nghiệp tạo được uy tín vàcác sản phẩm có thể cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Tuynhiên, hiện nay tại Việt Nam việc áp dung sản xuất sạch hơn trong các doanhnghiệp còn rời rạc mang hình thức dự án và chưa mang tính chiến lược cụ thể
Công ty Cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ thuộc địa bàn phường QuanTriểu, thành phố Thái Nguyên, là một trong những đơn vị sản xuất đã mạnhdạn áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn Nhằm góp phần đánh giá hiệuquả của sản xuất sạch hơn và đẩy mạnh việc áp dụng sản xuất sạch hơn tại cácdoanh nghiệp nói chung và tại Công ty Cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ nóiriêng, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG SẢN XUẤT SẠCH HƠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY HOÀNG VĂN THỤ - THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN ” Đề tài chỉ tập trung vào đánh giá
hiệu quả sử dụng nguyên - nhiên liệu Từ đó, đề suất giải pháp trong dâychuyền sản xuất có áp dụng sản xuất sạch hơn
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử phát triển ngành Công nghiệp Giấy Việt Nam
Ngành Công nghiệp Giấy là một trong những ngành được hình thànhsớm tại Việt Nam, khoảng năm 284 Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấyđược làm bằng phương pháp thủ công để phục vụ cho các ghi chép, làm tranhdân gian và vàng mã
Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đâu tiên bằng phương pháp côngnghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn/năm tại Việt Trì Trong thậpniên 1960, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết có côngsuất nhỏ (dưới 20.000 tấn/năm) như nhà máy giấy Việt Trì, nhà máy giấy VănĐiểm, nhà máy giấy Đồng Nai, nhà máy giấy Tân Mai Năm 1975, tổng côngsuất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/năm nhưng do ảnh hưởngcủa chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng bột giấy và giấy nên sản lượngthực tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm
Từ năm 1990 đến năm 1999, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngànhsản xuất giấy và bột giấy là 16%/năm, từ năm 2000 đến 2004 đạt 20%/năm,
và đến năm 2009 đã là 28%/năm Với tốc độ tăng trưởng cao như vậy, cùngvới gia tăng sản phẩm giấy nhập khẩu, mức tiêu thụ giấy trung bình trên đâungười Việt Nam đã tăng từ 7,7kg/người/năm trong năm 2000 và đến năm
2005 là 16kg/người/năm Năm 2010, mức tiêu thụ trung bình giấy trên đầungười là 22 kg/người/năm, sản lượng sản xuất giấy trong nước đạt hơn 1,38triệu tấn giấy/năm (trong đó khoảng 56% là nhóm giấy công nghệp bao bì và25% là nhóm giấy vệ sinh) và 600.000 tấn giấy bột
1.1.1 Thực trạng công nghệ và quy mô ngành Giấy Việt Nam
Giấy là sản phẩm của nền văn minh nhân loại với lịch sử lâu đời hàngnghìn năm Thành phần chính của giấy là xenlulo, một loại polyme mạchthẳng và dài có trong gỗ, bông và các loại cây khác Trong gỗ, xenlulo bị baoquanh bởi một polymer có tên là lignin Để tách xenlulo ra khỏi mạng
Trang 4polyme, người ta phải sử dụng phương pháp nghiền cơ học hoặc xử lý hóahọc Quá trình sản xuất bột giấy bằng phương pháp nghiền cơ học là quá trình
có hiệu quả thu hồi xenlulo cao nhưng tiêu tốn nhiều năng lượng và khôngloại bỏ hết lignin, khiến chất lượng giấy không cao Trong sản xuất giấy ngàynay, quá trình Kraft được áp dụng phổ biến nhất Tuy nhiên, hiệu suất thu hồixenlulo ở quy trình hóa học không cao băng quy trình nghiền cơ học, nhưngquy trình hóa học cho phép loại bỏ lignin khá triệt để, nên sản phẩm có độbền tường đối cao Dư lượng lignin trong bột giấy làm cho giấy có mầu nâu,nên để sản xuất giấy trắng có chất lượng cao thì phải loại bỏ hết lignin,thường người ta oxy hóa lignin bằng clo nhưng phương pháp này đều gây ônhiễm môi trường Vì vậy, các nhà hóa học đã tích cực nghiên cứu các quytrình thân môi trường để áp dụng cho việc tẩy trắng giấy
Nhìn chung, trình độ công nghệ sản xuất giấy tại Việt Nam còn rấtnhiều lạc hậu và thô sơ, nên đã ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường và nănglực cạnh tranh với các nước trên khu vực và trên thế giới Hiện nay, Việt Nam
có ba công nghệ sản xuất giấy chính là: phương pháp sử dụng hóa chất,phương pháp cơ lý, phương pháp tái chế giấy loại, đều là các phương pháp sửdụng nhiều hóa chất Công nghệ sản xuất bột giấy bao gồm công nghệ bộtsulfat tẩy trắng, công nghệ sản xuất bột theo phương pháp hóa nhiệt cơ vàphương pháp xút không thu hồi hóa chất, hoặc công nghệ sản xuất theophương pháp kiềm lạnh đều là công nghệ cũ, các hóa chất dư thừa hầu hếtkhông được thu hồi dẫn tới các vấn đề môi trường
Toàn ngành chỉ có bốn cơ sở quy mô lớn với công suất trên 50.000 tấngiấy/năm gồm: Công ty Cổ phần Giấy Tân Mai (120.000 tấn/năm), Tổngcông ty Giấy Việt Nam (100.000 tấn/năm), Công ty Cổ phần Giấy Sài Gòn(90.000 tấn/năm) và Công ty Cổ phần Giấy An Bình (70.000 tấn/năm) ; 33đơn vị quy mô trung bình (> 1.000 tấn/năm) và Việt Nam có tới 46% doanhnghiệp có công suất dưới 1.000 tấn/năm Để sản xuất ra một tấn giấy thànhphẩm, các nhà máy phải sử dụng khoảng 2 tấn gỗ và 100 - 350 m3 nước, trong
Trang 5khi các nhà máy giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7 - 15 m3nước/tấngiấy Sự lạc hậu này không chỉ gây lãng phí nguồn nước ngọt, tăng chi phí xử
lý nước thải mà còn đưa ra sông, rạch lượng nước thải khổng lồ Đặc biệt,công đoạn tẩy trắng là công đoạn gây ô nhiễm lớn nhất (chiếm 50 - 70% tổnglượng nước thải và từ 80 - 95% tổng lượng dòng thải ô nhiễm) Nước thảichứa hàm lượng lignin cao là những vấn đề môi trường chính đối với ngànhgiấy Bên cạnh đó, trung bình một tấn giấy sản xuất còn phát sinh từ 45 - 48
kg chất thải rắn, chưa tính lượng phế liệu đã được tái chế Công suất trungbình của Việt Nam là 5.800 tấn giấy/năm và 13.000 tấn bột/năm thấp hơnnhiều so với công suất trung bình của các nước có nền công nghiệp giấy pháttriển như Đức, Phần Lan và thấp hơn nhiều so với các nước có trình độ pháttriển tương đương như Thái Lan và Indonesia
Bên cạnh đó, công nghệ lạc hậu cũng gây lãng phí nguyên vật liệu, tăngcao chi phí sản xuất, hiệu quả qui mô trung bình của các doanh nghiệp sảnxuất bột giấy là 57% và giấy in 77%, giấy viết là 81%, giấy vàng mã và bìatương ứng là 70.2% và 91%
Quy mô sản xuất nhỏ cũng làm ảnh hưởng đến tính cạnh tranh sản xuất
do chất lượng, chi phí sản xuất và xử lý môi trường cao Công nghệ sản xuất
cũ, từ thập niên 80 của thế kỷ XX và có mô nhỏ hiện vẫn đang được sử dụngphổ biến, thậm chí ở cả các doanh nghiệp sản xuất với quy mô lớn Điều đó
đã dẫn đến những tác động tiêu cực đến môi trường và hiệu suất sử dụngnguyên – nhiên vật liệu thấp Nước thải, lignin là những vấn đề môi trườngchính đối với ngành sản xuất giấy Việc xử lý là bắt buộc trước khi thải ra môitrường Ngoài ra, phát thải khí từ nồi hơi, chất thải rắn trong quá trình nấu,bùn thải của hệ thống xử lý nước thải cũng là vấn đề cần được quan tâm
1.2 Giới thiệu về sản xuất sạch hơn
Quá trình phát triển công nghiệp hóa đã làm bùng nổ các vấn đề môitrường Một trong các cách thức tiếp cận để giải quyết các vấn đề môi trườngtrong nhiều năm qua là phương pháp tiếp cận “Cuối đường ống (End Of Pipe
Trang 6- EOP)”, tức là xử lý phát thải chỉ sau khi chúng đã phát sinh Điều này đồngnghĩa với xây dựng và vận hành các cơ sở xử lý phát thải, các thiết bị kiểmsoát ô nhiễm không khí và các bãi chon lấp an toàn Đây là những công việclàm hết sức tốn kém nhưng có giá trị về mặt bảo vệ môi trường cao.
Trong quá trình sản xuất, hiệu suất sử dụng tài nguyên và năng lượnghầu như không thể đạt 100% Tổn hao này là sự lãng phí hay sự ô nhiễm luôngắn liền với sản xuất công nghiệp, yếu tố này thường được nhắc tới như “cơhôi bị mất đi trong quá trình sản xuất” Tỷ lệ phát sinh chất thải thường rấtcao và có một thực tế là rất ít nhà sản xuất nhận ra được điều này Hiện nay,tiếp cận xử lý cuối đường ống vẫn đang được áp dụng phổ biến trong các cơ
sở công nghiệp, nhưng khả năng tiếp nhận ô nhiễm của môi trường gần nhưcạn kiệt Điều này đã dẫn đến sự xuất hiện của phương pháp tiếp cận mangtính chủ động để giảm chất thải ngay tại nguồn Tiếp cận chủ động này đượcgọi là sản xuất sạch hơn (SXSH)
Sản xuất sạch hơn được biết đến như một tiếp cận giảm thiểu ô nhiễmtại nguồn thông qua việc sử dụng nguyên nhiên liệu có hiệu quả hơn Việc ápdụng SXSH không chỉ giúp các doanh nghiệp cắt giảm chi phí sản xuất, màcòn đóng góp vào việc cải thiện hiện trạng môi trường, qua đó giảm bớt chiphí xử lý môi trường
1.2.1 Định nghĩa sản xuất sạch hơn
Sản xuất sạch hơn là sự áp dụng liên tục một chiến lược môi trườngtổng hợp mang tính phòng ngừa trong các quá trình sản xuất, các sản phẩm vàdịch vụ nhằm tăng hiệu quả sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người vàmôi trường Giải pháp SXSH mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và môi trườngtrong quá trình sản xuất, tiêu dùng và thải bỏ Đối với các quá trình sản xuấtSXSH bao gồm bảo toàn năng lượng và nguyên liệu, loại bỏ các nguyên liệuđộc hại, giảm lượng và độc tính của các nguồn phát thải ngay tại nơi sản xuất.Đối với các sản phẩm: SXSH bao gồm giảm các ảnh hưởng tiêu cực trongsuốt vòng đời sản phẩm từ khâu khai thác nguyên liệu tới khâu thải bỏ cuối
Trang 7cùng Đối với các dịch vụ: SXSH đưa các mối quan tâm về môi trường vàoquá trình thiết kế và cung cấp dịch vụ.
Theo UNEP, SXSH đòi hỏi sự thay đổi thái độ, thực hành quản lý môitrường có trách nhiệm và đánh giá các giải pháp kỹ thuật
Mục tiêu: của sản xuất sạch hơn là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài
nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách hiệu quả nhất
Sản xuất sạch hơn không giống như xử lý cuối đường ống (EOP) Các
hệ thống xử lý cuối đường ống làm giảm tải lượng ô nhiễm nhưng không tái
sử dụng được phần nhiên liệu đã mất đi Do đó, xử lý cuối đường ông luônluôn làm tăng chi phí sản xuất Trong khi đó, sản xuất sạch hơn mang lại cáclợi ích kinh tế song song với giảm tải lượng ô nhiễm
1.2.2 Các giải pháp cho sản xuất sạch hơn
Các giải pháp sản xuất sạch hơn không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết
bị, mà còn là các thay đổi trong quá trình vận hành và quản lý của một doanhnghiệp Các giải pháp sản xuất sạch hơn có thể chia thành các nhóm sau:
+ Giảm chất thải tại nguồn
+ Tuần hoàn
+ Cải tiến sản phẩm
* Giảm chất thải tại nguồn: Sản xuất sạch hơn là tìm hiểu tận gốc của
ô nhiễm
Quản lý nội vi là một phương pháp đơn giản nhất của sản xuất sạch
hơn Quản lý nội vi không đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể được thực hiệnngay sau khi xác định nguyên nhân và tìm được các giải pháp xử lý
Kiểm soát quá trình tốt hơn để đảm bảo các điều kiện sản xuất được tối
ưu hoá về mặt tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất và phát sinh chất thải Các thông
số của quá trình sản xuất như nhiệt độ, thời gian, áp suất, pH, tốc độ cầnđược giám sát và duy trì càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt
Thay đổi nguyên liệu là việc thay thế các nguyên liệu đang sử dụng
bằng các nguyên liệu khác thân thiện với môi trường hơn Thay đổi nguyên
Trang 8liệu còn có thể là việc mua nguyên liệu có chất lượng tốt hơn để đạt được hiệusuất sử dụng cao hơn Thông thường lượng nguyên liệu sử dụng, chất lượngcủa nguyên liệu và sản phẩm có mối quan hệ trực tiếp với nhau.
Cải tiến thiết bị là việc thay đổi thiết bị đã có để nguyên liệu tổn thất ít
hơn Việc cải tiến thiết bị có thể là điều chỉnh tốc độ máy, là tối ưu kích thướckho chứa, là việc bảo ôn bề mặt nóng/lạnh, hoặc thiết kế cải thiện các bộ phậncần thiết trong thiết bị
Công nghệ sản xuất mới là việc lắp đặt các thiết bị hiện dại và có hiệu
quả hơn Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp sản xuấtsạch khác, do đó cần phải được nghiên cứu cẩn thận Mặc dù vậy, tiềm năngtiết kiệm và cải thiện chất lượng có thể cao hơn so với các giải pháp khác
* Tuần hoàn: có thể tuần hoàn các loại dòng thải không thể tránh được
trong khu vực sản xuất hoặc bán ra như một loại sản phẩm phụ
Tận thu và tái sử dụng tại chỗ là việc thu thập "chất thải" và sử dụng
lại cho quá trình sản xuất
Tạo ra các sản phẩm phụ là việc thu thập (và xử lý) "các dòng thải" dể
có thể trở thành một sản phẩm mới hoặc bán ra cho các cơ sở sản xuất khác
* Thay đổi sản phẩm:
Cải thiện chất lượng sản phẩm để làm giảm ô nhiễm cũng là một ý
tưởng cơ bản của sản xuất sạch hơn
Đổi mới sản phẩm là việc xem xét lại sản phẩm và các yêu cầu đối với
sản phẩm đó Nếu có thể thay một cái nắp dậy kim loại đã được sơn bằng mộtcái nắp dậy bằng nhựa cho một số sản phẩm nhất định thì dã tránh được cácvấn dề về môi trường cũng như các chi phí để sơn hoàn thiện nắp dậy dó Cảithiện thiết kế sản phẩm có thể đem lại tiết kiệm về tiêu thụ nguyên liệu vàlượng hoá chất độc hại sử dụng
Cải tiến bao gói có thể là quan trọng Vấn đề cơ bản là giảm thiểu bao
bì sử dụng, đồng thời bảo vệ được sản phẩm
Trang 9Trên thực tế, để mang lại hiệu quả to lớn cho việc áp dụng quy trìnhsản xuất sản xuất sạch hơn vào sản xuất thường được các doanh nghiệp ápdụng động loạt nhiều giải pháp vào từng quy trình sản xuất.
1.3 Sản xuất sạch hơn trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất sạch hơn trên thế giới
Trên thế giới, hầu hết các nước cũng có chương trình SXSH và hỗ trợtại chỗ cho doanh nghiệp công nghiệp Tại châu Á, hầu hết các nước có cácchương trình trình diễn sản xuất sạch hơn trong các ngành Công nghiệp khácnhau Các chương trình này được hỗ trợ bởi Chính phủ, ngành Công nghiệp
và có sự hỗ trợ từ tổ chức nước ngoài cho các chương trình khác nhau
Tại Trung Quốc, thúc đẩy SXSH đã được đưa thành luật vào tháng6/2002 Luật thúc đẩy SXSH của Trung Quốc qui định, Ủy ban Nhà nước vàcác chính quyền nhân dân địa phương cấp huyện trở lên phải đưa SXSH vàocác kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế và xã hội quốc gia cũng nhưcác kế hoạch và chương trình bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên, pháttriển công nghiệp và phát triển vùng Luật qui định, các chính sách ưu đãi từthuế, quản lý ưu đãi tại các cấp đối với doanh nghiệp thực hiện SXSH Luậtnày cũng qui định cụ thể các doanh nghiệp phải làm gì khi xây mới, sửa chữa,
mở rộng, nâng cấp công nghệ Các nội dung khác được qui định trong luậtbao gồm qui định về sản phẩm, đóng gói sản phẩm, tiết kiệm năng lượng, sửdụng hóa chất, thăm dò khai thác khoáng sản… Các biện pháp tổ chức thựchiện như trách nhiệm của các cơ quan liên quan; qui định việc loại bỏ cáccông nghệ, sản phẩm lạc hậu theo hạn định; các qui định về xử phạt, mứcphạt
Tại Thái Lan, kế hoạch tổng thể quốc gia được xây dựng và thông quanăm 2000, với mục tiêu chung là đưa SXSH vào thực tiễn và áp dụng hiệuquả tại tất cả các ngành nhằm ngăn ngừa, giảm và giải quyết các vấn đề ônhiễm môi trường, tăng cường bảo vệ tài nguyên và môi trường song songphát triển kinh tế
Trang 10Tại Australia, một chiến lược của Hội đồng Bảo tồn và môi trườngAustralia và New Zealand đã được xây dựng để thúc đẩy SXSH Đã có nhiềucuộc thảo luận với các bên liên quan chính như Chính phủ, doanh nghiệpcông nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các bên quan tâm khác và một loạt cáctài liệu cơ sở đã được chuẩn bị Chính phủ liên bang đang triển khai chươngtrình SXSH Hầu hết, các bang đều có chương trình SXSH, với sự hỗ trợ củachính quyền, các hoạt động khá thành công Các nhóm, đội SXSH đã tiếnhành các chương trình trình diễn bao gồm 10 công ty trên khắp đất nước vàhiện đã có kết quả, tích cực trong việc tổ chức hội thảo, xuất bản tạp chí vànâng cao nhận thức cộng đồng, làm việc với các ngành Công nghiệp để thúcđẩy SXSH.
Tại Nhật Bản, công nghệ SXSH được chia thành hai loại hình chính,loại hình công nghệ thông thường cho mỗi biện pháp hay còn gọi là “côngnghệ cứng” và công nghệ quản lý “công nghệ mềm”, dựa trên các ý tưởng vềgiảm tác động môi trường của tất cả các công đoạn từ khai thác nguyên liệuđầu vào đến thải bỏ hoặc tái chế các sản phẩm sau sử dụng Hình thức SXSHphổ biến nhất được thể hiện thông qua các chính sách về tiết kiệm nănglượng, với mục tiêu làm giảm lượng phát thải khí nhà kính Hiện nay, đã có
190 công nghệ SXSH của Nhật Bản được Trung tâm Công nghệ môi trườngLiên Hiệp Quốc xây dựng thành một cơ sở dữ liệu có thể chuyển giao vào cácnước đang phát triển (được Ủy ban Xúc tiến công nghệ SXSH của Trung tâmMôi trường toàn cầu đánh giá và tổng hợp) Công nghệ SXSH được chiathành công nghệ cho các loại hình công nghiệp khác nhau như ngành Dệt,ngành Hóa chất, ngành Chế biến thực phẩm; các loại hình công nghệ khácnhau như thay đổi nguyên liệu đầu vào, đơn giản hóa qui trình, cải tiến kiểmsoát quá trình
Nhìn chung, các hình thức sản xuất sạch hơn trong các lĩnh vực của cácnước trên thế giới là hết sức phong phú trong ngành nghề và hiệu quả cũng rấtkhả quan Chính phủ các nước hầu như đã xây dựng chiến lược cho phát triển
Trang 11sạch hơn, nhiều bộ luật quy định việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong côngnghiệp được thực thi
1.3.2 Áp dụng sản xuất sạch hơn tại Việt Nam
1.3.2.1 Tình hình sản xuất sạch hơn
Sản xuất sạch hơn bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam từ thập kỷ trước.Các giải pháp SXSH không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết bị, công nghệ màcòn là thay đổi trong cách vận hành và quản lý doanh nghiệp Các giải phápSXSH được chia thành các nhóm nhằm giảm chất thải tại nguồn, cải tiến sảnphẩm, tận thu và tái sử dụng chất thải, tạo ra các sản phẩm phụ và tiết kiệmnguyên liệu Đến nay, đã có nhiều doanh nghiệp sản xuất trong đó có ngànhcông nghiệp giấy đã tham gia mô hình SXSH và đạt kết quả đáng khích lệ
Việt Nam đã có Trung tâm SXSH đặt tại Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội, với sự hỗ trợ ban đầu của Liên Hiệp Quốc Trung tâm này đã cónhững hoạt động như đào tạo các giảng viên tiềm năng, tiến hành thí điểmtrình diễn tại một số cơ sở sản xuất, đào tạo nâng cao trình độ về SXSH chocác cán bộ kỹ thuật Thông qua các hoạt động thực tế, Trung tâm đã đánh giácác doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc áp dụng SXSH,nhằm giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời bảo vệ môi trường
Bộ Công Thương đã có những hoạt động triển khai thực hiện SXSH từnăm 2000 Một số tổ chức khoa học trong Bộ đã tổ chức nghiên cứu và thamgia các hoạt động đào tạo, phổ biến thông tin, điều tra, khảo sát tiềm năngSXSH
Đến năm 2005, đã có khoảng 180 doanh nghiệp công nghiệp tại 34tỉnh, thành đã tham gia vào các hoạt động đánh giá, trình diễn SXSH, tậptrung chủ yếu tại các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nam Định,Phú Thọ, Thái Nguyên, Bình Dương
1.3.2.2 Các giải pháp sản xuất sạch hơn trong công nghiệp sản xuất giấy
Trong những năm gần đây, công tác bảo vệ và quản lý môi trường củaViệt Nam đã được quan tâm và quản lý nghiêm khắc hơn, và đặc biệt là từ khi
Trang 12nghị định 64 của Thủ tướng Chính phủ ra đời thì hàng loạt các doanh nghiệpViệt Nạm có vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải đóng cửa Vì thế,hàng loạt các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp sản xuất giấy phải thayđổi trang thiết bị tìm ra hướng sản xuất mới nhằm cải thiện chất lượng môitrường.
Năm 2003, Nhà máy Giấy Bãi Bằng đã đầu tư công nghệ tiên tiến phục
vụ xử lý chất thải Gần 20.000 m3 nước thải mỗi ngày mà nhà máy thải ra,đều được thu gom và xử lý triệt để qua hệ thống xử lý tập trung theo cả haiphương pháp hóa học và sinh học Chất lượng nước thải sau khi xử lý đạt yêucầu bảo vệ môi trường Tháng 3 năm 2011, nhà máy cũng đưa vào hoạt động
hệ thống thu gom nhiệt từ hệ thống lò hơi, nhằm sử dụng hiệu quả nguồnnhiên liệu
Công ty Giấy Đồng Nai đã vận hành và chuyển đổi công nghệ sản xuấtgiấy, quyết định ngưng hoạt động phân xưởng Bột, Hóa chất, Thu hồi kiềm,
là những phân xưởng phát sinh nguồn ô nhiễm lớn về khí thải, nước thải.Công ty còn lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện tại lò đốt, thay đổi nồi cầu nấubột bằng nồi đứng, giảm được chất thải rắn
Hiện nay, Tổng công ty Giấy (Vinapaco) đang áp dụng các biện phápquản lý và kỹ thuật nhằm giảm tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu, giảm chi phí,
hạ giá thành và hoàn thiện quản lý theo ISO 9001-2000 Trong 5 năm từ 2003đến 2008, Vinapaco đã chi gần 400 tỷ đồng và dự định sắp tới đầu tư gần3.500 tỷ đồng xử lý các biện pháp kỹ thuật nhằm giải quyết vấn đề môitrường, thực hiện sản xuất sạch ở các phân xưởng và bảo dưỡng kiểm địnhthường xuyên các hệ thống thiết bị máy móc Mới đây, Tổng Công ty GiấyViệt Nam đang xây dựng một dây chuyền công nghiệp mới sản xuất phân bónhữu cơ vi sinh fitohoocmôn Với dây chuyền này, các chất phế thải có nguồngốc thực vật dùng để làm giấy sẽ được sản xuất thành phân vi sinh, dùng đểbón cho các cây nguyên liệu giấy, cây ăn quả, rau mầu
Trang 13Theo Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam, chỉ tính trên 9 doanh nghiệpsản xuất giấy và bột giấy tham gia chương trình SXSH, đã tiết kiệm hàng năm
từ nguyên liệu, than, dầu FO, nước sạch tổng cộng là trên 10 tỷ đồng, trongkhi tiền vốn đầu tư cho SXSH chỉ là 3,3 tỷ đồng với thời gian hoàn vốn ngắndưới 1 năm Đáng chú ý là 9 doanh nghiệp tham gia mô hình SXSH trong quátrình sản xuất đã giảm khối lượng nước thải hơn 1.800.000 m3/năm, lượngkhí CO2 giảm gần 6.000 tấn/năm
Công ty Giấy Việt Trì, Giấy Lửa Việt, Giấy Bãi Bằng, đã tham gia dự
án trình diễn SXSH trong công nghiệp của CPI, thời gian triển khai từ tháng7/2005 đến hết năm 2010 Những kết quả thu được trong cách quản lý, vậnhành sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, cải thiện môi trường làmviệc cũng đang được nhân rộng
Việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp mới bước đầu đi vàohoạt động thí điểm trên một số ngành nghề sản xuất cơ bản Việc áp dụnghình thức sản xuất sạch hơn tại các doanh nghiệp Việt Nam vào thời điểmhiện tại cũng là hết sức khó khăn, đặc biệt là ngành công nghiệp sản xuất giấy
và bột giấy Khó khăn áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp sản xuấtgiấy Việt Nam không chỉ đến từ chi phí chuyển đổi công nghệ mà còn vấpphải nguồn cung ứng nguyên liệu cho sản xuất, hầu hết các doanh nghiệp sảnxuất giấy Việt Nam đều có nguyên liệu sản xuất giấy từ bột nguyên thủy tức
là sử dụng tài nguyên thiên nhiên, rất ít các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệutái sử dụng
Trang 14Chương 2 MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng và nhiên liệu của dây chuyềnsản xuất giấy đã áp dụng quy trình sản xuất sạch hơn, từ đó đề xuất các giảipháp sản xuất sạch hơn và giảm thiểu phát trải
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình công nghệ sản xuất giấy của công ty cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ_ Thái Nguyên
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài tôi thực hiện các nội dung sau:
* Nghiên cứu quy trình công nghệ của phân xưởng sản xuất giấy
- Nghiên cứu dây chuyền sản xuất: các công đoạn chính trong sản xuất giấy
- Tìm hiểu đầu vào, đầu ra: nguyên, nhiên liệu (giấy loại, bột giấy, nước, hóachất phụ liệu dùng trong các công đoạn)
* Đánh giá hiệu quả về sử dụng nguyên vật liệu và bảo vệ môi trườngcủa giải pháp sản xuất sạch hơn tại công ty
- Đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên - nhiên liệu;
- Đánh giá hiệu quả về bảo vệ môi trường
* Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng môitrường cho công ty
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu
Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp được sử dụng trong quá trìnhthực hiện đề tài nhằm giảm khối lượng công việc nghiên cứu Những thôngtin và số liệu thứ cấp được để tài sử dụng bao gồm: Thông tin về vị trí địa lý,điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, thu thập các thông tin chung vềcông ty, cụ thể:
+ Bản đồ thiết kế, sơ đồ cơ cấu tổ chức hành chính của công ty
Trang 15+ Báo cáo đánh giá tác động môi trường.
+ Báo cáo hoạt động sản xuất của năm
+ Báo cáo kết quả quan trắc môi trường định kỳ
+ Báo cáo đánh giá sản xuất công nghiệp sạch hơn
Các tài liệu thứ cấp được sử dụng cần có tính chọn lọc và tính đại diệncao Các thông tin thu thập có mức độ tin cậy và chính xác cao, được cơ quanquản lý và thực hiện có năng lực và chuyên môn kiểm định và cho phép sửdụng
Phương pháp kê thừa số liệu: Kế thừa các số liệu liên quan tới nội dungnghiên cứu, được công ty và cơ quan quản lý thực hiện cho phép sử dụng.Thu thập các thông tin có liên quan tới nội dung nghiên cứu bằng việc tìmhiểu các tài liệu nghiên cứu về ngành công nghiệp giấy Việt Nam và thế giới,các thông tin về ứng dụng sản xuất sạch hơn trong và ngoài nước
2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
2.4.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Trực tiếp đi xuống xưởng sản xuất giấy, tìm hiểu các công đoạn sản xuất, tìmhiểu trực tiếp các khâu sản xuất và các khâu có phát thải của phân xưởng giấy
- Tiến hành điều tra các nguồn nguyên – nhiên liêu, hóa chất cần thiết
- Tiến hành điều tra các vấn đề môi trường của Công ty
- Điêu tra, tìm hiểu hệ thống xử lý nước thải sản xuất của Công ty
2.4.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Nhằm củng cố các thông tin một cách đầy đủ để tài còn sử dụng phương phápphỏng vấn trực tiếp Nội dung phỏng vấn các vấn đề kỹ thuật trogng sản xuất củaphân sản xuất giấy và các phân xưởng liện quan Đối tượng được phỏng vấn là cáccông nhận - cán bộ trong Công ty, hình thức phỏng vấn trực tiếp qua những câu hỏi
có liên quan tới dây chuyền sản xuất, các phân xưởng liên quan
Trang 162.4.3 Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp
2.4.3.1 Phương pháp so sánh
Đề tài với mục đích tập trung vào đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu
và năng lượng trong dây chuyền sản xuất có áp dụng sản xuất sạch hơn Các số liệu
và thông tin thu thập được so sánh với nhau hoặc được so sánh với các quy chuẩnmôi trường Việt Nam (QCVN) Từ đó thấy được sự hiệu quả về việc sử dụng nguyênliệu và năng lượng, đánh giá được sơ bộ mức độ ảnh hưởng tới môi trường các dòngthải của Công ty
2.4.3.2 Phương pháp tính cân bằng vật chất
Dựa vào các số liệu thu thập để tài tiến hành phương pháp tính cân bằng vậtchất đối với dây chuyền và lượng nước sử dụng trong quá trình sản xuất Các số liệuliên quan được tiến hành xử lý bằng các phép toán
Trang 17Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh là đô thị đôngdân lớn thứ 10 của cả nước, là thành phố lớn thứ 3 của miền Bắc sau Hà Nội
và Hải Phòng, là trung tâm của miền núi và trung du phía Bắc Thành phốThái Nguyên là thành phố công nghiệp nằm bên bờ sông Cầu thành lập năm
1962, nằm cách thủ đô Hà Nội 78km về phía Bắc Diện tích tự nhiên khoảng189,705 km2, dân số 330.707 người (năm 2010)
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáodục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch và dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên; trungtâm vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyệnPhú Lương, phía Đông giáp thị xã sông Công, phía tây giáp huyện Đại Từ,phía Nam giáp huyện Phổ Yên và huyện Phú Bình
3.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Vị trí của Công ty Cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ nằm trên địa bàn phườngQuán Triều, Thành phố Thái Nguyên Ranh giới của công ty như sau:
- Phía Đông tiếp giáp sông Cầu
- Phía Bắc tiếp giáp phường Tân Long
- Phía Nam tiếp giáp phường Quang Vinh
- Phía Tây tiếp giáp Quốc lộ 3 và cách ga Quán Triều 500 m
Tổng diện tích quy hoạch của Công ty là 115.774 m2, trong đó có 51.000 m2
đã xây dựng nhà xưởng, kho chứa nguyên - nhiên liệu, khu làm việc và các côngtrình phụ trợ khác, phần diện tích còn lại được Công ty trồng cây xanh hoặc chưa sửdụng còn bỏ hoang
3.1.2 Điều kiện khí hậu
Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùngĐông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh giá, ítmưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Khí hậu của thành phố Thái Nguyên chia
Trang 18làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông và nằm trong vùng khí hậu ấm của tỉnh, cólượng mưa trung bình khá lớn.
- Nhiệt độ: Mùa hè kéo dài khoảng 6 tháng, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vàocuối tháng 10 hàng năm Mùa đông thường bắt đầu vào trung tuần tháng 11 và keodài hơn 4 tháng Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,20C, mùa hè nhiệt độ cao nhất ítkhi quá 310C mùa đông nhiệt độ thấp nhất ghi nhân là 50C vào tháng 12 năm 2010
- Gió: Gió là đặc trưng biểu hiện trước tiên của cơ chế gió mùa Hướng gió
thịnh hành Đông Bắc trong các tháng mùa đông và hướng gió Đông Nam vào mùa
hè Tốc độ gió trong khu vực khá nhỏ và tốc độ gió trung bình đo được tại trạm quantrắc khí tượng Thái Nguyên dao động khoảng 2 - 3 m/s
- Mưa và bốc hơi: Mưa là một trong các đặc trưng khí hậu có mức độ ổn định
thấp cả về thời gian lẫn không gian Chế độ mưa, lượng mưa có quan hệ mật thiết với
cơ chế hoạt động gió mùa trong khu vực, lượng mưa hàng năm ở khu vực TháiNguyên khá lớn, lượng mưa trung bình nhiều năm đạt mức 2.047 mm, tháng 7 làtháng có lượng mưa nhiều nhất 408,5 mm tháng ít nhất là tháng 1 chỉ có 22,2 mm
Cũng như mưa, lượng bốc hơi cũng phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nhiệt, gió
và độ ẩm không khí trong khu vực Lượng bốc hơi lớn nhất thường xuất hiện vào cáctháng 5, 6, 7 và các tháng 9, 10, 11 hàng năm Lượng bốc hơi trung bình năm khoảng968,1mm
3.1.3 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông ngòi
Sông Cầu là sông tự nhiên lớn nhất chảy qua khu vực nghiên cứu và đây lànguồn nước mặt đóng vai trò quan trọng trong việc cấp nước cho sản xuất, sinh hoạtcủa công ty cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ Đây là con sông huyết mạch của thànhphố Thái Nguyên và cụm khu công nghiệp gang thép cung cấp nước cho các hoạtđộng sản xuất công nông nghiệp cũng như đời sống của nhân dân xung quanh thủyvực Dòng chảy năm đo tại trạm thủy văn Thác Bưởi trên sông Cầu là tương đối lớnkhoảng 1,6 triệu m3/năm
Hệ thống thủy văn của Thái Nguyên bị chi phối bởi sông Cầu, sông Công và
hồ Núi Cốc Hồ Núi Cốc được xây dượng trên thượng nguồn sông Công từ năm
Trang 191972 đến năm 1978 có dung tích 175,5x106 m3, có nhiệm vụ cung cấp nước sinhhoạt cho Thái Nguyên và khu công nghiệp sông Công và tưới cho hơn 20.000 ha đấtnông nghiệp của Bắc Ninh và Bắc Giang.
Dòng cháy sông suối phân phối không đều trong năm và biến đổi theo mùa rõrệt: mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ thường bắt đầu vào tháng 5 đến tháng 10 và chiếmkhoảng 80 - 85% tổng lượng dòng chảy cả năm, với tháng 7 có lượng dòng chảy lớnnhất Mùa cạn kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và chiếm 15 - 20% tổnglượng dòng chảy năm Trong những năm gần đây do rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng
nề, nên dòng chảy sông suối ở đầu nguồn có xu thế cạn kiệt
- Tài nguyên rừng: rừng ở Thái Nguyên chủ yếu là rừng nhân tạo và rừngtrồng theo chương trình 327, rừng trồng theo chương trình PAM, vùng chèTân Cương cùng với các loại cây trồng của nhân dân như cây nhãn, vải, quýt,chanh Cây lương thực chủ yếu là cây lúa nước, ngô, đậu thích hợp và pháttriển ở những vùng đất bằng trên các loại đất phù sa, đất mới phát triển, đấtglây trung tính ít chua
- Tài nguyên khoáng sản: 2 tuyến sông lớn chảy qua (sông Cầu và sôngCông), đã cung cấp cho thành phố một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá
Trang 20lớn, đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng cho toàn thành phố Thành phố nằm trongvùng sinh khoáng đông bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái BìnhDương Mỏ than nội địa Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than rấtlớn.
- Tài nguyên nước: hai bên bờ sông của khu vực Đồng Bẩm, Túc Duyên
có lượng nước ngầm phong phú, đang được cân nhắc khai thác làm nguồnnước cấp sinh hoạt cho thành phố
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số và sự gia tăng dân số
Thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị hành chính (phường, xã), trong
đó có 19 phường và 9 xã, với số dân hơn 330 nghìn người Đây là một trongnhững thành phố có mật độ dân số cao nhất tỉnh 1.260 người/km2 Tốc độtăng dân số vẫn còn ở mức cao 1,97%
Với số dân đông đúc như vậy, thành phố Thái Nguyên nói riêng và toàntỉnh nói chung có một nguồn nhân lực khá dồi dào Về lao động, có khoảng562.000 người trong độ tuổi lao động, trong đó có 64.995 lao động làm việctrong khu vực Nhà nước Ngoài ra, còn 13.764 người sản xuất tiểu thủ côngnghiệp; lao động nông nghiệp ở nông thôn là 373.994 người; số còn lại chủyếu là kinh doanh nhỏ hoạt động trên mọi lĩnh vực kinh tế trải khắp địa bảntỉnh
3.2.2 Phát triển kinh tế
Thành phố đã tập trung phát triển kinh tế và ưu tiên đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng kỹ thuật Những năm qua, tỷ trọng của khối phi nông nghiệp tănglên và khối nông nghiệp giảm dần, cụ thể, tỷ trọng công nghiệp - xây dựngchiếm 47,78%, dịch vụ chiếm 46,88% và nông nghiệp giảm còn 5,34% Năm
2009, tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố đạt 3.109 tỷ đồng, tăng 12,37%
so với năm 2008; trong đó nông, lâm, ngư nghiệp đạt 128,5 tỷ đồng, tăng5,07%; công nghiệp - xây dựng đạt 1.676,6 tỷ đồng, tăng 11,22%; dịch vụ đạt1.304,7 tỷ đồng, tăng 14,68% Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 803 tỷ
Trang 21đồng Thu chi ngân sách thành phố đảm bảo cân đối và có kết dư GDP bìnhquân đầu người 2009 đạt 25,09 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn2,9%
3.2.3 Y tế, giáo dục
Y tê: Trong tỉnh có khoảng 17 bệnh viện và đa khao, 18 phòng khám,
176 trạm y tế xã phường với tổng số 3.461 giường bệnh, với 2.199 cán bộ y
tế Số lượng cán bộ y tế đạt 2,07/1000 dân
Giáo dục: Thái Nguyên có hệ thống giáo dục đứng thứ 3 so với cả nước
sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, là trung tâm giáo dục của vùng Bắc
Bộ Theo số liệu thống kê năm 1998 toàn tỉnh có 350 trường phổ thông với7.527 lớp, khoảng 252.299 học sinh và 9.969 giáo viên Có 6 trường đại học
và cao đẳng trên địa bàn với 920 giáo viên, 10.396 sinh viên Ngoài ra còn có
6 trường trung cấp của trung ương quản lý và 2 trường trung cấp của địaphương, 8 trường công nhân kỹ thuật với tổng số giáo viên trên 900 và gần12.000 sinh viên và công nhân kỹ thuật
3.2.4 Giao thông - vận tải
Thành phố Thái Nguyên là một đầu mút giao thông với 3 đường quốc
lộ đi qua gồm: quốc lộ 3 (đi Hà Nội về phía Nam, đi Bắc Kạn về phía Bắc),quốc lộ 37 (đi Tuyên Quang về phía Tây, đi Bắc Giang về phía Đông), quốc
lộ 1B (đi Lạng Sơn), thành phố hiên có hệ thống 10 tuyến xe bus đi tất cả cácđịa phương trong tỉnh Thành phố Thái Nguyên có 2 hệ thống đường sắtchính: Thái Nguyên - Hà Nội và Lưu Xá - Kép Hệ thống đường sông nộithủy hiện không còn được sử dụng Tổng diện tích đất dành để xây dựngđường giao thông trên địa bàn là 1.305 ha, chiếm 22% tổng diện tích đất tựnhiên của thành phố
3.3 Công ty Cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ
Công ty cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ là một trong những đơn vị cungcấp giấy bao gói xi măng hàng đầu Việt Nam Là một trong những doanhnghiệp đầu tiên sản xuất giấy bao gói xi măng và sản phẩm của Công ty được
Trang 22đăng ký bản quyền trong nước và ngoài nước, sản phẩm của Công ty đượctiêu thụ rất nhanh và không có sản phẩm tồn kho quá 3 tháng Sản phẩm giấybao gói xi măng của Công ty được các doanh nghiệp sản xuất xi măng ký hợpđồng dài hạn Sản lượng hàng năm của Công ty tăng trưởng ổn đinh gần 10%.Nếu như năm 2009, tổng doanh thu đạt hơn 110 tỷ đồng, thu nhập bình quâncủa công nhân trên 2 triệu đồng/tháng thì năm 2010, tổng doanh thu toànCông ty đạt trên 131 tỷ đồng, thu nhập bình quân từ 3 - 3,5 triệuđồng/người/tháng
3.3.1 Hệ thống tổ chức của Công ty
Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức của Công ty
Hiện nay, Công ty hoạt động theo hình thức Công ty Cổ phần cổ đôngđóng góp 100% cổ phần, hoạt động của Công ty dựa trên sự điều hành của hộiđồng quản trị, Tổng giám đốc và các Phó tổng giám đốc có trách nhiệm thựchiện và từ vấn sản xuất cũng như kinh doanh cho hội đồng quản trị Chịutrách nhiệm sản xuất là Phó tổng giám đốc kỹ thuất, Phó tổng giám đốc kinhdoanh chịu trách nhiệm tiêu thụ sản phẩm và tài chính cho Công ty, Phó tổnggiám đốc hành chính chịu trách nhiệm hoạt động của khối hành chính
Phó TGĐ Tổ chức hành chính
Phòng
kỹ
thuật
Phân xưởng
cơ điện
Phân xưởng giấy
Phòng
kế hoạch
và thị trường
phòng
kế toán tài chính
Phòng
tổ chức hành chính
Phòng
y tế, bảo vệ
Trang 23Công ty hiện có 5 phòng ban và 2 phân xưởng sản xuất, trong đó Phótổng giám đốc kỹ thuật chịu trách nhiệm phòng kỹ thuật và 2 phân xưởnggiấy, công ty chưa có phòng ban riêng phụ trách công tác môi trường Hiệnnay phòng kỹ thuật chỉ đạo công tác sản xuất sạch hơn bao gồm 1 trưởngphòng và 2 phó phòng cùng 4 nhân viên kỹ thuật, 2 nhân viên đảm nhiệm vấn
đề môi trường của công ty
3.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển công ty
Công ty Cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ là một trong những nhà máygiấy đâu tiên của ngành giấy Việt Nam, tiền thân là Nhà máy Giấy Đáp Cầu –Bắc Ninh được Pháp xây dựng năm 1913
Năm 1955: Nhà máy trở về xây dựng tại Phường Quan Triều – TP TháiNguyên - Tỉnh Thái Nguyên
Năm 1957: Nhà máy đi vào hoạt động sản xuất chủ yếu là in giấy bạcphục vụ kháng chiến
Từ năm 1972: Nhà máy được trang bị bằng công nghệ và thiết bị củaTrung Quốc với công suất là 4.000 tấn sản/năm
Trong những năm 1990: Nhà máy đã định hướng sản phẩm chính là cácloại giấy bao gói công nghiệp và carton hòm hộp
Ngày 24/04/2006: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty
Cổ phần Trong đó, vốn nhà nước chiếm 48%, vốn cổ của các cổ đông chiếm52%
Ngày 22/03/2007: Công ty tiến hành bán hết vốn nhà nước theo chỉ đạocủa Bộ công nghiệp và Tổng Công ty Giấy Việt Nam Như vậy, kể từ22/03/2007 Công ty Cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ không có sự tham gia vốnnhà nước, hoạt động của Công ty theo mô hình 100% vốn cổ đông đóng góp
Trang 24Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng hoạt động sản xuất của Công ty
4.1.1 Tình hình sản xuất chung của Công ty
Năm 2003, Công ty hoạt động sản xuất chính là sản xuất giấy bao ximăng và một lượng nhỏ giấy bao gói công nghiệp trên cùng một phân xưởng4.000 tấn/năm các trang thiết bị là công nghệ của Trung Quốc Công ty sảnxuất giấy từ khâu làm bột với nguyên liệu chủ yếu là tre, nứa và một phầngiấy loại thu mua trong nước Vì thế, quy trình sản xuất gồm hai công đoạnchính là sản xuất bột, công đoạn xeo giấy và hoàn thiện sản phẩm Dâychuyền với hệ thống nồi nấu nguyên liệu theo công nghệ nấu xút năng côngxuất 4.000 tấn/năm, hệ thống rửa khuếch tán và hệ thống sản xuất giấy đồng
bộ kèm theo gồm 3 máy xeo giấy công suất 4.000 tấn/năm
Ngày 1/1/2005, chấp hành Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ vàcác cơ quan chức năng của tỉnh Thái Nguyên về việc đóng cửa các cơ sở sảnxuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Công ty đã ngừnghoạt động tại dây chuyền nấu và rửa bột Các trang thiết bị của dây chuyềnđược công ty thanh lý và giữ lại 3 máy xeo hoạt động cầm chừng sản xuấtgiấy bao gói công nghiệp chất lượng thấp theo đặt hàng và không liên tụcnăng suất 5.000 kg/ngày với nguyên liệu là 100% giấy loại và không sử dụngbột hóa
Trước tình hình sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng củaCông ty, lãnh đạo Công ty đã mạnh dạn xây dựng phân xưởng mới, với tổngvốn đầu từ 92,017 tỷ VNĐ Năm 2003, Công ty đã đưa vào hoạt động dâychuyển sản xuất giấy bao bì công nghiệp công suất 15.000 tấn/năm với côngnghệ của Cộng Hòa Liên Bang Đức Sản lượng và sản phẩm chính của Công
ty là giấy bao gói xi măng và giấy bao bì công nghiệp, sản phẩm phụ là giấycarton sóng
Trang 25Hiện nay, Công ty tiến hành sản xuất giấy xi măng và giấy bao góibằng một dây chuyền xeo giấy Sản phẩm chủ yếu là giấy bao gói xi măng(loại F10, F33 và F50), giấy bao gói công nghiệp (giấy giác mẫu ngành may,giấy giác mẫu vi tính) và bìa cacrton sóng (hình 4.1) Năm 2010, hơn 95%lượng giấy bao gói xi măng do Công ty sản xuất là loại giấy F10 Các loạigiấy bao gói xi măng chất lượng tốt hơn như F33, F50 được công ty sản xuấttheo yêu cầu của khách hàng, thường lượng này không ổn định bằng giấy baogói xi măng F10
Để đáp ứng nhu cầu trong nước ngày càng mạnh, Công ty đã tiếp tụcđầu tư và xây dựng mở rộng quy mô sản xuất Dự kiến trong quý II năm
2011, Công ty sẽ đưa vào hoạt động thêm dây chuyền sản xuất giấy bao góicông nghiệp 4.000 tấn/năm, với nguồn nguyên liệu hoàn toàn là giấy loại.Nâng công suất của Công ty lên 20.000 tấn/năm, chiến lược dài hạn của Công
ty là đến năm 2020 nâng công suất lên 40.000 tấn/năm, Công ty phấn đấu đếnnăm 2025 sẽ trở thành doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam và khu vực tronglĩnh vực sản xuất giấy bao gói công nghiệp
Bảng 4.1 Danh mục các loại giấy của Công ty
(mm)
Định lượng giấy (g/
m 2 )
(Nguồn: báo cáo đánh giá tác động môi trường Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ)
Trang 26Bảng 4.2 Danh mục sản lượng các loại giấy qua các năm
Thực hiện
Năm 2008
(Nguồn: Công ty Cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ)
Dựa vào bảng 4.1 và 4.2 ta có thể thấy, được danh mục các sản phẩmchính mà Công ty đang sản xuất, thực trạng hoạt động sản xuất qua các nămgần đây và từ đó thấy được sự ổn định trong sản xuất cũng như tăng trưởng
ổn định qua các năm của Công ty Hoạt động sản xuất cho ta thấy, Công ty cóthể tạo ra các loại sản phẩm khác nhau như: giấy bao gói xi măng, giấy bao bìcông nghiệp và carton sóng, với các thành phần chủng loại khác nhau về chấtlượng Nắm bắt được nhu cầu thị trường Công ty không sản xuất tràn lan cácloại sản phẩm mà tập trung vào sản xuất theo yêu cẩu của khách hàng và nhucầu thị trường với phân khúc giấy bao gói xi măng F10
Công ty là một trong những doanh nghiệp hàng đầu về sản xuất vàcung ứng giấy bao gói xi măng của Việt Nam đặc biệt là giấy bao gói xi măngF10 Vì thế, việc tiêu thụ sản phẩm hết sức dễ dàng, sản lượng và doanh thukhông ngừng tăng Trong những năm tiếp theo, Công ty tiếp tục tăng côngsuất mở rộng thị trường bằng việc định hướng xây dựng chỗ đứng vững chắcthị trường trong nước, đồng thời phát triển ra thị trường nước ngoài bằng cácsản phẩm chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế
4.1.2 Quy trình sản xuất giấy 15.000 tấn/năm
Phân xưởng sản xuất giấy bao gói xi măng có công suất 15.000 tấn/nămđược công ty triển khai đánh giá và đi vào xây dựng quý III năm 2001, đếnnăm 2003 hoàn thành và đi vào sản xuất ổn định Sản phẩm chủ yếu là giấybao gói xi măng đạt tiêu chuẩn loại A giấy bao gói xi măng nhập khẩu hiệnnay và sản phẩm phụ là giấy bao gói công nghiệp, carton sóng Phân xưởng
Trang 27sản xuất giấy 15.000 tấn/năm là một hệ thống tương đối hiện đại và khép kíncác khâu đều có những thông số kỹ thuất nhất định Với quy trình sản xuấthiện nay, nguyên liệu là giấy loại nhập khẩu với 90% là xơ bột và 10% lànước và các hóa chất phụ gia khác không độc hại và đã được cơ quan kiểmsoát và cấp phép, ngoài giấy loại công ty còn sử dụng bột giấy không tẩytrong nước.
Sản phẩm chính của dây chuyền là giấy bao gói xi măng (bao gồm 3loại là F10, F33, F50) các loại giấy này đều có cùng kích thước khổ giấy là2.520 mm Tùy vào yêu cầu đặt hàng của khách hàng, Công ty sẽ sản xuấtnhững loại giấy có chất lượng khác nhau, giấy bao gói xi măng F10 là loạigiấy có chất lượng thấp nhất và giấy bao gói xi măng F50 có chất lượng tốtnhất Với nhu cầu đòi hỏi về chất lượng sản phẩm của khách hàng trong nướckhông cao nên hiện nay công ty sản xuất sản phẩm giấy bao gói xi măng loạiF10 là chủ yếu
Các thông số chất lượng của từng loại sản phẩm được phòng kỹ thuậtđịnh lượng xuống các xưởng sản xuất giấy, với 3 loại sản phẩm giấy bao gói
xi măng thì hàm lượng các hóa chất và chất phụ gia cho vào mỗi khi sản xuất
là tương đối đồng nhất ít thay đổi, mà chất lượng sản phẩm khác nhau chính
là do tỷ lệ phối trộn lượng nguyên liệu đầu vào, chất lượng sản phẩm cao haythấp phụ thuộc vào tỷ lệ sử dụng lượng bột giấy (bột giấy nguyên thủy)
Trang 28Phẩm mầunước cấp
Phèn, nhựa thông27
Giấy nguyên liệu
Trang 29Hinh 4.1 Sơ đồ công nghệ xưởng sản xuất giấy bao bì xi măng
Sơ đồ dây chuyền công nghệ nêu ở hình 4.1 cho ta thấy, nguyên liệu làgiấy (OCC, NDLK) thông qua băng tải (motor 22 KW, d = 10 m, r = 0,6 m)được đưa vào hệ thống nghiền thủy lực, gồm 2 máy nghiền có thể tích (V =
12 m3), ngoài lượng nguyên liệu định mức cho mỗi một mẻ giấy thì mộtlượng giấy loại trong khâu quận lại cũng được chuyển ngược lại để nghiền,nước sử dụng trong công đoạn nghiền gồm nước tuần hoàn lại trong các quátrình ép vắt nóng, xeo và sấy (lượng này chiếm một lượng lớn khoảng 80%)phần nước còn lại được bổ xung từ hồ lắng nước cấp Tại đây, nhờ hệ thốngđánh tơi thủy lực mà các tạp chất (như băng dính, đinh ghim, tạp chất cơ học)được tách rời ra khởi giấy loại Tại hệ thống đánh tơi thủy lực, giấy loại vànước được đánh tơi thành hổn hợp bột có nồng độ khoảng 4,5%
Sau đó, hỗn hợp được bơm qua hệ thống sàng thô, gồm 2 cái có diệntích mặt sàng là (S = 2 m2/cái), tại đây những tạp chất như băng dính đinhghim có kích thước lớn được giữ lại và chuyển sang tạp chất và được loại bỏ
từ công đoạn này Phần hỗn hợp bột giấy đã đánh tơi và nước được đưa đếncông đoạn lọc cát gồm hệ thống 2 bộ lọc cát thô nồng độ cao tốc độ lọc (Q =
400 lít/phút) và 6 bộ lọc cát hình dùi (kiểu 606), tiếp theo hổn hợp đượcchuyển sang sàng áp lực để loại bỏ cát lần cuối Cát cùng với một lượng nướcnhỏ sau khi được loại bỏ tại các khâu sàng theo máng dẫn chuyển đến bể lắngcát của hệ thống xử lý nước thải Tiếp theo, hỗn hợp được chuyển đến hệthống khuếch tán nóng và được ép bởi hệ thống ép, là 2 máy cô đặc lưới tròn(S = 15 m2) bột giấy được ép và vắt khuếch tán nóng Nước sinh ra sẽ đượcthu hồi quay lại nghiền thủy lực Sau đó, hỗn hợp được chuyển tới bể chứa,tại đây sẽ cho phẩm màu sau đó hỗn hợp được chuyển qua hệ thống nghiềnđĩa, gồm 12 máy (ø450) hệ thống có chức năng tạo độ mịn cho giấy Khi màkích thước bột đạt tiêu chuẩn ở công đoạn nghiền đĩa được chuyển đến bểchứa tinh để bổ xung các chất phụ gia như keo, nhựa thông và phèn nhằmtăng khả nằng chống thấm, độ bền cho giấy, pha loãng dòng bột giấy để tiến
Xeo, sấy
Cuộn lại
Sản phẩm nhập khoGiấy loại, thanh nan
Bể nước trắng